MỞ ĐẦU 1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI Xã hội, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục về mọi mặt để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với thời đại. Luật Giáo dục 2005 sửa đổi năm 2009, điều 5.2 chương I khẳng định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”. Vì vậy trong dạy học ngày nay, người thầy đóng vai trò là người điều hành, hướng dẫn, giúp đỡ để người học thực hiện các hoạt động học tập, tìm tòi, tự chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng. Câu hỏi là một công cụ đắc lực để người thầy tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập của người học theo yêu cầu này. Trong dạy học, câu hỏi (CH) là một phương tiện, công cụ dạy học (DH) quan trọng và giá trị. Câu hỏi được sử dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học và thâm nhập vào mọi phương pháp dạy học (PPDH) với các chức năng khác nhau như hướng dẫn, tổ chức dạy học; ôn tập, củng cố kiến thức; chuẩn bị bài; kiểm tra - đánh giá hay quản lí học sinh (HS). Sử dụng CH trong DH sẽ khuyến khích học hiểu hơn là học vẹt, do đó có khả năng “chuyển giao”, ứng dụng kiến thức, có tác dụng phát triển tư duy, đồng thời HS cũng học được phương pháp học tập, nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng trình bày, giao tiếp,… Đặt CH là một kĩ năng dạy học vô cùng quan trọng đối với giáo viên (GV). Tuy nhiên, phần lớn GV không được đào tạo về cách thức đặt CH nên đặt CH chưa hiệu quả. Thực tế này đòi hỏi các trường sư phạm phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề rèn kĩ năng dạy học (KNDH) nói chung và kĩ năng (KN) đặt CH nói riêng cho sinh viên (SV). Đây cũng là một trong những định hướng, chỉ đạo của nhà nước “đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kĩ năng, trách nhiệm nghề nghiệp” (theo nghị quyết TW8 Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI). Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu thực tế chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề rèn KN đặt CH còn rất ít, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về kĩ thuật đặt CH trong DH hóa học và việc rèn KN đặt CH cho SV sư phạm hóa học ít được quan tâm. Từ các lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi theo hướng tích cực trong dạy học hóa học ở trường phổ thông và vận dụng vào việc rèn kĩ năng dạy học cho sinh viên sư phạm hóa học”.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội, khoa học và công nghệ ngày càng phát triển mạnh mẽ đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục về mọi mặt để đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao, thích ứng với thời đại Luật Giáo dục 2005 sửa đổi năm 2009, điều 5.2 chương I khẳng
định: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” Vì vậy trong dạy học ngày nay, người
thầy đóng vai trò là người điều hành, hướng dẫn, giúp đỡ để người học thực hiện các hoạt động học tập, tìm tòi, tự chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng Câu hỏi là một công cụ đắc lực để người thầy tổ chức, điều khiển các hoạt động học tập của người học theo yêu cầu này
Trong dạy học, câu hỏi (CH) là một phương tiện, công cụ dạy học (DH) quan trọng và giá trị Câu hỏi được sử dụng trong mọi khâu của quá trình dạy học và thâm nhập vào mọi phương pháp dạy học (PPDH) với các chức năng khác nhau như hướng dẫn, tổ chức dạy học; ôn tập, củng cố kiến thức; chuẩn bị bài; kiểm tra - đánh giá hay quản lí học sinh (HS) Sử dụng CH trong DH sẽ khuyến khích học hiểu hơn là học vẹt, do đó có khả năng “chuyển giao”, ứng dụng kiến thức, có tác dụng phát triển tư duy, đồng thời HS cũng học được phương pháp học tập, nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng trình bày, giao tiếp,…
Đặt CH là một kĩ năng dạy học vô cùng quan trọng đối với giáo viên (GV) Tuy nhiên, phần lớn GV không được đào tạo về cách thức đặt CH nên đặt CH chưa hiệu quả Thực tế này đòi hỏi các trường sư phạm phải quan tâm hơn nữa đến vấn đề rèn
kĩ năng dạy học (KNDH) nói chung và kĩ năng (KN) đặt CH nói riêng cho sinh viên (SV) Đây cũng là một trong những định hướng, chỉ đạo của nhà nước “đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kĩ năng, trách nhiệm nghề nghiệp” (theo nghị quyết TW8 Đại hội Đảng toàn quốc khóa XI)
Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu tìm hiểu thực tế chúng tôi nhận thấy các công trình nghiên cứu về vấn đề rèn KN đặt CH còn rất ít, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về kĩ thuật đặt CH trong DH hóa học và việc rèn KN đặt CH cho SV sư phạm hóa học ít được quan tâm
Từ các lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi theo hướng tích cực trong dạy học hóa học ở trường phổ thông và vận dụng vào việc rèn kĩ năng dạy học cho sinh viên sư phạm hóa học”
Trang 24 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài:
- Tổng quan cơ sở lí luận về phương pháp (PP) và kĩ thuật DH tích cực, CH trong DH, KN, KNDH và vấn đề rèn KNDH
- Điều tra thực trạng vấn đề đặt CH trong DH hóa học của SV Sư phạm hóa học
và tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
4.2 Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, phân tích đặc điểm nội dung và cấu trúc phần hóa học hữu cơ chương trình nâng cao ở THPT – từ đó đề xuất cách áp dụng một số PPDH tích cực khi DH phần này
4.3 Nghiên cứu kĩ thuật thiết kế CH hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới theo hướng DH tích cực Vận dụng kĩ thuật đó đặt hệ thống CH khi DH một số nội dung phần hóa học hữu cơ theo kĩ thuật đã đề xuất
4.4 Nghiên cứu đề xuất quy trình và các biện pháp rèn kĩ năng đặt CH cho SV
sư phạm hóa học
4.5 Tiến hành thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi, đúng đắn và hiệu quả của các nội dung nghiên cứu
5 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình DH hóa học ở trường PT và quá trình đào tạo
SV ngành Sư phạm hóa học
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề đặt CH trong DH hóa học ở trường PT và việc rèn KN đặt CH cho SV ngành Sư phạm hóa học
Trang 36 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu SV sư phạm hoá học được rèn luyện kĩ năng thiết kế và sử dụng CH trong dạy học hóa học theo những quy trình và biện pháp phù hợp thì sẽ góp phần rèn
luyện KNDH cho SV, nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên tại các trường sư phạm
và chất lượng DH hóa học ở trường PT
7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Sử dụng các phương pháp nghiên cứu lí thuyết (phân tích, tổng hợp, phân loại,
hệ thống hóa), phương pháp thực tiễn (pháp điều tra, thực nghiệm sư phạm và phương pháp chuyên gia) và phương pháp thống kê toán học
8 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Câu hỏi sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới theo hướng dạy học tích cực, vận dụng trong phần Hóa học hữu cơ và rèn kĩ năng đặt câu hỏi cho sinh viên sư phạm hóa học qua hai học phần: “Thực hành thí nghiệm trong dạy học hóa học phổ thông”
và “Phương pháp dạy học hóa học phổ thông”
9 ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
9.1 Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về kĩ thuật thiết kế và sử dụng CH trong DH cũng như thực trạng và nguyên nhân những vấn đề còn tồn tại trong việc thiết kế và sử dụng CH của SV sư phạm hóa học
9.2 Đề xuất cách áp dụng một số PPDH tích cực trong DH phần Hóa học hữu cơ CTNC ở trường THPT
9.3 Xây dựng tiêu chí đánh giá kĩ năng đặt CH hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới (10 tiêu chí)
9.4 Đề xuất cách phân loại và kĩ thuật thiết kế CH hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới, trong đó trình bày rất chi tiết kĩ thuật thiết kế hệ thống CH chính (gồm 6 nguyên tắc, quy trình thiết kế theo 5 bước và 15 ví dụ phần hóa học hữu cơ CTNC ở THPT) Xây dựng tài liệu về câu hỏi trong dạy học
9.5 Đề xuất quy trình, biện pháp rèn luyện KN đặt CH cho SV sư phạm hoá học
và cách tích hợp trong hai học phần “Thực hành thí nghiệm trong DH hóa học PT” và
“Phương pháp dạy học hóa học PT”
10 CẤU TRÚC LUẬN ÁN
Luận án gồm: Mở đầu (7 trang), nội dung chính (141 trang, chia thành 3 chương) và kết luận, kiến nghị (2 trang) Ngoài ra, còn có danh mục chữ viết tắt, bảng, hình vẽ và sơ đồ, danh mục các công trình khoa học liên quan đến luận án đã công bố, tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 4Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ
ĐẶT CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC VÀ RÈN KỸ NĂNG ĐẶT CÂU HỎI
CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC 1.1 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực
1.1.1 Dạy học tích cực
1.1.2 Một số PPDH tích cực trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Trình bày một số PPDH tích cực như đàm thoại phát hiện, phát hiện và giải
quyết vấn đề, trực quan, dạy học hợp tác
1.1.3 Kĩ thuật dạy học tích cực
Đặt CH là một KTDH tích cực vì nó bao gồm nhiều KN, nhiều thủ thuật sử dụng
CH trong những biện pháp và PPDH khác nhau
Sử dụng CH mang tính quy trình, đòi hỏi những KN, những mẫu hành vi và hành động, những quy tắc làm việc và ứng xử nhất định Đặt CH và sử dụng CH là những KT mà PPDH hay biện pháp nào cũng sử dụng để tối ưu hóa hiệu quả DH
1.2 Câu hỏi trong dạy học
1.2.1 Khái niệm câu hỏi và câu hỏi trong dạy học
Trong DH, CH là một dạng cấu trúc ngôn ngữ để diễn đạt một yêu cầu, một đòi hỏi, một mệnh lệnh mà người học cần giải quyết
Với chức năng tổ chức quá trình dạy học có thể đưa ra khái niệm CH trong DH
như sau: CH trong DH là câu đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi người học trả lời nhằm mục đích định hướng, điều khiển hoạt động nhận thức của người học hướng vào tìm hiểu, làm rõ sự kiện, sự vật hay hiện tượng nhất định để đạt được mục tiêu DH dưới hình thức hỏi đáp giữa người dạy và người học hoặc giữa những người học với nhau 1.2.2 Tại sao phải đặt câu hỏi trong dạy học?
Đặt CH đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa trong DH vì: hỏi là một cách giao tiếp phổ biến trong lớp học, CH có thể sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình DH, được sử dụng trong mọi PPDH, khuyến khích HS học hiểu, tìm tòi kiến thức, thu được các thông tin phản hồi, phát triển tư duy của HS,…
1.2.3 Phân loại câu hỏi
Có nhiều cách phân loại CH trong DH khác nhau dựa trên các căn cứ về: mức độ nhận thức, tính chất của CH hay mức độ xác định của các phương án trả lời, chức năng hoạt động DH, mục đích, chức năng DH, nội dung được hỏi, …
Trang 51.2.4 Kĩ thuật đặt câu hỏi trong dạy học
1.2.4.1 Những lưu ý khi thi t k nội dung câu hỏi
- Có mục đích hỏi rõ ràng, xác định, phù hợp với mục tiêu, nội dung bài học
- CH phải ngắn gọn, sử dụng từ ngữ dễ hiểu phù hợp với đối tượng được hỏi
- Sắp xếp các CH theo trình tự logic, có tính gợi mở
- Mức độ CH phải tương xứng với khả năng của đối tượng HS
- CH phải mang tính gợi ý, kích thích tư duy của HS
- Không đặt những CH gợi ý mách nước hay dẫn dắt
- Chỉ nên hỏi một ý, không nên đặt các CH kép hay CH đa diện…
1.2.4.2 Kĩ thuật nêu CH và phản hồi với câu trả lời của HS trên lớp
Nêu CH trên lớp phải rõ ràng, dừng lại sau khi đặt CH, tích cực hoá tất cả HS,
phân phối CH cho cả lớp, biết hỗ trợ bằng ngôn ngữ cơ thể Với các câu trả lời khác nhau của HS, cần phải phản hồi một cách hợp lí
1.3 Rèn kĩ năng dạy học cho sinh viên sƣ phạm
1.3.1 Kĩ năng, kĩ năng dạy học và kĩ năng đặt câu hỏi
KN nói chung cũng như KNDH, KN đặt CH đều chứa đựng trong nó cả tri thức về hành động, mục đích hành động, thao tác hành động và có thể hình thành được thông qua đào tạo, rèn luyện
KNDH có mối quan hệ chặt chẽ với kết quả học tập Vì vậy để nâng cao chất lượng dạy học thì việc rèn các KNDH trong đào tạo GV ở các trường sư phạm là rất quan trọng
KNDH là một hệ thống mở, mang tính phức tạp, nhiều tầng bậc và mang tính phát triển Muốn rèn KNDH cho SV sư phạm phải đi từ việc rèn từng hành động dạy học, KN riêng lẻ sau đó mới rèn tổng hợp các KNDH Đặt CH là một trong những KNDH quan trọng cần được rèn cho SV
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu và rèn KN đặt CH cho SV sư phạm, chúng tôi chia KN đặt CH hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới trong DH thành 2 KN thành phần:
(1) KN thiết kế CH: KN biên soạn nội dung câu hỏi
(2) KN nêu CH và phản hồi với câu trả lời của HS trên lớp: GV nói nội dung
CH cho HS ở trên lớp, gọi HS trả lời CH và đưa ra nhận xét, đánh giá, gợi ý, hướng dẫn, khi HS trả lời
Trang 61.3.2 Hì nh thành và rèn luyện kĩ năng dạy học
1.3.2.1 Hình thành kĩ năng
1.3.2.2 Các yêu cầu cơ bản khi rèn KNDH
1.3.2.3 Quy trì nh hì nh thành và rèn KNDH
1.3.2.4 Biện pháp, phương pháp hình thành và rèn KNDH
Việc hình thành và rèn KNDH cần tiến hành theo quy trình và biện pháp hợp lí
để đảm bảo người học được biết mục đích, KT hành động của KN; luyện tập liên tục, thường xuyên và được đánh giá, tự đánh giá kết quả luyện tập
1.4 Cơ sở thực tiễn về vấn đề đặt câu hỏi trong dạy học của sinh viên và việc rèn kĩ năng dạy học cho sinh viên sƣ phạm
1.4.1 Thực trạng vấn đề đặt CH trong DH của sinh viên sư phạm hóa học
1.4.1.1 Tiêu chí đánh giá kĩ năng đặt câu hỏi trong dạy học
Nội dung CH phải có: tính chính xác, đúng mục đích; tính xác định (đơn nghĩa); tính logic; tính hướng mục tiêu; tính phù hợp; tính kích thích tư duy
Cách nêu CH và phản hồi với câu trả lời của HS trên lớp: Nêu CH trên lớp phải rõ; thời gian chờ câu trả lời hợp lí; phản hồi với câu trả lời của HS một cách hợp lí;
có thái độ, cử chỉ thân thiện, đúng mực
1.4.1.2 Địa bàn và đối tượng điều tra
Điều tra 173 giáo án các loại (trong khóa luận tốt nghiệp, thực tập sư phạm tập giảng trong các học phần PPDH hóa học) của các trường ĐHSP Hà Nội, ĐHSP thành phố Hồ Chí Minh, ĐHSP Hà Nội 2
Quan sát thực tế, đánh giá KN đặt CH của SV trường ĐHSP Hà Nội, gồm: 48 bài
tập giảng trong học phần “Thực hành ThN trong DH hóa học PT” của SV K57, K58;
25 bài tập giảng trong học phần “PPDH hóa học PT” của SV K57, K58; 4 giờ dạy
thực tập sư phạm tại trường PT của SV K58
1.4.1.3 K t quả điều tra và thảo luận
* Về kĩ thuật thiết kế CH trong DH của SV
Kết quả phân tích các CH trong giáo án của SV cho thấy:
(1) Tính chính xác, đúng mục đích: 86% số CH điều tra đảm bảo tính khoa học,
đúng mục đích đặt CH
Trang 7(2) Tính xác định: Đến 50% số CH không xác định do không rõ ý, diễn đạt dài (3) Tí nh logic: 67% số SV đặt câu hỏi chưa đảm bảo tính logic, thường gặp là lỗi
SV chưa biết khai thác, kết nối với kiến thức trước đó và các câu hỏi khai thác không phù hợp logic nhận thức của khoa học hóa học
(4) Tính hướng mục tiêu: 58% số CH điều tra đảm bảo tính hướng mục tiêu
(5) Tính phù hợp: 72% số CH không đảm bảo tính phù hợp, thường gặp các lỗi
như: câu hỏi đưa ra khi HS không có đủ kiến thức, dữ kiện để tìm ra câu trả lời hoặc những CH không yêu cầu HS phải suy nghĩ như đọc lại sách giáo khoa, CH mớm,
CH vụn vặt không đòi hỏi tư duy võ đoán
(6) Tính kích thích tư duy: 64% số CH sử dụng ở mức độ biết và hiểu, số CH ở
mức độ tư duy bậc cao (phân tích, đánh giá, sáng tạo) còn rất hạn chế
* Về KN đặt CH và phản hồi với câu trả lời của HS trên lớp
(7) Nêu CH trên lớp: Khi nêu CH, hơn 90% SV chưa biết nhấn mạnh các từ
khóa, trọng tâm, ngữ điệu thường đều đều khó lôi cuốn HS; khoảng 40% SV nêu CH nhanh nên phải đọc lại CH và một số SV không diễn đạt lại CH đúng ý ban đầu
(8) Thời gian chờ để gọi HS trả lời: đến 80% SV không dành thời gian chờ hợp lí
để HS có câu trả lời, nhiều SV còn đọc lại CH hay giải thích không cần thiết trong khi HS suy nghĩ trả lời
(9) Phản hồi với câu trả lời của HS: 40% SV còn thường tự nhận xét câu trả lời
của HS đầu tiên được gọi thay vì mời các HS khác nhận xét, bổ sung 48% SV chưa biết cách động viên, khen ngợi HS 84% SV chưa chú ý được các từ sử dụng chưa chính xác trong câu trả lời của HS Với câu trả lời chưa đầy đủ của HS, 75% SV chưa biết cách đặt thêm CH phụ để HS có câu trả lời đầy đủ và sâu hơn mà thường tự bổ sung Khoảng 20% SV còn tự trả lời câu hỏi của mình đưa ra
(10) Thái độ cử chỉ: Đa số SV chưa biết kết hợp thể hiện tình cảm trong nét mặt,
cử chỉ khi đặt CH, đàm thoại với HS hay phản hồi với câu trả lời của HS
Sở dĩ còn các tồn tại trên về đặt CH là do các nguyên nhân:
- SV chưa xác định chi tiết mục tiêu của bài học, trọng tâm của bài học
- SV chưa xác định đúng các kiến thức liên quan đã có của HS
- Chưa hiểu đúng đối tượng HS, tâm lí sợ HS không trả lời được, hoặc trả lời không đúng làm mất thời gian, ảnh hưởng đến tiến độ giờ học
- Hầu hết SV khi soạn giáo án còn viết chung chung các hoạt động của GV
Trang 81.4.2 Thực tiễn vấn đề rèn KNDH cho SV tại một số trường Sư phạm ở nước ta
1.4.2.1 Các hì nh thức rèn KNDH
(1) SV trực tiếp tham gia vào quá trình rèn luyện
(2) Rèn KN thông qua quan sát mẫu
1.4.2.2 Thời lượng các học phần PPDH bộ môn và rèn KNDH
Thời lượng dành cho việc rèn KNDH quá ít do đó SV mới ra trường còn nhiều hạn chế về KNDH Số tín chỉ dành cho khoa học giáo dục và lí luận dạy học chuyên ngành (các môn học bắt buộc) của các trường đã khảo sát chỉ chiếm khoảng 21-22% hoặc dưới 20% (trường ĐHSP Hà Nội) trong tổng số tín chỉ đào tạo (128 hoặc 130 tín chỉ) Trong khi con số này ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Đức phổ biến là từ trên 20% đến 30% trong tổng số tín chỉ đào tạo (180 - hệ đại học, 300 - hệ thạc sĩ)
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÂU HỎI TRONG DẠY HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ
Ở TRƯỜNG THPT VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC RÈN KĨ NĂNG
ĐẶT CÂU HỎI CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM HÓA HỌC 2.1 Mục tiêu, nội dung phần Hóa học hữu cơ CTNC ở THPT
2.2 Đề xuất cách vận dụng một số PPDH tích cực trong DH phần hóa học hữu cơ CTNC ở THPT
2.2.1 Đặc điểm về nội dung và cấu trúc phần hóa học hữu cơ CTNC ở THPT
Nội dung phần hóa học hữu cơ có nhiều điểm khó, thể hiện rõ mới liên hệ giữa thành phần, cấu tạo – tính chất, được sắp xếp theo logic chặt chẽ mang tính kế thừa
và phát triển, đảm bảo tính sư phạm, phù hợp với khả năng nhận thức của HS Chính
vì vậy khi DH phần này GV cần vận dụng phù hợp, đa dạng các PPDH một cách phù hợp để tổ chức các hoạt động cho HS tìm tòi, khám phá kiến thức mới Mối liên hệ kiến thức của phần hóa học hữu cơ thể hiện trong sơ đồ 2.1 ở trang bên
2.2.2 Vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong dạy học phần Hóa học hữu cơ CTNC ở THPT
2.2.2.1 Vận dụng phương pháp đàm thoại phát hiện
Nhiều nội dung phần hóa học hữu cơ CTNC ở THPT có thể dạy theo PP đàm thoại phát hiện, như: một số khái niệm trong phần đại cương hóa học hữu cơ, tên gọi các loại chất hữu cơ
cụ thể, khái niệm các loại chất hữu cơ như ancol, bậc của ancol, tính chất vật lí, tính chất hóa học, quy tắc phản ứng, ứng dụng
Trang 9Sơ đồ 2.1 Mối liên hệ kiến thức phần hóa học hữu cơ CTNC ở THPT
2.2.2.2 Vận dụng PP phát hiện và giải quy t vấn đề
Những trường hợp phát sinh mâu thuẫn nhận thức trong DH phần hóa học hữu cơ
có thể vận dụng PP phát hiện và giải quyết vấn đề như: Chất nghiên cứu có tính chất khác, đặc biệt so với các chất trong dãy đồng đẳng hoặc cùng loại; Ảnh hưởng qua lại giữa các nguyên tử, nhóm nguyên tử gây ra những tính chất khác so với những chất
có cấu tạo tương tự đã học; Xác định cấu tạo của một chất có nhiều đồng phân hay hướng chính trong các phản ứng của hợp chất hữu cơ
2.2.2.3 Vận dụng phương pháp trực quan
a) Sử dụng thí nghiệm (ThN)
* Sử dụng ThN theo PP kiểm chứng: thường sử dụng khi vận dụng lí thuyết
chung, quy tắc, định luật vào những trường hợp cụ thể hoặc nghiên cứu một đối tượng mới tương tự đối tượng đã biết
Hóa học hữu cơ THPT
Lí thuyết
THCS
Đại cương hóa
học hữu cơ Dãy đồng đẳng các hợp chất hữu cơ cơ
Đại cương hóa
học hữu cơ Dãy đồng đẳng các hợp chất hữu cơ cơ
Trang 10* Sử dụng ThN theo PP phát hiện và giải quy t vấn đề: thường gặp trong các
trường hợp sau: chất có một phần cấu tạo giống chất đã học, nhưng tính chất khác; tính chất đặc biệt của một chất thuộc dãy đồng đẳng đã biết; cấu tạo của một chất hay hướng phản ứng của một phản ứng hữu cơ
* Sử dụng ThN theo PP nghiên cứu: PP này thường sử dụng với những ThN
thông qua đó hình thành kiến thức mới được đưa ra một lần hay đưa ra lần đầu
b Sử dụng các phương tiện trực quan khác
Sử dụng các phương tiện trực quan khác như mô phỏng, mô hình hay tranh ảnh về hiện tượng phản ứng, cơ chế phản ứng, quy trình sản xuất, tổng hợp và ứng dụng của hợp chất hữu cơ Phương pháp sử dụng tương tự sử dụng ThN
2.2.2.4 Vận dụng PPDH hợp tác
Những nội dung dạy học có thể dạy theo PPDH nhóm cần thỏa mãn yêu cầu
cần có mối liên hệ với vốn kiến thức mà HS đã tích lũy, là vấn đề mở hoặc vấn đề
có mức độ khó khăn, phức tạp nhất định, khối lượng kiến thức và thời gian phù hợp cho các hoạt động học tập theo nhóm Trong DH phần hóa học hữu cơ GV có thể vận dụng PPDH hợp tác khi dạy các nội dung: tính chất axit của axit cacboxylic, tính chất hóa học của phenol, phản ứng este hóa, tính chất của glucozơ, …
2.3 Vai trò của CH trong DH tích cực và phân loại CH hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới
2.3.1 Vai trò của CH trong DH tích cực
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ mô tả vai trò của câu hỏi trong dạy học tích cực
HS tư duy (phân tích, vận dụng, tổng hợp, đánh giá)
Câu hỏi hướng dẫn, điều khiển của GV
Trang 112.3.2 Phân loại câu hỏi hướng dẫn HS nghiên cứu tài liệu mới trong DH hóa học
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ phân loại câu hỏi trong dạy học
2.4 Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi hướng dẫn học sinh nghiên cứu tài liệu mới trong dạy học hóa học theo hướng tích cực
2.4.1 Kĩ thuật thi t k và sử dụng câu hỏi theo các mức độ nhận thức
(1) CH “bi t”: CH “biết” dùng để hỏi vấn đề HS đã biết, để thiết kế loại CH này
có thể sử dụng các từ, cụm từ: Hãy cho biết…; Hãy nhắc lại ….; Cho biết …?; …
CH “biết” thường dùng để tái hiện kiến thức làm cơ sở để suy luận, giải thích, vận dụng, tìm tòi kiến thức, thông tin mới một cách có hệ thống hoặc dùng để ôn tập, củng cố và kiểm tra - đánh giá
(2) CH “hiểu”: Thiết kế CH “hiểu” có thể bắt đầu bằng các cụm từ sau đây: Hãy
so sánh ; Hãy liên hệ ; Vì sao ? Giải thích ? Hãy cho ví dụ về … ? Hãy phân biệt giữa ….? Hãy mô tả …? Cho biết nội dung chính…?,…
CH “hiểu” thường được sử dụng để giải thích hiện tượng ThN, sự biến đổi mang tính quy luật hoặc trường hợp đặc biệt, chỉ ra nguyên nhân các tính chất hoặc dùng trong phép loại suy, quy nạp để đưa ra các dự đoán, rút ra khái niệm mới,…
(3) CH “áp dụng”: CH áp dụng thường có dạng: Từ … hãy giải thích…? Cho biết
Trang 12CH “áp dụng” thường được dùng để vận dụng kiến thức đã học vào một trường hợp mới để đưa ra dự đoán, tạo mâu thuẫn nhận thức hoặc củng cố kiến thức,…
(4) CH “phân tí ch” loại CH này thường đặt như sau: Tại sao…… ? (khi giải
thích nguyên nhân) Em có nhận xét gì…….? (khi đi đến kết luận) Em có thể diễn đạt như thế nào? (khi chứng minh luận điểm), Có thể phân biệt…? …
CH “phân tích” thường dùng trong quá trình phân tích hiện tượng ThN để rút ra bản chất hóa học, phân tích cấu tạo dự đoán tính chất, giải thích nguyên nhân gây ra tính chất mới vừa tìm ra, tìm ra quy luật, giải thích sự giống và khác nhau,…
(5) CH “đánh giá”: Có thể thiết kế các CH đánh giá dạng: Đánh giá giá trị của
…? Em nghĩ là tốt hay xấu khi…? Có đề xuất nào thay cho …? Chọn …tốt nhất?,…
CH “đánh giá” thường dùng để cân nhắc phán đoán độ chắc chắn của các giả thuyết, dự đoán đưa ra và đề xuất các phương án giải quyết, rút ra kết luận,…
(6) CH “sáng tạo”: Đưa ra những CH để HS phải suy nghĩ đưa ra những đề xuất,
phương án, sáng kiến, mang tính sáng tạo vì vậy thường thiết kế CH như: Hãy đề xuất … ? Hãy đưa ra một giải pháp tối ưu nhất cho …? Có bao nhiêu cách…?…
CH “sáng tạo” thường dùng khi sử dụng PP nghiên cứu, PP phát hiện và giải quyết vấn đề hay trong dạy học dự án,… để HS đề xuất các giả thuyết, phương án giải quyết
2.4.2 Kĩ thuật thiết kế và sử dụng câu hỏi mở, câu hỏi đóng
Thiết kế CH mở cần lưu ý phải ngắn gọn, trung tính, không nên thể hiện thái độ hay quan điểm của người hỏi, thường bắt đầu bằng các từ hỏi đúng (bạn nghĩ th nào
…? ai, khi nào, cái gì, ở đâu, bằng cách nào, hoặc bao nhiêu….), không nên bắt đầu
CH mở bằng “tại sao” bởi “tại sao” hàm ý một nhận định
Câu hỏi mở thường được sử dụng trong thảo luận hoặc vận dụng kiến thức (trường hợp có nhiều hướng giải quyết khác nhau) Câu hỏi đóng thường được sử dụng để củng
cố, kiểm tra kiến thức, hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới
2.4.3 Kĩ thuật thi t k hệ thống câu hỏi chí nh
2.4.3.1 Nguyên tắc
(1) Đảm bảo đạt được mục tiêu DH đã xác định, nhấn mạnh được trọng tâm
(2) Đảm bảo phù hợp tiến trình và bản chất của PPDH đã chọn
(3) Đảm bảo tính hệ thống, logic của nội dung DH, có tính định hướng, gợi mở (4) Các CH phải chính xác về mặt khoa học, có tính đơn nghĩa (xác định)
(5) Mức độ CH phải phù hợp với đối tượng HS
(6) CH phải có tác dụng phát triển tư duy của HS