Với ý nghĩa sâu xa như vậy chúng tôi quyêt định chọn đề tài: “Truyện kể dân gian về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân” địa danh sông, hồ, ao, đầm, thác, nặ
Trang 1MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
1 Bắc bộ một vựng đất cổ, cú khoảng gần 4000 năm lịch sử tớnh từ thờiVăn Lang Trải qua muụn lớp thế hệ, con người Bắc bộ đó để lại trờn mảnhđất quờ hương vụ vàn di sản văn hoỏ vật chất, tinh thần quý bỏu Kho tàng disản ấy được kết tinh từ tinh thần yờu dõn tộc, giống nũi; từ tinh thần lao động,sỏng tạo trong cụng cuộc xõy dựng và bảo vệ quờ hương, đất nước Đặc biệt,trong kỷ nguyờn độc lập, cỏc thế hệ người dõn Bắc bộ đó đúng gúp cho dõntộc Việt Nam nhiều thành tựu rực rỡ như nền văn húa dõn gian độc đỏo, đặcsắc mang nhiều giỏ trị nghệ thuật, tiờu biểu là nhúm truyện kể dõn gian.Truyện kể dân gian là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hoá mỗivùng đất và rộng hơn là cấu thành nền văn hoá của mỗi dân tộc Nú là nơi lưugiữ những vẻ đẹp mang tớnh truyền thống, những đặc trưng tớn ngưỡng vựngmiền thể hiện tõm tư, tỡnh cảm, khỏt vọng của con người Những điều nàyđược minh chứng rừ qua nhúm truyện kể địa danh gắn với đề tài tỡnh yờu vàhụn nhõn
2 Tỡnh yờu và hụn nhõn cú ý nghĩa vụ cựng quan trọng với đời sốngcộng đồng cú tỏc động mạnh mẽ và ảnh hưởng lớn đến xó hội, nú thể hiệnước mơ chỏy bỏng về tỡnh yờu hạnh phỳc lứa đụi Tỡnh yờu hụn nhõn đó trởthành một đề tài quen thuộc trong văn học dõn gian và cỏch thể hiện luụn tạonờn sự hấp đẫn Việc tỡm hiểu nhúm TKĐD gắn với đề tài tỡnh yờu và hụnchớnh là việc tỡm hiểu bức tranh chõn thực về cuộc sống và tõm hồn của ngườidõn được vẽ bằng nột vẽ giản dị, đơn sơ nhưng cũng vụ cựng bay bổng vớinhững cõu chuyện tỡnh thủy chung của đụi lứa Qua những cõu chuyện này,tỏc giả dõn gian đó gửi gắm trong đú quan niệm thẩm mĩ, những triết lớ nhõn
Trang 2sinh, những khát khao cháy bỏng về tình yêu tự do và hôn nhân hạnh phúccủa nhân dân lao động Vì thế, đến với NTKĐD gắn với đề tài tình yêu và hônnhân vùng Bắc bộ chúng ta sẽ hiểu hơn về cuộc sống của cha ông ta thời xưa,cảm nhận được vẻ đẹp của cội nguồn văn hóa dân tộc lĩnh hội được những giátrị truyền thống ngàn đời
3 Địa danh không chỉ gắn bó chặt chẽ với văn hoá, mà còn có mốiquan hệ khăng khít với đặc điểm địa lý cũng như lịch sử phát triển dân cư củamột vùng nhất định Mỗi địa danh đều gắn với những chủ thể nhất định ở cácgiai đoạn lịch sử nhất định Qua một địa danh nào đó, chúng ta có thể tìm hiểuđược quá trình lịch sử - xã hội của một dân tộc, thấy được đặc trưng văn hoá,cuộc sống sinh hoạt, thậm chí nhu cầu tâm lý của họ Địa danh đã trở thànhvật hoá thạch, những đài kỉ niệm bằng ngôn ngữ độc đáo, lưu trữ các thôngtin văn hóa về thời đại mà nó ra đời, rồi lưu truyền cho con cháu ngàn đời sau
4 Mặt khác, Sự tích các địa danh là một vấn đề khá quan trọng liênquan mật thiết đến hoạt động du lịch, được đông đảo khách du lịch quan tâm,tìm hiểu Bởi mỗi địa danh khi gắn với một tích truyện sẽ giúp chúng ta có thểhiểu được một khía cạnh nào đó về nhận thức, tình cảm của con người Việctìm hiểu và quảng bá những địa danh văn hoá ở vùng Bắc bộ không chỉ giúpích cho quá trình nghiên cứu về văn hoá, lịch sử, địa lí mà còn góp phần bồiđắp thêm tình yêu quê hương đất nước cho các thế hệ người dân
Với ý nghĩa sâu xa như vậy chúng tôi quyêt định chọn đề tài: “Truyện
kể dân gian về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân” (địa danh sông, hồ, ao, đầm, thác, nặm) để nghiên cứu, hi vọng sẽ góp
một phần nhỏ bé của mình vào công việc nghiên cứu văn học dân gian, giúpngười dân, đặc biệt là thế hệ trẻ ngày nay thêm hiểu, thêm yêu nền văn họcdân gian truyền thống
Trang 3II Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu vềtruyện kể địa danh nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu nhóm truyện kể địadanh kể về Sự tích sông, hồ, đầm… gắn với đề tài hôn nhân, tình yêu Dướiđây chúng tôi xin điểm lại một số công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu:
Bài của Trần Quốc Vượng: Từ việc nghiên cứu một số tên riêng trong các truyền thuyết nói về thời kỳ dựng nước, Tạp chí văn học 1969, số 2 trang 63; bài của Dương Tất Từ: Qua lời kể dân gian, tìm hiểu thêm ý nghĩa một số tên làng, tên đất và phong tục xung quanh truyền thuyết An Dương Vương, Tạp chí văn học 1969, số 8, trang 50; Hồ Ngọc Hùng: Về nhóm truyền thuyết khẩn hoang ở một số vùng đất mới, Tạp chí văn học 1998, số 4, trang 71; TrầnThị An : Truyện kể địa danh – từ góc nhìn thể loại, Tạp chí văn học 1999 số
3, trang 58 ;Bài của Thái Hoàng: Truyền thuyết dân gian và địa danh, Tạp chí
văn học 1999, số 9, trang 41 Các bài nghiên cứu này mới chỉ tìm hiểu vấn đềtruyện kể về địa danh trong từng thể loại và trong từng nhóm truyện một cáchriêng lẻ chứ chưa gắn với một đề tài cụ thể
Đặc biệt vào năm 1984 trên tạp chí văn học số 2 trang 59 Nguyễn Bích
Hà có viết bài Bước đầu tìm hiểu truyện kể địa danh Việt Nam Bài viết này
đã đề cập đến khá nhiều truyện kể về địa danh Tác giả đã chia nhóm các
truyện kể này thành những truyện giải thích tên gọi núi, sông, hồ, đầm… và của những xóm làng thành phố Chẳng hạn như “Sự tích núi Voi” , “ Sự tích
hồ Tây” , “ Sự tích đá Vọng Phu” …và một số truyện khác không nhằm giải thích tên gọi mà lại chú ý giải thích sự hình thành hay biến đổi của các địa danh: “ Sự tích sông Tô Lịch và Thiên Phù” , “ Sự tích đồi Đùm và đồi Vai” ,
“ Sự tích hồ Ba Bể” [17; 59] Mặc dù tác giả chưa nghiên cứu địa danh gắn
với đề tài cụ thể nhưng nó là gợi ý quan trọng cho chúng tôi khi tiến hành đềtài
Trang 4Công trình có giá trị của tác giả Lê Văn Ba (1994), Chử Đồng Tử -Tiên Dung vùng đất con người, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin Đây là công trình
quan trọng cho chúng tôi khi viết đề tài vì có khá nhiều kiến giải hay về mảnhđất phát tích câu chuyện truyền thuyết này
Tiếp theo vào năm 1999 tác giả Đỗ Bình Trị có viết cuốn giáo trình
Những đặc điểm thi pháp thể loại văn học dân gian, Nhà xuất bản Giáo dục.
Ở cuốn sách này tác giả đã giành một mục nhỏ [48 -52; 37] để nói về truyềnthuyết địa danh đây là cơ sở lí thuyết quan trọng giúp chúng tôi phân biệt cácthể loại của truyện kể dân gian
Một giáo trình tiếp theo khá quan trọng trong quá trình nghiên cứu của
chúng tôi là cuốn Thi pháp Văn học dân gian của PGS Lê Trường Phát, Nhà
xuất bản Giáo dục 2000 Ở đây tác giả đưa ra cách phân loại truyền thuyết,chuyện cổ tích giải thích địa danh tiêu biểu là Sự tích Ngòi Lạt, Sự tích AoVua Cách phân loại này sẽ giúp cho công tác phân nhóm phân nhóm các thểloại văn học dân gian như truyền thuyết địa danh và truyện cổ tích giải thíchđịa danh
Cùng năm 2000 tác giả Nguyễn Chí Bền có xuất bản cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam những suy nghĩ, Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc Công trình
này nhắc tới sự biến thiên của truyền thuyết Chử Đồng Tử -Tiên Dung, giúpcho chúng tôi thấy được sự biến đổi văn hóa của cư dân Bắc bộ theo thờigian
Đáng lưu ý là luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Tùng Chinh (2000),
Bước đầu tìm hiểu truyện kể địa danh Nam bộ, Nhà xuất bản Trường đại học
An Giang Luận văn này nói về lịch sử của vùng đất Nam bộ, khảo sát về Sựtích các địa danh của vùng dựa trên tư liệu địa chí; tư liệu lịch sử; tư liệu xãhội, những sưu khảo về địa danh xưa và nay Đây là tài liệu quý giá giúp chocông việc nghiên cứu sau này của chúng tôi
Trang 5Năm 2004 tác giả Nguyễn Đăng Duy đã cho xuất bản cuốn sách Nhận diện văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam (Nxb Văn hoá Dân tộc) Nội dung
cuốn sách trình bày khá đầy đủ và công phu về cuộc sống của đồng bào dântộc từ: phong tục, tín ngưỡng cho đến cuộc sống sản xuất giúp cho chúng tôi
có tư liệu cần thiết để thấy được nền văn hóa các dân tộc
Phạm Tiết Khánh(2007), Khảo sát truyện kể dân gian Khơ Me Nam bộ (Qua Thần thoại, Truyền thuyết, Truyện cổ tích), Luận án Tiến sĩ, Nhà xuất
bản Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Luận án cung cấp nhiều tư liệu quý vềmảng truyện kể địa danh vùng Khơme, giúp cho người viết có cơ sở để sosánh với mảng truyền thuyết địa danh vùng Bắc bộ
Phạm Thu Yến (chủ biên) với bộ ba Truyện kể về Sự tích các loài cây, loài hoa, Truyện kể về Sự tích các con vật, Truyện kể về Sự tích phong tục và địa danh (Nxb Giáo dục 2012) đã tuyển chọn, bước đầu giới thiệu nhóm truyện kể về Sự tích từ góc độ văn học và văn hóa
III Mục đích nghiên cứu
Luận văn đặt ra các mục đích sau:
1. Tuyển chọn, tập hợp, hệ thống nhóm truyện kể dân gian về Sự tích địa danh (sông, hồ, đầm, ao, thác, nặm…) vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân
2. Chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của nhóm truyện kể về địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân
3 Từ góc nhìn địa - văn hóa, lịch sử - văn hóa, bước đầu luận văn lý giảiđặc điểm nhóm truyện kể địa danh trong mối quan hệ với văn hóa vùng
và văn hóa tộc người
Trang 64 Ở một mức độ nhất định, luận văn so sánh nhóm truyện này với truyện
kể địa danh gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân vùng Nam bộ để thấytính đa dạng và đặc trưng trong truyện kể của các vùng văn hóa
IV Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
Ở đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là nhóm truyện
kể dân gian kể về Sự tích địa danh (s«ng, hồ, ao, đầm, th¸c) gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân vùng Bắc bộ Các địa danh thuộc các địa hình khác
không thuộc phạm vi khảo sát của luận văn
- Khái niệm vùng Bắc bộ bao gồm địa bàn sinh sống của dân tộc Việt
và các dân tộc ít người, đối tượng khảo sát của luận văn bao gồm truyện củacác dân tộc cư trú ở khu vực Bắc bộ
- Với một khu vực địa hình rộng lớn như vậy, chúng tôi xác định chỉkhảo sát các truyện kể đã được công bố bằng phương thức xuất bản trong cáctuyển tập văn học dân gian của trung ương và địa phương, ngoài ra có một sốlượng nhỏ các truyện tác giả luận văn được nghe kể thêm trong quá trình điền
dã
- Trong luận văn này, khái niệm truyện kể được giới hạn ở hai thể loại
truyền thuyết và cổ tích
2 Tư liệu khảo sát
Tư liệu khảo sát dựa trên các bản kể đã được xuất bản tại các nhà xuấtbản Trung ương và địa phương, ngoài ra có một số tư liệu điền dã
V Phương pháp nghiên cứu:
1 Phương pháp thống kê, phân loại tư liệu: Chúng tôi đã tiến hànhthống kê, phân loại toàn bộ những TKDG về Sự tích sông, sông, suối, hồ, ao,đầm, thác, nặm ở các địa phương thuộc vùng Bắc bộ
Trang 72 Phương pháp phân tích tổng hợp: Dựa trên kết quả của việc thống kê,phân loại tư liệu, chúng tôi sẽ đi sâu vào phân tích phương diện nghệ thuật cơbản của từng nhóm truyện, từ đó rút ra ý nghĩa của các nhóm chuyện đó
3 Phương pháp so sánh loại hình: Trong quá trình phân tích, chúng tôi tiếnhành so sánh đối tượng nghiên cứu với các nguồn tư liệu khác khau để thấyđược những điểm tương đồng khác biệt, từ đó làm cho vấn đề được sáng tỏhơn Dựa trên kết quả so sánh, chúng tôi sử dụng phương pháp loại hình đểtìm ra mô hình chung của từng motif trong nhóm truyện
4 Phương pháp hệ thống: Chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống nhằmxác định vị trí của các bộ phận cấu thành trong mối quan hệ phân cấp với toàn
hệ thống, qua đó đánh giá đầy đủ giá trị ý nghĩa bộ phận đó
5 Phương pháp điền dã: Là quá trình thâm nhập thực tế, trực tiếp tiếp xúcvới nhân dân ở địa phương để sưu tầm nh÷ng t¸c phÈm VHDG có thể đem lạicho người viết nhiều điều bổ ích và cần thiết (như sự hiểu biết về phong tục,tập quán, tín ngưỡng, lời ăn tiếng nói của nhân dân…)
VI Đóng góp của luận văn:
Lần đầu tiên có một công trình khảo sát riêng về nhóm truyện kể dân gian kể về Sự tích địa danh (sông, hồ, đầm, thác, ao, nặm) gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân vùng Bắc bộ:
- Tập hợp toàn bộ những truyện kể về Sự tích địa danh sông, hồ, ao,đầm, thác gắn với đề tài tình yêu, hôn nhân vùng Bắc bộ
- Khảo sát nhóm truyện trên phương diện nội dung và nghệ thuật …
- Khảo sát mối quan hệ giữa văn học dân gian với văn hóa dân gianvùng Bắc bộ thông qua thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích từ đó thấyđược vốn văn hóa truyền thống của các tộc người sống trên mảnh đất Bắc bộ
Trang 8VII Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có
3 chương:
Chương 1: Khảo sát vấn đề nghiên cứu và tư liệu khảo sát
Chương 2: Truyền thuyết kể về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ liên
quan đến đề tài tình yêu và hôn nhân
Chương 3: Truyện cổ tích địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình
yêu và hôn nhân
CHƯƠNG I: KHẢO SÁT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ TƯ LIỆU
KHẢO SÁT
Để tạo tiền đề về mặt lý thuyết cho việc nghiên cứu Sự tích truyện kể
về địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân, chúng tôi sẽ đivào giới thuyết một số khái niệm có liên quan trực tiếp đến đề tài
Trang 9I Giới thuyết chung về truyện kể dân gian:
Từ điển văn học trình bày khái niệm Truyện: thuộc loại tự sự - có hai phần chủ yếu là cốt truyện và nhân vật Thủ pháp nghệ thuật chính là kể Truyện thừa nhận vai trò rộng rãi của hư cấu và tưởng tượng Tuỳ theo nội dung phản ánh, dung lượng, chủ thể sáng tác cụ thể mà truyện được chia thành nhiều loại: Truyện dân gian, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài (cũng gọi là tiểu thuyết), truyện nôm, truyện nôm khuyết danh [34; 450]
Truyện kể dân gian là những truyện do nhân dân lao động sáng tạo ra, lưu truyền trong dân gian và có nhiều dị bản khác nhau Truyện kể dân gian bao quát tất cả truyện dân gian của đời xưa và mới sáng tác ở đời nay
1 Truyện kể về địa danh
“Địa danh” nếu chiết tự theo nghĩa Hán Việt thì “địa” có nghĩa là đất”;
“ danh” có nghĩa là“ tên” Vậy“ địa danh” là tên “đất”
Còn theo“Từ điển tiếng Việt căn bản”, thì“địa danh” có nghĩa là“tên vùng,
miền, địa phương”[32; 240]
Tuy nhiên, theo chúng tôi, “địa danh” ở đây không bó hẹp trong nhữngtên đất chung chung mà nó có thể là tên đất, tên núi, tên làng, tên sông cụ thể
ở các vùng, miền, các địa phương khác nhau
Vậy, “Truyện kể về địa danh” là những truyện mà ngay từ tiêu đề đã gắnvới những địa danh cụ thể Đó là những địa danh có thật trong thực tế nhưng
đã được người dân lao động thổi hồn vào đó, gắn cho nó một nội dung lịch sử,
xã hội nhất định Bởi vậy, tiêu đề của truyện kể về địa danh thường đã gợi mởphần nào nội dung của truyện là giải thích nguồn gốc tên gọi, đặc điểm của
tên sông, suối, hồ, đầm, thác, nặm (như Sự tích Thác Táng Tinh, Sự tích hồ
Trang 10Dải Yếm, Sự tích Sông Trinh Nữ, Sự tích Sông Gium Na và Suối Gium Bai
…Ở đây, chúng tôi phân biệt rõ khái niệm truyện kể về Sự tích địa danh với
những truyện có yếu tố địa danh xuất hiện Trên thực tế, có một số truyện kể
không phải là truyện kể Sự tích địa danh, tuy có xuất hiện yếu tố địa danh gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân nhưng không mang nghĩa giải thích
Sự tích địa danh như: Sự tích Sông Tiêu Tương; Truyền thuyết trên dòng Sông Hát; Truyền thuyết trên dòng Sông Đáy; Truyện Nặm Rôm; Sự tích Chàng nghèo lấy vợ Tiên; Truyền thuyết về công chúa Phất Kim Những
yếu tố địa danh trong các câu chuyện này chỉ đóng vai trò là không gian nghệthuật nơi nhân vật đã tồn tại hoặc đã có sự kiện gì diễn ra ở đó chứ khôngnhằm mục đích giải thích tên gọi, nguồn gốc, đặc điểm của địa danh
Giáo sư Nguyễn Đổng Chi có viết: Đặc biệt ở Việt Nam gần như mỗi thắng cảnh, mỗi một đền thờ địa phương đều có gắn liền với một hoặc nhiều truyền thuyết, cổ tích Những sáng tác dân gian đó, bên cạnh nội dung chủ yếu là những Sự tích anh hùng hoặc những sự nghiệp lớn lao kỳ vĩ của dân chúng địa phương, còn có giá trị là những“ bài thơ”rất đẹp, những“ tấm bia” nghệ thuật trong đó ghi chép, ca ngợi, làm thi vị thêm cảnh trí thiên nhiên đất nước của từng vùng [8; 92]
PGS Nguyễn Bích Hà, trong một bài viết cũng đã giới thiệu về bộ phận
truyện kể về địa danh như sau: Trên mọi miền đất nước, đi đến đâu ta cũng được nghe kể chuyện về sông kia, núi nọ, đất này Song nếu chú ý thì sẽ thấy không phải sông, núi, làng xóm nào cũng có truyện kể về nó và không phải ngẫu nhiên những con sông lớn, những trái núi cao hoặc những con sông, trái núi có ảnh hưởng lớn đến đời sống cư dân một vùng, một miền, bao giờ cũng đựợc giải thích bằng truyện kể [19; 59]
Qua tìm hiểu nhóm truyện kể địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tìnhyêu và hôn nhân chúng tôi thấy nảy sinh hai yếu tố tưởng chừng trái ngượcnhau Có những truyện kể – cả người kể lẫn người nghe đều tin rằng nó không
Trang 11thể nào xảy ra trong thực tế Dân gian đã làm cái điều mà họ mong muốn làdệt nên một huyền thoại đẹp về nguồn gốc địa danh nơi họ đang có mặt, khaiphá và sinh sống Họ gắn cái hồn của câu chuyện kể vào vùng đất vô tri Vậynên, theo cách định nghĩa như đã trình bày ở trên, chúng tôi tiến hành khảosát và phân loại truyện kể dân gian về địa danh như sau:
+ Những truyện kể dân gian giải thích về địa danh nhưng gắn liền vớinhững sự kiện và nhân vật lịch sử nào đó có thể coi là truyền thuyết địa danh + Những truyện kể dân gian giải thích về địa danh, nhưng gần với cuộcsống con người, thường đưa ra một bài học về đạo đức, giải quyết nhữngxung đột, mâu thuẫn trong gia đình và xã hội, hoặc thể hiện những luân lýtrong xã hội thì đó là truyện cổ tích giải thích Sự tích địa danh
Tuy nhiên, vấn đề thể loại trong truyện cổ dân gian là vấn đề vô cùngphức tạp, bởi giữa các thể loại này bao giờ cũng có một sự giao thoa nhấtđịnh Nên vấn đề phân loại chỉ mang tính tương đối Ở đây, chúng tôi chỉnghiên cứu những truyện kể dân gian nào gắn với đề tài tình yêu và hôn nhânmang đậm đặc trưng thể loại như tiêu chí đã trình bày ở trên
1 1 Truyền thuyết địa danh:
Ở Việt Nam Đào Duy Anh là người sớm sử dụng thuật ngữ truyền thuyết
khi ông viết về vấn đề: “Những truyền thuyết thời thượng cổ nước ta” trên tạp chí Tri Tân“ Sách xưa của người Trung Quốc không chép việc Triệu Đà đánh
An Dương Vương để chiếm Tượng Quận, nhưng căn cứ truyền thuyết ấy, nếu
ta bỏ đi những yếu tố hoang đường thì cũng còn lại cái kỷ niệm của một cuộc chiến tranh hẳn có” [2]
Đến những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ truyền thuyết được sử dụng
nhiều hơn Nhóm tác giả Lê Quý Đôn trong công trình“ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam” khi xác định ranh giới giữa thần thoại và truyền thuyết đã
Trang 12bước đầu định nghĩa truyền thuyết như sau: “ Truyền thuyết là tất cả những truyện lưu hành trong dân gian, có thật xảy ra hay không cũng không có gì đảm bảo Như vậy có những truyền thuyết lịch sử mà cũng có những truyền thuyết khác dính dáng về một đặc điểm địa lý, hoặc kể lại gốc tích một sự vật
gì, hoặc giải thích phong tục tập quán…” [15] Đây là cách hiểu truyền thuyết
rất rộng, nó bao hàm các thể loại truyện kể dân gian khác
Công trình“Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam” Nguyễn Đổng Chi lại cho rằng:” Xét về đề tài truyền thuyết có thể phỏng đoán rằng, truyền thuyết đã xuất hiện sau thần thoại Truyền thuyết là những truyện lịch sử, và truyện lịch
sử chỉ có thể có khi con người ý thức được về lịch sử của mình” [15] Cách
này nó lại chỉ khu biệt trong phạm vi hẹp, đó chỉ là thể loại truyền thuyết lịch
sử
Trong cuốn giáo trình Những đặc điểm thi pháp thể loại văn học dân gian thì tác giả Đỗ Bình Trị có định nghĩa truyền thuyết là những truyện kể về
những điều có thực, những điều xảy ra trong quá khứ, trong thực tế lịch sử, và
có những đặc điểm riêng biệt so với các thể loại khác [38; 46]
Với thể loại truyền thuyết người ta có nhiều cách phân chia khác nhau
Có người căn cứ vào hình thái tồn tại và chức năng của truyền thuyết chia làm
3 loại: Truyền thuyết thuyết minh, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết tin ngưỡng Căn cứ vào quan điểm lịch sử cội nguồn người ta chia làm 3 loại: Truyền thuyết thần thoại, truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết văn nghệ GS Lê Chí Quế trong văn học dân gian Việt Nam cũng chia làm 3 loại: Truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết danh nhân văn hóa [39;
62] Tác giả Đỗ Bình Trị lại đưa ra hai cách phân loại:
Cách 1: Vừa căn cứ vào lịch sử vừa căn cứ vào phạm vi những sự kiện
và nhân vật lịch sử được nhân dân quan tâm để chia làm 2 loại: Những truyền thuyết về thời Vua Hùng và những truyền thuyết sau thời Vua Hùng
Trang 13Cỏch 2: Căn cứ vào đặc trưng của cả thể loại và đối tượng được kể, ụng chia làm 3 loại: Truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ và truyền thuyết
về nhõn vật và sự kiện lịch sử[45; 48-60] Đỗ Bỡnh Trị đó giải thớch cỏch phõn loại của mỡnh như sau: “Tất cả cỏc biến thể của truyền thuyết đều kể về điều
cú thực, đều phản ỏnh lịch sử Nhưng trong truyền thuyết về địa danh cỏi chủ yếu là giải thớch tờn đất, trong truyền thuyết phổ hệ là vấn đề cội nguồn và trong truyền thuyết về nhõn vật và sự kiện lịch sử là những truyện kể cú mục đớch chớnh là tỏi hiện bản thõn lịch sử”
Vậy cỏch phõn loại này chỳng ta cú thể thấy sự xuất hiện của truyềnthuyết địa danh và cú sự khu biệt nhất định về thể loại
PGS Nguyễn Thị Huế đã định nghĩa truyền thuyết địa danh là những cõuchuyện vừa cú dấu ấn của lịch sử vừa mang tớnh huyền thoại là những ghi nhớcuả cộng đồng cỏc dõn tộc về nguồn gốc những vựng đất mới, cũng như ghilại quỏ trỡnh chinh phục đất đai của cha ụng họ Trong quỏ trỡnh định cư, xõydựng bản làng, nhu cầu giữ gỡn lónh thổ khiến người dõn cỏc dõn tộc sỏng tạonhững cõu chuyện truyền thuyết gắn với địa danh nhằm” đỏnh dấu chủ quyềncủa mỡnh” [25; 228]
1 2 Truyện cổ tớch địa danh:
Khỏi niệm truyện cổ tớch
Truyện cổ tớch là một thể loại sỏng tỏc dõn gian vụ cựng phong phỳ về
số lượng, đa dạng, phức tạp về nội dung và cú một lịch sử phỏt triển dài lõu,
do đú khỏi niệm về truyện cổ tớch vẫn cũn cú nhiều ý kiến:
Theo Nhikiphụrụp, nhà nghiờn cứu folklore Nga, trong bài viết nhan đề
“Truyện cổ tớch, sự lưu hành truyện cổ tớch và những người kể chuyện cổ tớch” (in trong cuốn Truyện cổ tớch dõn gian Nga của Kapitxa M-L1930), ụng đưa ra định nghĩa ngắn gọn như sau: “Truyện cổ tớch là những truyện kể truyền miệng, lưu hành trong nhõn dõn, cú mục đớch giải trớ người nghe, nội
Trang 14dung kể lại những sự kiện khác thường (những sự kiện tưởng tượng có tính chất thần kỳ hoặc thế sự) và mang những nét đặc trưng về hình thức cấu tạo
và phong cách thể hiện”
Ở Việt Nam, Nguyễn Đổng Chi có nhận xét: Truyện cổ tích là truyện được xây dựng nên bằng trí tưởng tượng nghệ thuật, đặc biệt là những điều tưởng tượng về thế giới thần kỳ, những câu chuyện không có quan hệ với những điều kiện của đời sống thực làm thỏa mãn người nghe thuộc mọi tầng lớp xã hội ngay cả dù cho họ tin hay không tin vào những điều được nghe kể (Nhiều tác giả, 2001, Tuyển tập văn học dân gian, tậpII, quyển1: Truyện cổ tích, Nhà xuất bản Giáo Dục - trang 32) Định nghĩa này mới chỉ nói lên được
biện pháp nghệ thuật chứ chưa làm nổi bật đặc trưng về nội dung, chức năngcủa truyện cổ tích
Vì vậy, chúng tôi chọn định nghĩa sau của Hoàng Tiến Tựu: Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kỳ cổ đại, gắn liền với quá trình tan
rã của chế độ công xã nguyên thủy, hình thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội; nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân đặc biệt là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là tưởng tượng
và hư cấu cổ tích) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đăc thù khác để phản ánh đời sống và mơ ước của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kỳ hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp [44; 63]
Hiện nay, các nhà cổ tích học đều thống nhất chia thể loại truyện cổtích thành ba tiểu loại: Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt vàtruyện cổ tích loài vật Qua việc khảo sát, chúng tôi thấy bộ phận truyện kể giải
Trang 15thích Sự tích địa danh trong truyện cổ tích đều nằm trong hai tiểu loại: cổ tíchthần kỳ và cổ tích sinh hoạt
1 2 1 Truyện cổ tích thần kỳ
Đây là tiểu loại tiêu biểu nhất cho thể loại truyện cổ tích, bao gồmnhững truyện hướng về đời sống xã hội, lấy con người (chủ yếu là người laođộng, nghèo khổ, lương thiện) làm nhân vật trung tâm; các nhân vật và yếu tốthần kỳ góp phần giải quyết bế tắc của cốt truyện Nhờ sự can thiệp đó màhầu hết các truyện cổ tích thần kỳ bao giờ cũng kết thúc theo hướng có hậu,cái thiện bao giờ cũng chiến thắng, cái ác bao giờ cũng bị trừng trị Nói như
Nivicôva trong cuốn Sáng tác thơ ca dân gian: trong cổ tích thần kỳ thì thần
kỳ là nền tảng, mọi xung đột được giải quyết trong địa hạt của cái thần kỳ
[16; 30]
1 2 2 Truyện cổ tích sinh hoạt
Bao gồm những truyện nói về những nhân vật là con người, không cóyếu tố thần kỳ hoặc nếu có thì các yếu tố đó không có vai trò quan trọng trong
sự phát triển tình tiết và giải quyết xung đột của truyện, do đó các truyện cổtích sinh hoạt thường kết thúc theo hướng bi kịch đau khổ (tức là theo hướngkhách quan của logic đời sống thực tế chứ không phải theo hướng chủ quancủa con người)
Trên đây là những tiền đề lý thuyết để chúng tôi đi sâu vào khảo sát,phân loại các truyện kể về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tìnhyêu và hôn nhân vào các thể loại sao cho hợp lý và thống nhất:
2 Khái niệm đề tài tình yêu và hôn nhân
Trang 16Tình yêu và hôn nhân là đề tài muôn thuở của sáng tác văn học nghệ thuật ngàn đời Từ xa xưa ông cha ta đã gửi gắm những ước mơ cháy bỏng về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi qua những câu chuyện kể dân gian
Theo Từ điển tiếng Việt: “ Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy
nhau làm vợ chồng” (Hoàng Phê chủ biên, Từ điển tiếng Việt, Trung tâm từ
điển ngôn ngữ, Hà Nội 1992 – trang445)
Tình yêu (theo bách khoa toàn thư mở- vi wikipedia org) là một kháiniệm đa nghĩa trong cách diễn đạt và cách hiểu của mọi người, nhưng theonghĩa chung nhất tình yêu là trạng thái tình cảm của chủ thể này đối với mộtchủ thể khác ở mức cao hơn sự thích thú và phải nảy sinh ý muốn được gắnkết với chủ thể đó ở một khía cạnh hay mức độ nhất định Tình yêu được cho
là loại cảm xúc mạnh mẽ nhất, đẹp đẽ nhất nhưng cũng khó nắm bắt, địnhnghĩa nhất, ngay cả khi đem ra so sánh với các loại cảm xúc khác
Chủ thể của tình yêu, ngoại trừ một số trường hợp được nhân cách hóa, cònlại đều là con người Còn chủ thể tác động của tình yêu thì rất đa dạng, có thể
là bất kỳ thứ gì, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhỏ bé đến vĩ đại, từ hữu hìnhđến vô hình
Tình yêu nam nữ
Tình yêu giữa hai giới tính nam và nữ (hoặc giữa những người cùnggiới) được định nghĩa là “ Hệ quả của sự kết hợp giữa bản năng và trí tuệ củacon người” Định nghĩa trên hình thành từ khái niệm“bản năng con người” và
“trí tuệ con người” Theo triết học: Tình yêu là một loại tình cảm giữa người
và người, hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ Bản năng con người đượcnhìn nhận là những hành động suy nghĩ sẵn có từ tự nhiên, trong đó có việcgiao cấu để duy trì nòi giống (giữa hai giống đực và cái), việc tụ tập số đông -
Trang 17kết hợp nhiều cá thể để đạt mục đích sinh tồn, …Trong xã hội loài người pháttriển, với bộ óc thông minh, hay gọi là“ trí tuệ”cho phép con người không chỉdừng lại ở việc kết hợp cá thể hay giao cấu đơn thuần như ở động vật mà cònhình thành vô số những biểu hiện quan tâm, chăm sóc, bảo vệ, lẫn nhau
Từ hai yếu tố trên, tình yêu trở thành điều tất yếu trong xã hội và hơn nữa, sựkết hợp của trí tuệ làm cho những biểu thái của tình yêu đa dạng thậm chí kỳ
lạ, khiến nhiều người cảm thấy rất khó để có thể có một cơ sở chắc chắn khinói về tình yêu giới tính Cảm xúc về Tâm hồn, tạo ra Tình bạn; Cảm xúc vềTri thức, tạo ra lòng Kính trọng; Cảm xúc về Thể xác, tạo ra lòng Ham muốn
Cả ba cái này cộng lại là Tình yêu ( vi wikipedia org)
Như vậy, nhóm truyện kể dân gian kể về Sự tích các địa danh (sông,
hồ, ao, đầm, thác… ) gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân: là tập hợp những
truyện kể giải thích về sự ra đời của các địa danh dòng sông con suối ngọnthác có chủ đề về tình yêu và hôn nhân giữa con người với con người haycon Người với lực lượng thần kì
II Giới thuyết chung Vùng văn hóa Bắc bộ
1 Quan niệm về vùng văn hóa
Loài người nói chung và những nhóm, những tộc người, những cộngđồng người trong một dân tộc, một quốc gia nói riêng, hiện diện trong lịch sửtheo những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định, với một trình độ phát triểnnhất định và trong hiện thực lịch sử đó, con người làm ra văn hoá và tồn tạivới văn hoá của mình Bộ mặt văn hoá, do đó, ngoài những nét chung thốngnhất còn có những nét khác biệt mà sự khác biệt này không chỉ diễn ra theothời gian trong tiến trình phát triển mà còn diễn ra trong không gian của cùngmột thời điểm lịch sử giữa các nhóm, các cộng đồng, các quốc gia ở các vùng,
Trang 18các khu vực khác nhau Đó là cơ sở thực tế sinh ra lý thuyết vùng văn hoá vàphân vùng văn hoá
Nước ta từ khi thành lập đến nay luôn luôn phải đương đầu với âm mưuthôn tính nô dịch của các thế lực phong kiến phương Bắc, nên cha ông ta vốn
có ý thức xây dựng một dân tộc độc lập cả về phương diện chính trị, kinh tế
và văn hoá Nói riêng về phương diện văn hoá, nước ta là một vùng văn hoáđộc lập (ngay trong tương quan so với văn hoá Trung Hoa, với ý đồ đồng hoávăn hoá của chúng), như Nguyễn Trãi đã từng khẳng định:
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác (Đại cáo Bình Ngô)
Tuy nhiên, có được một quốc gia thống nhất với một lãnh thổ trải dàinhư ngày nay là do ông cha ta đã thực hiện hai quá trình vận động từ núixuống biển và từ Bắc vào Nam mà nói riêng về mặt văn hoá, suốt mấy nghìnnăm nay không lúc nào không xuất hiện các vùng văn hoá khác nhau về sắcthái, về độ dày lịch sử cũng như quy mô không gian tự nhiên, địa lý Thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội mà ta đang trải qua, theo một ý nghĩa chung nhất
là thời kỳ cái mới đang hình thành, kế thừa và phát triển trên cơ sở cái cũđang bị phá vỡ Nền văn hoá mới ở thời kỳ quá độ này cũng nằm trong quyluật vận động đó, đang nảy mầm từ một nền văn hoá cổ truyền mà bứt lên,định hướng, phát triển Để chủ động tham gia thúc đẩy quá trình ấy, chúng taphải, trước hết, nhận diện, “kiểm kê” đánh giá cho được cái tài sản văn hoá
cổ truyền ấy không chỉ ở phương diện vạch ra những đặc điểm bản chất của
nó mà còn phải xác định sự hiện diện của nó trong không gian và thời gian vìbản thân đối tượng văn hoá không phải là một cái gì siêu thực mà nó là mộthiện tượng xã hội, một tồn tại khách quan có thể biết được Phân vùng văn
Trang 19hoá là một sự tiếp cận vốn di sản văn hoá dân tộc cổ truyền theo hoàn cảnh vàđiều kiện lịch sử cụ thể của sự phát triển của hiện tượng văn hoá nước nhà.Vùng văn hoá có gắn chặt với vùng lịch sử dân tộc học, nhưng không hoàntoàn đồng nhất Mỗi dân tộc, mỗi tộc người có văn hoá của mình nhưng ởViệt Nam, có thể một tộc người (như người Việt) qua quá trình lịch sử lâu dài
có thể hình thành nhiều vùng văn hoá và các dân tộc thiểu số thường sống xen
kẽ với nhau vừa có nét đặc thù văn hoá của mình vừa có sự hoà trộn văn hoátrong một vùng địa lý nhất định
Vùng văn hóa là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong những nămgần đây Có khá nhiều cách quan niệm về vùng văn hóa:
Theo quan niệm của Trần Quốc Vượng: “Một vùng văn hóa là một tổng
thể - hệ thống một không gian văn hóa (cutural space) với một cấu trúc - hệ thống (structure-system) bao gồm các hệ dưới - hay tiểu hệ (sub-system) theo lối tiếp cận hệ thống (system-analysis)” [54; 401]
Nhìn chung, có nhiều cách phân vùng văn hoá Việt Nam:
Cách thứ nhất (của Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận chủ biên các vùng
văn hóa Việt Nam, nhà xuất bản Văn học Hà Nội -1995: Xác định Việt Nam)
có 9 vùng văn hóa (1) Vùng văn hóa Thăng Long Đông Đô Hà Nội; (2) VùngVăn hóa đồng bằng miền Bắc; (3) Vùng Văn hóa Việt Bắc; (4) Vùng VănHóa Tây Bắc; (5) Vùng văn hóa xứ Nghệ Tĩnh; (6) Vùng văn hóa Thuận Hóa– Phú Xuân; (7)Vùng văn hóa Nam Trung Bộ; (8) Vùng Văn hóa TâyNguyên; (9) Vùng văn hóa Nam bộ
Cách thứ hai: (của Huỳnh Khái Vinh, Nguyễn Thanh Tuấn chấn hưng
các vùng và tiểu vùng văn hóa ở nước ta hiện nay, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội -1995) Xác định Việt Nam có 8 vùng văn hóa: (1) Vùng
văn hóa miền núi phía Bắc: (2) Vùng văn hóa Tây Bắc; (3) Vùng văn hóa
Trang 20đồng bằng Sông Hồng; (4) Vùng văn hóa Bắc Trung Bộ; (5) Vùng Văn hóaduyên hải Nam Trung Bộ; (6) Vùng Văn hóa Trường Sơn Tây Nguyên;(7)Vùng Văn hóa Đồng Nai – Gia Định (Đông Nam bộ); (8) Vùng văn hóaĐồng Bằng Sông Cửu Long
Cách thứ 3: (của Trần Quốc Vượng cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà xuất
bản Giáo dục Hà Nội 1997) xác định Việt Nam có 6 vùng Văn hóa: (1) Vùngvăn hóa Tây Bắc; (2) Vùng Văn hóa Việt Bắc; (3)Vùng văn hóa châu thổ Bắcbộ; (4) Vùng Văn hóa Trung Bộ; (5) Vùng văn hóa Trường Sơn Tây Nguyên;(6) Vùng Văn hóa Nam bộ
Các quan niệm phân vùng văn hóa Việt Nam kể trên tuy chưa thật thốngnhất và trùng khớp với nhau “nhưng đã thể hiện khuynh hướng nhìn nhận vănhóa theo vùng, tức không gian tồn tại của các nền văn hóa hay từng yếu tốvăn hóa Hơn nữa đây không còn là cảm nhận ý niệm mà từng bước nâng lênthành các khái niệm và lí thuyết khoa học” [48; 81]
Nhưng trong luận văn này chúng tôi sử dụng quan niệm về vùng văn hóacủa Ngô Đức Thịnh được viết trong cuốn văn hóa vùng và phân vùng văn hóa
Việt Nam: Vùng Văn Hoá là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về tŕnh độ phát triển kinh tế - xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởng văn hoá qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hoá khác [48; 84]
Từ quan niệm tính có tính chất hướng đạo tác giả đã đưa phân chia khốivăn hóa toàn dân tộc ra làm 7 vùng văn hóa gồm:
Trang 21(1) Vùng Đồng Bằng Bắc bộ : Bao gồm lưu vực của Sông Hồng, sôngThái Bình và Sông Mã
(2) Vùng Việt Bắc: Gồm địa phận các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, QuảngNinh, một phần bắc Thái (tức Thái Nguyên, Bắc Cạn ngày nay) và phía đôngtỉnh Hoàng Liên Sơn (Hà Giang, Tuyên Quang ngày nay)
(3) Vùng Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ: Gồm các tỉnh Lai Châu,Sơn La, một phần của Hoàng Liên Sơn, một phần Hòa Bình và miền núiThanh Nghệ
(4) Vùng Đồng Bằng duyên hải Bắc Trung Bộ: Gồm đồng bằng và huyênhải các tỉnh Nghệ - Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
(5) Vùng duyên hải Nam Trung Bộ: Gồm phần đất từ đèo Hải Vân ở phíabắc đến Đông Nam bộ ở phía nam, nay thuộc địa phận các tỉnh Quảng Nam,
Đà Nẵng, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận
(6) Vùng Trường Sơn Tây Nguyên: Là địa bàn cư trú của trên 20 tộcngười nói các ngôn ngữ thuộc hệ Môn - Khơ Me và Nam Đảo trong đó cáctộc lớn hơn là Ba Na, Xơ Đăng, Mơ Nông, Mạ, KơHo và ÊĐê, Giarai (NamĐảo)
(7) Vùng Gia Định Nam bộ: Thuộc địa phận các tỉnh Nam bộ Trongmỗi vùng lại có tiểu vùng
GS Ngô Đức Thịnh còn cho rằng, trong vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ
có tám tiểu vùng: Đất tổ Vĩnh Phú (Xứ Đoài), Kinh Bắc - Xứ Bắc; ThăngLong – Hà Nội; Duyên hải đông bắc (xứ Đông); Trũng Hà Nam Ninh (Nam
Hà, Nam Định, Ninh Bình ngày nay); Hưng Yên; Duyên Hải – Tiền Hải (HảiHậu); Lưu vực Sông Mã
Trang 22Như thế việc nghiên cứu nhóm truyện kể địa danh vùng Bắc bộ trongluận văn của chúng tôi luôn đặt trong quan hệ chặt chẽ với đặc trưng văn hóa
của tiểu Vùng Đồng Bằng Bắc bộ, tiểu vùng Việt Bắc, tiểu vùng Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ
Nếu nhìn từ góc độ hành chính, lâu nay, người ta hay xếp Thanh - Nghệcũng thuộc Trung Bộ và coi là Bắc Trung Bộ Chúng tôi không hoàn toàn
nghĩ như vậy, bởi về mặt văn hóa, từ trước - sau công nguyên, Thanh - Nghệ
đã thuộc không gian văn hóa Đông Sơn, trước đó nữa, có những di tích cótính chất của văn hóa Phùng Nguyên, nếu phải nhìn xa hơn thì cồn sò hến ĐaBút, cồn Cổ Ngựa và các di chỉ hang động xứ Thanh là thuộc về không gianvăn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn Cả giới địa học và dân tộc học, văn hóa học đều
coi miền núi Thanh Nghệ là sự nối dài cùng một dải của sơn hệ Tây Bắc
-Bắc bộ Cho nên chúng tôi theo ý kiến của GS Ngô Đức Thịnh vùng -Bắc bộgồm cả miền núi Thanh Hoá và Nghệ An
2 Lịch sử của vùng đất
Bắc bộ Việt Nam là nơi ghi dấu ấn lịch sử xưa nhất của dân tộc ViệtNam Có Đền thờ các Vua Hùng ở tỉnh Phú Thọ, thành Cổ Loa của AnDương Vương ở Đông Anh, Hà Nội Vào thời kỳ Bắc thuộc, nơi này đượcmang các tên như quận Giao Chỉ, rồi Giao Châu
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, đây là vùng đất Đàng Ngoài do Chúa Trịnhkiểm soát, kéo dài cho tới sông Gianh, đèo Ngang Đàng Ngoài còn được gọi
là Bắc Hà vì nằm phía bắc sông Gianh, còn Đàng Trong, còn gọi là Nam Hà,
do Chúa Nguyễn kiểm soát
Bắc Kỳ (chữ Hán: 北圻) là tên gọi do Vua Minh Mạng đặt ra năm 1834 đểchỉ phần đất từ Ninh Bình trở ra phía bắc của Việt Nam
Ngày 25 tháng 8 năm 1883, nhà Nguyễn ký Hiệp ước Harmand đầu hàng thựcdân Pháp Theo Hiệp ước này, khu vực từ đèo Ngang trở ra bắc gọi là
Trang 23Tonkin(Bắc Kỳ) Cũng theo đó Bắc Kỳ được tính từ địa giới phía nam tỉnhNinh Bình trở ra
Ngày 20 tháng 3 năm 1945, Thống sứ Nhật đã đổi tên Bắc Kỳ thành Bắc bộ Ngày 27 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ số 11 cử Phan Kế Toại làmKhâm sai đại thần Bắc bộ Phủ Thống sứ Bắc Kỳ cũ cũng được đổi thành PhủKhâm sai Bắc bộ
Ngày 20 tháng 8 năm 1945, Việt Minh thành lập Ủy ban Nhân dân cách mạngBắc bộ nhằm giành chính quyền về tay mình
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bắc bộ là một cấp hành chính chỉtrong một thời gian không dài Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống PhápVincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập mộtchính quyền Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam,đứng đầu là Bảo Đại Đến sau 1954, khi chính quyền Việt Nam Dân chủCộng hòa tiếp quản miền Bắc Việt Nam, dinh Thủ hiến Bắc phần bị bãi bỏ Trung tâm Bắc Kì đã được người phương Tây biết đến, cụ thể là người Pháp.Ban đầu người Pháp cũng dùng tên gọi này để chỉ cho toàn bộ khu vực ĐàngNgoài (thời Trịnh - Nguyễn phân tranh), là vùng đất phía bắc nhất của ViệtNam Các học giả phương Tây thế kỷ 17 thường gọi vùng Đàng Ngoài là“
royaume de Tonquin/Tonkin” (vương quốc Đàng Ngoài) (Bắc bộ Việt Nam – vi wikipedia org)
3 Đặc điểm tự nhiên
3 1 Về vị trí địa lí
Bắc bộ nằm ở vùng cực Bắc lãnh thổ Việt Nam, có phía Bắc giápTrung Quốc, phía Tây giáp Lào và phía Đông giáp biển Đông Được bắt đầu
từ vĩ độ 23 độ 23’ Bắc đến 8 độ 27’ Bắc với chiều dài là 1.650km Chiều
ngang Đông - Tây là 500km, rộng nhất so với Trung Bộ và Nam bộ
3 2 Về mặt địa hình
Trang 24Địa hình Bắc bộ đa dạng và phức tạp, bao gồm đồi núi, đồng bằng, bờbiển và thềm lục địa, có lịch sử phát triển địa hình và địa chất lâu dài, phong
hóa mạnh mẽ, có bề mặt thấp dần, xuôi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam,
được thể hiện thông qua hướng chảy của các dòng sông lớn Khu vực đồngbằng rộng lớn nằm ở lưu vực sông Hồng, có diện tích 14,8 ngàn km2 và bằng4.5% diện tích cả nước Đồng bằng dạng hình tam giác, đỉnh là Thành phốViệt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển phía Đông Đây là đồng bằng châu thổlớn thứ hai Việt Nam (sau Đồng bằng sông Cửu Long diện tích 15.000km2)
do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Phần lớn bề mặt đồng bằng có địa
hình khá bằng phẳng, có độ cao từ 0, 4 - 12m so với mực nước biển Liền kềvới đồng bằng sông Hồng về phía Tây và Tây Bắc là khu vực Trung du vàmiền núi có diện tích khoảng 102,9 ngàn km2 và bằng 30.7% diện tích cảnước Địa hình ở đây bao gồm các dãy núi cao và rất hiểm trở, kéo dài từ biêngiới phía Bắc (nơi tiếp giáp với Trung Quốc) tới phía Tây tỉnh Thanh Hoá.Trong khu vực này từ lâu đã xuất hiện nhiêù đồng cỏ, nhưng thường khônglớn và chủ yếu nằm dải dác trên các cao nguyên ở độ cao 600 – 700m Vềphía khu vực Đông Bắc phần lớn là núi thấp và đồi nằm ven bờ biển Đông,được bao bọc bởi các đảo và quần đảo lớn nhỏ
4 Đặc điểm văn hóa vùng Bắc bộ
4 1 Tiểu vùng đồng bằng Bắc bộ
Bao gồm lưu vực của sông Hồng và sông Thái Bình, là đồng bằng châuthổ thuộc loại lớn nhất của nước ta, nơi có nhiều điều kiện thuận lợi về đất đai
và khí hậu canh tác nông nghiệp, từ lâu có truyền thống thâm canh, đào đắp
đê điều, làm thuỷ lợi để canh tác lúa và rau màu Cư dân chủ yếu là ngườiViệt, từ lâu đời giao lưu với các dân tộc miền núi như Mường Thái, Tày vàngười Hán Đó là vùng cư dân, văn hoá cổ xưa nhưng luôn có biến động, một
vùng đất gốc nhưng phát tán, một nền kinh tế nông nghiệp “xa rừng, nhạt
Trang 25biển”, một nền văn hoá đạt trình độ phát triển khá cao Qua nhiều thế kỷ
đương đầu với mưu đồ đồng hoá của kẻ thù, một nền văn hoá luôn tiếp thuảnh hưởng của bên ngoài, nhưng lại tái tạo nên các giá trị và bản sắc riêng
Văn hoá người Việt ở ĐBBB là văn hoá lâu đời và tiêu biểu nhất củavăn hoá truyền thống của dân tộc Việt, thể hiện qua đời sống tâm linh, tôngiáo, tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hoá cộng đồng, tiêu biểu nhất là lễ hội,qua các hoạt động văn hoá nghệ thuật, như hệ thống truyền thuyết lịch sử,truyện cổ dân gian, ca dao, tục ngữ, phương ngôn, các loại dân ca tiêu biểu,các hình thức diễn xướng và sân khấu cổ truyền
Tuy thống nhất về những đặc trưng chung nhưng văn hoá ĐBBB, lại thể hiệnqua các sắc thái địa phương của các tiểu vùng văn hoá:
- Tiểu vùng Đất Tổ - Phó Thọ (xứ Đoài)
- Tiểu vùng Kinh Bắc (xứ Bắc)
- Tiểu vùng Thăng Long - Hà Nội
- Tiểu vùng duyên hải Đông Bắc (xứ Đông)
- Tiểu vùng Sơn Nam (Xứ Sơn Nam)
Ngoài ra, giữa các tiểu vùng còn tồn tại các dạng văn hoá chuyển tiếp như:Yên Tử - Kiếp Bạc, Vĩnh Lạc - Phúc Thọ
4 2 Tiểu vùng Văn hoá Việt Bắc
Gồm địa phận các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Bắc Cạn,một phần Thái Nguyên và phía đông tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang Các
nhà địa lí chia vùng này thành Việt Bắc và Đông Bắc, tuy nhiên khi xem xét
kiến tạo địa chất, cảnh quan địa lí, thế giới động thực vật thì giữa chúng có sự
Trang 26tương đồng và phần nào đó gần gũi với vùng Lưỡng Quảng (nam TrungQuốc) Tuy là vùng đồi núi, có tuổi kiến tạo địa chất cổ và địa hình ít bị chiacắt, nên từ xưa giao thông đi lại tương đối thuận lợi so với vùng Tây Bắc, làvùng cửa ngõ giao lưu giữa đồng bằng Bắc bộ với nam Trung Quốc
Cư dân các dân tộc sinh sống ở vùng Việt Bắc là Tày, Nùng, Hmông,Dao, Hoa Trong đó người Tày là cư dân bản địa lâu đời, có dân số đông,trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, có ảnh hưởng lớn tới các quá trình pháttriển xã hội văn hoá của các dân tộc ít người khác trong vùng Các dân tộcsinh sống chính bằng nghề nông làm ruộng nước ở thung lũng, làm nương rẫy
du canh, các nghề thủ công và giao lưu hàng hoá phát triển, chợ trở thành mộttrong những trung tâm giao lưu kinh tế, sinh hoạt văn hoá khá sầm uất NgườiTày, Nùng có truyền thống trồng cấy và khai thác các loại cây đặc sản có giátrị kinh tế cao, như hồi, trẩu, sở, thuốc lá, các loại cây thuốc và hoa quả đặcsản
Là“ phên dậu” của quốc gia, vùng này từ lâu đã gắn bó chặt chẽ vớitrung tâm của đất nước, với người Việt ở ĐBBB, song cũng chịu ảnh hưởngcủa quà trình giao lưu văn hóa Hán Những đặc trưng văn hóa của vùng có thểtìm thấy qua nếp sống lâu đời của những cư dân quen thuộc khai thác cácthung lũng hẹp, cách sử dụng nguồn nước chảy, các hình thức dựng nhà sànhình vuông bốn mái, các loại nhà phòng thủ gần biên giới, các thói quen trongsinh hoạt và khẩu vị ăn uống
Xưa kia, chế độ thổ ti Tày bao trùm đời sống cộng đồng với hình thức
bóc lột những người đồng tộc và khác tộc theo kiểu nông nô Các hình thứctín ngưỡng pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian (tín ngưỡng nông nghiệp, thờcúng tổ Tiên .) với ảnh hưởng Đạo giáo, Phật giáo và Khổng giáo Các sinhhoạt văn hoá cộng đồng thể hiện tập trung qua các hình thức lễ hội cổ truyền,qua sinh hoạt văn hoá chợ Các hình thức văn học truyền miệng
Trang 27Vùng văn hoá này cũng thể hiện qua các sắc thái địa phương Có thể
coi tiểu vùng Xứ Lạng như là mẫu hình tiêu biểu của sắc thái địa phương của vùng văn hoá Việt Bắc Cũng có thể kể tới sắc thái văn hoá của tiểu vùng đông Bắc bao gồm tỉnh Quảng Ninh và một phần phía đông của Lạng Sơn với
môi trường cảnh quan đồi núi và ven biển, hải đảo, mà từ xa xưa các tộcngười Sán Dìu, Dao, Việt, Hoa cùng chung sống và ảnh hưởng qua lại vớinhau khá mạnh mẽ Vai trò nổi bật của canh tác nông nghiệp, khai mỏ và quátŕnh đô thị hoá của cư dân các tộc người
Địa bàn sinh sống chủ yếu của các tộc người Hmông, Dao là những rẻocao nằm dọc biên giới kéo dài từ Bắc Hà, Mường Khương của Lào Cai quaĐông Văn, Mèo Vạc, Sín Mần của Hà Giang cũng góp phần tạo nên sắc thái
văn hoá riêng của tiểu vùng rẻo cao
Ngoài ra, ở khu vực miền núi phía Bắc nói chung, cũng phải kể tới tộcngười Kinh và người Hoa với vị trí và sự đóng góp của họ vào bức tranh vănhóa đa sắc tộc của khu vực Người Kinh với tư cách là chủ thể, dân tộc đa số
ở Việt Nam địa bàn cư trú chính của họ là ở vùng đồng bằng, còn người Hoavới tư cách là một dân tộc thiểu số, ở miền núi phía bắc hai tộc người này có
số dân ít, song mối giao lưu ảnh hưởng của họ hết sức rõ nét và sâu đậm
4 3 Tiểu vùng văn hoá Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ
Là phần lãnh thổ rộng lớn thuộc địa phận của các tỉnh Lai Châu, Sơn
La, một phần của Lào Cai, Yên Bái, Hoà Bìnhvà miền núi Thanh Nghệ Đây
là sườn núi phía tây của Hoàng Liên Sơn và bắt đầu của dãy Trường Sơn,cảnh quan thiên nhiên có những nét tương đồng Núi cao bị chia cắt mạnh bởinhững nếp đứt gãy của kiến tạo địa chất, tạo thành những thung lũng và sôngsuối cùng chung hướng Tây Bắc - đông nam, như hệ thống sông Đà, sông Mã,sông Chu Khí hậu ở đây mang tính lục địa rõ hơn vùng núi Việt Bắc, ít chịuảnh hưởng chế độ gió mùa, nhất là gió mùa đông bắc, trong năm hình thành
Trang 28hai mùa rõ rệt, là mùa mưa và mùa khô Hệ thống thực vật điển hình là loạirừng thường xanh nhiệt đới và cận nhiệt đới Phương thức canh tác nương rẫycủa cư dân Hmông, Dao, Môn - Khơme đã làm rừng bị khai thác mạnh, tỉ lệrừng phủ xanh chiếm mức thấp, khoảng 10%
Cảnh quan vùng này hình thành ba dạng rõ rệt, đó là vùng thung lũng lòng chảo thấp, nơi sinh sống của các tộc người Thái, Mường, Lự, Lào, các
sườn rẻo giữa là nơi sinh sống các tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme và các rẻo
cao là nơi sinh sống các tộc Hmông, Dao, Hà Nhì, Lô Lô, … hình thành nênnhững truyền thống thích ứng môi trường và sinh hoạt văn hoá mang tính đặc
thù Nơi đây, nguyên xưa là nơi sinh tụ của các tộ người nói ngôn ngữ Môn
-Khơme như Khơ mu, Kháng, Xinh mun, Mảng, sau đó là các tộc nói ngônngữ Tạng - Miến, Thái, Dao và sau này, chừng mấy thế kỷ gần đây là tộcngười Hmông, Việt
Trong vùng hiện có hơn hai mươi tộc người cùng cư trú xen cài vớinhau, trong đó tộc Thái có dân số đông, trình độ phát triển mọi mặt cao hơn
và đang có những ảnh hưởng đồng hoá văn hoá đối với các tộc khác, nhất làcác tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơme Trong xã hội xưa, tộc Thái trở thành tầnglớp thống trị đối với đồng tộc và các tộc người khác ở những mức độ khácnhau Trong khu vực này, chúng ta có thể dõi theo những giao lưu, ảnh hưởngvăn hoá giữa tộc Thái với những người láng giềng gần gũi, như với Mường,Môn - Khơme, các tộc Tạng - Miến và Hmông - Dao
Ở vùng núi Thanh Nghệ và Hoà Bình, giao lưu văn hoá giữa ngườiThái và người Mường khá mật thiết, khiến ta khó phân biệt được ngay đâu làThái hay Mường Với các tộc Môn - Khơme thì quan hệ giao lưu, ảnh hưởngcủa người Thái cũng khá đậm nét, không chỉ qua cách thức ăn mặc, ở, đi lại,
mà cả trong tín ngưỡng, thờ cúng, trong văn học dân gian, các sinh hoạt nghệthuật Những ảnh hưởng trở lại của các tộc Môn - Khơme với người Thái
Trang 29không phải là không quan sát thấy, như trong cách thức ăn mặc, phục sức,cách chế biến một số món ăn, trong huyền thoại và truyện cổ
Tuy mối quan hệ của tộc Thái với cư dân nói ngôn ngữ Tạng Miến và
Hmông, Dao không chặt chẽ, lâu đời như với người Mường và các tộc Môn
-Khơme, nhưng không phải không chịu ảnh hưởng văn hóa ở những mức độkhác nhau Trước nhất, ngôn ngữ Thái đă trở thành ngôn ngữ giao tế chungcủa cả vùng, kể cả với các tộc sinh sống ở vùng rẻo cao Một số tộc tạngMiến, như Hà Nhì, Cống, La Hù làm nhà ở, ăn mặc theo kiểu người Thái,
nhiều thiếu nữ Dao, Hmông ưa thích khăn piêu, túi thổ cẩm Thái
Có thể nhận biết sắc thái văn hoá địa phương từ các tiểu vùng văn hoá
và dạng văn hoá cảnh quan Có ba tiểu vùng văn hoá, đó là tiểu vùng văn hoá Tây Bắc, tiểu vùng văn hoá miền núi Bắc Trung Bộ (Thanh Nghệ) và tiểu vùng văn hoá hỗn hợp Thái - Mường ở Mộc Châu - Thường Xuân Ba dạng
văn hoá sinh thái là thung lũng lòng chảo Thái, rẻo cao Hmông - Dao và rẻo giữa Môn - Khơme
Tiểu vùng văn hoá Tây Bắc: Bao gồm lãnh thổ của tỉnh Lai Châu,
phần lớn tỉnh Sơn La ở phía bắc, phần phía tây của Lào Cai, Yên Bái, nơi xưa
thộc địa phận chính của 12 Châu Thái (xíp xáng Châu Thay), trong đó có các
châu trung tâm: Mường Thanh, Mường Lay, Mường Lự, Mường Muổi Nơiđây cũng diễn ra quá trình đồng hoá mạnh mẽ giữa các nhóm Thái Trắng,
Thái Đen với các tộc Môn - Khơme, Tạng - Miến, văn hoá và ngôn ngữ Thái
trở thành yếu tố chủ đạo của văn hoá vùng
Tiểu vùng văn hóa miền núi Thanh Nghệ cũng là địa bàn hỗn cư chủ
yếu giữa tộc Thái với các tộc Môn - Khơme, Hmông - Dao, nhưng các nhóm
Thái ở đây có nguồn gốc xa xưa ở Tây Bắc, di cư đến vào những thời giankhác nhau, hình thành nhiều nhóm địa phương khá đa dạng Hơn thế nữa, nơi
đây không chỉ diễn ra các quá tŕnh giao lưu Thái - Môn Khơme mà c còn có
Trang 30giao lưu, ảnh hưởng văn hoá Việt và Lào Chính vì vậy, văn hoá tiểu vùngnày mang những sắc thái khác biệt với tiểu vùng Tây Bắc
Tiểu vùng hỗn cư Mường - Thái thuộc địa phận tỉnh Hoà Bình, các
huyện nam Sơn La và bắc Thanh Hoá Nơi đây, từ lâu hai tộc người Thái,Mường đã cùng chung sống, nên văn hoá giao lưu ảnh hưởng lẫn nhau khásâu sắc Tại những nơi trung tâm cư trú của người Mường, thì văn hoá Mườngảnh hưởng mạnh tới văn hoá Thái và ngược lại, những bộ phận nhỏ ngườiMường sống xen với Thái, thì văn hoá Thái trở thành yếu tố chủ đạo
Chúng ta cũng có thể nhận biết thêm văn hoá vùng Tây - Bắc và miềnnúi bắc khu IV qua các dạng văn hoá sinh thái Dạng văn hoá sinh thái hìnhthành do quá tŕnh lâu dài các tộc người sinh sống ở những vùng sinh thái khácnhau thích ứng với điều kiện môi trường vùng sinh thái ấy, tạo nên các truyềnthống văn hoá và những tri thức dân gian trong việc nhận thức và khai thác
các tài nguyên thiên nhiên (Ngô Đức Thịnh, 1985)
Có thể phân chia thành ba dạng văn hoá sinh thái, đó là dạng văn hoá sinh thái thung lũng đặc trưng bởi văn hoá Thái, Mường; Văn hoá sinh thái
rẻo cao đặc trưng bởi văn hoá Hmông - Dao và văn hoá sinh thái rẻo giữa
đặc trưng bởi văn hoá các tộc Môn - Khơme Thực tế này không chỉ quan sát
thấy ở vùng Tây Bắc và miền núi bắc Thanh Nghệ mà còn ở Lào, nên từ xa
xưa dân gian đã có cách phân loại dân tộc riêng của mình, thành Lào Lùm (Lào ở thấp), Lào Thơng (Lào ở trên) và Lào Xủng (Lào ở cao), tạo thành các dạng văn hoá sinh thái – tộc người (Ngô Đức Thịnh, 1980)
III Khảo sát các truyện kể địa danh vùng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu
và hôn nhân
1 Số lượng tư liệu khảo sát
Trang 31Chúng tôi đã tiến hành khảo sát các truyện kể dân gian vùng Bắc bộgắn với đề tài tình yêu và hôn nhân trong các tư liệu sau:
- Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nguyễn Đổng Chi, Viện văn học,
1993
- Tuyển tập văn học dân gian, tập 1: Thần thoại và truyền thuyết, Nhà xuất
bản Giáo dục, năm 2001
- Tổng tập văn học dân gian người Việt, tập 4-5: Truyền thuyết dân gian
người Việt, Kiều Thu Hoạch chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học 2004
- Kho tàng truyện thần thoại Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh chủ biên, Nhà xuất
bản Văn hóa Thông Tin, năm 2006
- Tinh hoa người Việt, tập 5 truyền thuyết địa danh phong tục, Kiều Thu
Hoạch chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học năm 2009
- Huyền thoại Mường Then, Cầm Trọng, Nhà xuất bản Dân tộc 2010
- Truyện kể dân gian tỉnh Ninh Bình, Đỗ Danh Gia - Hoài Linh, Nhà xuất
bản Thanh niên Truyện cổ người Tày Thái Yên Bái, Hà Đinh Tỵ, Nxb Dân
đề tài tình yêu và hôn nhân
2 Lập bảng khảo sát
Bảng 1: Khảo sát truyện kể dân gian về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ gắn
với đề tài tình yêu và hôn nhân
Trang 32(Địa danh sông, hồ, ao, suối, đầm, thác)
ST
T
Tên truyện Dân tộc Tỉnh Thuộc
tiểu vùng
Đề tài
Tình yêu
Hôn nhân
Tây Bắc
và Miềnnúi BắcTrungBộ
Tây Bắc
và Miềnnúi BắcTrungBộ
Trang 3321 Sự tích Nặm
Thia
Trang 34Tây Bắc
và Miềnnúi BắcTrungBộ
Trang 3531 TK§D (s«ng, hå, suèi, ®Çm, th¸c, nÆm) gắn với đề tài tình yêu nhưtruyện và hôn nhân vùng Bắc bộ
Về đề tài :
Có 14 truyện kể địa danh gắn với đề tài hôn nhân: Truyện Thác tình Âu
Cơ, Sự tích Ao Vua, Truyền thuyết Đầm Dạ Trạch, Truyền thuyết Mị Châu Trọng Thuỷ …
-17 truyện kể địa danh gắn với tình yêu: Sự tích Khoang Xanh Suối Tiên,
Sự tích Thác Muốn, Sự tích Thác tình Yêu, Sự tích Thác Táng Tinh, Sự
tíchThác trải chiếu Quan Lang…
Về dân tộc:
Dân tộc Việt có 8/31 truyện (chiếm 25, 8%): Sự tích Đầm Dạ Trạch,
Sự tích Hồ Giải Yếm, Sự tích Sông Vân Sàng…
Dân tộc Thái có 6/31 truyện (chiếm 19, 4%): Sự tích Thác Pắc Ban, Sự tích Nậm Thia
Dân tộc Mường có 8/31 truyện (chiếm 25, 8%): Sự tích Suối Thần Cá Ngọc, Sự tích Khoang Xanh Suối Tiên
Dân tộc Tày có 3/31 truyện (chiếm 9, 7%): Sự tích Thác Pác Khàng,
Sự tích suối Vằng Chương chia thành hai ngả
Dân tộc Mảng có 1/31 truyện (chiếm 3, 2%): Sự tích Sông Gium Na và suối Gium Bai
Dân tộc H’mông có1/31 truyện (chiếm 3, 2%): Sự tích Sông Miện Dân tộc dao có 4/31 truyện (chiếm 12, 9%): Sự tích Giếng nàng Nhình,
Sự tích Thác Tình Yêu
Về địa phương:
Có 10/31 (Chiếm 32,3%) truyện kể Sự tích địa danh sông, hồ, đầm,
suối thuộc các tỉnh Hưng Yên(Truyền thuyết Đầm Dạ Trạch), Hà Nội (Sự tích
Trang 36Ao Vua, Sự tích Khoang Xanh Suối Tiên…) Nam Định (Truyện may áo cho chồng bằng hơi thở ấm, Sự tích Hồ Giải Yếm), Ninh Bình (Sự tích Sông Vân Sàng, Sự tích sông Son), Phú Thọ (Sự tích Thác nước Ông Tùng, Bà Tà) thuộc
tiểu vùng Đồng bằng Bắc bộ gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân
13/31 truyện kể Sự tích địa danh thác, hồ, suối, nặm (Chiếm 41,9%)
của tỉnh Lào Cai (Sự tích Thác tình yêu), Điện Biên (Sự tích Sông Gium Na
và suối Gium Bai), Lai Châu (Sự tích Thác Tắc Tình), Hòa Bình (Thác tình
Âu Cơ), Thanh Hóa (Sự tích Thác Muốn), Nghệ An (Sự tích Nậm Nơn và Nậm Mộ) thuộc tiểu vùng Tây Bắc và miền núi Bắc Trung Bộ gắn với đề tài
tình yêu và hôn nhân
Có 8/31 (chiếm 25,8%) truyện kể về Sự tích địa danh sông, suối, thác,
giếng thuộc các tỉnh Cao Bằng (Truyền thuyết PúLuông-Giảcải), Thái Nguyên (Sự tích Giếng Nàng Nhình), Hà Giang (Sự tích Sông Miện) thuộc
tiểu vùng Việt Bắc gắn với đề tài tình yêu và hôn nhân
Tiểu kết chương 1:
Như vậy, chúng tôi đã giới thuyết toàn bộ những khái niệm liên quantới đề tài Trong đó những truyện kể về sự tích địa danh gắn với đề tài tìnhyêu và hôn nhân vùng Bắc bộ được gắn với những tiểu vùng khác nhau nhưtiểu vùng ĐBBB, tiểu vùng Việt bắc, tiểu vùng Tây bắc
Trang 37CHƯƠNG 2: TRUYỀN THUYẾT KỂ VỀ SỰ TÍCH ĐỊA DANH VÙNG BẮC BỘ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN
Dựa vào khái niệm thể loại đã được giới thuyết ở trên, chúng tôi mạnh dạnxếp những truyện sau vào thể loại truyền thuyết:
6 Truyền thuyết Mị Châu - Trọng Thuỷ
7 Truyện may áo cho chồng bằng hơi thở ấm
8 Sự tích Hồ Giải Yếm
9 Truyền thuyết Sông Vân Sàng
10 Truyền thuyết Sông Trinh Nữ
I Nhân vật và cốt truyện của truyền thuyết kể về Sự tích địa danh vùng Bắc bộ liên quan đến đề tài tình yêu và hôn nhân
1 Nhân vật trong truyền thuyết về địa danh
Trang 381.1 Nhân vật chính trong truyền thuyết về địa danh
Trước hết là Nàng Âu Cơ (bản kể của người Việt) - con gái Đế Lai từ
phương Bắc tới Nàng thấy Lạc Long Quân uy nghi tuấn tú nên đem lòng say
mê, xin đi theo Lạc Long Quân Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì
Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quảtrứng Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh gia đình trong thời gian, nhưnglòng vẫn nhớ thủy phủ Một hôm Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ hóa làm mộtcon rồng vụt bay về biển cả Nàng Âu Cơ với vẻ mặt bâng khuâng nhìn xaxăm về phía chồng Dấu tích để lại là quả Trứng Âu Cơ khổng lồ hoá đá bên
dòng thác gọi là thác tình Âu Cơ (Hòa Bình)
Truyền thuyết Pú Lương - nhân vật chính là PúLuông - GiàCải là những người
đã có công lao to lớn gây dựng nên non nước Cao Bằng: Cao Bằng thủa xưa chỉ là một miền đất hoang vu, rừng núi um tùm, cây cỏ rậm rạp, dây dợ chằng chịt, hàng nghìn loài thú thả sức tung hoàng, hàng vạn loài chim đua nhau bay lượn Lúc này loài người mới sinh ra trên trái đất… Ở Cao Bằng mới chỉ có hai người: Gái làSao Cải thân to bằng cây lai, tay dài như cành trám; Trai là Báo Luông cao tonhư cây đa cổ thụ ngàn năm, tay dài như cành cây gạo đỏ Hai người đều ởtrần truồng, lông lá đầy mình Một hôm Sao Cải từ Nặm Quét ra vùng đất PácMăn đuổi nai thì gặp Báo Luông đang săn cáo ở đó Tình cờ trời đổ mưa, haingười chạy đến động Ngườm Bốc (còn gọi là Ngườm Ngả) trú mưa Trongđộng núi ấm áp kín đáo họ trở thành vợ chồng, rồi sinh con đẻ cái Hai vợchồng Báo Luông đã biết làm nhà để trú mưa khi mưa to gió bão thườngxuyên xảy ra, khi không có thức ăn biết tìm và chế biến thức ăn Họ trồng trọt
rau xanh bên suối gọi là Khuổi phiắc (suối rau xanh) nuôi thả cá là suối Khuổi liềng, trồng đu đủ (khuổi rẩu) Khi rét họ lấy vỏ cây che thân, dùng
bông dệt thành sống áo họ Lập ra nhiều địa danh mới ở Cao Bằng Dần dần
con cái đông đúc, họ phải chia đi các nơi lập thành nhiều dòng họ khác nhau
Do được Sao Cải dạy dỗ nên con cháu đều biết đạo lý ăn ở, các con là chỗ
Trang 39nhờ cậy lỳc tuổi già của Pỳ Luụng (Bỏo Luụng) và Già Cải (SlaoCải) Khi 2ụng bà mất, họ đem chụn ở gũ Bằng Hà Để nhớ cụng ơn ụng bà đó sinh raloài người, dạy mọi người biết khai phỏ ruộng nương, lập nờn mường bảnngười đời sau đó lập đền thờ ụng bà ở ngũi Bản Sậy, gọi đú là đền thờ Pỳ
Luụng – GiàCải đền Thần nụng; GiàCải đó trở thành một vị anh hựng sống
mói trong lũng dõn từ đời này sang đời khỏc bởi đó là vị thần bảo vệ mựamàng, phự hộ dõn làng làm ăn thịnh vượng Truyện cú nhiều yếu tố thần thoạiđược truyền thuyết húa
Sự tớch Thỏc nước ễng Tựng - Bà Tà thỡ nhõn vật chớnh là ụng Tựng ễng
Sinh ra trong gia đỡnh người Mường rất giàu cú ễng cú thõn hỡnh to lớn, vạm
vỡ Ngày ấy khu vực Văn Luụng, Đồng Bằng, Đồng Xoăn, Xuõn Đài chỉ cúthỏc nước duy nhất là Thỏc Đài, chớnh vỡ thế việc canh tỏc nụng nghiệp ở đõyluụn gặp rất nhiều khú khăn Nờn ễng Tựng và người vợ của mỡnh đú là Bà
Tà đó tự tay đắp những con đập cao hàng trăm thước nhằm giữ nước cho bàcon thụn bản Thế nhưng, việc đắp đập dẫn nước về cho dõn bản của vợchồng ụng đó khụng thành hiện thực Do ễng Tựng ngày ngày đắp đập, trụngcoi ruộng đồng cho dõn bản Trong khi đú cha mẹ lại già khụng cú thời gianchăm súc nờn cha mẹ ễng Tựng cú phần tủi thõn Một ngày hố, thấy ễngTựng về, cha mẹ cú mắng chửi vài lời Giữa ụng và cha mẹ đó xảy ra mõuthuẫn, sau hồi tranh cói đú, nghĩ mỡnh cói lại cha mẹ là sai, ễng Tựng đó đithẳng lờn thỏc nước Thỏc Đải rồi nhảy xuống đú với ý nghĩ sẽ gột rửa đượcnhững lời mà ụng đó cói lại cha mẹ Thấy chồng nhảy xuống đú, Bà Tà cũngtrẫm mỡnh xuống theo Cỏi chết bi thương của ễng Tựng, Bà Tà đó khiến cho
bà con trong toàn vựng thương xút, bởi cụng lao của ụng với người dõn ở đõy
lớn như trời bể Để tưởng nhớ, họ đó đặt tờn là Thỏc ễng Tựng Bà Tà
Sự tớch Đầm Dạ Trạch giới thiệu Cụng chỳa Tiờn Dung là con gỏi của Vua
Hựng thứ III, hữu duyờn cựng Chử Đồng Tử, một chàng trai nghốo nhưnghiếu thảo, lương thiện Tiờn Dung và Chử Đồng Tử cựng khai phỏ vựng đầm
Trang 40lầy chiêm trũng thành trung tâm Phố Hiến sầm uất lớn nhất ĐBBB HùngVương nghe tin tưởng con gái làm loạn quyết định đem quân tới đánh Nửa
đêm hai vợ chồng Tiên Dung bay về trời nền đất cũ bỗng sụp xuống thành một cái đầm rất lớn Gọi là Đầm Nhất Dạ
Trong Sự tích Ao Vua, nhân vật chính là Nguyễn Tuấn con của một gia đình
nghèo dưới thời Vua Hùng thứ 18 Nguyễn Tuấn lớn lên thông minh Mộthôm, Nguyễn Tuấn vào rừng đốn củi gặp Tiên Ông, Tiên Ông rủ lòng thươngcho cây gậy sinh tử Nguyễn Tuấn dùng cây gậy cứu sống con của Vua thủy
tề, để báo đáp công ơn cứu mạng con trai, Vua thủy tề đã tặng sách ước choNguyễn Tuấn Nhờ có quyển sách ước mà chàng đã cưới được Mị Nương.Sau khi trở thành Vua, Nguyễn Tuấn cùng Ngọc Hoa công chúa thường ngàyđến tắm ở cái ao mà ngày xưa bà Đinh Thị Đen xuống tắm để nhớ ơn công
đức của mẹ đã sinh thành ra mình Ao ấy dân gian gọi là Ao Vua
Còn truyền thuyết Mị Châu – Trọng Thủy giới thiệu nàng Mị Châu là con gái
Vua An Dương Vương An Dương Vương lại là người chăm lo việc triềuchính Từ khi bờ cõi mở rộng, Vua đã nghĩ đến việc xây thành, với sự trợ giúpcủa thần Kim Quy thì An Dương Vương đã xây được thành và có nỏ thầntrong tay Vì có nỏ thần mà An Dương Vương đã chiến thắng được quânTriệu Đà Để trả thù, Triệu Đà cho Trọng Thủy kết hôn với Mị Châu Nàngquá tin chồng nên đã cho Trọng Thủy xem báu vật Trọng Thủy tráo được nỏthần Nước Âu Lạc thua, An Dương Vương mang con gái bỏ chạy Rùa vàngnói Mị Châu là giặc nên An Dương Vương đã quay lại chém con gái Máunàng hóa thành ngọc Vì quá thương nhớ vợ, Trọng Thủy nhảy xuống giếng
tự tử Ngọc trai đem rửa xuống giếng nước này thì sáng hơn rất nhiều, nên nhân dân gọi là Giếng Ngọc
Truyện May áo cho chồng kể về bà Chúa Binh ở Làng Ngòi (Ý Yên Nam
Định) có sức vóc to lớn sinh ra trong hoàn cảnh bố mẹ mất sớm nên bà ở mộtmình Cùng thời ở Làng Kênh có một người đàn ông tên gọi là Tứ Sinh Tứ