1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển thương mại dịch vụ

16 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 108 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát tr

Trang 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Thương mại dịch vụ

1.1.1 Khái niệm về thương mại dịch vụ

Thương mại dịch vụ là một khái niệm phân biệt với khái niệm thương mại

về hàng hoá Nếu thương mại hàng hoá về cơ bản là mua bán các sản phẩm hữu

hình, thì thương mại dịch vụ về cơ bản là trao đổi về các sản phẩm vô hình “Bất

kỳ thứ gì mua bán trong thương mại mà không thể rơi vào chân bạn đó là dịch vụ”.

Vậy, thương mại dịch vụ là toàn bộ những hoạt động cung ứng dịch vụ trên thị trường thông qua mua bán nhằm mục đích lợi nhuận.

1.1.2 Đặc điểm của thương mại dịch vụ:

- Quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời,

nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêu dùng lại rất khác nhau

- Thương mại dịch vụ là một lĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo

được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa về kinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay

- Thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng

trực tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mại hàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngành của nền kinh tế quốc dân

- Thương mại dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người

cụ thể, chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tính của người cung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng hóa, sản phẩm là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soát con người trong thương mại dịch vụ, vì thế

mà thương mại dịch vụ phải đối mặt nhiều hơn với những hàng rào thương mại

so với thương mại hàng hóa

1.1.3 Vai trò của thương mại dịch vụ:

Trang 2

1) Thương mại dịch vụ có vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đóng góp vào GNP của nền kinh tế các quốc gia

2) Vai trò của thương mại dịch vụ với tăng cường hội nhập khu vực và quốc tế, cải thiện cán cân thương mại của các quốc gia

3) Vai trò của thương mại dịch vụ với việc thúc đẩy phân công lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

4) Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc tạo ra công ăn việc làm cho xã hội:

5) Vai trò của thương mại dịch vụ đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

Ngoài ra, thương mại dịch vụ còn đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường giao lưu văn hóa, chuyển giao công nghệ…

1.2 Phát triển thương mại bền vững:

1.2.1 Khái niệm: phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được

những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.Nói chung là phát triển bền vững phải đảm bảo 3 yếu tố đó là: môi trường bền vững, kinh tế bền vững, và xã hội bền vững

Như vậy, phát triển thương mại dịch vụ gắn với phát triển bền vững thì

cũng phải đảm bảo được cả yếu tố về môi trường sinh thái và vấn đề xã hội bền vững Khi đưa ra mọi chiến lược và chính sách phát triển thương mại dịch vụ cũng phải xem xét, gắn liền hai yếu tố kia

1.2.2 Đặc điểm của phát triển bền vững:

 Sử dụng tài nguyên thiên nhiên không làm tổn hại đến môi trường và hệ sinh thái

 Tạo ra nguồn vật liệu và tìm kiếm nguồn năng lượng mới

 Ứng dụng công nghệ sạch phù hợp

 Tăng sản lượng lương thực và thực phẩm

Trang 3

 Tổ chức lại vùng sinh thái nhân văn để chất lượng cuộc sống phát triển tích cực hơn

1.3 Chiến lược phát triển thương mại dịch vụ

1.3.1 Khái niệm:

Chiến lược phát triển thương mại dịch vụ có thể hiểu là một bản luận cứ

có cơ sở khoa học xác định đường hướng cơ bản phát triển Thương mại dịch vụ khoảng thời gian 10 năm hoặc hơn, nó là căn cứ để hoạch định các quy hoạch và

kế hoạch phát triển Thương mại dịch vụ

1.3.2 Nguyên tắc của chiến lược phát triển thương mại dịch vụ

- Phải cụ thể hóa được đường lối phát triển Thương mại trên những vấn

đề mấu chốt và những biện pháp chủ yếu nhất nhằm giải quyết những vấn đề đó

- Phải thể hiện được những đặc thù của nền kinh tế về trình độ văn hóa, bối cảnh quốc tế và mức độ hội nhập của nền kinh tế để xem xét đặc thù của nền kinh tế

- Thể hiện được động lực chủ yếu của nền kinh tế – xã hội đối với Thương mại

- Phải thể hiện được những tính tối ưu, tức là đảm bảo được sự phát triển đạt hiệu quả cao, sử dụng hiệu quả các tiềm năng, nâng cao những đóng góp lợi kinh tế – xã hội của Thương mại

- Phải có đủ tầm nhìn bao quát về phạm vi, không gian và thời gian, quan điểm và biện pháp

Yêu cầu của chiến lược phát triển thương mại nói chung và thương mại dich vụ nói riêng bao gồm những yêu cầu sau:

Về thời gian đủ dài (10-20 năm)

Không gian có tác động đến hoạt động Thương mại trong phạm vi cả nước và vượt qua phạm vi một quốc gia

Quan điểm phải có cách nhìn tổng hợp và toàn diện

Về biện pháp phải đồng bộ và đúng thời cơ

Trang 4

1.3.3 Quan điểm cơ bản của chiến lược phát triển thương mại dịch vụ

1 Phát triển thương mại gắn liền với quy mô, trình độ phát triển sản xuất trong nước trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020

2 Kết hợp hài hòa giữa phát triển thương mại trong nước và thương mại quốc tế, giữa mục tiêu phát huy lợi thế so sánh với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, giữa gia tăng nhập khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có hàm lượng nội địa hóa, giá trị gia tăng cao

3 Phát triển hài hòa, đồng bộ, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện các hoạt động thương mại, thực hiện các khâu trong quá trình thương mại

vì mục tiêu xây dựng một nền thương mại vững mạnh và hiện đại

4 Phát triển mạnh mẽ lực lượng doanh nghiệp phân phối thuộc mọi thành phần kinh tế, kết hợp giữa yêu cầu phát triển các doanh nghiệp phân phối trong nước có quy mô lớn với yêu cầu tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ kinh doanh tham gia thị trường

5 Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý hoạt động phân phối, tạo động lực cho các nhà phân phối tham gia ổn định giá cả thị trường, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, xây dựng nền thương mại văn minh hiện đại

1.3.4 Các yếu tố tác động đến chiến lược phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam

- Các xu hướng phát triển thương mại dịch vụ trên thế giới

- Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ

- Trình độ phát triển và cải cách kinh tế trong nước

- Nhu cầu cải thiên đời sống của nhân dân

1.4 Sự cần thiết của chiến lược phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam

Khu vực dịch vụ trong nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn kém phát triển Khu vực dịch vụ của Việt Nam cần nhanh chóng cải thiện sự cạnh tranh của mình, để đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng lớn ở cả trong

Trang 5

nước và ngoài nước.( Hiện tại đóng góp 38-39% tổng sản phẩm, và chiếm 24% lực lượng lao động, trong khi đó các nước đang phát triển là 55%, các nước công nghiệp thu nhập cao là 70% tổng sản phẩm).Việt Nam muốn đưa lĩnh vực dịch vụ trở thành động lực cho tăng trưởng kinh tế của mình thì cần có những cải cách sâu rộng hơn để dẫn tới những thay đổi cơ cấu sâu hơn Hiện nay Việt Nam thiếu một chiến lược phát triển thương mại dịch vụ tổng thể, làm cơ sở cho các nỗ lực phát triển chung của toàn bộ khu vực dịch vụ Vậy, nước ta cần thiết phải xây dựng chiến lược phát triển thương mại dịch vụ bởi các lý do sau:

- Xây dựng chiến lược phát triển thương mại dịch vụ để chúng ta có thể phát triển một khu vực dịch vụ có hiệu quả và cạnh tranh quốc tế

- Có chiến lược phát triển thương mại dịch vụ để xây dựng và có được các dịch vụ đầu vào chất lượng cao Phát triển thương mại dịch vụ trung gian để thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế khác

- Để khai thác và mở rộng thị trường xuất khẩu, cải thiện tỷ lệ xuất khẩu của ngành dịch vụ, các sản phẩm dịch vụ nước ta Do thị trường và sản phẩm dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn hạn chế

- Năng lực cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ của Việt Nam vẫn chưa cao.Việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại dịch vụ sẽ tạo điều kiện để hỗ trợ, nâng cao năng lực cạnh tranh

Chương II Những yêu cầu đặt ra cho chiến lược phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn 2020 trong

mối liên hệ với phát triển bền vững nền kinh tế.

2.1 Mục tiêu phát triển ngành thương mại dịch vụ trong tiến trình hội nhập

2.1.1 Mục tiêu tổng thể phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam đến năm 2020

Trang 6

- Cung cấp nguồn đầu vào có gia trị gia tăng cao phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, đặc biệt đối với những ngành công nghiệp định hướng xuất khẩu và nông nghiệp

- Tăng cường xuất khẩu dịch vụ và giảm bớt nhập khẩu đầu vào trung gian, góp phần cải thiện cán cân thương mại quốc tế

- Tạo môi trường kinh tế hấp dẫn để thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư cả trong

và ngoài nước vào thương mại dịch vụ

- Hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng bền vững và thúc đẩy nền kinh tế từng bước chuyển sang nền kinh tế tri thức

- Góp phần đáp ứng các mục tiêu phát triển nhân lực quốc gia

2.1.2 Mục tiêu phát triển các ngành dịch vụ ưu tiên đến năm 2020

Trong quá trình phát triển thương mại dịch vụ đến 2020 cần ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ sau:

- Viễn thông: tạo ra hạ tầng cơ bản để nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ và nền kinh tế

- Giáo dục và đào tạo: cung cấp đầu vào nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực dịch vụ và cho nền kinh tế

- Dịch vụ kinh doanh chất lượng cao

- Dịch vụ du lịch: đây là dịch vụ có lợi thế so sánh lớn nhất của Việt Nam, hơn nữa Việt Nam chủ yếu xuất khẩu dịch vụ du lịch song giá trị mà nó mang lại vẫn còn rất nhỏ Trong mục tiêu phát triển đến năm 2020 cần tiếp tục phát huy lợi thế này

- Dịch vụ tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán ): cung cấp vốn

và quản lý rủi ro cho khu vực dịch vụ và nền kinh tế

- Vận tải hàng hải và hàng không: đây là phương thức quan trọng nhất để nối Việt Nam với quốc tế, nâng cao hiệu quả của xuất nhập khẩu và du lịch

Mục tiêu tăng trưởng cụ thể của các ngành trong giai đoạn 2010 - 2020 (ĐVT: %)

Năm mục tiêu Toàn bộ nềnNông, lâm,Công Dịch vụ

Trang 7

kinh tế thủy sản nghiệp

Tăng trưởng GDP bình

quân GĐ 2010 - 2020

Tỷ trọng lực lượng lao

động năm 2020

Nguồn: Chiến lược phát triển thương mại Việt Nam 2010 – 2020

2.2 Vài nét về thực trạng phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam

2.2.1 Những thành tựu của phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay:

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại hàng hóa thì thương mại dịch vụ ngày càng được chú trọng phát triển được thể hiện trong chủ trương cũng như chiến lược và chính sách phát triển thương mại dịch vụ của Việt Nam

Đó là nhờ sự nhận thức sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta về tầm quan trọng và

sự phát triển của lĩnh vực thương mại dịch vụ Như chiến lược giai đoạn

2001-2010 mà Đại Hội Đảng lần thứ 9 đề ra cũng tập trung vào lĩnh vực dịch vụ, đê ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng hàng năm của lĩnh vực dịch vụ là 7-8%, tới năm

2010 dịch vụ chiếm 42-43% GDP và 26-27% việc làm trong nền kinh tế

Tăng trưởng lĩnh vực dịch vụ thường gắn với sự phát triển cơ sở hạ tầng cần thiết cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa Cơ sở hạ tầng này bao gồm đường cao tốc mới, được nâng cấp, đường sắt, cảng biển và sân bay đóng vai trò mạch máu cho các hoạt động vận tải; mở rộng mạng lưới viễn thông và internet; tăng số lượng các ngân hàng trong nước và nước ngoài, và hai thị trường chứng khoán thu hút vốn cho sản xuất công nghiệp; và khoảng 370 cơ sở giáo dục bậc cao của nhà nước và bán công, đào tạo gần 250 nghìn sinh viên mỗi năm để cung cấp thị trường lao động Mặc dù những kết quả trên còn hạn chế, đây là thành công đáng kể đối với một nước còn khá nghèo với nguồn lực hạn chế, dân số lớn

Trang 8

Phát triển thương mại dịch vụ đã trở thành yếu tố quan trọng để Việt Nam thu hút vốn đầu tư nước ngoài mới.Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong toàn bộ nền kinh tế đã tăng từ 6,8 tỷ đô la năm 2005 lên 12 tỷ đô la năm 2006, 21,3 tỷ năm đô la năm 2007, 71 tỷ đô la năm 2008 và 8,78 tỷ đô la trong nửa đầu năm 2009 Tới năm 2008, tổng vốn FDI đăng ký vào lĩnh vực dịch vụ đã đạt

62 tỷ đô la hay 39 phần trăm tổng vốn FDI đăng ký Luồng vốn FDI hiện nay đang đổ nhiều vào lĩnh vực nhà hàng và khách sạn, bất động sản và các hoạt động kinh doanh do tốc độ phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực này, tiếp theo là vào lĩnh vực phân phối và vận tải

Phát triển thương mại dịch vụ góp phần tích cực trong việc giải quyết công ăn việc làm cho phần lớn bộ phận lao động của Việt Nam Tại Việt Nam,

số lượng người lao động trong lĩnh vực dịch vụ tới năm 2008 tăng 2,8 lần so với năm 1985.Trung gian tài chính, vận tải và truyền thông là các dịch vụ tạo ra nhiều việc làm nhất trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Hơn nữa, phát triển thương mại dịch vụ còn giúp nâng cao đời sống cho người dân Bên cạnh việc làm sự phát triển dịch vụ cũng đóng vai trò quan trọng trong xóa đói giảm nghèo và phát triển xã hội Trong vòng 10 năm, từ 1993 tới 2004, số lượng người sống dưới mức nghèo khổ tại Việt Nam đã 30 giảm từ 40,4 triệu xuống 19,7 triệu, hay 60% số hộ nghèo Như vậy, phát triển thương mại dịch vụ đóng góp rất lớn vào vấn đề phát triển bền vững

Cùng với xu thế FDI vào lĩnh vực dịch vụ gia tăng thì xu thế thuê ngoài

và xuất khẩu dịch vụ cũng đang chuyển từ chỗ là thách thức sang trở thành cơ hội cho ngành dịch vụ của Việt Nam phát triển Việt Nam là một nền kinh tế hướng ra xuất khẩu song hiện mới chỉ tập trung vào xuất khẩu hàng hóa Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn khi cạnh tranh với Trung Quốc, nước được gọi là “công xưởng” của thế giới nhưng Việt Nam có thể trở thành nhà cung ứng dịch vụ cho công xưởng này Trong ba ngành dịch vụ ưu tiên kể trên thì ngành dịch vụ khoa học-công nghệ có nhiều cơ hội để thực hiện

“thuê ngoài” và xuất khẩu hơn cả và chính bằng cách này thì ngành dịch vụ

Trang 9

khoa học-công nghệ của Việt Nam sẽ có điều kiện để tiến bộ và phát triển vững mạnh hơn

Một lợi ích tiềm năng nữa từ sự phát triển thương mại dịch vụ là việc phân bổ rộng rãi các lợi ích của quá trình phát triển kinh tế ra cả nước, không chỉ ở các thành phố mà còn ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Ví dụ, các doanh nghiệp dịch vụ vốn đầu tư thấp có thể được phát triển ở những cộng đồng

xa xôi, nhỏ bé nhất để tạo thu nhập và việc làm, các vấn đề quan trọng với người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo Đồng thời sẽ giảm bớt sự chênh lệch về dân cư, sự phân biệt giàu nghèo giữa các vùng lãnh thổ trong một quốc gia

2.2.2 Hạn chế của phát triển thương mại dịch vụ ở Việt Nam hiện nay

Thương mại dịch vụ vẫn chưa được đầu tư phát triển đúng mức nên hiệu quả mang lại chưa cao: xét từ khía cạnh luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đem lại lợi ích chủ yếu cho lĩnh vực sản xuất trong khi chỉ rất ít ngành dịch vụ và là những ngành không chiến lược được hưởng lợi từ quá trình này, chủ yếu là các ngành khách sạn và nhà hàng, bất động sản, dịch vụ cho thuê và dịch vụ kinh doanh

Sự phát triển của thương mại dịch vụ một số ngành ở Việt Nam tăng nhanh nhưng không bền vững Đặc biệt là sự tăng trưởng “nóng” của thì trường chứng khoán mang lại lợi nhuận cao cho nền kinh tế nhưng , đây lại là tình trạng phát triển “nóng” đầy rủi ro Vì thế, phát triển ngành dịch vụ ngân hàng và chứng khoán đòi hỏi phải cải cách cơ sở hạ tầng của hai ngành này

Phát triển thương mại dịch vụ chưa đồng bộ và chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành để tạo ra giá trị cao hơn Sự liên kết giữa các DN với nhau chưa cao, sự trao đổi thông tin còn hạn chế dẫn đến tình trạng phát triển thương mại dịch vụ một cách rời rạc, nhỏ lẻ và hiệu quả mang lại thấp Ví dụ: xét về giá trị tuyệt đối, quy mô ngành du lịch Việt Nam còn nhỏ Tốc độ tăng trưởng việc làm trong ngành vẫn tiếp tục ở mức thấp hơn so với mức tăng trung bình của khu vực Năng lực của các công ty du lịch Việt Nam không tương xứng với tiềm năng

Trang 10

Việc ban hành các chính sách vẫn còn thiếu tính đồng bộ và minh bạch, chưa đáp ứng được tiến trình hội nhập Nhiều quy định hiện hành đã phần nào trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với những yêu cầu quản lý của thời kỳ hậu WTO Trong khi đó, một số quy định được ban hành sau khi Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO chưa tạo được cơ sở rõ ràng cho việc thực thi cam kết bao gồm cả việc kiểm tra nhu cầu kinh tế

Nguồn nhân lực chuyên môn và chất lượng cao cho phát triển thương mại dịch vụ trung gian ở Việt Nam vẫn còn hạn chế Các ngành kinh tế được thúc đẩy tăng trưởng bởi các ngành dịch vụ trung gian Tuy nhiên, ở Việt Nam các chính sách dường như chỉ chú trọng đến các dịch vụ cuối cùng Đặc biệt là nguồn nhân lực trong các ngành dịch vụ tài chính ngân hàng hiện nay vẫn còn thiếu do nhân lực có chuyên môn cao và am hiểu về lĩnh vực Hay như : Nguồn nhân lực cho du lịch chưa được đào tạo một cách hệ thống về chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp Năng lực ngoại ngữ, kỹ năng công nghệ thông tin và khả năng giao tiếp còn hạn chế

Xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam mới chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu (hơn 10%) Cán cân xuất nhập khẩu dịch vụ trong những năm qua liên tục bị thâm hụt Thị trường và sản phẩm dịch vụ xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế, thị trường xuất khẩu dịch vụ vẫn chủ yếu là các nhà đầu

tư nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam, dịch vụ xuất khẩu chủ yếu vẫn là các dịch vụ cơ bản, chưa tập trung nhiều vào các dịch vụ giá trị gia tăng

2.3 Tác động của cơ chế, chính sách đến phát triển thương mại dịch vụ Việt Nam trong mối liên hệ với phát triển bền vững nền kinh tế

Nhờ có chính sách phát triển thương mại dịch vụ mà Việt Nam đã có mối quan hệ thương mại với nhiều quốc gia, thu hút FDI của 75 quốc gia trên thế giới, là thành viên thứ 150 của WTO, mở ra nhiều cơ hội hợp tác đầu tư cho các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các DNNVV Đến nay, DNNVV chiếm trên 30% tổng vốn đầu tư, tạo ra hơn 40% số hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, gần 45% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và đóng góp gần 40% ngân sách cho Nhà nước

Ngày đăng: 11/02/2015, 22:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w