HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT HOA LAN VÀ NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAN HỒmĐIỆP,THỜI KỲ VƯỜN ƯƠM , TỈNH KHÁNH HÒA
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-
HI ỆN TRẠNG SẢN XUẤT HOA LAN VÀ NGHIÊN CỨU
M ỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Đặng Trung Tuyến
Trang 3
viết luận văn
Tôi xin cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Nông Học, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Rau – Hoa – Quả - Trường Đại học Nông Nghiệp I – Hà Nội đã trực tiếp đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tác giả hoàn thành
luận văn này
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình,
người thân, và toàn thể bạn bè, đồng nghiệp đã cỗ vũ, động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà N ội, tháng năm 2007
Tác giả
Lê Đặng Trung Tuyến
Trang 42.1 Giới thiệu chung về cây hoa lan 5
2.2 Tình hình sản xuất lan trên thế giới và việt nam 30
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa lan trên thế giới và Việt Nam 33
3 V ẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
3.1 Địa điểm và thời gian 40
4 K ẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
4.1 Điều kiện tự nhiên và hiện trạng sản xuất hoa lan của tỉnh
4.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Khánh Hòa 47
4.1.2 Tài nguyên sinh vật, sinh thái và du lịch 48
4.2 Hiện trạng sản xuất hoa lan tại tỉnh Khánh Hòa 48
Trang 54.3 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể khác
nhau trên nền phân bón Pomior (0,3%) đến tỷ lệ sống, khả năng sinh
trưởng của giống phong lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 58
4.4 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng một số loại phân bón lá
đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng của cây lan Hồ Điệp ở
4.5 Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của phân phức hữu cơ Pomior có nồng
độ khác nhau đến sinh trưởng của cây lan con ở thời kỳ vườn ươm 68
4.6 Thí nghiệm 4: Nghiên cứu ảnh hưởng phân bón lá Pomior có
nồng độ khác nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến tỷ lệ
sống và sinh trưởng của lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 71
4.7 Thí nghiệm 5: Nghiên cứu Ảnh hưởng phân bón lá Pomior có
nồng độ khác nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến khả năng
sinh trưởng của lan Hồ Điệp 6 tháng tuổi 76
4.8 Một số sâu bệnh hại chính 81
4.9 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nâng cao chất lượng lan Hồ
Điệp ở thời kỳ vườn ươm 83
4.10 Hiệu quả kinh tế của một số giá thể đến năng suất, giá trị kinh
4.11 Hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân Pomior
có nồng độ khác nhau trên nền vi sinh Bảo Đắc 85
Trang 6DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT: Công thức Đ/C: Đối chứng Ph.: Phalaenopsis TB: Trung bình TN: Tự nhiên
Trang 7DANH M ỤC BẢNG
4.1 Cơ cấu các loại lan ở các điểm điều tra 504.2 Một số loài lan được nuôi trồng phổ biến ở Khánh Hòa 514.3 Một số đặc điểm lá của các loài phong lan rừng được trồng phổ
4.4 Một số đặc điểm chính của các loài phong lan rừng được nuôi
trồng phổ biến ở tỉnh Khánh Hòa 544.5 Một số đặc điểm thực vật của một số giống lan Hồ Điệp được
nuôi trồng phổ biến tại Khánh Hoà (cây trưởng thành) 554.6 Một số đặc điểm chất lượng hoa của một số giống lan Hồ Điệp
được trồng phổ biến tại tỉnh Khánh Hoà 564.7 Ảnh hưởng của giá thể và phân bón Pomior (0,3%) đến tỷ lệ
sống của lan Hồ Điệp loài P.amabilis ở thời kỳ vườn ươm 59
4.8 Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến tốc độ tăng trưởng lá lan
Hồ Điệp con ở thời kì vườn ươm 604.9 Ảnh hưởng của một số giá thể đến động thái tăng trưởng thân
của lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 624.10 Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến số lá trên cây của lan Hồ
Điệp ở thời kỳ vườn ươm 634.11 Ảnh hưởng của một số phân bón lá đến tỷ lệ sống và tỷ lệ cây
xuất vườn của cây lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 654.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng lá, rễ
của cây phong lan Hồ Điệp ở thời kì vườn ươm 664.13 Ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến tăng trưởng kích thước lá
lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 684.14 Ảnh hưởng của phân bón lá Pomior có nồng độ khác nhau đến
đường kính cây lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 69
Trang 84.15 Ảnh hưởng của phân bón Pomiorcó nồng độ khác nhau đến
chiều cao cây lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 704.16 Ảnh hưởng của phân bón Pomior có nồng độ khác nhau trên nền
phân vi sinh Bảo Đắc đến tỷ lệ sống của lan con Hồ Điệp ở thời kỳ
4.17 Ảnh hưởng phân bón lá Pomior có nồng độ khác nhau trên nền phân
vi sinh Bảo Đắc đến tăng trưởng lá Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 734.18 Ảnh hưởng phân bón lá Pomior có nồng độ khác nhau trên nền
phân vi sinh Bảo Đắc đến số rễ và chiều dài rễ lan Hồ Điệp ở
4.19 Ảnh hưởng phân bón lá Pomior có nồng độ khác nhau trên nền
phân vi sinh Bảo Đắc đến đường kính cây và chiều cao cây 754.20 Ảnh hưởng của phân bón thức hữu cơ Pomior có nồng độ khác
nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến động thái tăng trưởng đường kính thân của lan Hồ Điệp 774.21 Ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior có nồng độ
khác nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến động thái tăng
trưởng lá của lan Hồ Điệp 6 tháng tuổi 784.22 Ảnh hưởng của phân bón lá phức hữu cơ Pomior có nồng độ khác
nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến động thái tăng trưởng số rễ
trung bình và chiều dài rễ trung bình của lan Hồ Điệp 6 tháng tuổi 804.23 Một số bệnh hại chủ yếu trên lan Hồ Điệp 824.24 Một số sâu hại chủ yếu trên lan Hồ Điệp 824.25 Hiệu quả kinh tế của một số giá thể đến năng suất, giá trị kinh tế
của lan Hồ Điệp ở vườn sản xuất 844.26 Hiệu quả kinh tế của các công thức phân Pomior có nồng độ
khác nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc 85
Trang 9DANH M ỤC HÌNH
4.1 Cơ cấu các loại lan ở các địa điểm điều tra 504.2a Tăng trưởng chiều dài lá 614.2b Tăng trưởng chiều rộng lá 614.3 Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến tăng trưởng thân của lan
Hồ Điệp ở thờ kỳ vườn ươm 634.4 Động thái tăng trưởng chiều dài lá và rộng lá của phân Pomior
4.5 Ảnh hưởng của nồng độ phân bón Pomior đến chiều cao cây
lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm 714.6 Ảnh hưởng của phân phức hữu cơ Pomior có nồng độ khác
nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến đường kính thân lan Hồ
Điệp 6 tháng tuổi 784.7 Ảnh hưởng của phân phức hữu cơ Pomior có nồng độ khác
nhau trên nền phân vi sinh Bảo Đắc đến động thái tăng trưởng
lá của lan Hồ Điệp 6 tháng tuổi 79
Trang 101 M Ở ĐẦU
1.1 Tính c ấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây kinh tế nước ta dần dần đi lên để hội nhập vào nền kinh tế trong khu vực và thế giới, hiện nay với nhiều mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu như: cà phê, tiêu, điều, cao su, gạo… sản xuất nông nghiệp
đã đóng góp một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cùng với
những thành tựu to lớn đạt được trong sản xuất nông nghiệp, ngành sản xuất hoa lan cũng có những bước tiến đáng kể Ở một số nước trên thế giới ngành
trồng hoa cây cảnh nói chung và hoa lan nói riêng là một ngành sản xuất công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao
Hoa lan thực sự trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, nó thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh phát triển mạnh mẽ: Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia… trong đó Thái Lan có kim ngạch xuất khẩu hoa lan cắt cành năm 1987 là 21 triệu USD, năm 1990 26 triệu USD, năm 1991 là 30 triệu USD, Singapore thu lợi nhuận từ hoa cắt cành mỗi năm là 10 triệu USD
Việt Nam trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế, xã hội… Nhu cầu sử dụng hoa nói chung và hoa lan nói riêng cũng tăng nhanh, không chỉ dùng trong những dịp lễ tết như trước đây mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất
lớn, bên cạnh nhu cầu về số lượng cũng đòi hỏi ngày càng cao, số liệu thống
kê cho thấy các loài hoa có chất lượng cao xuất hiện trên thị trường chủ yếu
nhập từ Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc, được tiêu thụ nhiều nhất ở các đô
thị, thành phố lớn Điều này cho thấy sản xuất hoa ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu thị hiếu của người dân
Trong những năm gần đây, một số loài lan lai được nhập nội ngày càng nhiều vào nước ta (Catteya, Phalaenopis, Dendrobium, Vanda…) trong
đó lan Hồ Điệp có chất lượng cao, màu sắc đa dạng, cánh môi hấp dẫn được
ụ mạnh nhất
Trang 11Hiện nay Lan Hồ Điệp là một trong những loại phong lan được trồng
phổ biến trên thế giới, so với đa số các loại lan khác thì Hồ Điệp khá nổi bật
bởi các đặc tính đa dạng, kích thước hoa to, màu sắc hấp dẫn, lâu tàn và ra hoa quanh năm, lan Hồ Điệp được mệnh danh là hoàng hậu của các loại lan Lan Hồ Điệp có nguồn gốc ở Tây Á, trải rộng trên những núi cao từ Trung
Quốc, Tây Tạng đến Úc Châu, cây tăng trưởng và phát triển tốt ở những vùng có độ ẩm cao và nhiệt độ khoảng 15 – 300
C, cây lan Hồ Điệp gồm một
trục đơn thân, tạo ra bởi một đỉnh sinh trưởng hoạt động liên tục, có hai hàng
lá được tách ra từ những đốt thân ngắn, không có giả hành, cây có 4 – 5 lá,
mỗi trục lá có ít nhất hai chồi, chồi bên cho phát hoa
Đất nước ta là một trong hai khu vực xuất phát các loài lan quý trên
thế giới Do vị trí địa lý mà khí hậu, ẩm độ, nhiệt độ và cường độ ánh sáng
của nước ta rất thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển của cây lan, Khánh Hòa cũng là là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên để phát triển ngành trồng lan Trong quá trình điều tra và nuôi trồng thử nghiệm các loại lan tại tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi nhận thấy lan Hồ Điệp có khả năng phát triển thuận lợi về điều kiện tự nhiên việc phát triển lan tại tỉnh Khánh Hòa còn nhiều khó khăn: chưa có đơn vị chuyên sâu nghiên cứu phong lan, chưa cung
cấp được nguồn lan tại chỗ, kỹ thuật chăm sóc còn yếu kém, chưa quan tâm nhiều đến phân bón và giá thể, chưa có phòng nuôi cấy mô hiện đại, đặc biệt
là rất khó khăn trong khâu nhân giống và chăm sóc, do đó tỷ lệ sống, sinh
trưởng phát triển còn thấp ở thời kỳ vườn ươm Tại Khánh Hòa việc nhân
giống lan bằng nuôi cấy mô tế bào chưa phát triển, giống cây con chủ yếu
nhập từ thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt… do đó giá thành cây con rất cao
Xuất phát từ nhu cầu thực tế khách quan trên cũng như góp phần phát triển ngành trồng lan tại tỉnh Khánh Hòa, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Hi ện trạng sản xuất hoa lan và nghiên cứu một số biện pháp nhằm
nâng cao ch ất lượng lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm tại tỉnh Khánh Hòa”
Trang 121.2 M ục đích, yêu cầu
1.2.1 M ục đích
- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, điều tra thực trạng một số loại phân bón và giá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng của trồng lan cũng như thực
trạng nuôi trồng lan tại tỉnh Khánh Hòa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón và giá thể phù hợp
với điều kiện sinh thái môi trường nuôi trồng lan Hồ Điệp tại tỉnh Khánh Hòa
Với những lý do đã nêu trên: “Hiện trạng sản xuất hoa lan và nghiên
c ứu một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng lan Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm tại tỉnh Khánh Hòa”
- Xác định loại giá thể, phân bón phù hợp là cơ sở để xây dựng quy trình trồng lan Hồ Điệp tại Khánh Hòa
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về cây lan
1.3.2 Ý ngh ĩa thực tiễn
- Các kết quả nghiên cứu được sẽ được áp dụng vào thực tiễn nuôi
trồng và chăm sóc lan Hồ Điệp để góp phần phát triển sản xuất
- Tạo ra mô hình kiểu mẫu để chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong vùng nông nghiệp đô thị và ven đô thị
Trang 13- Nhằm bổ sung những hiểu biết về đặc tính sinh vật học của cây lan
Hồ Điệp ở thời kỳ vườn ươm trong những vùng sinh thái nhất định
- Một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất giống lan ở thời kỳ cây con, góp phần quyết định vào thành công của sản xuất sau này trong điều kiện sinh thái cụ thể ở Khánh Hòa
Trang 142 T ỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Gi ới thiệu chung về cây hoa lan
2.1.1 Ngu ồn gồc lịch sử - vị trí phân bố -phân loại và đặc điểm thực vật
c ủa cây hoa lan
2.1.1.1 Ngu ồn gốc lịch sử
Cây hoa lan được biết đến đầu tiên ở phương Đông, nói về hoa lan là
phải nói đến người Trung Hoa, họ đã biết về lan vào khoảng 2500 năm về
trước tức là ở thời đại của Đức Khổng Tử (551-479 trước công nguyên ).Ở
phương Đông lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm
của hoa do đó Khổng Tử đề cao lan là vua của những loài cỏ cây có hương
thơm Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [7], Nguyễn Tiến Bân (1997) [1],
Võ Văn Chi – Dương Đức Tiến (1978) [2], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn
Thịnh (1991) [3], cây lan Orchida thuộc họ lan Orchidaceae, bộ lan
Orchidales, l ớp một lá mầm Monoctyledoneae, họ lan Orchidaceae ở trong
lớp đơn tử diệp, thuộc ngành ngọc lan, thực vật hạt kín Magoliophyta, phân
lớp hành Lilidae, có thể nói theo Pharastus (376-285 trước công nguyên) là
cha đẻ ngành học và ông cũng là người đầu tiên dùng từ orchid để chỉ một
loại lan có củ tròn, Người đạt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là Joanlind (1979-1985), năm 1936 ông đã công bố sắp xếp các tông họ lan (A
Tabuler view of the tribes of orchidaler) và tên của họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay (dẫn theo Trần Hợp, 1990) [7]
2.1.1.2 V ị trí phân bố
Cây hoa lan mọc khắp mọi nơi trên thế giới từ miền gió tuyết đến sa
mạc nóng bỏng khô cằn từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ miền Bình Nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan, qua lịch sử biến đổi, cho đến ngày nay, người ta đã biết họ lan có một số lượng loài rất lớn khoảng
Trang 1515.000 – 35.000 loài phân bố chủ yếu ở 680
vĩ Bắc đến 560
vĩ Nam (nằm gần
cực Bắc như Thụy Điển, Alasksa) xuống đến các đảo cuối cùng của cực Nam
ở Australia
Tuy nhiên, phân bố chính của họ này là trên các vĩ độ nhiệt đới đặc
biệt là châu Mỹ và Đông Nam Á Đa số lan mọc tập trung ở các rừng nhiệt đới, ở các nước châu Á như Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam… như
Phalaenopsis, Vanda, Archinis… ở châu Mỹ như Costarica, Colombia, Venezuela… có các giống Cattleya, Odontoglosum…
Theo Briger (1971) [11] vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, Bắc Mỹ có 170 loài Họ lan (Orchidaceae) thuộc vào một loài hoa đông
đảo với khoảng chừng 750 chi và 30000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài lai; là loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceae)
Theo Peresley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6801 loài trong đó chi Dendrobium có 1400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi
Phalaenopsis có 35 loài Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8266 loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1300 loài, Tân Ghinê có 1450 loài (Phan Thúc Huân) [8]
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan ban đầu không rõ rệt lắm,
người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Giolas Noureio – Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào
năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong
cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và
Sarcopodium… đã được Netham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera Planterum” (1862 – 1883) [9]
Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài,
Paphipoedium có 25 loài, Aerdes có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7 – 8 loài…
Trang 162.1.1.3 Phân lo ại hoa lan
Theo các tác giả Trần Hợp 1990 [7], Nguyễn Tiến Bân 1997 [1], Võ
Văn Chi – Dương Đức Tiến 1978 [2], Phạm Hoàng Hộ (1992) [5], Nguyễn
Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [3] và Koopwitz (1986) [33], cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp đơn tử điệp, lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan – thực vật hạt kín
Magnoliophyta, phân l ớp thành Lilidae, bộ lan Orchidales
Theo Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và họ
Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ khá minh bạch:
Orchidadeae
Cypripedicideae
Apostasicideae
Trong đó họ phụ lan (Orchidadeae) là phức tạp nhất, có nhiều giống
nhiều loài nhất, còn hai họ phụ kia mỗi loại chỉ có một tông, (Phan Thúc Huân 1989) [8]
Gần đây do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ phong lan thành 6 họ phụ
thực vật Việt Nam, chẳng những là một trong những họ thực vật lớn nhất mà còn đóng góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước nhà Tuy nhiên việc phân loại cây trồng hết sức phức tạp, cho đến nay hầu như chưa có các khóa phân loại cho các đơn vị dưới loài và việc phân loại cho các đơn vị
Trang 17dưới loài là hết sức quan trọng, nhất là trong họ lan cũng gặp những khó khăn này (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [21]
2.1.1.4 Đặc điểm thực vật của cây hoa lan
Rễ lan: Ở nhóm lan đa thân, rễ thường được hình thành từ căn hành Nhóm đơn thân thì rễ mọc thẳng từ thân và thường xen kẻ với lá
Khi sống ở đất chúng thường có củ giả, rễ to mập tương đối ít phân nhánh, nó thuộc tổ chức có chất thịt, cấu tạo của nó chia làm 3 tầng: tầng ngoài, tầng giữa và tầng trong Tầng ngoài là lớp vỏ rễ, tác dụng chủ yếu là thu hút và giữ nước, tầng giữa là thịt rễ, phần lớn là tổ chức tế bào sống,
chứa rất nhiều nấm rễ cộng sinh, tầng trong là gân rễ có sự liên kết tương đối
dẻo dai Khi sống bám vào cánh hoặc thân cây, bề mặt của lớp rễ có phủ lớp
mạc làm nhiệm vụ hút và giữ nước rất tốt cho nên cây chịu hạn tốt, rễ của chúng thường chui ra khỏi chậu, không ưa ẩm mà thích thoáng, ở đầu rễ luôn luôn có màu xanh của diệp lục dùng quang hợp như lá nên chúng không trốn ánh sáng như nhóm là sống dưới đất Ở các loại lan này hệ rễ khí sinh phát triển rất phong phú, mọc rất dài, to, khỏe và giữ cho cây khỏi bị gió làm lung lay, vừa làm cột chống đỡ cho thân vươn cao
Với giống lan sống hoại bộ rễ có hình dạng, cấu trúc khá độc đáo nó
có dạng búi nhỏ với nhiều vòi hút ngắn, dày đặc để lấy được dinh dưỡng từ
những đám rêu, lá mục thông qua hoạt động của nấm Mặc dù sự “cộng sinh” với nấm nội sinh vốn là đặc điểm cơ bản của họ lan trong giai đoạn nẩy
mầm, nhưng ở một số loài vẫn tồn tại mối quan hệ này trong suốt quá trình
sống Tuy nhiên có một số ít loài tuy sống hoại nhưng càng có thể dài đến vài chục mét có khả năng leo bò rất cao, ngược lại cũng có một số loại lan
sống hoại khác lại nằm sâu trong lòng đất như Rhilanthella… cơ thể chỉ là 1 thân nhỏ không rễ, không lá, đến mùa nó sinh ra một cụm hoa, chúng sống được là nhờ hoạt động của nấm và gốc mục của những thân gỗ khác
Trang 18Thân lan: có 2 nhóm thân chính là đơn thân và đa thân Thân lan có
thể ngắn hay kéo dài, đôi khi phân nhánh, mang lá hay không mang lá Ởnhóm đa thân thì đặc điểm của cây là vừa có thân vừa có giả hành, giả hành
là nơi dự trữ chất dinh dưỡng và nước để nuôi cây Đây được đánh giá là bộ
phận rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của lan đa thân, giả hành
có nhiều dạng tùy từng loại lan như dạng hình thoi (Cattley alabiata), hình
trụ thấy ở loài Cattleya guttata… còn dạng hình tháp như Cymbidium… Cấu
tạo giả thành gồm nhiều mô mềm chứa đầy dịch nhầy, phía bên ngoài có lớp
biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng, bảo vệ để tránh sự mất nước khi gặp điều kiện bất lợi lan Hồ Điệp thuộc loại lan thân ngắn, không có giả hành, không phân nhánh và mang nhiều lá
Lá lan: hầu hết các loại lan là cây tự dưỡng nó phát triển rất đầy đủ
hệ thống lá, lá mềm mại và hấp dẫn Lá mọc đơn độc hoặc xếp dày đặc ở gốc hay xếp cách đều trên thân, giả hành, hình dạng lá đa dạng tùy theo loài, có
lá mọng nước, nạc, dài hình kim, hình trụ dài, tiết diện tròn hay có rãnh đến
loại lá hình phiến mỏng dài và rất hiếm loại lá hình tròn thuôn dài thành bẹ
ôm lấy thân Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung những lá
dưới sát gốc thường tiêu giảm đi còn những bẹ không có phiến hay giảm hẳn thành các vẩy đôi khi hai mặt lá có màu khác nhau, thường mặt dưới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lá có màu sắc khác, nhiều loại lan có màu hồng
và nổi lên các đường vẽ trắng theo các gân rất đẹp
Một số loài lan đến mùa khô là rụng hết thân cây trơ trụi như đã chết (chỉ
có chồi mắt) Khi gặp độ ẩm môi trường thích hợp thì chúng lại đâm chồi và ra
lá xanh tươi, như bầu rượu (Calanthevest) hoặc chúng chỉ rụng lá một phần hay
vẫn tươi tốt như lan hài (Paphiopedium), địa lan (Cymbidium) Một số loài sống
trong đất có chu kỳ sống rất đặc biệt, xen mùa lá với mùa hoa, khi cây ra hoa toàn bộ lá đều chết khô, khi hoa tàn thì giả hành sẽ cho chồi mới, lá mới
Trang 19Hoa lan:
- Cấu tạo hoa lan rất đa dạng và hấp dẫn, ta có thể gặp nhiều loài mà
mỗi mùa chỉ có một đóa hoa nở hoặc có nhiều cụm hoa mà mỗi cụm chỉ đơm
1 bông Tuy nhiên, đa số các loài lan đều nở rộ nhiều hoa, tập hợp lại thành chùm phân bố ở đỉnh thân hay nách lá Hoa lan có cấu trúc cơ bản là hoa
mẫu ba, kiểu hoa đặc trưng của hoa một lá mầm nhưng đã biến đổi rất nhiều
để hoa có đối xứng qua mặt phẳng Hoa lan thuộc hoa lưỡng tính và rất hiếm
gặp loài đơn tính, bao hoa có dạng cánh xếp thành hai vòng Hoa lan có ba cánh đài, thường có cùng màu sắc và kích thước Tuy nhiên, các loại lan khác nhau, cánh đài có hình dạng biến đổi rất khác nhau Dạng hình tròn nhưcác giống Vanda, Ascocentrum, nhọn như Cattleya, xoắn như các loài thuộc
giống Laelia nằm kề bên trong và xen kẽ với ba cánh đài là hai cánh hoa,
thường cũng giống nhau về hình dạng, kích thước và màu sắc, cánh còn lại
nằm ở phía trên hay phía dưới của hoa, thường có màu sắc và hình dạng đặc
biệt khác hẳn hai cánh kia gọi là cánh môi hay cánh lưỡi, chính cánh môi quyết định phần lớn giá trị thẩm mỹ của hoa lan
- Trụ hoa là bộ phận sinh dục của hoa, bao gồm cả cơ quan sinh dục đực và cái nên gọi là trục – hợp – nhụy Phần cái mang noãn hình lồi, bề mặt dính chất nhày, phần đực mang phấn khối, phấn của hoa lan không tách ra thành từng hạt nhỏ mà kết tụ lại thành những đám đặc có ít hay nhiều sáp, số
lượng khối phấn là 2, 4, 6, 8 có dạng cong hay thuôn lưỡi liền, hoa phong lan
có bầu hạ, thuôn dài kéo theo xuống, sự vặn xoắn toàn bộ hoa trong quá trình phát triển là đặc điểm của bầu, hoa thường bị vặn xoắn 1800
sao cho cánh môi khi hoa bắt đầu nở hướng ra bên ngoài, thuận lợi cho côn trùng đậu
hiếm khi hoa vặn 3600
như ở Malaixia, Paludosa hoặc không vặn gì do
cuống hoa rủ xuống như loài Stanhopea, như thế khi hoa nở cánh môi hướng
lên trên, thích nghi với loại côn trùng ưa lộn đầu xuống dưới khi chui vào
Trang 20hoa, bầu hoa có 3 ô gọi là 3 tâm bì, trong bầu chứa vô số các hạt nhỏ liti gọi
là tiểu noãn nằm trên 3 đường, dọc theo chiều dài của 3 mép tâm bì, sau khi
thụ phấn, thụ tinh các tiểu noãn sẽ biến đổi và phát triển thành hạt trong khi
đó bầu noãn sẽ phát triển thành quả Hoa Hồ Điệp có màu sắc phong phú, hình dạng, kích thước biến động lớn, số lượng hoa dao động từ 3 – 30 hoa,
đa số là không có hương thơm, không có khả năng tự thụ phấn mà phải nhờcôn trùng hoặc thụ phấn nhân tạo để đậu quả
Sự phân hóa và phát triển nụ hoa xảy ra ở cường độ ánh sáng phù hợp, không phụ thuộc vào quang kỳ, nhiệt độ cao (25 – 300
C) thúc đẩy sự phát triển từ giai đoạn từ giai đoạn nụ đến giai đoạn nở hoa, nhưng nhiệt độ cao vào giai đoạn đầu của sự ra hoa sẽ cản trở sự phân hóa và hình thành hoa, nhiệt độ vào ban đêm thấp là điều kiện để Hồ Điệp ra hoa
Quả lan:
Quả lan thuộc loại quả nang, nở ra theo 3 – 6 đường nứt dọc, có dạng
củ cải dài (Vanilla) đến dạng hình trụ ngắn phình ở giữa Khi chín quả nở ra
và mảnh vỏ còn dính lại với nhau ở phía đỉnh và phía gốc Ở một số loài khi
quả chín nứt theo 1 – 2 khía dọc, thậm chí không nứt ra mà hạt chỉ ra khỏi vỏkhi vỏ quả bị mục nát
Hạt lan:
Hạt lan rất nhiều, nhỏ li ti, hạt chỉ cấu tạo bởi một khối chưa phân hóa, trên một mạng lưới xốp nhỏ chứa đầy không khí, phải trải qua 2 – 18 tháng
hạt mới chín (tùy từng loại), phần lớn hạt thường chết vì khó khăn gặp nấm
cộng sinh cần thiết để nẩy mầm, chỉ ở những khu rừng già vùng nhiệt đới ẩm ướt mới đủ điều kiện cho hạt lan nẩy mầm Vì vậy việc bảo tồn khu rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh là tạo điều kiện làm phong phú nguồn lan nguyên
thủy, cung cấp nguồn gen cho sản xuất lan thương mại sau này
Trang 212.1.1.5 Đặc điểm thực vật của chi lan Hồ Điệp
Hồ Điệp (Phalaenopsis) có tên từ chữ Hy Lạp Phalaima – bướm và
Opsis – giống, đa số loài của chi có hoa giống như con bướm
Chi lan Hồ Điệp hiện được biết có trên 58 loài phát sinh, ưa bóng, có
ở bán đảo Mã Lai, Indonesia, Philipin, các tỉnh phía Đông Ấn Độ và Châu
hơn nửa năm, lá đài và cánh hoa gần như nhau, đôi khi cánh hoa lớn hơn,
nhưng nổi bật là cánh môi Môi gắn vào chân của trụ và không có cựa ở đáy,
ba thùy với phụ bộ hay cục u ở đáy thùy giữa, hay thùy bên, một trong
những phụ bộ ấy là hai sợi râu của môi hay phiến nhỏ dựng đứng ở thùy môi
Trụ tương đối dài và nhỏ, hai khối phấn tròn hay hình trứng, vĩ phấn kéo dài, rộng ở phần trên và hẹp ở phần dưới, gót dẹp, nhiều loài thường cho cây con trên cọng phát hoa và nhiều loài có vân màu trên lá
Hiện nay có nhiều chi lan khác được lai với Phalaenopsis và lai ngay
trong cùng chi, tạo ra 40.000 loài lai (Nguyễn Thiện Tịch và cộng sự, 1996) [27], chi lan Hồ Điệp có thể chia ra thành 5 nhóm trong đó có 2 nhóm quan
trọng đó là
+ Nhóm Euphalaenopsis: chúng có đặc điểm nổi bật là cánh hoa dài
và rộng hơn lá đài, cánh môi rộng và có hai phụ bộ riêng biệt ở phía trước,
bộ lá thường có màu lục đậm hơn ở mặt trên nâu sẫm ở mặt dưới, hoa nhiều
và mảnh mai, một vài loài tiêu biểu: Phalaenopsis amabilis, P.philippinensis, P.schilleriana
+ Nhóm Stauroglottis chúng có đặc điểm khác biệt như sau: lá dài và
Trang 22cánh hoa cùng một cỡ, cánh môi hẹp và không phụ bộ ở phía trước, bộ lá có màu xanh lục nhạt ở cả mặt trên và mặt dưới lá, hoa nhỏ hơn và cánh dày
hơn thường có màu hoa văn, một vài loài tiêu biểu là P.amboinensis, P.gigantea theo (Phạm Hoàng Hộ, 2000) [6] Việt Nam có 7 loài
Phalaenopsis: P.amabilis (L), P.cornucervi, P.lobbi, P.gibbosa, P.mannii Reichbf, P.petelotii Mansf, P.fuscata Reichhf
2.1.2 Yêu c ầu sinh thái của cây lan
Muốn cho cây phong lan sinh trưởng và phát triển tốt, trước hết chúng
ta cần phải tìm hiểu kỹ tập tính sinh trưởng của nó, người xưa khái quát cây lan thích ẩm sợ ướt, thích sáng sợ nắng, thích ấm sợ nóng, thích thoáng sợgió [13]
2.1.2.1 Yêu c ầu về nhiệt độ
Nhiệt độ là một nhân tố có tính chất quyết định đến sự phân bố, sinh
trưởng, phát triển của các loài lan trên thế giới Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự ra hoa của lan, ví dụ: ở lan bạch câu (Dendrobium crumenatum) nếu giảm đột
ngột 5 – 60
C trong vài giây đồng hồ thì khoảng 9 ngày sau chúng sẽ nở hoa
đồng loạt Ở loài Paphiopedilum insingnes và Dendrobium nobile chỉ ra hoa
khi nhiệt nhiệt độ hạ xuống 130
C hoặc thấp hơn, nếu nhiệt độ cao nó chỉ sinh
trưởng dinh dưỡng Phalaenopsis chỉ ra hoa khi nhiệt độ ban đêm giảm
xuống dưới 210
C (Jongwatana – Pumhirun, 1989) [32] Theo Devries (1953)
giải thích thì, Phalaenopsis nở hoa do sự thọ hàn Nghiên cứu này được bà
Trần Thanh Vân bổ sung vào năm 1974, bằng kỹ thuật xử lý nhiệt độ tại Gif sur Yvêtt (Pháp) Bà đã điều khiển thành công sự ra hoa của Phalaenopsis
amabilis và Phalaenopsis schilleriana dưới một năm tuổi, bằng cách đặt cây vào nơi xử lý nhiệt độ 170
C vào ban đêm vào 240
C vào ban ngày, ẩm độ 60 – 80%, quang chu kỳ thay đổi 6 – 24 giờ chiếu sáng tuỳ điều kiện nuôi cây Trong thời gian 2 – 3 tháng cây sẽ nở hoa toàn bộ Bình thường từ khi trồng
Trang 23đến khi ra hoa thì Phalaenopsis cần 2 – 4 năm, nhưng kỹ sư Nguyễn Công
Nghiệp và cộng sự (1998) [16] cho rằng có rút ngắn thời gian trên nếu ta bón phân và các chất kích thích sinh trưởng phù hợp để thúc đẩy quá trình sinh
trưởng ở vườn ươm, cây con sẽ nhanh chóng ra hoa
Theo Powel et al (1988) thì cây lan hoàng hậu (Cattleya) sinh trưởng
tốt nhất ở nhiệt độ từ 16 – 180
C Lan kiếm (Cymbidium) ở 260
C Với Hồ
Điệp (Phalaenopsis) và lan hài (Paphiopedilum) sinh trưởng dinh dưỡng ở
210C hoặc chênh lệch nhiệt độ ngày/đêm là 250
C/200C là tốt nhất cho cây tích luỹ (Joseph và Arditti 1985) [34]
Theo Joseph và Arditti 1985, Roton 1952, Wang và Lee 1994 [34] nhiệt độ có thể điều khiển sự ra hoa của cây: lan hoàng hậu (Cattleya) ở
170C kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh với ánh sáng dài ngày thì ra hoa
sớm hơn so với cây đối chứng Lan kiếm (Cymbidium) ở nhiệt độ chênh lệch
ngày/đêm (210
C/140C) tốt nhất cho cây ra hoa Cymbidium nhiệt độ ban đêm
từ 130
C – 180C với ánh sáng ngày dài cũng thúc đẩy cây ra hoa Lan hồ điệp
(Phalaenopsis) ở nhiệt độ ngày/đêm khoảng 250
C/200C hoặc nhiệt độ trung bình từ 150
C – 180C trong 2 – 5 tuần thì cây có thể ra hoa, không cần quang chu kỳ
- Căn cứ vào từng vùng xuất xứ, nhiệt độ nuôi trồng hoa lan, theo Charles Marden Fitch (1981, 125) [31] chia làm ba loại:
+ Lan ôn đới: nhiệt độ thích hợp ban ngày từ 18 – 240
C, ban đêm 13-
180C: Cymbidium…
+ Lan cận nhiệt đới: nhiệt độ thích hợp ban ngày từ 21 – 300
C, ban đêm từ 16 – 210
C: Cattleya, Oncidium, Dendrobium
+ Lan nhiệt đới: nhiệt độ thích hợp ban ngày từ từ 21 – 350
C, ban đêm
18 – 240C: Vanda, Phalaenopsis…
Trang 24Ngoài yêu cầu về nhiệt độ trung bình, biên độ nhiệt độ giữa ngày và đêm có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển của lan Biên độ nhiệt
độ ngày đêm càng lớn thì trồng lan càng lý tưởng, vì cây tăng trưởng nhanh
do nhiệt độ ban đêm thấp làm giảm cường độ hô hấp và nhiệt độ ban ngày
tăng làm tăng cường độ quang hợp, cây tích luỹ chất khô nhiều hơn
2.1.2.2 Yêu c ầu về ánh sáng
Cây lan sống không thể thiếu ánh sáng vì ánh sáng cung cấp năng
lượng cho cây tạo lập thức ăn thông qua quá trình quang hợp, ánh sáng còn ảnh hưởng đến sự hình thành hoa và nở hoa, hầu hết các loài thuộc chi
Cattleya, Dendrobium… Nếu thiếu ánh sáng cây không ra hoa, nhưng nhu
cầu về ánh sáng lại khác nhau tùy thuộc vào từng loại lan (Lin, WC và CS, 1983) [35], (Wang-Y,T… 1995) [39]
Dựa vào nhu cầu ánh sáng của từng loại người ta chia thành 3 nhóm:
- Nhóm ưa sáng: cần ánh sáng ≈ 100% ánh sáng trực tiếp như các loài
tối thiểu 70%, ở Việt Nam ẩm độ tương đối trung bình hàng năm thay đổi từ
80 – 90% Tuy nhiên trong từng mùa vụ cụ thể ẩm độ tương đối có sự thay đổi đã làm ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển cũng như khả năng ra
Trang 25hoa của lan, do đó khi đề cập đến ẩm độ với hoa lan, người ta chú ý đến 3 ẩm
độ sau:
• Ẩm độ của vùng: là ẩm độ của khu vực rộng lớn, nơi mà ta sẽ thiết
lập vườn lan, ẩm độ này do điều kiện địa lý, địa hình quyết định
• Ẩm độ vườn: là ẩm độ của chính vườn lan, ẩm độ này có thể cải tạo theo ý muốn như đào ao, xây bể, làm mương…
• Ẩm độ trong chậu trồng lan: gọi là ẩm độ cục bộ, do cấu tạo của giá
thể, thể tích chậu, số lần tưới, ẩm độ này phụ thuộc hoàn toàn vào kỹ thuật
của người trồng lan
Sự hài hòa của ẩm độ vùng, ẩm độ vườn giúp cho người trồng lan có
thể sáng tạo sử dụng giá thể trồng, lượng nước tưới, thiết kế giàn che hợp lý… cần chú ý ẩm độ trong vườn cao sẽ tốt hơn ẩm độ cục bộ trong chậu cao
bởi cây lan ít bị chết do ẩm độ trong vườn cao mà thường bị chết do ẩm độ
cục bộ trong chậu cao, do đó việc lựa chọn giá thể là biện pháp hữu hiệu đểđiều tiết ẩm độ thích hợp cho cây lan
2.1.2.4 Yêu c ầu về độ thông thoáng
Độ thông thoáng là yếu tố quan trọng giúp cho cây lan sinh trưởng, phát triển bình thường, bản xứ của các loài lan là mọc ở rừng và môi trường
sống thường ở trên cây cao và thông thoáng, đặc biệt đối với những loài lan
có hệ rễ cộng sinh với nấm và phát triển vươn dài trong không khí Vì vậy,
vườn trồng lan đòi hỏi phải có độ thông thoáng nhất định đảm bảo không khí luôn mát mẻ, nếu vườn lan không thông thoáng, khi gặp điều kiện ẩm độcao, nhiệt độ tăng cây dễ bệnh Ngược lại nếu vườn quá trống trải, gió thổi
mạnh sẽ làm cây mất nước cũng ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng của lan
2.1.2.5 Yêu c ầu về dinh dưỡng
Theo các tác giả Ajchara – Boonrote (1987) [30], Richard – HW (1985) [36], Soebijanto và cộng sự (1988)[38], dinh dưỡng đối với lan hết
Trang 26sức quan trọng, nó không đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành
Vai trò các nguyên tố sinh dinh dưỡng đối với cây lan:
Nhóm 1: gồm các nguyên tố Cacbon (C), Hydro (H), Oxy (O),
những nguyên tố này có sẵn trong tự nhiên, mà cây có thể sử dụng được thông qua quá trình quang hợp
Nhóm 2: gồm các nguyên tốt đa lượng
- Vai trò của Nitơ (N): là hợp phần quan trọng của chất hữu cơ tạo
diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein Là nguyên tố giúp cây
tăng trưởng và phát triển các mô sống, thiếu đạm cây sẽ còi cọc, ít ra lá, lá chuyển sang màu vàng, cây cằn cỗi, khó ra hoa, thừa đạm lá xanh mướt và
yếu dễ bị sâu hại tấn công và bị bệnh
- Vai trò của Photpho (P): P có vai trò trung tâm trong quá trình trao đổi năng lượng và protein… là thành phần tất yếu của Aminoaxit, ATP, nó
cần thiết cho sự phân chia tế bào, là thành phần của NST, kích thích rễ phát triển, P cần thiết cho sự phát triển mô phân sinh, kích thích ra hoa và khó hồi
phục, thừa P thì thường dẫn đến thiếu kẽm, sắt và Mangan, thiếu P cây còi
cọc, lá nhỏ, ngắn, xanh đậm, cây không ra hoa
- Vai trò của Kali (K): giúp tăng khả năng thẩm thấu qua màng tế bào, điều chỉnh pH và lượng nước ở khí khổng Hoạt hóa enzim có liên quan đến quang hợp và tổng hợp Hydrat cacbon, giúp vận chuyển Hydrat cacbon, tổng
hợp protein, cải thiện khả năng sử dụng ánh sáng khi gặp điều kiện bất lợi, thiếu Kali cây kém phát triển, lá già vàng dần từ 2 mép là và chóp lá, sau lan
Trang 27dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại cây dễ bị bệnh tấn công, chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu sắc không tươi và dễ dập nát, thừa Kali lá không mỡ màng, lá
nhỏ và thừa Kali dẫn đến thiếu Magiê và Canxi
- Vai trò của Canxi (Ca): là thành phần của màng tế bào dưới dạng canxi pectate, cần thiết cho sự phân chia tế bào được bình thường, giúp cho màng tế bào vững chắc, duy trì cấu trúc NST, hoạt hóa nhiều einzim như: Phospholipase, Agnine, Triposphate Thiếu canxi cây phát triển kém, rễ nhỏ
và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ đổ ngã và sâu bệnh tấn công
- Vai trò Magiê (Mg): là thành phần cấu tạo của diệp lục tố, thúc đẩy sự
vận chuyển lân của cây, là hoạt chất của hệ enzim gắn liền với sự chuyển hóa Hydrat cacbon và tổng hợp axit nucleic, thiếu Magiê thân là èo uột, xuất hiện
dải màu vàng ở phần thịt, các lá già trong khi lá hai bên gân chính vẫn xanh
do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa
- Vai trò của Lưu huỳnh (S): là thành phần của các axít amin chứa Lưu
huỳnh cũng như các aminoaxít liên quan đến hoạt động trao đổi chất của Vitamin, Thiamin, Biotin và Coenzim A giúp cho cấu trúc Protein được
vững chắc, thiếu lưu huỳnh lá non chuyển màu vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm
- Vai trò của kẽm (Zn): liên quan đến sự tổng hợp sinh học của axít Indolacetic, là thành phần thiết yếu của một số men, đóng vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp axit nucleic và protein Tăng cường khả năng sử
dụng lân và đạm, thiếu kẽm, xuất hiện các đóm nhỏ rải rác hay các vết sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn,
hẹp và mọc xít nhau, các đốt ngắn lại, cây thấp và khó ra hoa
- Vai trò của Đồng (Cu): là thành phần của men Cytochrome oxydase
và thành phần của nhiều enzim: Ascorbic, Axit oxidase… xúc tiến quá trình hình thành vitamin, thiếu đồng xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến
Trang 28lá, đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít và cây rất dễ bị nấm tấn công
- Vai trò của Sắt (Fe): cần thiết cho sự tổng hợp và duy trì chất diệp
lục tố trong cây là thành phần chủ yếu của nhiều ezim, đóng vai trò chủ yếu trong sự chuyển hóa axit nucleic, ảnh hưởng đến sự chuyển hóa ARN hoặc
diệp lục tố, thiếu sắt các lá non chuyển úa vàng sau đó trở nên trắng nhợt cây còi cọc, ít ra hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công
- Vai trò của Mangan (Mn): xúc tác trong một số phản ứng enzim và sinh lý trong cây, là thành phần của Pyruvate carboxydase, liên quan đến quá trình hô hấp của cây, hoạt hóa các enzim liên quan đến sự chuyển hóa đạm
và tổng hợp diệp lục tố, kiểm soát thế oxy hóa khử trong tế bào ở các pha sáng và tối, thiếu Mangan dẫn đến úa vàng ở giữa các gân của lá non, đặc
trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, cây còi cọc, chậm phát triển
- Vai trò của Bo (B): ảnh hưởng đến hoạt động một số enzim, Bo có
khả năng tạo phức và các hợp chất Polyhydroxy khác nhau, tăng khả năng
thấm ở màng tế bào, Bo liên quan đến quá trình tổng hợp lignin và sự phân chia tế bào, sự tổng hợp Protein… thiếu Bo, dẫn đến lá có kết cấu dày, đôi khi bị cong lên và giòn, hoa không hình thành và rễ còi cọc, các cây con khi
mọc thiếu Bo thường bị chết
- Vai trò của Molypden (Mo): xúc tiến quá trình cố định đạm và quá trình
sử dụng đạm của cây, Mo tham gia vào thành phần của men khử nitrat và men nitrogenase, thiếu Mo cây sẽ xuất hiện các đốm vàng ở giữa các gân lá dưới, nếu thiếu nặng các đốm lan rộng và khô, mép bị khô dần, cây chậm phát triển
Nói tóm lại, hầu hết các loài lan đều sống tự dưỡng, một số loài cộng sinh với nấm nên việc lấy dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài khá thuận lợi, lan là loài cây không cần nhiều dinh dưỡng do đó, bón phân cho lan tốt nhất
là bón thường xuyên với liều lượng thấp, tùy loài lan khác nhau mà bón với
liều lượng ở các giai đoạn cũng khác nhau
Trang 292.1.2.6 Nhân gi ống lan
Cũng như các loại cây trồng khác nhau, hoa lan có 2 phương pháp nhân giống đó là nhân giống hữu tính và vô tính
Nhân giống hữu tính: là sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái tạo
ra hợp tử sau đó phát triển thành hạt và hạt phát triển thành cây con, trong tựnhiên hạt lan nẩy mầm được là nhờ nhiễm nấm
Nhân giống vô tính: là sự phân chia, tăng trưởng liên tục của các tếbào từ một tế bào ban đầu hoặc của các cây từ cây mẹ ban đầu nên chúng
giống nhau về mặt di truyền, có mấy phương pháp nhân giống vô tính sau:
- Tách chiết: là quá trình tách các cây lan từ những tổ hợp lan thuộc chi đa thân (Cattleya, Dendrobium…), nhưng lượng cây nhân giống không
nhiều
- Nhân giống bằng nuôi cấy tế bào: Phương pháp này có ưu điểm là hệ
số nhân giống cao, quần thể tạo đồng đều, rút ngắn thời gian sản xuất cây
giống và có thể áp dụng nhân giống trên quy mô công nghiệp
2.1.2.7 Yêu c ầu điều kiện ngoại cảnh đối với Lan Hồ Điệp
Chi lan Hồ Điệp là loại cây nhiệt đới, yêu cầu nhiệt độ ban ngày là
280-350C, ban đêm 20 – 240
C, ẩm độ 70 – 80%, Theo Hoàng Ngọc Thuận,
2005 [24], quá trình sinh trưởng của lan Hồ Điệp chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn dinh dưỡng, giai đoạn xuân hóa và giai đoạn hình thành cành hoa, cây được chuyển từ giai đoạn dinh dưỡng sang thời kì phân hóa mầm hoa Khi chúng có ít nhất 3 – 4 lá với chiều dài ít nhất 20cm là lúc cây có đủ kích cỡ
để kích thích sự ra hoa đồng đều bằng cách xử lý nhiệt độ thấp
+ Giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng: nhiệt độ thích hợp ban ngày là
Trang 30+ Giai đoạn nở hoa: nhiệt độ thích hợp ban ngày là 230
Giá thể là từ dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây
trồng, việc sử dụng giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt với cây trồng nhất là cây ở giai đoạn vườn ươm, hiện nay các giá thể được sử dụng: tham củi,
gạch nung, rêu, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, xơ dừa… các giá thể khác nhau có những ưu nhược điểm khác nhau, tùy theo mục đích trồng và các loài lan khác nhau thì trồng trên các nền giá thể tương ứng
2.1.3.2 T ưới nước
Nước cần cho sự sống của cây lan nhất là lúc nó đang ở giai đoạn phát triển dinh dưỡng, thiếu nước lan sẽ khô héo dần và chết, nhưng thừa nước lại làm cho chúng dễ thối và chết, người ta thường nói rằng cây lan bị chết do
tưới nước không đúng hơn bất kỳ lý do nào khác do đó khi tưới nước cho lan
cần quan tâm đến lượng nước tưới và chất lượng nước tưới
+ Lượng nước tưới phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Theo mùa: mùa mưa ẩm độ không khí tương đối cao thích hợp cho
sự phát triển của cây lan, mùa này cây lan cần lượng nước nhiều nhưng mưa
đã cung cấp cho nó, vào các ngày nắng to, nhiệt độ cao, cũng phải gia tăng
số lần tưới
- Theo loài lan: tùy theo giống loài lan mà có nhu cầu nước khác nhau, cây có nhiều lá và lá lớn, cần tưới nhiều nước, còn cây mập và dày thì tưới ít
Trang 31nước hơn, những cây có rễ giá nhiều thì cần phải tưới thường xuyên vào thời
kỳ tăng trưởng cây cần nhiều nước nên phải tưới nhiều hơn, còn thời kỳ nghỉthì cần ít nước
+ Theo giá thể, chậu trồng và môi trường trồng: cường độ ánh sáng, giá thể, loại chậu và độ thông thoáng Tất cả đều liên quan đến độ ẩm ở cây lan giúp chúng ta quyết định lượng nước tưới cho cây lan
+ Chất lượng nước tưới: nước tưới với lan cực kỳ quan trọng, do đó
nước phải sạch, không nhiễm mặn, phèn, và pH phải thích hợp
- Nước mưa: là nguồn nước lý tưởng cho lan, nước mưa có pH = 6 – 7, tuy nhiên ngày nay nước mưa chỉ tốt ở những vùng không bị ô nhiễm môi
trường, còn những vùng công nghiệp thường có mưa axít do đó rất nguy
hiểm đến cây trồng
- Nước sông suối: rất tốt cho lan, chỉ cần lưu ý đến độ phèn, độ mặn, phù sa
- Nước máy: phải để bay hơi Clo
- Nước giếng: cần phải chú ý đến hàm lượng kim loại nặng như: Mg,
Mn, Fe…
Với lan con chế độ tưới nước hết sức quan trọng, sau khi trồng 1 -2 ngày không nên tưới ngay vào cây mà chỉ cần giữ ẩm môi trường, vì khi trồng giá thểcòn ẩm, nếu tưới ngay tạo độ ẩm cao cây trồng dễ bị thối Vì vậy, yêu cầu
người trồng lan phải biết quan sát giá thể, cây, thời tiết và môi trường xung quanh, thường xuyên tưới 3 – 4 lần mỗi ngày nếu thời tiết quá khô, theo nguyên
tắc phải giữ ẩm cho lan con nhưng không quá ướt (Nguyễn Xuân Linh – kỹthuật trồng hoa, 1998), phần lớn cây lan trồng là có hệ thống rễ khí sinh, để rễkhô ráo giữa hai tưới là cần thiết, vì vậy không nên để chúng ẩm ướt liên tục + Dụng cụ tưới: vòi tưới bông sen + máy bơm nước hợp với những
vườn lan lớn, khi tưới, lật ngược vòi phun thành hình cầu vòng hạt nước rơi
xuống nhẹ nhàng, còn đối với những vườn lan nhỏ ta dùng bơm tay, khi tưới
Trang 32không phải tưới đậm ngay một khu vực mà tưới đi tưới lại cho giá thể ngấm + Thời gian tưới: tưới vào sáng sớm hoặc chiều mát, nếu trời nắng nóng, độ ẩm không khí thấp buổi trưa ta nên phun môi trường xung quanh
2.1.3.3 Bón phân
Có người cho rằng lan mọc trong rừng nên không cần bón phân hoặc bón ít phân, nhưng ngày nay ý kiến đó hoàn toàn bị bác bỏ, phân bón đã bổsung và đảm bảo chính xác các nhu cầu dinh dưỡng cho hoa lan, giúp cây lan
lớn nhanh và khỏe mạnh, ngày nay hầu như các loài lan đều được trồng trong các nhà lưới, nhà kính, do đó việc tổng hợp tự nhiên là rất hạn chế, cho nên
cần phải căn cứ theo loại lan, theo thời kỳ sinh trưởng, lượng phân cần dùng
và thành phần nguyên tồ tham gia để tiến hành bón phân, các giống lan khác nhau thì lượng phân cần dùng cũng khác nhau, cùng một giống nhưng trong
thời kỳ sinh trưởng khác nhau thì lượng phân và các nguyên tố cần thiết cũng khác nhau, và ở các mùa khác nhau thì cũng có lượng phân bón khác nhau
Rễ là cơ quan chính giúp lan hấp thụ nước và muối khoáng, ngoài ra lá
và thậm chí là thân cũng có khả năng này, Khi tưới phân ở dạng dung dịch, dung dịch ấy bám vào rễ, lá và giá thể, các chất tan dù ở dạng phân tử hay ion sẽ xuyên qua màng tế bào để vào bên trong nguyên sinh của tế bào, cho nên phun phân vào lá sẽ xâm nhập liên tục vào bên trong tế bào Ngược lại,
tưới phân không lâu đã thấy chúng khô đọng lại các vết trắng ở ngoài lá thì
chỉ ít phân được hấp thụ vào lá, vấn đề được đặt ra là tưới làm sao cho ướt toàn bộ cây mà vẫn tiết kiệm phân bón và người ta đã làm như sau: trước khi
tưới phân nên tưới qua một lượt nước để giúp cây hấp thụ phân bón được dễdàng hơn Thường tưới phân và dinh dưỡng vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát Tuyệt đối tránh tưới vào buổi trưa Phân tưới cho lan nên ở dạng dung
dịch, tuỳ theo điều kiện khí hậu, giá thể… mà khoảng cách giữa các lần tưới phân cần điều chỉnh phù hợp
Trang 33* Ch ọn phân bón:
Theo Nguyễn Hạc Thúy – 2001 [26] hiện nay ở Việt Nam có khoảng 40
loại phân bón khác nhau, trong đó phần lớn là phân bón vô cơ ngoại nhập hoặc
sản xuất liên doanh với nước ngoài như Growmore (Mỹ), Yogen (Nhật)… do
có rất nhiều chủng loại như vậy cho nên cần phải xác định nên bón phân loại nào cho phù hợp với từng loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao
Phân bón th ường có 2 loại:
- Phân vô cơ: đối với cây mới từ ống nghiệm ra cho đến khi ra hoa đều
có chế độ dinh dưỡng, lượng phân, loại phân khác nhau, các nhà nghiên cứu
đã đưa ra làm các giai đoạn bón như sau:
Lan con từ trong ống nghiệm tới 3 tháng tuổi: thời kỳ này chủ yếu dùng NPK rất loãng
Thời kỳ từ 4 tháng – 10 tháng, tỷ lệ bón (N : P : K = 3: 1: 1)
Thời kỳ từ 10 tháng – 24 tháng, tỷ lệ bón (N : P : K = 1: 2: 2)
Thời kỳ kích thước và có cụm dầy, tỷ lệ bón (N : P : K = 1: 2: 3)
Còn theo ông Trần Duy Quý [19] đối với lan Vũ Nữ và Vanda; khi cây còn bé ( cấy mô) nên bón phân hóa học theo NPK có tỷ lệ 30:10:10 hoặc 20:20:20 cho tới khi cây có bao hoa thì đổi sang NPK:6:30:30, khi hoa rụng thì đổi sang NPK: 30 : 10 : 10, trong quá trình đó ta có thể phun xen kẻ nước
tiểu pha loãng, nước ốc ngâm, nước đậu tương
Theo Keithly et Al 1991 [29] ở giai đoạn bồn mạ (cây con) lan
Dendrobium, Phalaenopsis Phun 50ppm N tổng số + 4,5ppm P + 8,2ppm K + che lát sắt + vi lượng là tốt nhất
Theo BFC (Bang kok Flower Centre), nuôi trồng chăm sóc cây lan sau invitro phải theo quy trình: cây invitro phải có 4 – 5 là thật, cao 5 – 7cm có
5 – 10 rễ/cây, giá thể phải phù hợp tùy theo từng loại giống lan, về chế độdinh dưỡng cho cây, khi cây còn nhỏ thì phun NPK dạng 10:10:10 ở giai
Trang 34đoạn sinh trưởng thì phun NPK 20:20:20, để cây ra hoa thì phun NPK dạng 10:20:10 hoặc 10:20:20
Nói tóm lại để cây sinh trưởng và phát triển tốt cần đáp ứng lượng phân tối ưu ở từng giai đoạn
- Phân hữu cơ: còn gọi là phân chuồng; phân xác vỏ, bột xương, nước
tiểu, phân trâu, phân ngựa, phân gia cầm … những loại phân hữu cơ không
thể dùng để bón trực tiếp, phải ủ hoai mục sau đó mới sử dụng
Theo tác giả Bốc Kim Chấn (Đài Loan): lấy một lon sữa bột than củi ngâm trong 10 lít nước trong 2 tuần, mỗi ngày khuấy trộn 1 lần, sau khi lắng trong thì cho 4 phần nước, tưới định kỳ mỗi tuần 1 lần sẽ làm tăng độ dày
của lá
Ngoài hai loại phân trên, gần đây phân phức hữu cơ là loại phân bón lá
đã được sử dụng cho các loại hoa và cho kết quả tốt
+ Agricomik được sản xuất từ nguyên liệu humic của Công ty Coold Moutain Ltd (Thái Lan), Công ty Abico nhập, pha chế, đóng gói và khảo nghiệm Phân bón có dạng lỏng gồm các nguyên tố đa, vi lượng và một số chất kích thích sinh trưởng, năng suất lúa ở Hải Phòng tăng từ 6 - 19%, lạc ở T.P HồChí Minh, Bắc Giang tăng 12 - 18%, hạt to và tỷ lệ hạt chắc cao, xà lách tăng
20 - 25%, bắp cải tăng 6% ở Lâm Đồng…
+ Cromic, có tên là “Phun phong thu” do Công ty TNHH Vạn Lợi
Xương - Hồng Công sản xuất, dã được sử dụng rộng rãi trên nhiều loại cây
trồng ở Hồng Kông, Trung Quốc, Thái Lan cho kết quả tốt Từ năm 1994 -
1995 Công ty Nicotex Việt Nam nhập và khảo nghiệm Cromic có tỷ lệ chủ yếu
là NPK, các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn, Fe, Mn ở dạng phức chất, ngoài ra còn có các amino axit, axit nucleic, polyhumat, enzime và coenzime
+ Theo Hoàng Ngọc Thuận (2005), chế phẩm Pomior đã được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận là một tiến bộ cấp nhà nước theo quyết định số
Trang 351046 QĐ/BNN - KHCN ngày 11/5/2005 Kết quả phun phân bón lá Pomior với
nồng độ 0,4%, 5 ngày/1 lần đã làm tăng năng suất và chất lượng hoa cúc, đồng
tiền rõ rệt, tỷ lệ hoa loại I đạt 31,2% Phân bón lá Pomior cũng làm tăng năng
suất và chất lượng hoa hồng, hoa cúc một cách rõ rệt [23], sử dụng phân bón lá Pomior cho dứa Cayen với nồng độ 0,6% làm tăng năng suất 8,37 tấn/ha So
với đối chứng phun nước lã, đồng thời làm tăng hàm lượng của chất khô và hàm lượng đường trong quả dứa [23]
Theo Hoàng Ngọc Thuận, phân bón lá Pomior có tác dụng nâng cao tỷ lệghép sống và tỷ lệ xuất vườn của cây xoài, nhãn vải, khi phun Pomior cho Xoài GL1, GL2, GL6 trên đất Gia Lâm, Hà Nội đã làm tăng tỷ lệ đậu quả và
năng suất của các giống xoài này từ 20 - 30% so với đối chứng [23]
Nghiên cứu trên cà phê chè catimor ở công ty cà phê và cây ăn quả tỉnh
Sơn La cho thấy sử dụng phân bón lá Pomior phun cho cà phê chè trong điều
kiện khô hạn và sương muối gây hại nặng đã góp phần phục hồi sinh trưởng và
tăng năng suất, chất lượng cà phê chè Catimor [23] Kết quả phun Pomior nồng
độ 0,5% phun ở thời kỳ lúa 1 - 1,5 lá thật, phun 2 lần, cách nhau 5 ngày đã khắc
phục cho mạ tái giá trên nền đất cứng (do toàn bộ diện tích ruộng bị ngập không có đất gieo) mục đích thúc đẩy mạ sinh trưởng nhanh, đạt tiêu chuẩn cấy trên ruộng trũng sau ngập [8], Pomior làm tăng năng suất rai cải củ 27% so với đối chứng (vụ sớm), 62% ở chính vụ [23]
Theo Hoàng Xuân Lam (2006), phân bón Pomior 198 ,nồng độ 0,3% rất thích hợp với lan con ở giai đoạn vườn ươm, giúp cây đạt tỷ lệ sống cao (92,67%), các chỉ tiêu sinh trưởng đều cao hơn so với các công thức khác, Pomior 198 nồng độ 0,3% có tác dụng kéo dài tuổi thọ hoa cắt làm tăng chất
lượng hoa và kéo dài độ bền [10]
Theo Vũ Thị Phượng (2005), ở giai đoạn cây con phun phân phức hữu
cơ Pomior 0,3% có tác dụng tốt cho cây lan làm tăng số lá trung bình trên cây,
Trang 36cũng theo Vũ Thị Phượng, Pomior cũng làm tăng đường kính hoa, số hoa trên cành, độ bền hoa [18]
Theo Khuất Thị Ngọc (2007), khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ bón phân tới sinh trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp (cây ở vùng sản xuất) đã rút
ra kết luận: phân Pomior thời gian bón 7 ngày có nồng độ 0,3% là thích hợp
nhất, phân vi sinh Bảo Đắc có tác dụng tốt đến sinh trưởng và phát triển của cây Qua kết quả của Khuất Thị Ngọc nghiên cứu phân vi sinh Bảo Đắc cho kết
quả cao nhất ở các chỉ tiêu nghiên cứu [17]
Phân vi sinh Bảo Đắc là sản phẩm hữu cơ Trung Quốc thành phần là khuẩn sống loại WY9702 và những chất thay thế phù hợp, những vật chất hoạt tính bảo vệ sức khoẻ của những vi khuẩn kìm nén cùng nhiều loại hợp chất cho sinh trưởng cây trồng Vi sinh Bảo Đắc có tác dụng điều tiết, lên men tăng
cường tác dụng quang hợp, cung cấp nhiều dinh dưỡng, xúc tiến sinh trưởng phát dục, đề cao tính kháng cho cây trồng, giảm bớt bệnh hại phát sinh
Tóm lại, vấn đề nghiên cứu về phân bón cho cây lan nói chung và lan HồĐiệp nói riêng tuy nhiều vấn đề nghiên cứu và sử dụng chế phẩm phức hữu cơPomior và vi sinh Bảo Đắc cho lan Hồ Điệp còn ít, đặc biệt là cây ở giai đoạn
vườn ươm cũng như chưa nghiên cứu sâu sắc về các giá thể cho lan, phân vi sinh Bảo Đắc hầu như chưa được nhiều người nghiên cứu và sử dụng đến Qua
một số đề tài nghiên cứu chứng tỏ phân phức hữu cơ Pomior, phân vi sinh Bảo Đắc có tác dụng tốt đến cây trồng đặc biệt là cây phong lan
2.1.3.4 Phòng tr ừ sâu bệnh
Trong tự nhiên mỗi cây có một số sâu và bệnh tấn công riêng, do đó cây lan cũng không nằm ngoài quy luật này Vì vậy, để tránh những thiệt hại không đáng có, việc phòng trừ sâu bệnh ngay từ đầu là cần thiết, cho nên cần
phải có biện pháp quản lý sâu bệnh một cách tổng hợp
+ Làm vườn tối ưu trong việc trồng các giống lan
Trang 37- Trồng không đúng cách có thể làm cây dễ nhiễm bệnh, nên tưới nước
cần thiết và tưới vào thời điểm làm cho lá mau khô Bón phân thường xuyên,
để giữ cho cây sinh trưởng phát triển bình thường
- Chọn giống sạch bệnh
- Phải thường xuyên kiểm tra định kỳ
+ Áp dụng biện pháp vệ sinh đối với những cây sâu bệnh và vệ sinh
vườn lan, dùng thuốc khi cần thiết, hoa lan thường bị một số sâu bệnh hại sau:
* Bệnh đốm vàng – thán thư (Colletotrichum glueosporioides): bệnh
này làm cho lá màu nâu và giả hành có vết dạng hình tròn, lõm không đều, màu sắc vàng hơi xanh nhạt, các lá già thường bị nặng
Phòng trừ: cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc Zineb, Ridomil, Anvil
* Bệnh thối rễ, căn hành, giả hành do vi khuẩn (Erwinia
carotovorasub.sp và Erwinia chrysanthemi)
Triệu chứng khi nhiệt độ cao kết hợp với độ ẩm cao thì các vi khuẩn này ký sinh trên lá và xâm nhập vào những mô đã bị thương tổn, chỗ bị bệnh
sẽ úa mềm, có màu nâu và mùi rất khó chịu
Phòng trừ: dùng thuốc diệt khuẩn như Phusan, Caviben 50HB, Fhirama, Kitazin đặc biệt là dùng Steptomicin + Penicilin
* Bệnh thối trắng rễ (Rhizoctnia solani): phá hoại trên nhiều giống
như Vanda, Denrobium, Cattleya… bệnh này làm cây sinh trưởng chậm lại,
bệnh làm cho cây bị thối rễ mất sinh lực (W.Simone, 1995) [29]
* Virus: đây là loại rất nguy hiểm, virus rất khó chữa, khi cây bị bệnh
cần phải cách ly hoặc hủy bỏ Hiện nay công tác phòng ngừa virus xâm nhập
là chính, virus làm thay đổi hình thái của cây hoa lan từ chóp rễ đến đỉnh sinh trưởng, các triệu chứng virus biến đổi nhiều tùy thuộc vào nòi virus và điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, dinh dưỡng Virus làm biến đổi màu sắc trong
mô tế bào cây chủ mà còn hạn chế sự phát triển của cây
Trang 382.1.4 Quy trình ch ăm sóc cây lan nhân bằng nuôi cấy mô
2.1.4.1 Giai đoạn lấy từ trong ống nghiệm ra
Đây là thời điểm rất quan trọng cần phải chú ý nhưng trong thực tế
hầu hết các người trồng lan đều xem thường và ít để ý Vì làm không cẩn
thận sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây con sau này, việc lấy cây con ra
phải nhẹ nhàng, tránh dập lá gẫy rễ và phải rửa sạch môi trường bám vào cây, lá, rễ Sau đó ngâm vào nấm với nồng độ pha loãng (1g/lít) với mục đích sát khuẩn (Dinatham M45) Sau đó ta cần phân loại cây to, nhỏ khác nhau để thuận tiện cho việc chăm sóc
Giai đoạn ở chung trong chậu là giai đoạn khó khăn nhất và quan
trọng nhất của việc trồng lan
Theo Rebecca Tysun Northen trong cuốn Home orchid Growing (1974) chỉ dẫn lan con lấy ra từ ống nghiệm sau đó đưa ngâm vào dung dịch sát khuẩn, tiếp đó là trồng cây con vào chậu chung, pha loãng dung dịch phân bón, một phần từ dung dịch phân bón với 4,5 lít nước ngay tức khắc sau khi trồng tưới vào cây
Theo Water Richer (người Đức): cho rằng để trồng cây từ ống nghiệm
ra người ta chuẩn bị than bùn, than củi với tỷ lệ ngang nhau, đồ đựng là các
chậu đất hoặc dĩa và 1/3 phía dưới người ta cho mảnh sành, phía trên là các
chất nuôi cây để khoảng cách từ 2 - 3cm Người ta lấy cây con từ ống nghiệm ra một cách cẩn thận rồi cho vào bể rửa sạch môi trường dinh dưỡng
và trồng tương đối chặt vào chậu và chú ý giữ gìn cẩn thận, khi trồng ấn nhẹ
chất nuôi cây xuống, giai đoạn trong chậu chung đối với các loại lan là khác nhau về chế độ ánh sáng
2.1.4.2 Giai đoạn trồng vào chậu
Sau khi cây trồng trong chậu ổn định một thời gian cần thiết là phải
trồng vào chậu nhỏ và giai đoạn này cần hai thứ là chậu và chất liệu trồng
Trang 39+ Chậu: có thể dùng chậu đất, chậu nhựa mềm, nhựa cứng có đường kính 3 – 5cm, cao 5 – 10cm và có lỗ thoát nước ở dưới
+ Giá thể: tùy theo điều kiện và các loại lan khác nhau mà giá thể cũng khác nhau (rễ bèo, than củi, gạch, dương sĩ, rêu…)
2.1.4.3 Giai đoạn thay chậu nhỏ và trồng vào chậu lớn
Việc chuyển chậu có thể thực hiện trong khoảng thời gian cây con đã
ở trong chậu nhỏ 10 – 24 tháng, khi chuyển cây không nên căn cứ vào tháng
tuổi của cây ở trong giai đoạn nhỏ mà phải căn cứ vào tình trạng của từng cây, nếu cây bé trồng vào chậu lớn, cây lớn trồng vào chậu bé thì cũng tương
tự (cây không phát triển), trong quá trình chuyển chậu cần phải nhẹ nhàng và tránh hư hại cho bộ rễ
Sau khi chuyển chậu được một tuần trở lại mới được bón các loại dinh
dưỡng cho cây, vì quá trình chuyển chậu ít nhiều bộ rễ cũng bị tổn thương do
đó nếu bón phân hóa học ngay sẽ làm luộc rễ Duy trì cường độ ánh sáng 40.000lux trong 6 tháng – 1 năm sau đó mới chuyển cây ra nơi có cường độánh sáng 50.000lux và để 6 tháng thì cây bắt đầu ra hoa
2.2 Tình hình s ản xuất lan trên thế giới và việt nam
2.2.1 Tình hình s ản xuất lan trên thế giới
Hiện nay tình hình sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách
mạnh mẽ và đã trở thành một ngành thương mại có lợi cho nền kinh tế các
nước trồng và xuất khẩu hoa Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày được mở
rộng và không ngừng tăng lên, nhiều tạp chí về hoa lan được xuất bản, nhiều
cuộc hội thảo về lan đã được tổ chức Trước đây việc nuôi trồng và xuất
khẩu chủ yếu là lan rừng nên nguy cơ khoảng 13 loài tuyệt chủng, ngày nay
việc trồng lan dần theo quy mô công nghiệp, việc xuất khẩu lan đã đạt tới số
lượng hàng trăm ngàn giò, hàng vạn cành lan trong một năm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường
Trang 40Loddiges 1812 là người đầu tiên trên thế giới thiết lập vườn lan
thương mại, trong những thập kỷ gần đây cùng với phương tiện giao thông phát triển mạnh mẽ, các thành tựu khoa học kỹ thuật và sự phát triển về công nghệ sinh học được áp dụng rộng rãi Do đó việc xuất khẩu hoa lan ngày càng tăng với qui mô lớn, nhiều nước đã trở thành cường quốc xuất khẩu hoa lan như Thái Lan, Đài Loan… Hiện nay, Thái Lan là nước đứng đầu thế giới
về xuất kẩảu hoa lan đạt 110 triệu USD trong năm 2003, Thái Lan có 18 phòng nuôi cấy mô hoa lan thương mại hoạt động ở Băng Cốc và các phụ
cận (Đồng Văn Khiêm, 1995) [9], nhờ khả năng thực hiện công nghệ mới trong nuôi cấy mô và lai tạo Năm 1993, Thái Lan xuất đi 70,7% cho thị
trường Anh, 81,4% cho Hà Lan về lan cắt cành, 64 triệu cành cho Ý và 5 triệu cành cho Nhật
Năm 1946, công trình nghiên cứu của TS.Knudson (Mỹ) đã mở ra công nghệ sinh học môi trường lan, nhờ vậy người ta đã sản xuất được một khối
lượng cây lớn, đồng nhất trong thời gian ngắn và chọn được giống sạch virus…
Đài Loan: có khí hậu ấm áp, mưa nhiều và gần giống với khí hậu
Việt Nam nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm, Đài Loan đang tăng nhanh sản xuất Phalaenopsis và chọn tạo nhiều giống mới, hiện nay đã tạo ra
được một số giống lan quí có khả năng cắt hoa và trồng trong chậu (Segrback, LB 1983) [37]
Malaysia: với sự quan tâm của chính phủ và sự phát triển nhanh chóng của nghề trồng hoa, đến nay đã có đủ khả năng cạnh tranh với thế giới
và chiếm phần đáng kể ở Châu Á, công nghiệp lan cắt cành tăng khoảng 7 triệu USD năm 1998 và 20 triệu USD năm 1994, thị trường xuất khẩu chủ
yếu là Singapore, Nhật, Úc… (Ngô Quang Vũ – Hoa cảnh T10/2002) [28]
Hà Lan: đã đầu tư 20 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bịmáy móc đầu tư cho sản xuất hoa lan xuất khẩu Tính đến năm 2003, kim