1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

đề cương môn triết học duy vật biện chứng có đáp án

21 1,4K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 237,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chấ

Trang 1

Quan điểm Mácxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người

Lênin –người đã bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu ra định nghĩa “vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại ,phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác (Lênin toàn tập 8 ,nhà xuất bản tiến bộ Maxcơva-1980 trang 151).

Định nghĩa trên thể hiện mấy nội dung sau :

Vật chất là một phạm trù triết học : Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lỉnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày

Thuộc tính cơ bản nhất của vật chất là “thực tại khách quan” , “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”, đó củng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất

Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Điều đó khẳng định

“thực tại khách quan” (vật chất ) là cái có trước ( tính thứ nhất) Còn “cảm giác” , (ý thức ) là cái có sau ( tinh thứ hai ) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức

“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác ,đươc cảm giác của chúng ta chép lại ,chụp lại, phản ánh” Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất ) được biểu hiên thông qua các dạng cụ thể bằng “cảm giác” (ý thức ) con người có thể nhận thức được Và “thực tại khách quan” (vật chất ) chính là nguồn gốc nội dung của “cảm giác” (ý thức ).

Khẳng định thế giới thực chất khách quan là vô cùng , vô tận luôn vận động và phát triển không ngừng , nên đã có tác động cổ vũ ,động viên các nhà khoa học đi nghiên cứu thế giới vật chất , tim ra những kết cấu mới , những thuộc tính mới và những qui luật hoạt động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng vật chất của nhân loại

Chủ nghĩa duy vật biên chứng khẳng định ý thức của con người là sản phẩm của quá trình phát triển tự nhiên và lịch sử

xã hội Chủ nghĩa duy vật biên chứng cho ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não người thông qua hoạt động thực tiển , nên bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh sáng tạo thế giới vật chất

Y thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Điều đó có nghĩa là nội dung của ý thức là do thế giới khách quan qui định , nhưng ý thức là hình ảnh chủ quan , là hình ảnh tinh thần chứ không phải là hình ảnh vật lý , vật chất như chủ nghĩa duy vật bình thường quan niệm.

Khi nói ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan , củng có nghĩa là ý thức là sự phản ánh tư giác , sáng tạo thế giới

Tính năng động sáng tạo của ý thức thể hiện ở việc con người thu nhận thông tin ,cải biến thông tin trên cơ sở cái đã

có ,ý thức sẽ tạo ra tri thức mới về vật chất Ý thức có thể tiên đoán , tiên liệu tương lai , có thể tạo ra những ảo tưởng , những huyền thoại , những giả thiết khoa học … Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người ,song đây là sự phản ánh đặc biệt –phản ánh trong quá trình con người cải tạo thế giới Quá trình ấy diển ra ở 3 mặt :sự trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh , mô hình hoá đối tượng trong tư duy hình ảnh tinh thần và chuyển vào mô hình hoá từ tư duy ra hiện thực khách quan hay gọi là hiện thực hoá mô hình tư duy-đây là giai đoạn cải tạo hiện thực khách quan Chủ nghĩa duy vật biện chứng còn cho rằng ý thức không phải là hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà còn gọi là hiện tượng xã hội ý thức bắt nguồn từ thực tiển lịch sử xã hội , phản ánh những quan hệ xã hội khách quan Đây chinh là bản chất xã hội của ý thức

Quan điểm Mác xit cho rằng vật chất quyết đinh ý thức , ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ

óc của con người Bộ óc con người cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc –đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Nguồn gốc trực tiếp và quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động và thực tiển của xã hội Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thể hiện mấy quan điểm sau :

Vật chất quyết định ý thức, vật chất quyết định nội dung ý thức Cả ý thức thông thường và ý thức lý luận đều bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định Những ước mơ phong tục, tập quán , thói quen nầy nẩy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định đó là thực tiển xã hội –lịch sử Chủ nghĩa xã hội khoa học đời củng dựa trên mảnh đất hiện thực là những tiên đề về kinh tế chính trị xã hội, về khoa học tự nhiên và sự kế thừa tinh hoa tư tưởng , văn hoá nhân loại cùng với thiên tài của CácMác và Ăngghen

Do thưc tại khách quan luôn luôn biến động vận động nên nhận thức của nó củng luôn luôn biến đổi theo, nhưng xét đến cùng thì vật chất bao giờ củng quyết định ý thức Nhưng ý thức đã ra đời thì nó có tác động lại vật chất Với tính độc lập tương đối của mình ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiển của con người

Sự tác động trở lại theo hai hướng thúc đẩy hoặc kìm hảm thâm chí phá hoại sự phát triển bình thường của sự vật Vai trò của ý thức là ở trổ nó chỉ đạo hoạt động của con người, hình thành mục tiêu , kế hoạch , ý trí biện pháp hoạt động của từng người Cho nên trong điều kiên khách quan nhất định ý thức – tư tưởng trở thành nhân tố quan trọng có tác dụng quyết định làm cho con người hoạt động đúng hay sai , thành công hay thất bại

Trang 2

Sức mạnh của ý thức con người không phải ở trổ tách rời điều kiện vật chất thoát li điều kiện khách quan mà là biết dựa vào điều kiện vật chất đã có phản ánh đúng qui luật khách quan để cải tạo thế giới một cách chủ động sáng tạo và có hiệu quả “Ý thức con người không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn tạo ra thế giới khách quan” (Lênin).

Quán triệt quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức của triết học Mác xit Trong nhận thức và thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan , lấy thực tế khách quan làm căn cứ cho mọi hoạt động của mình Đồng thời phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố của con người trong việc nhân thức ,tác động cải tạo thế giới Quan điểm khách quan trên giúp ta ngăn ngừa và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí.

Bệnh chủ quan duy ý trí là xuất phát từ việc cường điệu tính sáng tạo của ý thức , tuyệt đối hoá vai trò nhân tố chủ quan của ý chí ,bất chấp qui luật khách quan ,xa rời hiện thực , phủ nhận xem nhẹ điều kiện vật chất

Ở nước ta , trong thời kỳ trước đổi mới Đảng ta đã nhận định rằng chúng ta mắt bệnh chủ quan duy ý chí trong việc xác định mục tiêu và bước đi trong việc xây dựng vật chất kỹ thuật và cải tạo xã hội chủ nghĩa ; về bố trí cơ cấu kinh tế ;về việc

sử dụng các thành phần kinh tế ….

Trong những năm 1976-1980 trên thực tế chúng ta chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết đó là lực lượng sản xuất còn nhỏ bé , chưa phát triển , còn chủ yếu là sản xuất nhỏ , lạc hậu , kinh tế hàng hoá chưa phát triển Chúng ta chỉ muốn đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho Chủ Nghĩa Xã Hội mà không tính đến điều kiện thực tế của đất nước

Trong bố trí cơ cấu kinh tế ,trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư , thường chỉ xuất phát từ mong muốn đi nhanh , không tính đến điều kiện và khả năng thực tế đề ra những chỉ tiêu kế hoạch hoá cao về xây dựng cơ bản và phát triển sản xuất

Trong cải tạo xã hội chủ nghĩa ,sử dụng các thành phần kinh tế , đã có hiện tượng nóng vọi muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa , nhanh chống biến kinh tế tư bản tư nhân thành quốc doanh trong khi đúng ra là phải duy trì thực hiện phát triển các thành phần kinh tế theo từng bước đi thích hợp , phù hợp với thời kỳ quá độ trong một thời gian tương đối dài để phát triển lực lượng sản xuất

Nguyên nhân của căn bệnh chủ quan duy ý chí trên là do sự lạc hậu ,yếu kém về lý luận ,do tâm lý của người sản xuất nhỏ và do chúng ta kéo dài chế độ quan liêu bao cấp

Văn kiện Đại Hội toàn quốc lần thứ 6 của Đảng ta đã nêu lên bài học :”Đảng ta luôn luôn xuất phát từ thực tế ,tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiên đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng ” (VKĐH 6, trang 30 ).

Chúng ta biết rằng quan điểm khách quan đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ bản thân sự vật hiện tượng ,phải thừa nhận và tôn trọng tính khách quan của vật chất , của các qui luật tự nhiên và xã hội , không được xuất phát từ ý muốn chủ quan

Bài học mà Đảng ta đã nêu ra , trước heat đòi hỏi Đảng nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống qui luật khách quan Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận , nhất là tư duy về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đó là xây dựng CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài nhiều chặn đường , nhiều hình thức tổ chức kinh tế xã hội có tính chất quá độ

Mổi chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước phải xuất phát từ thực tế khách quan của đất nước và phù hợp qui luật Chúng ta biết rằng ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan trong quá trình con người cải tạo thế giới Do đó càng nắm bắt thông tin về thực tế khách quan chính xác , đầy đủ trung thực và sử lý các thông tin ấy một cách khoa học thì quá trình cải tạo thế giới càng hiệu quả Đồng thời cần thấy rằng sức mạnh của ý thức là ở năng lực nhận thức và vận dụng tri thức củng như các qui luật của thế giới khách quan

Xuất phát từ mối quan hệ biên chứng giữa vật chất và ý thức Đảng ta xác định : “Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan” là xác định vai trò quyết định của vật chất (thế giới khách quan ) :

“Năng lực nhận thức và hành động theo qui luật là điều kiện đảm bảo sự lảnh đạo đúng đắn của Đảng “là khẳng định vai trò tích cực của ý thức trong việc chỉ đạo hành động con người Như vậy , từ chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ vật chất và ý thức , củng như từ những kinh nghiệm thành công và thất bại trong quá trình lảnh đạo cách mạng nước ta , Đảng ta đả rút ra bài học trên.

Bài học ấy có ý nghĩ thời sự nóng hổi trong quá trình đổi mới đất nước Hiện nay, trong tình hình mới của cục diện thế giới và của cách mạng ở nước ta đòi hỏi Đảng ta không ngừng phát huy hiệu quả sự lãnh đạo của mình thông qua việc nhận thức đúng, tranh thủ được thời cơ do cách mạng khoa học công nghệ, do xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đem lại, đồng thời xác định rỏ những thách thức mà cách mạng nước ta phải đối đầu, để từ đó vạch ra đường lối đúng đắn, hợp qui luật trên con đường quá độ lên CNXH ở nước ta.

Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH và HĐH, Đảng chủ trương: "huy động ngày càng cao mọi nguồn lực

cả trong và ngoài nước, đặc biệt là nguồn lực của dân vào công cuộc phát triển đất nước", muốn vậy phải "nâng cao năng lực

LĐ và sức chiến đấu của Đảng phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng km pht triển, thực hiện "dân giàu, nước mạnh,XH dân chủ công bằng, văn minh".

Câu 2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển Sự vận dụng của đảng ta.

Nguyên lý về sự phát triển là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật.

Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ những sự vận động có định hướng từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện.

Như vậy, phát triển là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng thế giới vật chất luôn luôn vận động và sự phát triển đi lên, sự đổi mới không ngừng là khuynh hướng chung của mọi sự vật hiện tượng.

Trang 3

Nguồn gốc của sự phát triển ấy nằm ngay trong bản thân sự vật, do việc giải quyết những mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện tượng Phát triển là quá trình tự thân của mọi sự vật và hiện tượng Theo quan điểm duy vật biện chứng sự phát triển được đặc trưng bởi mấy dấu hiệu sau:

- Mang tính khách quan vốn có.

- Mang tính phổ biến trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.

- Là quá trình biến đổi không thuận nghịch, không quay trở lại điểm xuất phát.

- Phát triển là quá trình hoàn thiện về cấu trúc, đa dạng về chức năng.

- Sự phát triển dường như lập lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn.

- Sự phát triển mang tính kế thừa những yếu tố tích cực của cái cũ, cải biến nó cho phù hợp với cái mới.

- Phát triển là tiến lên và có sự xuất hiện của cái mới.

Trên cơ sở nguyên lý về sự phát triển theo quan điểm Mácxit, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, đòi hỏi chủ thể phải có quan điểm phát triển.

Quan điểm phát triển có mấy yêu cầu sau:

- Về nhận thức: để nhận thức được bản chất của sự vật hiện tượng đòi hỏi chủ thể phải xem xét nó trong trạng thái vận động và dự đoán được các xu hướng biến đổi và chuyển hóa của chúng.

-Trong thực tiễn: cần thấy được tính quanh co, phức tạp của quá trình phát triển mà tin tưởng vào cái mới tiến bộ và tạo điều kiện cho

nó chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu.

-Trong tư tưởng: quan điểm phát triển là cơ sở khoa học về phương pháp luận giúp chúng ta củng cố niềm tin vào sự thắng lợi của lý tưởng của CSCN, mặc dù CNXH hiện thực đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào Giúp ta vững tin vào thắng lợi của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước dù phải trải qua nhiều khó khăn thách thức.

Quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật hoàn toàn với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến một chiều và bệnh giáo điều.

Bải thủ trì trệ thực chất là không thấy được sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng và hoạt động sáng tạo của vai trò con người;

Ỷ lại, chờ đợi, dựa dẫm.

Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về sự vật có được trong hoàn cảnh lịch sử phát triển nhất định, ứng với giai đoạn phát triển của nó

và xem xét nó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ sự vật trong quá trình phát triển tiếp theo của nó sẽ đưa chúng ta đến sai lầm nghiêm trọng.

Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong tư duy của chủ thể mang tính máy móc, rập khuôn, thiếu sáng tạo Thực chất bệnh giáo điều là

sự tuyệt đối hóa tri thức khoa học và coi nó là chân lý tuyệt đối và vận dụng nó một cách máy móc, không tính đến lịch sử cụ thể.

Trước đây chúng ta đã nhận thức giáo điều mô hình CNXH của Liên Xô bởi coi đó là kiểu mẫu duy nhất mà không tính đến điều kiện đặc thù của VN.

Để khắc phục căn bệnh này theo tinh thần của phép biện chứng duy vật, chúng ta phải triệt để phân tích mọi vấn đề trong tính lịch sử cụ thể của nó Từ đó tìm ra những giải pháp phù hợp, tránh rập khuôn, máy móc, tránh tuyệt đối hóa các tri thức đã có.

Đường lối đổi mới ở nước ta trong khi tiếp tục lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, Đảng đẩy mạnh hơn nữa nhiệm vụ đổi mới hệ thống chính trị, dân chủ hóa sinh hoạt xã hội, đổi mới mọi mặt đời sống và hoạt động xã hội.

Đảng ta xác định: “đổi mới toàn diện, đồng bộ, có nguyên tắc và có bước đi vững chắc, đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là quá trình không thể đảo ngược”.

Nhận định trên phản ánh quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển của chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong công cuộc đổi mới, vấn

đề có ý nghĩa quyết định là Đảng phải đổi mới cả 3 lĩnh vực: đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mới phong cách làm việc Đặt đổi mới tư duy lên hàng đầu vì có đổi mới tư duy mới có đổi mới các mặt khác

Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên từng lĩnh vực, nội dung đổi mới bao gồm nhiều mặt: Từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế, chính sách, tổ chức, cán bộ, phong cách và lề lối làm việc Nếu chỉ đổi mới một lĩnh vực hoặc một khâu nào đó thì công cuộc đổi mới không thể đạt kết quả mong muốn Đồng thời phải xác định đúng khâu then chốt trong mỗi bước đi để tập trung sức giải quyết, làm cơ sở đổi mới các khâu và lĩnh vực khác Ở đây thể hiện quan điểm toàn diện nhưng có trọng điểm trọng tâm phù hợp với quan điểm duy vật biện chứng.

Trong công cuộc đổi mới Đảng ta thực hiện phương châm “lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ việc đổi mới các lĩnh vực khác nhất là về dân chủ hóa xã hội, tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, các chính sách giáo dục, văn hóa,

Chúng ta biết rằng phát triển là một quá trình có tính quanh co, phức tạp Xã hội loài người đã trải qua 4 hình thái kinh tế xã hội: CSNT, CHNL, QCPK và TBCN, và đang trong thời đại quá độ từ xã hội TBCN sang xã hội XHCN Đó là một tất yếu khách quan Sự hình thành và phát triển của xã hội XHCN là một quá trình lịch sử tự nhiên, tuân theo những qui luật khách quan Măck dù CNXH hiện thực đang tạm thời lâm vào khủng hoảng và thoái trào nhưng xu thế phát triển của nó là tất yếu.

Thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và 2 cuộc kháng chiến

3 Nội dung quy luật mâu thuẫn Sự vận dụng của đảng ta trong việc phát hiện và giải quyết mâu thuẫn cơ bản hiện nay.

(anh/chị em bổ sung giúp nhe)

Trang 4

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đ lấy Chủ nghĩa Mc-Lnin lm nền tảng tư tưởng và vậndụng tư tưởng, lý luận đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam để đề ra đường lối, cương lĩnh đúng đắnnhằm lnh đạo đất nước tiến lên chủ nghĩa x hội Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12/1986) đến nay,Đảng đ khởi xướng và lnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện và sâu sắc trên toàn đất nước, trong đó chủ

trương đổi mới của Đảng được Văn kiện Đại hội IX xác định là “Con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” Chủ trương này thể hiện sự vận dụng đúng đắn quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng

thành những thay đổi về chất và ngược lại của triết học Mác-Lênin (gọi tắt là quy luật lượng - chất) vàothực tiễn cách mạng Việt Nam Việc tìm hiểu quy luật lượng - chất cũng giúp ta tránh được những khuynhhướng sai lầm nếu không nhận thức và áp dụng đúng quy luật này trong thực tiễn

Quy luật Lượng - chất có vị trí là vạch r cch thức của sự vận động và phát triển của SV, Htượng trongTgiới khách quan

1 Khái niệm chất và lượng

b) Khái niệm lượng

Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, tốc độ, nhịp độ của sự vận động và phát triển của sự vật

VD: Nước thì lượng của nó gồm 2 ion Hydro và Oxy

Trong XH có thể xác định quy mô 1 phtrào cách mạng, tốc độ tăng trưởng ktế,…

2 Nội dung quy luật chất và lượng

- Bất kỳ svật, htượng nào cũng có sự thống nhất giữa chất và lượng

- Svđộng, phát triển của svật, htượng bắt đầu từ sự thay đổi về lượng, lượng được tích lũy dần dần đến khi đầy

đủ (chín muồi về lượng) thì dẫn ra sự thay đổi về chất dẫn đến chất mới ra đời (bước nhảy được thực hiện)

- Chất mới ra đời bao hàm lượng mới, svật, htượng tiếp tục vđộng, phát triển bằng cách tích lũy dần vềlượng với quy mô, tốc độ mới và ngược lại

3.Ý nghĩa phương pháp luận

- Để có tri thức đầy đủ về sự vật chúng ta phải nhận thức đầy đủ về lượng và chất của sự vật

- Trong hđộng Nthức và hđộng Ttiễn, con người phải biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi vềchất theo qluật Kg tích cực trong việc tạo ra chất mới khi lượng của svật đ pht triển vượt qua của độ hoặc tảkhuynh nóng vội muốn tạo ra chất mới mà kg quan tâm đmức đến qtrình tlũy về lượng

Svdụng của đảng ta:

Theo qđiểm của ĐHXI của Đg: Điểm xphát của VN là nền sx nhỏ, thuộc địa nữa phkiến trải qua thời kỳquá độ lâu dài

Trang 5

Mđích đi lên CNXH nhằm xd XH: dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh; do ND làm chủ;

có nền ktế phát triển cao dựa trên LLSX hiện đại và có QHSX tiến bộ, phù hợp; có nền VH tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có đkiện phát triển toàn diện; các dtộctrong cộng đồng VN bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có NN pháp quyềnXHCN của ND, do ND, vì ND do ĐCS lđạo; có qhệ hữu nghị và htác với các nước trên thế giới

Để t/hiện th/công mục tiêu trên, t/iện tốt 8 phchâm c/bản sau:

- Một là, Đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước gắn với phát triển KT tri thức, bảo vệ TN và MT

- Hai là, phát triển nền KT thị trường định hướng XHCN

- Ba l, xdựng nền VH tiên tiến, đậm đà bsắc dtộc; xdcon người, nâng cao đời sống nhân dân, t/hiện tiến bộ

và công bằng XH

- Bốn là, bđảm vững chắc QP-AN quốc qia, trật tự an toàn XH

- Năm là, t/hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hịa bình, hữu nghị, hợp tc v pht triển; chủ động và tích cựchội nhập quốc tế

- Sáu là, xd nền dân chủ XHCN, t/hiện đại đkết dtộc, tăng cường và mở rộng m/trận d/tộc th/nhất

- Bảy l, xdựng NN ph/quyền XHCN của dn, d/dn v v/dn

- Tám là, xd đảng trong sạch, vững mạnh

Tóm lại, việc vận dụng nội dung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất cũng như ýnghĩa phương pháp luận của nó có vai trò to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do côngcuộc đổi mới theo định hướng XHCN hiện nay ở nước ta đặt ra

Đối với người Đảng viên, công viên chức nhà nước, việc nắm vững quy luật lượng - chất sẽ giúpchúng ta trong hoạt động chuyên môn cũng như trong quản lý, chỉ đạo: một mặt phải biết phát huy đúngmức vai trò của nhân tố chủ quan, có quyết tâm và nghị lực cao trong việc thực hiện đột phá trong côngviệc khi có điều kiện chín muồi, một mặt phải biết cách phân tích, xác định đúng quy mô, nhịp điệu củacác sự việc để có những biện pháp giải quyết thích hợp, tránh rơi vào khuynh hướng nôn nóng chủ quanduy ý chí hoặc bảo thủ

Câu 5 Mối liên hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn Sự vận dụng của đảng ta.

Theo quan điểm triết học Maclê thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên & xã hội.

Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, được biểu hiện dưới nhiều hình thức Hình thức đầu tiên của hoạt động thực tiễn tạo cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động cải tạo xã hội, hay hoạt động thực nghiệm khoa học cũng là dạng cơ bản, dạng hoạt động đặc biệt của hoạt động thực tiễn Trong hững hình thức đó hoạt động sản xuất là hoạt động cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người trong mọi thời kỳ lịch sử Hơn nửa các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng là từ hoạt động đó mà ra & nhằm phục vụ cho hoạt động đó.

Hoạt động thực tiễn gồm có 2 đặc trưng: một là hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội điều đó có ý nghĩa là trong hoạt động thực tiễn, con người sữ dụng những đối tượng vật chất, những dụng cụ lao động để tác động trực tiếp, làm thay đổi bản thân sự vật, trực tiếp cải tạo thề giới Trong hiện thực nhằm tạo ra vật chất phục vụ cho nhu cầu của con ngướì và xã hội Hai là hoạt động thực tiễn mang tính lịch sử xã hội có nghĩa là hoạt động thực tiễn không pphải là những hoạt động của từng con người riêng lẻ, mà

là dạng hoạt động cơ bản của xã hội loài người Xét từ nội dung cũng như phương thức thực hiện, hoạt động thực tiễn mang tính xã hội Hoạt động thực tiễn là một quá trình lịch sử, trải qua quá trình vận động và phát triển, trải qua các giai đoạn lịch sử của nó Có thể nói thực tiễn là sản phẩm lịch sử, những mối quan hệ đa dạng và vô tận giữa con người với giới tự nhiên & con người với con người Con người vừa thích nghi với môi trường vừa thông qua hoạt động của mình tác động một cách tích cực để biến đổi, cải tạo thề giới Đồng thời, quá trình đó con người củng phát triễn và hoàn thiện bản thân mình Hoạt động nhận thức của con người nảy sinh, phát triễn và tác động một cách biến chứng với hoạt động thực tiễn Trong mối quan hệ đó, thực tiễn giử các vai trò đối với nhận thức, được biểu hiện trước hết thực tiễn là cơ sở & động lực chủ yếu và trực tiếp của nhận thức và cả lý luận Bằng hoạt động thực tiễn con người tác động trực tiếp vào sự vật, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới phải bộc lộ những bản chất

và tính quy luật của chúng Điều đó có nghĩa là thực tiễn đã cung cấp những tài liệu là cơ sở cho nhận thức cho lý luận Tri thức của con người có thể thu nhận được dưới dạng trực tiếp từ thực tiễn hay gián tiếp Nhưnh xét đến cùng thì mọi tri thức của con người đều phát sinh từ thữc tiễn Quá trình hoạt động thực tinễ là cơ sở để phát huy tính tích cực sáng tạo của con người, là cơ sở của sự phát triển trí tuệ của con người.

Trang 6

Trong hoạt động thực tiễn luôn không ngừng biến đổi và phát triển, và đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ phương hướng phát triển của nhận thức, nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có những tri thức mới, phải tỗng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, đó chính là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển Trong lịch sử các môn khoa học nối tiếp nhau ra đời & phát triễn trên cơ sở hoạt động thực tiễn của loài người nhằm đáp ứng những nhu cầu do sự phát triển của con người đề ra.

Thực tiễn là mục đích của nhận thức Lý luận khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được ứng dung vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho hận thức hướng tốt để giải quyết, là nơi thể hiện sức mạnh của tri thức, biến tri thức khoa học thành phương tiện hoạt động thực tiễn có hiệu quả.

Vai trò của thực tiễn còn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức Để đánh gia kiểm nghiệm được tính đúng đắn hay sai lầm của những tri thức đã thu nhận, không có con đường nào thay thế hoạt động của thực tiễn Những kết quả tư duy trừu tượng phải được thực tiễn kiểm nghiệm Một mặt góp phần chỉ đạo thực tiễn, phục vụ thực tiễn, mặt khác chịu sự kiểm tra, đánh giá của thực tiễn, từ đó khẳng định bổ sung hoàn thiện phát triển những kết quả nhận được, đó chính là thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.

Nhận thức của con người là một quá trình trong đó gồm nhiều giai đoạn gồm nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính Nhận thức cảm tính có 3 hỉnh thức là cảm giác tri giác và biểu tượng, quá trình nhận thức này chỉ cho

ta thấy mối liên hệ bên ngoài, chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, thậm chí còn sai lệch, phiến diện.

Nhận thức lý tính bắt ngừon từ nhận thức cảm tính, là giai đoạn cao của nhận thức, nhận thức lý tính biểu hiện qua các hình thức, khái niệm, phán đoán, suy luận Nhận thức lý tính phản ánh một cách đầy đủ hơn, phản ánh các sự vật hiện tượng trong mối liên hệ bản chất mang tính quy luật Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính là những giai đoận khác nhau của cùng một quá trình nhận thức, thống nhất biện chứng với nhau, liên hệ tác động với nhau, bổ sung hổ trợ cho nhau, không tách rời nhau làm cho con ngưới nhận thức đầy đủ hơn về thế giới khách quan Bên cạnh nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, con người còn có nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận, nhận thức kinh nghiệm chủ yếu thu nhận được từ khảo sát và kinh nghiệm, nó tạo thành tri thức kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm là những tri thức thu nhận trực tiếp trong quá trình sản xuất lao động của con người.

Tri thức kinh nghệim có vai trò không thể thiếu được trong cuộc sống hằng ngày của con người, nhờ có Tri thức kinh nghệim mà hoạt động của con người hiệu quả hơn.

Tránh được những sai lầm đáng tiếc, Tri thức kinh nghiệm còn cung cấp những tiên đề, những cơ sở đầu tiên làm dử liệu khái quát nâng lên thành tri thức lý luận.

Tri thức lý luận là những tri thức thu được qua việc đúc kết thực tiễn, khái quát tri thức kinh nghiệm và nâng lên ở trình độ cao thể hiện qua một hệ thống những khái niệm, những phạm trù, những nguyên lý.

Vai trò của lý luận, là sự khái quát hoá và trình độ hoá, phản ánh được quy luật và bản chất của vấn đề, do

đó phạm vi tác động rất lớn, nó phản ánh hàng loạt các sự vật hiện tượng, thậm chí phán quyết tất cả các sự vật hiện tượng và nó giúp cho sự hiểu biết của con người đúng đắn hơn, chính xáx và đầy đủ hơn Tri thức lý luận còn có thể phản ánh vượt trước nên nó giúp cho con người chỉ trong đề ra những biện pháp những phương hướnghoạt động của mình ở hiện tại mà ở tương lai hay nói cách khác vai trò của lý luận là là tác động trở lại thực tiễn góp phần làm biến đỏi thực tiễn thông quahoạt động của con người Lý luận là kim chỉ nam cho hành động Soi đường dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Lênin khẳng định “ không có lý luận CM thì cũng không thể có phong trào CM”

Nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Theo quan điểm Mác-Lênin giữa lý luận và thực tiễn luôn luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau trong đó thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định đối với thực tiễn, thực tiễn là cở sở sinh ra lý luận, nếu không có thực tiễn không có lý luận, thực tiễn cao hơn lý luận không những ở tính phổ biến mà còn ở tính hiện thực trực tiếp Lý luận tác động trở lại thực tiễn, nhờ có lý luận mà định hướng hoạt động thực tiễn, biến hoạt động thực tiễn từ ự phát sang sáng tạo.

Sự phân tích trên đây về vai trò thực tiễn đối với nhận thức, đối với lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Quan điểm này yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, phải coi trọng tổng kết thực tiễn Ngiên cứu lý luận phải đi đôi với thực tiễn, học phải đi đôi với hành, nếu coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn thì chúng ta vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn dẫn đến sai lầm của bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm.

- Bệnh giáo điều là trạng thái sai lầm trong quá trình tư duy của chủ thể, tính máy móc, rập khuôn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo mang lại hiệu quả xấu cho hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn Thực chất của căn bệnh giáo điều là tuyệt đối hoá tri thức lý luận, tri thức khoa học, coi tri thức đã là chân lý tuyệt đối và vận dụng một cách máy móc của tri thức đó vào hoạt động nhận thức cũng như hoạt động cải tạo hiện thực mà không chú ý đến điều kiện lịch sử

cụ thể của đối tượng Xét từ khía cạnh trình độ nhận thức thì bệnh giáo điều có nguồn gốc từ sự yếu kém về tư duy

lý luận Nhất là lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng.

-Bệnh kinh mghiệm có khuynh hướng ngựơc lại với bệnh giáo điều, đề cao tuyệt đối những tri thức đực thu thập một cách trực tiếp cản tính từ những hiện tượng cụ thể chưa được khái quát thành lý luận, coi nhẹ lý luận, nhại học

Trang 7

tập lý luận , ít am hiểu lý luận, không quan tâm đến tổng kết kinh nghiệmđể đề xuất lý luận HCM đã nói “ có kinh nghiệm mà không có quản lý cũng như một mắt sáng một mắt mơ” Việt quán triệt mối quan hệ biện chứng giữa kinh nghiệm và lý luận, có nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việt đất tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm và giáo điều HCM có câu “ phải học tập tinh thần chủ nghĩa Mác- Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin để áp dụng – để giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác CM của chúng ta”

- Từ đó ĐH Đảng đưa ra luận điểm( ĐH VII ) “chỉ có tăng cường tổng kết thực tiễn phát triển lý luận thỉ công cuộc đổi mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động và sáng tạo mới tránh đưự«của những sai lầm những buớc quanh co phức tạp”

- Để làm sáng tỏ luận điểm trên chúng ta khái quát lại tình hình KTXH đất nứoc trong thời ký đổi mới Trước đổi mới Đảng ta phạm phải như84ng sai lầm trong việt xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất kỷ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế Do trình độ hạn chế của tư duy không đủ khả năng đúc kết thực tiễn, tổng kết kinh nghiệm đưa đến vi phạm quan điểm thực tiễn Từ đó dẫn tới nhận thức không đầy đủ rằng thời kỳ quá độ lên CNXH là quá trình lịch sử tương đối dài, trải qua nhiều chặng đường quanh co, va do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội muốn bỏ qua những bước đi cần thiết, không chú ý đến điều kiện hoàn cảnh của lịch sử của đất nước, muốn xoá bỏ ngay các thành phần kinh tế, nhấn mạnh việc thay đổi quan hệ sở hữu về TLSX, khong coi trọng giải quyết các vấn đềtổ chức quản lý và phân phối Trong chỉ đạo công cuộc cải tạo XHCN, mặt khác đẩy mạnh quan hệ sản xuất, không chú ý đến sự tồn tại lâu dài của sản xuất nhỏ, lỗi thời lạc hậu và phương tiện sản xuất thấp kém, phân tán không phù hợp về cơ cấu quản lý tập trung, quan liêu bao cấp kéo dài Với những sai lầm từ trong nhận thức cũng như hành động chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, từ đó dẫn tới khủng hoảng kinh tế ở nước ta ngày càng xa hơn.

- Đến đại hội VII của Đảng ta đã mạnh dạn đưa ra những sai lầm, thiếu sót và đề ra phương hướng khắc phụckhắc phục những sai lầm đó đồng thời vận dụng đúng tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm thực tiễn và nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Rút ra từ thực tiễn, Đảng ta đang tiến hành đổi mới toàn diện, xác định mục tiêu và con đường đi lên CNXH ở nước ta, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn Đảng ta đổi mới tư duy lý luận, phát triển và bổ sung lý luận nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ở nước ta Đặc biệt đổi mới về kỹ thuật như đổi mới QHSX phù hợp với tính chất trình độ của lực lượng SX; chuyển từ tư duy cũ tuyệt đối hoá sở hữu công cộng , thuần nhất với hai thành phần KT sang tư duy mới phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế mới, cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nuớc theo định hướng XHCN; thay đổi đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhằm phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sơ vật chất cho CNXH

- Xác định con đường đi lên CNXH ở nước ta phải trải qua thời kỳ quá độ lâu dài, khó khăn với nhiều hình thức

và bước đi trung gian, là sự quá độ bỏ qua chế độ TBCN Có nghĩa là bỏ qua thiết lập vị trí thống trị của quan hệ SX

và kiến trúc thượng tầng của TBCN, nhưng kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới thời TBCN, nhất là những thành tựu về khoa học và công nghệ để phát triển lực lượng SX.

- quá trình thực tiễn đừơng lối đổi mới của Đảng ta đã được Đại hội VII tổng kết dánh giá và bổ sung cho việc đề

ra chủ trương, chiến lược gắn với chủ trương chiến lược phát triển nền KT hàng hoá nhiều thành phần cơ chế chính sách không ngừng đổi mới.

- Kết quả đổi mới bước đầu đã đạt những thành tựu rất quan trọng : về chính trị ở trạng thái ổn định, về KT liên tục được phát triển , về lương thực : từ một nước thiếu LT vươn lên đến có dư thừa xuất khẩu, lĩnh vực lưu thông rất thuận lợi, hàng hoá trên thị trường dồi dào đa dạng

- Việc hoạch định chiến lược phát triển KT hàng hoá nhiều thành phần là một chủ trương chiến lược lâu dài trong thời ky quá độ lên CNXH chiến lược này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi đã đi sâu vào cuộc sống , phát huy quyền làm chủ của nhân dân về KT, khơi dậy được nhiều tiềm năng và sức lao động sáng tạo của nhân dân để phát triển sản xuất và dịch vụ, tạo thêm việc làm và sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy sự hình thành và phát triển của nền kinh tế hàng hoá tạo sự cạnh tranh sống động trên thị trường, hay nói cách khác : từ sau đổi mới thì lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao, đã thoát khỏi sự kìm hãm của quan hệ sản xuất không phù hợp của thợi kỳ trước đổi mới Nền kinh tế đất nước được phát triển thì ngân sách nhà nước được tăng lên GDP tăng, tỷ lệ lạm phát giảm, đời sống nhân dân được nâng cao, bộ mặt XH thay đổi rõ rệt.

- Với những thành tựu đạt được sau đổi mới, điều đó cũng đủ chứng minh cho luận điểm đúng đắn của Đảng ta chỉ

có tăng cường tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận thì công tác đổi mới mới trở thành hoạt động tự giác, chủ động

và sáng tạo, mới tráng được những sai lầm những bước đi quabnh co phức tạp.

- Từ những yêu cầu quan điểm thực tiễn nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, vì thực tiễn luôn luôn vận động và phát triển liên tục không ngừng, chỉ có tổng kết thuộc tính, phát triển bổ sung lý luận, lý luận tác động trở lại thực tiễn, dẫn đường chỉ lối cho thực tiễn hoạt động Cũng có nghĩa là chủ trương đương lối chính sách của Đảng ta đúng

Trang 8

đắn, phù hợp thì hoạt động thực tiễn sẽ tự giác, chủ động sáng tạo, tránh được những sai lầm và có những bước đi vững chắc, không bị tụt lại ( tránh được những bước đi quanh co, phức tạp ).

- Luận điểm của Đảng ta tại Đại hội VII tiếp tục chứng minh đúng đắn qua các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng Tổng kết kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, phát triển bổ sung cho lý luận kỳ tối cao hơn,sâu sắc và hoàn chỉnh hơn, biến hoạt động thực tiễn từ tự phát sang tự giác Tiếp tục đổi mới, đưa đất nước đi lên, thực hiện chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN.

- Quá trình thực hiện đường lối đổi mới toàn Đảng, toàn dân ta ra sức thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng như : Kinh tế tăng truởng khá Tổng sản phẩm trong nước tăng gấp đôi ( năm 1990 – 2000) Văn hoá xã hội có những tiến bộ, tình hình chính trị xã hội cơ bản ổn định, quốc phòng an ninh được tăng cường, chỉnh đốn Đảng được chú trọng, hệ thống chính trị được củng cố, quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế được tiến hành chủ động và đạt được kết qủa tốt.

- Đạt được những thành tựu nói trên là do Đảng ta quán triệt quan điểm thực tiễn của chủ nghĩa Mác-Lênin vào nguyên tắc thống nhất giữa thực tiễn và lý luận vận dụng đúng quy luật, với bản chất chính trị vững vàng Thường xuyên nghiên cứu và tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận bổ sung lý luận, đề ra chủ trương, đường lối, chính sách đúng đắn, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đất nước Trên tinh thần đó nhà nước ta

Câu 3: Nội dung quy luật Lượng - chất Ý nghĩa phương pháp luận, sự vận dụng của đảng ta.

Bài làmNgay từ khi ra đời, ĐCSVN đã lấy CNMLN làm nền tảng và vận dụng tư tưởng, lý luận đó vàothực tiễn cách mạng VN để từ đó đề ra, đường lối, cương lĩnh đúng đắn nhằm lãnh đạo đất nước tiến lênCNXH Từ ĐH Đảng lần VI (tháng 12/1986) đến nay, đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổimới toàn diện và sâu sắc trên toàn đất nước, trong đó chủ trương đổi mới của đảng được VKĐHĐIX xácđịnh: “con đường CNH-HDH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa

có những bước nhảy vọt” chủ trương này thể hiện ở sụ vận dụng đúng đắn quy luật chuyển hóa từ thayđổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại của Tiết học MLNin (họi tắt là quy luật L-C) vàothực tiễn cách mạnh VN Việc tìm hiểu quy luật lượng chất cũng giúp ta tránh những khuynh hướng sailầm nếu không nhận thức và áp dụng đúng quy luật vào thực tiễn

Quy luật L-C là một trong 3 quy luật cơ bản của phép BCDV, nó chỉ rõ cách thức của quá trìnhvận động và phát triển của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

Lượng là 1 pạm trù TH dùng để chỉ tính quy địng vốn có của sự vật về số lượng, quy mô, trình độ,nhịp điệu, tốc độ của sự vận động, pát triển của sự vật hiện tượng cũng như các thuộc tính của nó

Lượng là cái khách quan vốn có của sự vật hiện tượng lượng có thể được xác định cụ thể, bằngcác công cụ đo lường tuy nhiên, cũng có những tính quy định về lượng biểu thị dưới dạng trừu tượng vàkhái quát Một sự vật có rất nhiều chất cho nên nó cũng có rất nhiều sự khác nhau về lượng sự pân biệtgiữa chấtvaf lượng cũng chỉ có tính tương đối

Chất cũng là 1 pạm trù TH dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có SVHT, là sự thống nhấthữu cơ của các thuộc tính làm cho nó là nó và phân biệt nó với cái khác

Chất là cái khách quan vốn có của mọi SVHT, mà mỗ SVHT điều có nhiều thuộc tính, mỗi thuộctính có những đặc trưng riêng về chất do đó, 1 SVHT không chỉ có 1 chất mà có nhiều chất chất là tổnghợp những thuộc tính, khi những thuộc tính cơ bản của sự vật thay đổi thì chất cơ bản của sự vật đó cũngthay đổi chất còn pụ thuộc vào những yếu tố cấu thành và phương thức liên kết của các yếu tố đó

Mối quan hệ giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất

Bất kỳ SVHT nào cũng có chất và lượng trong quá trình vận động và phát triển thì chất và lượng của sựvật cũng biến đổi theo., nhưng sự thay đổi đó không diễn ra độc lập mà có sự liên kết chặt chẽ với nhau.Nhưng k pải bất kỳ sự vật nào của lượng thay đổi thì chất thay đổi theo liền mà có thể đến một giới hạnnào đó thì chất mới thay đổi theo Khuôn khổ mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về chấtcủa sự được gọi độ

Độ cũng là một pạm trù TH dùng để chỉ thống nhất giữa Lvà C, nó là khoảng giới hạn mà trong đó

sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi về căn bản về chất của sự vật những điểm giới hạn mà tại đó có sựthay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật được gọi là điểm nút Bất kỳ độ nào cũng được giớihạn bởi điểm nút

Sự thay đổi về L khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn tới sự ra đời của chất mới Sự thống nhất giữa Lvà Cmới tạo thành một độ mới và một điểm nút mới sự thay đổi về chất do những thay đổi về lượng trước đógây ra gọi là bước nhảy

Trang 9

Bước nhảy là một phạm trù TH dùng để chỉ giai đoạn chuyển hóa về chất của sự vật do những đổi

về L trước đó gây ra Bước nhảy làm cho sự bến đổi của các SVHT trong thế giới quan có sự thống nhấtliên tục và đứt đoạn, giữa tiệm tiến và nhảy vọt lê nin khẳng định: “tiệm tiến mà không có bước nhảy vọt,thì không giải thích được gì cả” chất mới ra đời sẽ tác động trở lại đối với sự thay đổi về L Chất mới cóthể làm thay đổi , quy mô, trình độ, kết cấu, nhịp điêlu của sự vận động biến đổi

Sự thay đổi về chất của sự vật diễn ra rất đa dạng với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau Xét vềthời gian và tính chất của thay đổi về chất thì bước nhảy được hia thành: bước nhảy đột biến và bước nhảycục bộ khi xem xét sự thay đổi về chất trong đời sống xh người ta chia thành sự thay đổi cách mạng và sựthay đổi có tính tiến hóa

Từ mối quan hệ biện chứng giữa L và C, có thể khái quát nội ung cơ bản của quy luật như sau: bất

kỳ SVHT nào cũng ều có sự thống nhất giữa L và C sự thay đổi dần về L vượt qua giới hạn của độ sẽ dẫnđến sự thay đổi căn bản về chất của SV thông qua 1 bước nhảy chất mới ra đòei sẽ tác động trở lại tới sựthay đổi của L

Nhận thức đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa thay đổi về L và C chúng ta sẽ rút ra được ýnghĩa của phương pháp luận quan trọng cho nhận thức hoạt động và thực tiễn

- Mọi sự vật hiện tượng điều là thể thống nhất hữu cơ giữa L và C do vậy, để co stri thức đầy đủ

về sv ta phải nhận thức được cr mặt lượng và mặt chất

Sự phát triển của SV bao giờ cũng bắt đầu đổi từ lượng rồi mới đến chất do vậy, để cải tạo sự vật pảiquan tâm thích đáng đến quá trình tích lũy về L, đồng thời pải chủ động tạo những đk cần thiết để quátrình chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới được thực hiện một cách hoàn hảo nhất

Khi vận dụng quy luật ối quan hệ giữa L và C vao thực tiễn, ta không được tuyệt đối hóa mặt nào,nếu tuyệt đối hóa một trong 2 mặt thì chúng ta sẽ rơi vào tư tưởng nóng vội (tả khuynh) hoặc tư tưởng bảothủ (hữu khuynh)

Khuynh hướng nôn nóng là khuynh hướng không quan tâm thực hiện quá trình tích lũy về lượng

mà chỉ chú ý thực hiện bước nhảy vọt làm thay đổi về chất mà trong khi đó chưa có đủ điều kiện tích lỹu

về lượng cần thiết Những người có tư tưởng này trong hoạt động thực tiễn thường nóng vội, chủ quan duy

ý chí, họ cho rằng sự pát triển chỉ toàn những bước nhảy liên tục và có thể đốt cháy giai đoạn

Ngược lại với khuynh hướng nông nóng giải quyết mọ việc là khuynh hướng bảo thủ chỉ chú ý đếnquáy trình tích lũy về lượng, không phát huy nỗ lực của nhân tố chủ quan, không dám thựuc hiện bướcnhảy vọt về chất khi có sự tích lũy đủ về lượng hoặc kéo dài sự tích lũy, chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi vềlượng

Cả hai khuynh hướng trên điều dẫn đến những sai lầm quan trọng có thể làm cản trở hoặc kìm hãm sựphát triển của SVHT đó Trong thực tiễn VN trước thời kỳ đổi mới, đảng ta cũng có lúc pạm sai lầm của 2khuynh hướng trên Văn kiện đại hội VI đã nêu “do chưa nhận thức đầy đủ rằng TKQD lên CNXH là mộtquá trình lịch sử tương đối dài, pải trãi qua nhiều chặng đường và do tư tưởng chỉ đạ chủ quan, nóng vộimuốn bỏ qua những bước đi cần thiết…trên thực té, chúng ta đẩy mạnh CNH trong khi chưa có đủ tiền đềcần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lýkinh tế đã lỗi thời” văn kiện còn nhận định trong công tác

tổ chức thời kỳ này “khuyết điểm lớn nhất là sự trì trệ, chậm dổi mới công tác cán bộ việc lựa chọn, bố trícán bộ vào các các cơ quan lãnh đjao và quản lý các cấp còn theo quan niệm cũ kỹ và tiêu chuẩn khôngđúng đăn, mang nặng tính hình thức…”chính những sai lầm này là một trong những nguyên nhân dẫn đến

sự khủng hoảng kinh tế XH trầm trọng ở nước ta trước thời kỳ đổi mới

Từ những thất bại đó, đảng ta đã nhận thức và có tổng kết đánh giá kịp thời những sai lầm trên.Đại hội VI của đảng đánh dấu bước đột pá đầu tiên của tư duy lý luận của Đảng trong viejc vận dụng nộidung quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa L và C trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta

Công cuộc đổi mới mà đảng ta khởi xướng từ đại hội VI cho đến nay có ý nghĩa như là một quátrình cách mạng bởi nó tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực đời sống XH Trong quá trìnhchuyển biến thì đó CNH-HDDH được xem là nhiệm vụ trọng tâm và pấn đấu 2020 nước ta cơ bản trởthành một nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu đề ra đảng ta khảng định tại VKDHD IX “con đườngCNH-HDDH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bướcnhảy vọt”

Tại văn kiện đại hội đảng lần thứ XI cho tháy sự thay đổi nhận thức của Đảng: “pải không ngừngtăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế

Trang 10

sâu rộng và cĩ hiệu quả” Qua khảng định cho tháy sự thay đổi về con đường phát triển đất nước ngàycàng nhận thức rõ hơn.

Từ những vấn đề nhận thức ở trên thì cĩ thể liên hệ thực tế đến cán bộ đảng viên của nước ta hiệnnay cho thấy, vệc nắm quy luật lượng – chất sẽ giúp ta trong hoạt động chuyên mơn cũng như trong quản

lý, chỉ đạo: một mặt pải biết pát huy đúng mức vai trị của nhân tố chủ quan, cĩ quyết tâm và nghị lực cotrong việc thực hện độct pá trong việc khi cĩ điều kiện chính muồi, một mặt pải biết cách pân tích, xácđịnh đúng quy mơ, nhịp điệu của các sự việc để cĩ những biện páp giải quyết thích hợp, tránh rưoi vàokhuynh hướng nơng nĩng chủ quan duy ý chí hoặc bảo thủ trì trệ

Đối với người lãnh đjao việc nắm vững quy luật L-C sẽ giúp cho cơng tác đào tạo, bồi dưỡng, bốtrí cán bộ được đảm bảo cơng tâm và chính xác thơng qua quá trình bồi dưỡng, đào tạo và các kỹ năngcơng tác khác Bảo đảm xây dựng được đội ngũ kế thừ vừa đủ tâm- tầm trong bối cảnh nước ta hiện nay vìngười lãnh đjao giỏi là người pải biết tạo ra nhân viên giỏi

Tĩm lại, việc vận dụng nội dung quy luật về quan hện biện chứng giữa L và C cũng như ý nghĩaphương pháp luận của nĩ cĩ vai trị to lớn trong việc xem xét và giải quyết những vấn đề do cơng cuộc đổimới theo định hướng XHCH hiện nay ở nước ta đặt ra./

Câu 2: 2 mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, vận dụng thực tế đổi mới tồn diện cĩ tính kế thừa đồng bộ, bước đi phù hợp, dùng TH để phân tích văn kiện đại hội X.

Bài làm

Để tìm hiểu về 2 mối liên hệ giữa phổ biến và sự phát triển thì trước ta hiểu phép duy vật biệnchứng là 1 trong 3 hình thức của phương pháp biện chứng trong đĩ pép biện chứng duy vật cĩ sự thốngnhất giữa thế giới quan duy vật và pép biện chứng, pép biện chứng duy vật nhấn mạnh phương pháp biệnchứng và kết cấu của nĩ thể hiện ở 2 nguyên lý là mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển hainguyên lý này sẽ trình bày khái quát các sự vận động biến đổi và phát triển của các sự vật hiện tượngtrong thế giới

Trước tiên ta tìm hiểu về nguyên lý của mối liên hệ phổ biến hay cịn gọi là nguyên tắt tồn diện

- Nguyên lý về mói liên hệ phổ biến là một trong hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duyvật Liên hệ phổ biến là một phạm trù triết học dùng để chỉ sự tác đôïng, liên hệ ràng buộc và chuyểnhoá lẫn nhau giữa các mặt, các yếu tố trong một SVHT hoặc giữa các SVHT với nhau trong quá trìnhtồn tại và phát triển Nhờ vậy, nguyên lý này cũng trả lời câu hỏi các sự vật hiện tượng trong thế giới nàycso liên hệ với nhau khơng? Và theo quan điểm của CNDVBC thì các sự vật hiện tượng trong thới giớinày tồn tại bằng cách tác động ràng buộc quy định và chuyển hĩa lẫn nhau, khơng cĩ sự vật hiện tượngnào tồn tại 1 cách cơ lập Từ nội dung của nguyên lý trên cũng đã làm rõ tính chất cĩ mối liên hệ này cho

ta thấy:

Quan điểm duy vật biện chứng khơng chỉ khẳng định ở tính khách quan là mối liên hệ giữa các sựvật hiện tượng là cái vốn cĩ của các sự vật hiện tượng đĩ, nĩ khơng pụ thuộc vào ý muốn chủ quan của

Ngày đăng: 12/02/2015, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w