Dịch vụ cho thuê tài chính ra đời với những ưu điểm vượt trội đã trở thành giải pháp kịp thời và hợp lý cho các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về vốn. Ngày càng nhiều các doanh nghiệp chọn đi thuê tài chính hơn càng hình thức cấp tín dụng truyền thống khác. Tuy nhiên, sự phức tạp trong thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ cho thuê tài chính, cụ thể là bên đi thuê, bên cho thuê, và bên bán tài sản là điều mà các doanh nghiệp cần lưu ý. Sự cẩn thận, toàn diện khi tiến hành thỏa thuận hợp đồng cho thuê tài chính cũng là điều mà tất cả các doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm. Những rủi ro từ hợp đồng cho thuê tài chính, nếu không được tiên liệu giải quyết từ khi thỏa thuận hợp đồng sẽ chính là con dao hai lưỡi với các doanh nghiệp vốn đã gặp khó khăn về vốn nay lại phải gánh chịu thêm thiệt hại từ rủi ro của hợp đồng cho thuê tài chính. Hy vọng bài bình luận sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích trong khuôn khổ chương trình học môn Luật Ngân hàng.
Trang 1MỤC LỤC
Trang
I LỜI NÓI ĐẦU 2
II NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN II.1 Nội dung nguyên văn bản án 4
II.2 Tóm tắt nội dung vụ án 17
II.3 Yêu cầu và lập luận của các bên 19
II.4 Vấn đề pháp lý cần giải quyết trong vụ án 20
II.5 Các quy định pháp luật mà Tòa án áp dụng trong bản án 20
III PHÂN TÍCH, BÌNH LUẬN CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG BẢN ÁN III.1.Vấn đề pháp lý về chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn III.1.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 23
III.1.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 24
III.2.Vấn đề pháp lý về điều khoản bảo hiểm trong hợp đồng đã ký kết III.2.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 26
III.2.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 26
III.3.Vấn đề pháp lý về trách nhiệm của Công ty cho thuê tài chính trong việc phối hợp với Công ty Thái Bình Dương đòi nợ tập đoàn Kumgang III.3.1 Phân tích giải pháp Tòa án đưa ra cho vấn đề pháp lý 28
III.3.2 Đánh giá, bình luận về giải pháp của Tòa án 28
Trang 2IV KẾT LUẬN 30
V TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 3I LỜI NÓI ĐẦU
Thời điểm nền kinh tế nước nhà chuyển sang nền kinh tế thị trường, một cánhcửa mở ra cho doanh nghiệp Việt Nam với những cơ hội phát triển mới Tuy nhiên,cánh cửa hội nhập mở toang cũng đồng nghĩa với theo sau đó, là những khó khănthách thức Các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, cộng với biếnđộng, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ khu vực, các doanh nghiệpcàng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mới Rất nhiều doanh nghiệp không đủ sức đứngvững trước những biến động thị trường, những doanh nghiệp ngấp nghé bên bờ vựcphá sản cũng không ít Con đường để tồn tại lúc này là phải nhanh chóng đổi mới,nâng cấp máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm
Thức tế đó đã đặt ra nhu cầu cấp bách về việc giải quyết vốn cho các doanhnghiệp Dịch vụ cho thuê tài chính ra đời với những ưu điểm vượt trội đã trở thànhgiải pháp kịp thời và hợp lý cho các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn Ngày càng nhiềucác doanh nghiệp chọn đi thuê tài chính hơn càng hình thức cấp tín dụng truyền thốngkhác Tuy nhiên, sự phức tạp trong thỏa thuận giữa các bên trong quan hệ cho thuê tàichính, cụ thể là bên đi thuê, bên cho thuê, và bên bán tài sản là điều mà các doanhnghiệp cần lưu ý Sự cẩn thận, toàn diện khi tiến hành thỏa thuận hợp đồng cho thuêtài chính cũng là điều mà tất cả các doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm Những rủi ro từhợp đồng cho thuê tài chính, nếu không được tiên liệu giải quyết từ khi thỏa thuận hợpđồng sẽ chính là con dao hai lưỡi với các doanh nghiệp vốn đã gặp khó khăn về vốnnay lại phải gánh chịu thêm thiệt hại từ rủi ro của hợp đồng cho thuê tài chính
Nhóm chúng tôi lựa chọn bình luận một bản án phúc thẩm về tranh chấp hợpđồng cho thuê tài chính, với mong muốn qua những phân tích, bình luận có thể hiểu rõhơn quy định pháp luật, cũng như thực tiễn những vấn đề phát sinh trong hợp đồngcho thuê tài chính
Mặc dù Bản án được nhóm sử dụng để phân tích, bình luận có hiệu lực từ ngày
09 tháng 5 năm 2006, tức là trong thời gian Luật Các tổ chức tín dụng 1997 có hiệulực pháp luật Song các quy định về hoạt động cho thuê tài chính của Luật Các tổ chứctín dụng hiện hành về cơ bản đều tương đồng với Luật Các tổ chức tín dụng 1997.Ngoài ra, Nghị định 16/2001/NĐ-CP, văn bản quy phạm pháp luật mà Hội đồng xét xử
Trang 4áp dụng để giải quyết vụ án trong trường hợp chỉ vừa hết hiệu lực từ ngày 25 tháng 6năm 2014, khi được thay thế bởi Nghị định 39/2014/NĐ-CP về Hoạt động của Công tytài chính và Công ty cho thuê tài chính Nói cách khác, không có quy định khác biệtnào trong các văn bản pháp luật hiện hành làm thay đổi giải pháp đối với các vấn đềpháp lý trong vụ án.
Chính vì những lý do đó, có thể thấy các vấn đề pháp lý được đặt ra và giải quyếttrong Bản án mà nhóm lựa chọn vẫn còn mang ý nghĩa pháp lý, thực tiễn, thời sự
Trang 5II NHỮNG THÔNG TIN CHUNG VỀ BẢN ÁN
2.1 Nội dung nguyên văn bản án
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA PHÚC THẨM TẠI HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ngày 09 tháng 5 năm 2006 tại trụ sở Tòa án nhân dân tối cao, xét xử phúc thẩm côngkhai vụ án kinh tế thị lý số 01KT/2006 ngày 25 tháng 01 năm 2006 về tranh chấp hợpđồng cho thuê tài chính theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1081/2006/QĐPT ngày20/4/2006 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương.
Trụ sở: D2 Hoàng Hoa Thám, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
Trang 6Đại diện của nguyên đơn: Ông Phạm Thanh Huy làm đại diện theo ủy quyền củanguyên đơn theo giấy ủy quyền ngày 14/3/2006 của ông Phạm Ngọc Thanh - Giámđốc Công ty - có mặt.
* Bị đơn: Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam.
Trụ sở: Tầng 12 tòa tháp Vincom - 191 Bà Triệu, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội
Đại diện của bị đơn: bà Phạm Thị Dung làm đại diện theo giấy ủy quyền CTTC ngày 21/3/2006 của ông Nguyễn Đức Thịnh - Giám đốc Công ty
số12/UQ-Có luật sư Nguyễn Hoàn Thành – Văn phòng Luật sư Phạm và liên doanh bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn
NHẬN THẤY
Theo bản án dân sự sơ thẩm, vụ việc được tóm tắt như sau:
Ngày 01/3/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dươnggửi văn bản đến Công ty cho thuê tài chính – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
đề nghị xin thuê tài chính loại tài sản là màn hình quảng cáo ngoài trời nhiều mầu làm
từ các đi ốt phát quang (màn hình LED), kèm theo là bộ hồ sơ đề án đầu tư bản quảngcáo điện tự LED tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa và bản thỏa thuận nguyêntắc điều khoản cuả hợp đồng mua bán bảng thông tin LED giữa Công ty trách nhiệmhữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình dương với Công ty Kumgang AD SystenCorporation – Hàn Quốc
Ngày 10/4/2002, Công ty cho thuê tài chính - Ngân hàng đầu tư và phát triển ViệtNam (Bên A), ký hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HD-CTTC với Công ty tráchnhiệm hữu hạn và quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương (Bên B) nội dung cho thuêmột màn hình quảng cáo ngoài trời nhiều mầu làm từ các điốt phát quang như bên B
đề nghị, mục đích sử dụng để kinh doanh các dịch vụ quảng cáo bằng màn hình Địađiểm đặt màn hình tại đường Trần Phú, Nha Trang, Khánh Hòa
* Việc thuê và cho thuê được thỏa thuận trên nguyên tắc:
- Bên B lựa chọn tài sản, nhà cung ứng, ký thỏa thuận nguyên tắc với nhà cung ứngvới các điều kiện như chủng loại, số lượng, chất lượng, giá cả, bảo hành…
Trang 7Bên B phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các vấn đề đã hỏa thuận với nhà cung ứng.
- Bên A ký hợp đồng mua thiết bị với nhà cung ứng căn cứ vào thỏa thuận nguyên tắc
đã được ký giữa bên B và nhà cung ứng, tài sản được bàn giao giữa 3 bên, cả 3 bên sẽ
ký vào biên bản nghiệm thu tài sản
- Căn cứ đề nghị thanh toán của bên B và biện bản nghiệm thu tài sản bên A sẽ thanhtoán cho nhà cung ứng tổng số tiền đầu tư thiết bị (bao gồm thuế VAT) là 311.950USD tương đương 4.471.000.000 VNĐ, trong đó:
+ Bên A tài trợ 2.200.000.000 VN Đ tương đương 46% giá trị hợp đồng và phí bảohiểm trong suốt thời gian thuê
+ Phần còn lại 2.541.000.000 VN Đ tương đương 54% bên B sẽ phải trả trước cho bên
A để bên A thanh toán với nhà cung ứng
- Lãi suất thuê: năm đầu tiên là 0.87%/tháng Từ năm thứ hai trở đi áp dụng lãi suất thảnổi theo quy định của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Lãi suất quá hạn bằng15% lãi suất trong hạn
- Phí thuê bằng số dư nợ lãi suất thuê/ quý Trả 3 tháng một lần
* Thời hạn thuê là 30 tháng, kể từ ngày bên A thành toán món đầu tiên cho nhà cungứng cho đến khi bên B trả hết tiền thuê và phí cho bên A
* Hợp đồng quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước thời hạn: Hợp đồngcho thuê tài chính có thể chấm dứt trước thời hạn trong trường hợp tài sản cho thuê bịmất, hỏng không thể phục hồi, sửa chữa (Điều 12 khoản 3) Trường hợp chấm dứt hợpđồng theo điều khoản này, sau khi bên B trả đủ số tiền thuê cho bên A theo hợp đồngthuê, khi bên A nhận được tiền bảo hiểm do cơ quan bảo hiểm thanh toán thì bên A sẽhoàn trả lại cho bên B số tiền bảo hiểm tài sản
Ngoài ra hợp đồng còn quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên Trong đó bên A cónghĩa vụ đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm, làm thủ tục mua bảo hiểmđối với tài sản thuê
Bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ, đúng hạn tiền thuê và lãi suất quá hạn nếu có theo đúnglịch thanh toán được ký kết kèm theo hợp đồng; thanh toán các chi phí có liên quan
Trang 8đến việc nhập khẩu, thuế, đăng ký quyền sở hữu, đăng ký giao dịch bảo đảm, bảo hiểmđối với tài sản thuê và các chi phí khác theo quy định của Nhà nước.
Sau khi ký hợp đồng các bên còn ký tiếp 04 bản phụ lục hợp đồng nữa thống nhất lịchthanh toán tiền thuê màn hình LED và kéo dài thời hạn thuê từ 30 thành 45 tháng
Để cụ thể hóa thỏa thuận nguyên tắc ngày 01/3/2002 dựa trên thỏa thuận giữa Công tytrách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương và Công ty Kumgang ADSysten Corporation – Hàn Quốc, dựa trên Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002ngày 10/4/2002, Công ty cho thuê tài chính đã ký “ Hợp đồng ủy thác nhập khẩu” Hợpđồng ủy thác nhập khẩu” Theo đó Công ty cho thuê tài chính ủy thác cho Công tyquảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương ký kết hợp đồng mua bán với nhà cung ứng làCông ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc và làm các thủ tục nhập khẩuthiết bị màn hình LED nêu trên Phí ủy thác 0%
Thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng ủy thác nhập khẩu
Ngày 12/4/2002, Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương
đã ký hợp đồng mua bán bảng thông tin LED với người bán là Công ty Kumgang ADSysten Corporation – Hàn Quốc Hợp đồng quy định giá trị màn hình là 311.950 USD,giá trị này bao gồm: Trị giá bảng LED vận chuyển đến Việt Nam, bảo hiểm lắp đặt,chạy thử, phụ tùng thay thế, bảo hành, đào tạo, huấn luyện nhân viên kỹ thuật của bênmua trong vòng hai tháng và là giá C.I.F đến cảng Việt Nam
Bên mua chịu trách nhiệm chuẩn bị địa điểm cho bảng LED xây dựng, lắp đặt giá đỡbảng LED theo thiết kế; nguồn điện với công suất yêu cầu được kéo đến địa điểm lắpđặt, chuẩn bị diện tích để làm phòng điều khiển cho màn hình…
Bên bán có trách nhiệm: lắp đặt màn hình trên giá đỡ do bên mua chuẩn bị, hiệu chỉnh,chạy thử và bàn giao bảng LED cho bên mua ở trạng thái hoạt động tốt phù hợp vớicác thông số của màn hình ghi trong báo giá chính thức của bên bán Việc lắp đặt phảiđược hoàn thành 10 ngày kể từ khi bảng LED được vận chuyển đến địa điểm lắp đặt.Thời gian bảo hành là 02 năm kể từ ngày hoàn thành lắp đặt và bàn giao bảng LEDcho bên mua Trong thời gian bảo hành, bên bán có trách nhiệm sửa chữa ngay những
hư hỏng của bảng LED và phải chịu các chi phí
Trang 9Hai bên thỏa thuận thanh toán bằng L/C không hủy ngang 100% giá trị của màn hình
là 311.950 USD mở tại Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam Về quy trình thanhtoán sẽ được phân chia làm 04 lần:
+ Lần 1: Bên bán được quyền rút 50% giá trị L/C sau khi trình bộ chứng từ sạch.+ Lần 2: Bên bán được quyền rút 40% giá trị L/C khi bàn giao xong phụ tùng thay thế.+ Lần 3: Bên bán được quyền rút 55 giá trị L/C sau 9 tháng
+ Lần 4: Bên bán được quyền rút nốt 5% giá trị L/C sau 12 tháng
Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký cho đến khi hết thời hạn bảo hành và nếu có tranhchấp sẽ chọn trọng tài thương mại quốc tế là cơ quan tài phán
Ngày 03/8/2002 đại diện của ba bên: bên bán, bên mua và bên cho thuê đã ký biên bảnbàn giao lắp đặt màn hình LED Các bên xác nhận tài sản bàn giao và lắp đặt phù hợpvới quy định của hợp đồng mua bán và hợp đồng cho thuê tài chính Màn hình đã chạythử tốt
Ngày 12/7/2002 Công ty cho thuê tài chính cũng đã làm thủ tục mua bảo hiểm chomàn hình LED nêu trên với tổn số phí là 82.119.847 VNĐ Thời hạn bảo hiểm là 30tháng kể từ ngày 12/7/2002 đến hết ngày 12/01/2005 (có giấy chứng nhận bảo hiểmthiết bị điện tử cấp ngày 12/7/2002) Phía Công ty Thái Bình Dương đã làm các thủ tụcthanh toán tiền phí bảo hiểm đối với Công ty cho thuê tài chính
Về thanh toán: Công ty cho thuê tài chính đã thanh toán cho Công ty Kumgang 90%giá trị L/C = 4.304.000.000 VNĐ, còn lại 10% = 31.000 USD do còn đang trong thờigian bảo hành và hợp đồng mua bán đang còn hiệu lực chưa thanh toán (trong số tiền4.304.000.000 VNĐ phía Công ty Thái Bình Dương trả 1.890.000.000 VNĐ, phía thuêtài chính trả 2.496.000.000 VNĐ)
Cuối tháng 11/2002 màn hình LED bắt đầu bộc lộ nhiều sai sót về chất lượng Bên bán
là Công ty Kumgang đã cho thay thế, sửa chữa nhưng màn hình vẫn bị hỏng liên tiếp.Nguyên nhân gây ra sự cố màn hình cũng đã được Công ty Kumgang xác định là domàn hình không khép kín và để nước mưa chảy vào trong gây hỏng các đèn điôt và các
bộ mạch điện bên trong Công ty Thái Bình Dương đã làm đơn đề nghị bảo hiểm HàNội phải đền bù thiệt hại, sau khi giám định, bảo hiểm Hà Nội đã có văn bản số
Trang 1072.HN/KT03 ngày 2/7/2003 từ chối đền bù với lý do: “ Tổn thất là do chất lượng linhkiện không phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam…Tổn thất này không thuộc phạm
vi bảo hiểm mà thuộc trách nhiệm của người bán sản phẩm”
Ngày 30/7/2003 Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương
đã tiến hành khởi kiện tập đoàn Công ty Kumgang AD Systen Corporation ra Trungtâm trọng tài quốc tế, bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, yêu cầu:Công ty Kumgang phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các thiệt hại xảy ra do chấtlượng hàng cung cấp quá kém Công ty Kumgang có lỗi với tư cách là nhà thiết kế, sảnxuất lắp đặt đã không tính đến điều kiện làm việc ngoài trời của màn hình LED tạiViệt Nam Công ty Kumgang còn có lỗi vi phạm nghĩa vụ bảo hành khi được thôngbáo chất lượng màn hình, Công ty Kumgang thường xuyên trả lời chậm trễ Các sự cốmàn hình không được khắc phục kịp thời dẫn đến hoạt động kinh doanh của Công tyThái Bình Dương bị thiệt hại nhiều Do đó buộc Công ty Kumgang phải nhận lại mànhình và hoàn trả lại tiền mua màn hinh cho Công ty Thái Bình Dương, đồng thời cònphải chịu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại và theo hợp đồngmua bán giữa Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dươngvới công ty Kumgang AD Systen Corporation – Hàn Quốc
Ngày 03/6/2004 Trung tâm trọng tài quốc tế đã ra phán quyết vụ kiện số 10/03 theo đótập đoàn Kumgang phải hoàn trả số tiền mua màn hình là 280.755 USD và bồi thườngthiệt hại thực tế cho Công ty Thái Bình Dương là 573.837.593 VNĐ Công tyKumgang đã có đơn gửi đến Tòa án xin hủy phán quyết của Trọng tài Ngày10/01/2004 Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao đã xử bác đơn yêu cầu xin hủyquyết định trọng tài vụ kiện số 10/03 được công bố ngày 03/6/2004 của Trung tâmtrọng tài quốc tế Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán giữa Công tytrách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương với Công ty Kumgang
AD System Corporation – Hàn Quốc có hiệu lực
Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã gửi đơn đến
cơ quan thi hành án Hà Nội Ngày 28/3/2005 Phòng thi hành án Hà Nội đã ra quyếtđịnh thi hành án số 48/2005 cho thi hành phán quyết của Trọng tài vụ kiện số 10/03nêu trên
Trang 11Tuy nhiên ngày 11/7/2005 cơ quan thi hành án Hà Nội đã ra quyết định trả lại đơn yêucầu thi hành án vì lý do bên phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành.
Quan điểm của nguyên đơn:
Công ty Thái Bình Dương đã gửi nhiều công văn đến Công ty cho thuê tài chính vàCông ty bảo hiểm Hà Nội yêu cầu giải quyết sự cố của màn hình, nhưng Công ty bảohiểm Hà Nội đã từ chối trách nhiệm bồi thường mà lại cho rằng lỗi của nhà cúng ứngphải bảo hành Nguyên đơn cho rằng Công ty cho thuê tài chính đã mua bảo hiểmkhông đầy đủ, cụ thể là không mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình LED Công ty chothuê tài chính đã vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm lắp đặt cho màn hình Vì vậy, việckhông nhận được tiền bồi thường của Công ty bảo hiểm là do lỗi của Công ty cho thuêtài chính, Công ty cho thuê tài chính phải tự chịu trách nhiệm
- Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương đã đề nghịđược chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn do màn hình LED bị hỏngkhông thể phục hồi sửa chữa được và không mang lại bất kỳ doanh thu nào nhưngCông ty cho thuê tài chính không những không cho chấm dứt hợp đồng mà còn tiếptục đòi tiền thuê cũng với lãi suất nợ quá hạn
Công ty Thái Bình Dương cũng đã yêu cầu Công ty cho thuê tài chính với tư cách làchủ sở hữu của màn hình LED phải có trách nhiệm thu hồi tiền từ tập đoàn Kumgangtheo phán quyết của trọng tài quốc tế, song Công ty cho thuê tài chính đã từ chối tráchnhiệm
Để đảm bảo quyền lợi của mình, Công ty Thái Bình Dương đã buộc phải làm đơn khởikiện đến Tòa án yêu cầu được giải quyết như đã nêu tại phần đơn khởi kiện
Quan điểm của bị đơn:
- Đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính trước thời hạn theo Điều 12 khoản 3của hợp đồng với điều kiện bên thuê phải trả đủ số tiền đã thuê theo hợp đồng theoĐiều 12 khoản 4 của hợp đồng cho thuê tài chính và theo quy định tại Điều 28 khoản 4của Nghị định số 14/NĐ-CP
- Công ty cho thuê tài chính đã làm hết trách nhiệm về việc làm thủ tục mua bảo hiểm,
cụ thể lả mua bảo hiểm thiết bị điện tử tức là bảo hiểm đối với tài sản cho thuê theo
Trang 12đúng quy định trong hợp đồng Đối với vấn đề màn hình LED hỏng là do chất lượngsản phẩm của nhà sản xuất và được thỏa thuận trong điều kiện bảo hành, không phảilỗi của Công ty cho thuê tài chính Vấn đề bảo hành đã được giải quyết trong phánquyết của trọng tài.
- Phán quyết trọng tài đã có hiệu lực pháp luật, người thi hành phải là Công ty TháiBình Dương và tập đoàn Kumgang Công ty cho thuê tài chính không thể thi hànhđược và không có nghĩa vụ đòi nợ Công ty Kumgang
- Về việc xin miễn lãi, theo quy chế của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam, thìCông ty cho thuê tài chính và Ngân hàng có thể xem xét miễn lãi nhưng phải có hồ sơtrình bày cụ thể Phía Công ty Thái Bình Dương chưa bao giờ lập hồ sơ xin miễn lãi đểCông ty cho thuê tài chính xem xét Vì các lý do trên đề nghị Tòa án xem xét:
+ Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương
+ Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dươngphải trả hết tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính
Luật sư Nguyễn Hoàn Thành – Đoàn luật sư Hà Nội nêu quan điểm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương như sau:
- Theo Nghị định số 16/CP của Chính phủ quy định bản chất của hợp đồng cho thuê tàichính là việc cho thuê máy móc, thiết bị, tài sản Đây là hoạt động tín dụng có phânchia rủi ro cho các bên Vì vậy, đã quy định trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về bêncho thuê Điều kiện để chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính là tài sản bị hỏng, khôngsửa chữa được là phù hợp với quy định của Nghị định 16/CP của Chính phủ
Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC và màn hình LED đã được đăng
ký giao dịch bảo đảm tại Cục Đăng ký giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp Như vậyquyền sở hữu màn hình LED thuộc về Công ty tài chính Trách nhiệm phải mua bảohiểm của Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện đầy đủ do cách hiểu khôngđúng Nếu trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái BìnhDương không chấp nhận phí bảo hiểm thì chẳng lẽ Công ty tài chính đã không muabảo hiểm sao?
Trang 13Ngoài ra, Công ty cho thuê tài chính đã không mua bảo hiểm lắp đặt mà theo Nghịđịnh số 52/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định việc lắp đặt là bắt buộc phải mua bảohiểm Trong trường hợp này Công ty cho thuê tài chính đã không thực hiện việc muabảo hiểm lắp đặt và màn hình LED bị hỏng hoàn toàn do lỗi của việc lắp đặt.
Đề nghị xem xét sự khác nhau giữa Công ty cho thuê tài chính với các tổ chức tíndụng và ngân hàng Chính Công ty cho thuê tài chính cũng thừa nhận là tại đăng kýkinh doanh của Công ty không có lĩnh vực cho vay tiền tệ Điều này cũng phù hợp vớiNghị định 16/CP của Chính phủ Như vậy cho thuê tài chính là cho thuê một tài sản vàđược trả một khoản theo từng thời kỳ để đảm bảo hết thời gian thuê thì người đi thuê
đã trả cho người cho thuê hết giá trị tài sản và một khoản lợi nhuận
Tại bản án số 106/2005/KD-TM-ST ngày 08, 06, 15/12/2005, Tòa án nhân dân thànhphố Hà Nội quyết định:
Căn cứ Điều 29 khoản 1 điểm e; Điều 130; Điều 131; Điều 159; Điều 195 Bộ luật tốtụng dân sự
Căn cứ các Điều 61; 62; 63 Luật các tổ chức tín dụng
Căn cứ Điều 27 khoản 3; Điều 28 khoản 4 Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001của Chính phủ
Căn cứ Điều 15 Nghị định số 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa ánquyết định:
1- Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC ngày 10/4/2002 giữaCông ty cho thuê tài chính – Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam và Công tytrách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ Thái Bình Dương kể từ ngày 15/12/2005.2- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn và quảng cáo Thái Bình Dương phải trả choCông ty cho thuê tài chính toàn bộ số tiền còn lại là 2 tỷ đồng tiền gốc và phí thuê tàichính là 584.020.000 đồng Ghi nhận sự tự nguyện của Công ty cho thuê tài chính đốivới khoản lãi quá hạn trong vụ kiện này
Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 25/9/2002 của Công ty cho thuê tài chính đối vớimàn hình LED hết hiệu lực từ ngày 20/12/2004 Công ty trách nhiệm hữu hạn quảngcáo và hội chợ Thái Bình Dương có quyền thực hiện phán quyết số 10/03 ngày
Trang 1403/6/2004 của Trung tâm trong tài quốc tế bên cạnh phòng thương mại và công nghiệpViệt Nam (VIAC).
3- Bác các yêu cầu khác của các bên đương sự
Ngoài ra án sơ thẩm còn có quyết dịnh về án phí và thông báo quyền kháng cáo theoquy định của pháp luật
Ngày 28/12/2005, bị đơn – Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hội chợ TháiBình Dương có kháng cáo với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số106/2005/KDTM-ST ngày 06, 08, 15/12/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vàokết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, ý kiến củcác Luật sư và các đương sự;
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn quảng cáo và hộichợ Thái Bình Dương (gọi tắt là Công ty Thái bình Dương – Bên B) vẫn giữ nguyênđơn khởi kiện Cho tới khi phiên tòa hôm nay bên nguyên và bị đơn đều khẳng địnhHợp đồng số 44/20002/HĐ-CTTC ký ngày 10/4/2002 giữa 2 bên là hợp đồng cho thuêtài chính được ký trên cơ sở tự nguyện và thiện chí
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa phúc thẩm xử xác định:
- Hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002/HĐ-CTTC chấm dứt trước thời hạn kể từngày màn hình LED gặp sự cố không thể khắc phục được và Công ty TBD nộp đơnkhởi kiện ra Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam ngày 30/4/2003 Công ty cho thuêtài chính (Bên A) phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoàn Kumgang và thanh toáncho Công ty Thái Bình Dương 2.386.365.843 đồng, do bên cho thuê tài chính mua bảohiểm không đầy đủ
Đại diện của Công ty cho thuê tài chính đề nghị:
- Bác yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương
- Hoặc chấm dứt hợp đồng cho thuế tài chính với điều kiện Công ty Thái Bình Dươngphải trả hết tiền cho Công ty cho thuê tài chính
Trang 151- Xét yêu cầu của nguyên đơn xin chấm dứt Hợp đồng cho thuê tài chính trước thờihạn và miễn lãi cho màn hình hỏng không thể phục hồi sửa chữa được và thời điểmchấm dứt hợp đồng là ngày nguyên đơn gửi đơn ra Trung tâm trọng tài quốc tế.
Án sơ thẩm đã căn cứ vào Điều 61 Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997, Điều 17 Nghịđịnh 16/2006/NĐ-CP ngày 02/5/2001 của Chính phủ và chính các thỏa thuận của haibên ký kết tại hợp đồng khẳng định Hợp đồng cho thuê tài chính vì Công ty Thái BìnhDương là hợp đồng không hủy ngang
Tại phiên tòa phúc thẩm hai bên đều đồng ý chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính nóitrên Theo quy định ở điểm 3, 4 Điều 27 và khoản 4 Điều 28 Nghị định 16/NĐ-CP; ýkiến đó là đúng pháp luật, án sơ thẩm xử xác nhận việc chấm dứt hợp đồng cho thuêtài chính kể từ ngày xử sơ thẩm là không có sơ sở Mà cần chấp nhận yêu cầu củanguyên đơn lấy ngày Công ty cho thuê tài chính biết tài sản cho thuê hỏng không thểphục hồi sửa chữa và ủy quyền cho Công ty Thái Bình Dương gửi đơn đến Trung tâmtrọng tài quốc tế Đó là ngày 24/7/2003 chứ không phải là ngày 30/4/2003 như đơnkhởi kiện của Công ty Thài Bình Dương
2- Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tài chính có trách nhiệmthu hồi nợ từ Công ty Kumgang và thanh toán cho Công ty Thái Bình Dương2386.365.843 đồng do bên cho thuê tài chính mua bảo hiểm không đầy đủ
Án sơ thẩm cho rằng theo quy định ở các Điều 10, 11 của Hợp đồng cho thuê tài chínhthì bị đơn có trách nhiệm mua bảo hiểm, còn bên nguyên đơn có trách nhiệm thanhtoán tiền phí bảo hiểm Hợp đồng chỉ thỏa thuận bên A làm thủ tục mua bảo hiểm đốivới tài sản thuê, ngoài ra không thỏa thuận mua loại hình bảo hiểm nào khác Ngày12/7/2002 bên A đã làm thủ tục mua bảo hiểm thiết bị điện tử, chuyển cho bên B bảnhợp đồng bảo hiểm, giấy chứng nhận cảo hiểm thiết bị điện tử, ngày19/7/2002 bên Agửi cho bên B giấy đề nghị chuyển tiền phí bảo hiểm tài sản, trước các sự kiện trênCông ty Thái Bình Dương không có ý kiến gì
Ngày 02/7/2003 Công ty bảo hiểm Hà Nội có quan điểm về việc hư hỏng màn hìnhLED “Tổn thất này không thuộc phạm vi bảo hiểm mà thuộc trách nhiệm của ngườibán sản phẩm” Tại bản hợp đồng cho thuê tài chính số 44/2002 có ghi thỏa thuận tạiđiểm 7 Điều 10 như sau: “Bên A không chịu trách nhiệm về việc tài sản không được
Trang 16giao hoặc giao không đúng với các điều kiện do bên B đã thỏa thuận với bên cungứng”.
Như vậy với lập luận trên án sơ thẩm kết luận là Công ty cho thuê tài chính đã muabảo hiểm tài sản là thực hiện đúng quy định của hợp đồng; Công ty cho thuê tài chínhkhông vi phạm nghĩa vụ mua bảo hiểm, kết luận đó là đúng pháp luật
Do đó yêu cầu của Công ty Thái Bình Dương kiện đòi Công ty cho thuê tài chính2.386.365.843 đồng do không mua bảo hiểm đầy đủ là không thể chấp nhận
Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty cho thuê tài chính khẳng định chưa bào giờ kiện đòiCông ty Thái Bình Dương về khoản tiền gốc và lãi trong Hợp đồng cho thuê tài chính,
án sơ thẩm phán quyết buộc Công ty Thái Bình Dương phải bồi thường cho Công tycho thuê tài chính là đã giải quyết việc mà đương sự không yêu cầu trái với quy định ởkhoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự Cần hủy phán quyết về phần này của án sơthẩm
- Về yêu cầu Công ty cho thuê tài chính phải có trách nhiệm thu hồi nợ từ tập đoànKumgang theo phán quyết trọng tài đã có hiệu lực pháp luật
Như phân tích trên, Công ty Thái Bình Dương phải chịu trách nhiệm về sản phẩm khi
ký hợp đồng, nhận tài sản với nhà cung ứng Mặt khác theo phán quyết của trọng tàiCông ty Thái Bình Dương là nguyên đơn trong vụ kiện và Công ty Kumgang là ngườiphải trả tiền cho Công ty Thái Bình Dương Công ty cho thuê tài chính không phải làchủ thể trong hợp đồng mua bán và trong vụ kiện trước trọng tài
Tại phiên tòa phúc thẩm Công ty Thái Bình Dương còn yêu cầu Công ty cho thuê tàichính thực hiện quyền quản lý tài sản là màn hình LED mà hiện nay Công ty TháiBình Dương đang phải chi phí quản lý Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn không cótrong đơn khởi kiện và án sơ thảm chưa xử nên cấp phúc thẩm không xem xét
Vì các lẽ trên,
Áp dụng khoản 2 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự
QUYẾT ĐỊNH
Sửa án sơ thẩm