1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP TỈNH ĐẮK NÔNG

24 965 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 155,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cư dân bản địa Đắk Nông là chủ nhân của nhiều hiện vật vănhóa độc đáo, tiêu biểu là Đàn đá Đắk Kar có niên đại hàng ngàn năm tuổi, là hệthống các nghi lễ - lễ hội đặc sắc, là kho tàng tr

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN

KỶ NIỆM 10 NĂM THÀNH LẬP TỈNH ĐẮK NÔNG

(01/01/2004 - 01/01/2014)

Thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU, ngày 15/8/2012 của Tỉnh ủy Đắk Nông về một số hoạt động tiến tới kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông (01/01/2004 - 01/01/2014), Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy đã biên soạn và phát hành Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông (01/01/2004 - 01/01/2014) nhằm tuyên truyền rộng rãi đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh nhận thức sâu sắc

về những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị sau 10 năm thành lập tỉnh Đắk Nông và những định hướng phát triển cơ bản trong những năm tới Báo Đắk Nông điện tử xin đăng tải toàn bộ nội dung Đề cương như sau:

PHẦN I MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI ĐẮK NÔNG

VÀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TỈNH

I MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI ĐẮK NÔNG

1 Tổ chức hành chính, dân cư

Đắk Nông hiện có 8 đơn vị hành chính cấp huyện (Thị xã Gia Nghĩa và các huyện:

Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’Lấp, Krông Nô, Đắk G’Long, Tuy Đức); 71 xã,phường, thị trấn Diện tích tự nhiên: 6.514,38km²

Dân số đến cuối năm 2012 là 538.034 người Mật độ dân số trung bình là82,61người/km2, phân bố không đều, dân cư chủ yếu tập trung ở các trung tâm xã,thị trấn huyện lỵ, ven các trục đường quốc lộ, tỉnh lộ Dân số đô thị chiếm 15,03%,dân số nông thôn 84,97% Dân số trong độ tuổi lao động chiếm 67,86% tổng dânsố

Đắk Nông là tỉnh đa dân tộc, với cộng đồng dân cư gồm 40 dân tộc cùng sinh sống.Trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 31,5% dân số toàn tỉnh Dân tộcM’nông, Mạ và Ê đê là 3 dân tộc sinh sống lâu đời ở địa phương, chiếm 33% sovới tổng số dân tộc thiểu số và 10,4% so với dân số toàn tỉnh

2 Đặc điểm tự nhiên

Trang 2

a) Vị trí địa lý

Đắk Nông nằm ở phía Tây Nam vùng Tây Nguyên, đoạn cuối dãy Trường Sơn;nằm trong khoảng tọa độ địa lý: 11045’ đến 12050’ vĩ độ Bắc, 107013’đến 108010’kinh độ Đông Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông và Đông Namgiáp tỉnh Lâm Đồng, phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giápVương quốc Campuchia

Nằm ở cửa ngõ Tây Nguyên, Đắk Nông có Quốc lộ 14 – trục giao thông huyếtmạch nối Tây Nguyên với các tỉnh miền Đông Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh;Quốc lộ 28 nối Đắk Nông với tỉnh Lâm Đồng và các tỉnh duyên hải miền Trung.Đắk Nông còn có 130 km đường biên giới với 02 cửa khẩu quốc tế Bu Prăng vàDak Peur nối với tỉnh Mondulkiri của Vương quốc Campuchia

Về địa hình, địa bàn tỉnh Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, độ caotrung bình khoảng 600m đến 700m so với mặt nước biển, nơi cao nhất là 1.982m(Tà Đùng) Đắk Nông có địa hình đa dạng và phong phú, bị chia cắt mạnh, có sựxen kẽ giữa các núi cao hùng vĩ, hiểm trở với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải,lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng Địa hình thung

lũng thấp, có độ dốc từ 0-3 0 chủ yếu phân bố dọc sông Krông Nô, Sêrêpôk, thuộccác huyện Cư Jút, Krông Nô Địa hình cao nguyên đất đỏ bazan chủ yếu ở cáchuyện Đắk Mil, Đắk Song, độ cao trung bình 600 - 800m, độ dốc khoảng 5-100.Địa hình chia cắt mạnh và có độ dốc lớn > 150 phân bố chủ yếu trên địa bàn cáchuyện Đắk G’Long, Đắk R'Lấp Nhìn tổng thể, địa hình Đắk Nông như hai mái củamột ngôi nhà mà đường nóc là dãy núi Nam Nung, có hướng thấp dần từ Đôngsang Tây

b) Khí hậu thời tiết

Đắk Nông là khu vực chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và ĐôngNam Bộ, chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cậnxích đạo, nhưng do sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu caonguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam khô nóng Mỗinăm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90%lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưakhông đáng kể

Nhiệt độ trung bình năm 220C - 23,50C, nhiệt độ cao nhất 350C Tổng số giờ nắngtrong năm trung bình gần 2200 giờ Lượng mưa trung bình năm hơn 2.600 mm Độ

Trang 3

ẩm không khí trung bình 84% Hướng gió chủ yếu mùa mưa là Tây Nam, mùa khô

là Đông Bắc, tốc độ gió bình quân 2,4 - 5,4 m/s, hầu như không có bão

- Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy núi cao trên 2.000m phía Đông Nam tỉnh ĐắkLắk, chảy qua huyện Krông Nô

- Hệ thống sông suối thượng nguồn sông Đồng Nai Đáng kể nhất là: Suối ĐắkRung, suối Đắk Nông, suối Đắk Bukso, suối Đắk R'Lấp, suối Đắk R'Tih

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có nhiều hồ, đập lớn vừa có tác dụng giữ nước chosản xuất nông, công nghiệp, thủy điện, vừa là tiềm năng để phát triển du lịch như

Hồ Tây, EaSnô, Ea T'Linh, Đắk Rông, Đak Đier, ĐăkR’tih, Đồng Nai 3,4.v.v

d) Đất đai

Đắk Nông có tổng diện tích đất tự nhiên là 651.561 ha Cấu tạo thổ nhưỡng kháphong phú và đa dạng, nhưng chủ yếu gồm 05 nhóm chính: Nhóm đất xám trênnền đá macma axit và đá cát chiếm khoảng 40% diện tích và được phân bổ đềutoàn tỉnh Đất đỏ bazan trên nền đá bazan phong hóa chiếm khoảng 35% diện tích,

có tầng dày bình quân 120cm, phân bổ chủ yếu ở Đắk Mil, Đắk Song Còn lại làđất đen bồi tụ trên nền đá bazan, đất Gley và đất phù sa bồi tụ dọc các dòng sông,suối

Về sử dụng: Đất nông nghiệp có diện tích là 306.749 ha, chiếm 47% tổng diện tích

tự nhiên Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích.Đất cây hàng năm chủ yếu là đất trồng lúa, ngô và cây công nghiệp ngắn ngày Đấtlâm nghiệp có rừng diện tích là 279.510ha, tỉ lệ che phủ rừng toàn tỉnh là 42,9%.Đất phi nông nghiệp có diện tích 42.307 ha Đất chưa sử dụng còn 21.327 ha, trong

đó đất sông suối và núi đá không có cây rừng là 17.994 ha

e) Tài nguyên khoáng sản

Trang 4

Đắk Nông đã phát hiện được khoảng 20 loại khoáng sản với trên 178 mỏ và điểmquặng chủ yếu là bauxit, wolfram, antimoal, bazan bọt; bazan cột, bazan khối, cátxây dựng, đá bazan, đá granit, sét gạch ngói, than bùn, opal, thiếc sa khoáng,kaolin, nước khoáng thiên nhiên, saphir Trong đó, bô xít là nguồn khoáng sản cótrữ lượng lớn với trữ lượng dự đoán 5,4 tỉ tấn, trữ lượng thăm dò 2,6 tỉ tấn, hàmlượng Al2O3 từ 35-40% Ngoài ra còn có một số khoáng sản quí hiếm, như: vàng,

đá quí ngọc bích, saphir, opal…

3 Đặc trưng văn hóa –tín ngưỡng, tôn giáo.

Đắk Nông là vùng đất có nền văn hoá đa dạng, mang truyền thống và bản sắc riêngcủa nhiều dân tộc Trong đó, thể hiện đậm nét là nền văn hóa của các dân tộcM’Nông, Mạ, Ê Đê Cư dân bản địa Đắk Nông là chủ nhân của nhiều hiện vật vănhóa độc đáo, tiêu biểu là Đàn đá Đắk Kar có niên đại hàng ngàn năm tuổi, là hệthống các nghi lễ - lễ hội đặc sắc, là kho tàng truyện cổ - dân ca, dân vũ, là nhữngđặc trưng văn hóa cồng chiêng đã góp phần làm nên "Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên" nổi tiếng khắp trong và ngoài nước Đặc biệt là kho tàng OtN'drông (một dạng sử thi) với tầm vóc và số lượng đồ sộ: hàng ngàn, hàng vạn câuvăn vần

Đặc trưng văn hóa của vùng đất Đắk Nông ngày nay còn được bồi đắp, mở rộngthêm bởi những nét văn hóa đặc sắc từ nhiều vùng miền trong nước Sự kết hợpnhuần nhuyễn văn hóa truyền thống giữa các dân tộc chính là nét đặc trưng vănhóa, là tiềm năng và triển vọng vô cùng lớn lao của tỉnh Đắk Nông

Về Tôn giáo - Tín ngưỡng Nhân dân các dân tộc tỉnh Đắk Nông từ rất sớm đã cótín ngưỡng nguyên thủy, đa thần, sùng bái tự nhiên Trong quá trình hình thành vàphát triển tín ngưỡng truyền thống của cư dân bản địa có thêm sự du nhập của cáctôn giáo mới Bên cạnh các tôn giáo truyền thống Phương Đông (Khổng giáo, Phậtgiáo, v.v…), dần có thêm Công giáo, Tin Lành, v.v…

4 Truyền thống lịch sử

Trong phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân cả nước những năm cuối thế

kỷ XIX– đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh chống Pháp của đồng bào các dân tộc ởcao nguyên M’Nông đã diễn ra rất sôi nổi Dưới sự lãnh đạo của các vị tù trưởng,tộc trưởng đồng bào các dân tộc đã đứng lên đấu tranh chống xâm lược Tiêu biểu

là các cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1889 – 1905), N’Trang Gưh (1900 – 1914),N’Trang Lơng (1912-1936) Trong đó, cuộc khởi nghĩa của N’Trang Lơng là cuộc

Trang 5

khởi nghĩa có sức lan tỏa rộng lớn, thu hút sự tham gia của các dân tộc ở TâyNguyên trên một địa bàn rộng lớn từ cao nguyên M’Nông, đến cao nguyên ĐắkLắk và cả một phần của Campuchia Phong trào khởi nghĩa N’Trang Lơng là ngọn

cờ đầu chống Pháp, tiêu biểu cho truyền thống bất khuất, chống xâm lược của đồngbào các dân tộc Tây Nguyên

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc,thống nhất đất nước, xây dựng và phát triển miền đất Đắk Nông được đánh dấubằng sự ra đời của Chi bộ Cộng sản đầu tiên được thành lập trong nhà Ngục ĐắkMil, năm 1943 Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong hai cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đồng bào các dân tộc M’Nông, Mạ… đã sớm giácngộ và đi theo cách mạng Đắk Nông trở thành căn cứ địa vững chắc của cáchmạng, là địa bàn trọng yếu ghi nhiều dấu ấn trong cả hai cuộc kháng chiến Trongkháng chiến chống Pháp, Đắk Nông là hậu cứ quan trọng của lực lượng Việt Minh

ở Đắk Lắk Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Đắk Nông là địa bàn trọng yếucủa hành lang chiến lược Bắc – Nam, tuyến chiến lược quan trọng từ Nam TâyNguyên vào Đông Nam Bộ Ngày 9/3/1975, trận đánh Đức Lập – Đắk Mil đã trởthành trận đánh mở màn cho Chiến dịch Tây Nguyên lịch sử Ngày 23/3/1975, GiaNghĩa – tỉnh lỵ Quảng Đức cũ được giải phóng, đặt dấu mốc quan trọng trong lịch

sử hình thành và phát triển Đắk Nông

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đảng bộ, chính quyền, quân và dâncác dân tộc tỉnh Đắk Nông một mặt nhanh chóng ổn định tổ chức, ổn định đời sốngnhân dân, từng bước phát triển kinh tế-xã hội; mặt khác vừa phải tiến hành truyquét, phá rã tổ chức Fulro, vừa phải chống trả sự gây hấn, xâm chiếm của lựclượng Kh’me đỏ, giữ vững chủ quyền, an ninh biên giới

Ghi nhận những đóng góp của Đảng bộ, Chính quyền, quân và dân các dân tộc ĐắkNông, Đảng và Nhà nước đã trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang cho

8 tập thể: Nhân dân và LLVT nhân dân tỉnh Đắk Nông; Nhân dân và LLVT nhândân: huyện Đắk Mil, huyện Đắk R’Lấp, xã Nâm Nung – huyện Krông Nô, xã ĐạoNghĩa – huyện Đắk R’Lấp, xã Quảng Sơn – huyện Đắk G’Long; tiểu đoàn 301 –BCHQS tỉnh; Đồn Biên phòng Bu Prăng

Trong công cuộc đổi mới, hội nhập, phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa –hiện đại hóa đất nước, phát huy truyền thống Đảng bộ, Chính quyền và nhân dâncác dân tộc trong tỉnh luôn đoàn kết, vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới củaĐảng, nhanh chóng nắm bắt thời cơ, phát huy nội lực, khai thác ngoại lực để chungsức, đồng lòng xây dựng và phát triển tỉnh Đắk Nông

Trang 6

II QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP TỈNH

Tỉnh Đắk Nông ngày nay được hình thành trên cơ sở một vùng đất lâu đời, đã cócon người sinh sống từ thời nguyên thủy và trải qua nhiều sự thay đổi địa giới hànhchính qua các thời kỳ lịch sử

Cho đến cuối thế kỷ 19, về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên trong đó có ĐắkNông vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các triều đại phong kiến Việt Nam Tuy nhiên

về cơ bản vẫn là vùng đất được vận hành theo luật tục của các buôn làng độc lập,chưa có một hệ thống hành chính hoàn chỉnh

Năm 1858 cùng với việc xâm lược nước ta, thực dân Pháp thông qua các nhàtruyền giáo, đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và chinh phục vùng đấtTây Nguyên, từng bước đưa quân lên Tây Nguyên, thiết lập bộ máy cai trị củachính quyền thực dân Từ năm 1893, thực dân Pháp chính thức thiết lập bộ máy caitrị của mình ở Tây Nguyên Trong giai đoạn từ 1893 đến 1958, tuy có một số biếnđộng, nhưng cơ bản vùng đất Đắk Nông ngày nay vẫn thuộc địa phận tỉnh ĐắkLắk Hệ thống hành chính ban đầu được thiết lập ở Đắk Mil và Đắk Song, sau mởrộng đến Kiến Đức, Đức Xuyên

Năm 1959, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định cắt một phần phía Tâycủa tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnhQuảng Đức Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giớitỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức,quận Khiêm Đức

Năm 1950, tỉnh Đắk Lắk đã cử Đội công tác 124 về tiến hành xây dựng cơ sở ởxung quanh núi Nâm Nung Đến năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn

cứ của lực lượng cách mạng

Tháng 12 năm 1960, Trung ương quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, dựa trên sựphân chia địa giới của địch (lấy mật danh là B4) Khi mới thành lập, tỉnh QuảngĐức thuộc Liên tỉnh IV, do Liên khu V chỉ đạo

Đến giữa năm 1961, khu VI được thành lập, tỉnh Quảng Đức thuộc sự chỉ đạo củaKhu VI Xuất phát từ nhiệm vụ, yêu cầu của cách mạng, đầu năm 1962, ta giải thểtỉnh Quảng Đức; cắt huyện Khiêm Đức về tỉnh Lâm Đồng; huyện Đức Lập và ĐứcXuyên nhập về Đắk Lắk; huyện Kiến Đức nhập về Phước Long Tháng 10/1962,cắt huyện Khiêm Đức và xã Đăng Gia của huyện Đức Trọng thành lập huyện mới,mang mật danh E25

Trang 7

Năm 1963, ta tái lập tỉnh Quảng Đức, thuộc sự chỉ đạo của khu X Huyện E25 giảithể và trở lại mang tên Khiêm Đức như trước Tháng 10/1963, ta quyết định giảithể khu X, đồng thời giải thể luôn tỉnh Quảng Đức Huyện Đức Lập, Đức Xuyên

về lại tỉnh Đăk Lắk; Khiêm Đức về Lâm Đồng; Kiến Đức lúc này là một huyệnnhỏ vẫn tiếp tục đặt dưới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ Phước Long

Năm 1966, khu X được thành lập lại và quyết định tạm thời chia tỉnh Quảng Đứcthành Tiền phương A (gồm 02 huyện Đức Lập, Đức Xuyên) và Tiền phương B(gồm 02 huyện Khiêm Đức và Kiến Đức)

Tháng 1 năm 1967, hai cơ quan Tiền phương A và B hợp nhất thành tỉnh QuảngĐức như cũ

Tháng 5 năm 1971, ta giải thể tỉnh Quảng Đức và Khu X; giao Khiêm Đức, KiếnĐức về Lâm Đồng dưới sự chỉ đạo của khu VI; Đức Xuyên, Đức Lập về Đắk Lắkthuộc khu V chỉ đạo Đến tháng 8 năm 1974, cắt Kiến Đức về với Phước Long;còn Khiêm Đức, Gia Nghĩa vẫn thuộc Lâm Đồng

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, tháng 5 - 1975,tỉnh Quảng Đức được thành lập lại Đến tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức sátnhập vào tỉnh Đắk Lắk

Tháng 11 năm 2003, tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XI đã thông qua Nghị quyết

số 22/2003/QH11, ngày 26 tháng 11 năm 2003 về việc chia và điều chỉnh địa giới

một số tỉnh Điểm 2, Điều 1 của Nghị quyết quy định “Chia tỉnh Đắk Lắk thành tỉnh Đắk Lắk và tỉnh Đắk Nông”; “b) Tỉnh Đắk Nông có diện tích tự nhiên là 651.438 ha và dân số hiện tại là 363.118 người; bao gồm diện tích và số dân của huyện Đắk R'Lấp; huyện Đắk Nông; huyện Đắk Song; huyện Đắk Mil; huyện Krông Nô (trừ các xã Ea R'Bin và Nam Ka); huyện Cư Jut (trừ các xã Hòa Khánh, Hòa Xuân và Hòa Phú) Tỉnh lỵ đặt tại thị trấn Gia Nghĩa thuộc huyện Đắk Nông.”

Ngày 01/01/2004, tại thị trấn Gia Nghĩa, huyện Đắk Nông, tỉnh Đắk Nông đượcchính thức thành lập và đi vào hoạt động

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, từ năm 2004 các đơn vị hành chính trong tỉnh ĐắkNông đã có sự chia tách thêm một số đơn vị mới Tháng 6 năm 2005 tách huyệnĐắk Nông thành thị xã Gia Nghĩa và huyện Đắk G’Long; tháng 01 năm 2007 táchhuyện Đắk R’lấp thành huyện Đắk R’Lấp và huyện Tuy Đức

Trang 8

PHẦN II THÀNH TỰU 10 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

I NHỮNG THÀNH TỰU CƠ BẢN

Sau 10 năm thành lập tỉnh (2004 - 2014), với tinh thần tự lực, tự cường, năng động,sáng tạo, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương, Đảng bộ và nhân dân ĐắkNông đã nỗ lực khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi, giành được nhiều thànhtựu quan trọng

1 Một là, nền kinh tế phát triển nhanh trên các lĩnh vực theo hướng tích cực phát huy tiềm năng lợi thế của tỉnh, đã tạo ra bước đột phá quan trọng.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh tăng khá cao Nếu như giai đoạn 2000 - 2003,tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn chỉ đạt mức 7,3%/năm, thì trong 10 nămqua (2004-2013) tốc độ tăng trưởng kinh tế đã vượt lên 13,8%/năm[1] Trong đó,giai đoạn 2006 - 2010 đạt 15,19%/năm; 3 năm gần đây (2011-2013), mặc dù chịunhiều tác động không thuận từ suy thoái kinh tế trong nước và quốc tế nhưng tốc

độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt trung bình 12,45% /năm Tổng giá trị sản phẩm(GDP) theo giá hiện hành năm 2012 đạt hơn 32 ngàn tỷ đồng, gấp 21,6 lần so vớinăm 2003 Thu nhập bình quân đầu người/năm tăng liên tục qua các năm: Năm

2003 là 3,83 triệu đồng/người; đến năm 2013 đạt khoảng 29,87 triệu đồng, tăng 7,8lần

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng nông thủy sản, tăng

tỷ trọng khu vực dịch vụ, công nghiệp - xây dựng Nếu như năm 2003 tỷ trọng cácngành nông nghiệp chiếm 71,8%; công nghiệp, xây dựng chiếm 9,2%; dịch vụchiếm 19%, thì đến năm 2013 tỷ lệ tương ứng là 55,32% - 22,04% – 22,64%

Tổng thu ngân sách nhà nước tại địa bàn tăng nhanh Năm 2013 ước đạt 1500 tỷđồng tăng gấp 5,3 lần so với 2003

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản liên tục tăng trưởng và giữ vai trò nền tảng

đối với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã cóbước chuyển biến tích cực theo hướng chú trọng sản xuất hàng hóa và có giá trịkinh tế cao Giá trị sản xuất nông nghiệp năm 2012 đạt hơn 18,2 ngàn tỷ đổng gấphơn 9,3 lần so với năm 2003 Sản lượng lương thực năm 2012 đạt 366,43 ngàntấn, tăng gấp 2,8 lần so với năm 2003 Cây công nghiệp dài ngày tăng mạnh cả vềsản lượng và diện tích Đến cuối năm 2012 diện tích và sản lượng cây cà phê tăng

Trang 9

từ gần 66 ngàn ha – 114 493 tấn năm 2003 lên đến 115.270 ha – 204.857 tấn; diệntích cây hồ tiêu đạt 8.924 ha, sản lượng đạt 14.563 tấn, tăng khoảng 1,5 lần vềdiện tích và sản lượng so với năm 2003 Giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đấttrồng trọt tăng từ 15,93 triệu đồng năm 2005 lên đến 55,72 triệu đồng năm 2012.

Quy mô sản xuất, cơ cấu kinh tế hộ nông thôn[2] có bước chuyển dịch, thu nhậpcủa hộ nông thôn tăng lên Cơ cấu ngành nghề của hộ NT có sự chuyển dịch nhanhtheo hướng giảm số lượng và tỷ trọng nhóm hộ nông, lâm thủy sản, tăng số lượng

và tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ

Quy mô sản xuất công nghiệp tăng hầu hết ở các lĩnh vực, thành phần kinh tế Tốc

độ tăng trưởng cao, giá trị sản xuất công nghiệp năm 2012 đạt 3.922 triệu đồng,tăng hơn 10 lần so với năm 2003 Đến nay trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được 02khu công nghiệp và 5 cụm công nghiệp, thu hút 80 dự án đăng ký đầu tư, trong đó

25 dự án đang hoạt động, 11 dự án đang triển khai xây dựng cơ bản và 44 dự ánđang làm thủ tục đầu tư với tổng vốn đầu tư 2.662 tỷ đồng Riêng Khu côngnghiệp Tâm Thắng có 30 dự án đầu tư (25 dự án đã hoạt động; 05 dự án đang xâydựng cơ bản), tổng vốn đăng ký đầu tư 2.232,9 tỷ đồng, lấp đầy được 70,3% diệntích

Tiềm năng thủy điện được khai thác đúng định hướng Trên địa bàn tỉnh Đắk Nônghiện có 16 nhà máy thủy điện đã đi vào hoạt động với tổng công suất 1403MW/năm[3]

Công nghiệp khai khoáng bước đầu có sự khởi động tích cực Nhà máy AluminaNhân Cơ đã được khởi công xây dựng, dự kiến đi vào hoạt động cuối năm 2014;đồng thời chuẩn bị khởi công xây dựng nhà máy điện phân nhôm tại NhânCơ; triển khai dự án khai thác Antimon và khai thác Wolfram tại xã Đăk Drông,huyện Cư Jut

Thương mại - dịch vụ có bước phát triển, tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006 – 2013

luôn ở mức trên 15%/năm Kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh, nếu như năm 2003kim ngạch xuất khẩu ở Đắk Nông chỉ ở mức chưa đầy 3 triệu USD thì năm 2013con số này đã vượt lên khoảng 540 triệu USD

Hiện nay toàn tỉnh có 1.875 doanh nghiệp và 488 đơn vị trực thuộc; tổng vốn đăng

ký gần 13 ngàn tỷ đồng[4]; Thu hút được 07 dự án/doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký là 23,15 triệu USD, đã giải ngân để đầu tư

được 17,1 triệu USD Các doanh nghiệp nhà nước hầu hết đã được chuyển đổi

thành công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bước đầu đã

Trang 10

có một số doanh nghiệp làm ăn có hiệu qủa Kinh tế tập thể phát triển nhanh về số

lượng, đến nay có 550 tổ hợp tác sản xuất, 131 hợp tác xã hoạt động trên nhiều

lĩnh vực, xuất hiện một số mô hình hợp tác xã hoạt động mang lại hiệu qủa kinh tế

- xã hội cao Kinh tế dân doanh tuy còn nhỏ bé, nhưng phát triển đa dạng, phongphú, có đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần giảiquyết việc làm cho lao động địa phương

2 Hai là, đầu tư phát triển mạnh y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội

Giáo dục - đào tạo có bước phát triển nhanh cả về chất lượng và quy mô Năm học

2012-2013, toàn tỉnh Đăk Nông từ bậc mầm non đến trung học phổ thông và trungtâm giáo dục thường xuyên có 349 trường (trong đó có 06 Trung tâm giáo dụcthường xuyên), tăng gấp 2 lần so với năm học 2003-2004 Có 64 trường đạt chuẩnquốc gia Tổng số học sinh từ mầm non đến phổ thông và trung tâm giáo dụcthường xuyên: 146.332 em (trong đó học sinh dân tộc là: 44.269 chiếm tỷ lệ: 31

%), tăng so với cùng kỳ năm học 2003 - 2004 là 41.275 học sinh Các điểm trường

lẻ của hệ thống trường tiểu học đã được mở rộng đến các điểm dân cư Hệ thốngcác trường dạy nghề được hình thành và phát triển; hiện có 19 trường và trung tâmdạy nghề (12 đơn vị công lập, 07 đơn vị ngoài công lập) Đến nay, hầu hết giáoviên các cấp học đều đạt chuẩn và trên chuẩn Công tác đổi mới phương pháp dạyhọc theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông ngày càngđược chú trọng

Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân đạt được những kết quả quan trọng Công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng Các chương

trình, mục tiêu, dự án y tế quốc gia đều được triển khai đồng bộ và có hiệu quả.Hằng năm tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắc xin, đạt trên96,7%; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi đến nay còn 24,8%; tỷ suất sinhhàng năm giảm 1 0 /00, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,44%.

Công tác khám, chữa bệnh ngày càng được chú trọng, đáp ứng nhu cầu cơ bảntrong việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, từng bước triển khai và mở rộng cácdịch vụ y tế kỹ thuật cao Hệ thống y tế từ tỉnh đến huyện và xã được củng cố vànâng cao năng lực khám chữa bệnh Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn có trạm y

tế và hơn 85% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; Bệnh viện Đakhoa tỉnh đã hoàn thành, đi vào hoạt động và phát huy hiệu quả Cuối năm 2003 cảtỉnh chỉ có 53 cơ sở y tế, với 642 giường bệnh; đến cuối năm 2012 đã tăng lên 82

cơ sở y tế, 1.144 giường bệnh; đạt 5,7 bác sỹ/vạn dân

Trang 11

Lĩnh vực văn hoá có bước phát triển đáng kể, cả chiều rộng, lẫn chiều sâu, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung Di sản văn hoá phi vật thể của các dân

tộc, nhất là dân tộc bản địa được quan tâm tiến hành điều tra, sưu tầm, lưu giữ; nhiều giá trị văn hóa truyền thống được khôi phục, phát huy Đắk Nông đã tiến hành điều tra, lập hồ sơ quy hoạch, tiến hành đầu tư tôn tạo và đề nghị công nhận

di tích lịch sử cấp quốc gia cho 06 di tích lịch sử Các danh thắng tự nhiên như: Hồ

Ea Snô, thác Dray Sap, thác Gia Long được quan tâm đầu tư, phục vụ phát triển ngành du lịch của tỉnh

Việc đầu tư xây dựng các thiết chế vǎn hóa ở cơ sở nhằm hoàn thiện thể chế văn hóa trên địa bàn tỉnh được các ngành, các cấp quan tâm triển khai, thu hút một phần vốn xã hội hóa, cơ bản đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát triển văn hóa ở cơ

sở Các thiết chế vǎn hóa ở cơ sở được xây dựng tăng lên qua các năm Một số thiết chế văn hóa trọng điểm như: Trung tâm Văn hóa, Trung tâm Hội nghị, Nhà thi đấu và tập luyện thể thao, Sân vận động, Tượng đài N’Trang Lơng và các dân tộc Tây Nguyên, v.v… được đầu tư xây dựng

Môi trường văn hóa có sự đổi thay tích cực, tạo nền tảng cho sự phát triển kinh tế

-xã hội, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn -xã hội Phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa” đã trở thành cuộc vận động văn hóa lớn, phát huy được sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc chăm lo xây dựng đời sống văn hóa cho mỗi người dân, cho mỗi cộng đồng để văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội Tỷ lệ gia đình văn hóa; thôn, bon, buôn văn hóa; cơ quan văn hóa tăng về số lượng, nâng cao về chất lượng Năm 2012 có 66,95% gia đình; gần 7,04% xã/phường, thị trấn; 53% thôn, bon, tổ dân phố;

76,4% cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hoá Nếp sống văn minh trong việc cưới,việc tang và lễ hội từng bước được định hình trong xã hội Nhiều bản quy ước, hương ước phù hợp với pháp luật, kế thừa được những nét văn hóa trong phong tụctập quán tốt đẹp của nhân dân các dân tộc đã được nhân dân đồng thuận xây dựng

và thực hiện Hoạt động văn hóa nghệ thuật chuyên nghiệp có nhiều khởi sắc, góp phần quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy và giới thiệu, quảng bá những nét đặctrưng văn hóa Đắk Nông đến bạn bè trong nước và quốc tế

Phong trào thể dục, thể thao có bước phát triển nhanh; công tác xã hội hoá thể dục

- thể thao bước đầu có kết quả, nhiều câu lạc bộ thể thao được hình thành và hoạtđộng tốt Thể thao thành tích cao được chú trọng Đắk Nông đã đăng cai tổ chứcthành công nhiều giải thi đấu thể thao cấp khu vực và quốc gia

Công tác báo chí, phát thanh, truyền hình có nhiều cố gắng; đã kịp thời chuyển tải

những thông tin về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của

Trang 12

Nhà nước đến tận người dân, đáp ứng các nhu cầu đời sống tinh thần cho nhândân; chương trình phát sóng cho đồng bào dân tộc thiểu số được mở rộng để phục

vụ cho cả đồng bào ở vùng sâu, vùng xa Báo chí, xuất bản, phát thanh - truyềnhình, mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển rộng khắp, đáp ứng nhu cầuthông tin, truyền thông của nhân dân trong tỉnh

Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ có những đóng góp quan

trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng năng suất, nâng cao chấtlượng sản phẩm và tăng hiệu quả chung của nền kinh tế Từng bước tạo môi trườngcạnh tranh và phát huy được tiềm năng sáng tạo trong hoạt động khoa học và côngnghệ; tham gia thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh, góp phầnnâng cao hiệu quả đầu tư phát triển ứng dụng kết quả nghiên cứu vào kinh tế, đờisống xã hội, văn hoá, giáo dục của tỉnh

3 Ba là, thực hiện có hiệu quả chính sách đền ơn đáp nghĩa, an sinh xã hội, chăm lo người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

Cùng với việc thực hiện các chương trình mục tiêu giảm nghèo, tỉnh đã dành mộtphần đáng kể các nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất, phát triển cơ sở hạ tầngkinh tế xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Các chươngtrình xoá nhà tạm, nhà dột nát, tặng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết được nhân dânhưởng ứng, đồng tình cao Từ năm 2004 đến nay đã đào tạo nghề cho 35.825 laođộng nông thôn, giải quyết việc làm cho 127.946 người; tỷ lệ hộ nghèo giảmnhanh, bình quân mỗi năm giảm trên 3% Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn17,55% và tỷ lệ hộ cận nghèo còn 5,7%

Phong trào đền ơn đáp nghĩa tiếp tục phát triển sâu rộng, việc chăm lo đời sống

cho các đối tượng chính sách, các hộ nghèo và những người có hoàn cảnh neo đơn,bất hạnh, tật nguyền… ngày càng được cộng đồng xã hội quan tâm, đưa lại hiệuquả thiết thực, thể hiện trong chủ trương, chính sách của Đảng bộ và chính quyềncác cấp, cũng như trong ý thức của nhân dân

Tạo điều kiện ưu tiên phát triển kinh tế và xã hội của vùng đồng bào dân tộc thiểu

số Ngoài các chính sách chung của Trung ương, tỉnh còn có các chủ trương và giải

pháp đặc biệt để hỗ trợ phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, như: chươngtrình phát triển bền vững 12 bon, buôn; chương trình kết nghĩa giữa các cơ quan,đơn vị với bon, buôn; chính sách hỗ trợ kinh phí cho học sinh, sinh viên dân tộcthiểu số, v.v…

Ngày đăng: 12/02/2015, 17:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w