MỤC LỤC PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ BAUXITE ( BÔ XÍT) ii 1.1. Khái niệm chung 1 1.1.1. Khái niệm 1 1.1.2. Thành phần chất lượng và các dạng tồn tại trong tự nhiên 1 1.2. Sự phân bố quặng Bauxite ở Việt Nam. 2 1.3. Phân loại: 4 1.4. Chất lượng quặng Bôxít và khả năng áp dụng công nghệ bayer ở Việt Nam. 7 1.5. Ứng dụng 8 PHẦN 2. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP BAYER (THỦY LUYỆN) QUẶNG BAUXITE ĐỂ SẢN XUẤT ALUMIN. 9 2.1.Giới thiệu chung Quy trình sản xuất nhôm 9 2.2. Giới thiệu sơ lược về phương pháp Bayer. 9 2.2.1. Giới thiệu 9 2.2.2. Phân loại 10 2.2.3. Công nghệ chế biến quặng bô xít ở Việt Nam 11 2.3. Cơ sở lý thuyết 12 2.4. Cơ chế 13 2.5. Thông số công nghệ 14 2.6. Thiết bị 15 2.7. Thuyết minh Phương pháp Bayer. 15 PHẦN 3. PHẦN KẾT LUẬN 32
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ BAUXITE ( BÔ XÍT) ii
1.1 Khái niệm chung 1
1.1.1 Khái niệm 1
1.1.2 Thành phần chất lượng và các dạng tồn tại trong tự nhiên 1
1.2 Sự phân bố quặng Bauxite ở Việt Nam 2
1.3 Phân loại: 4
1.4 Chất lượng quặng Bôxít và khả năng áp dụng công nghệ bayer ở Việt Nam 7
1.5 Ứng dụng 8
PHẦN 2 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP BAYER (THỦY LUYỆN) QUẶNG BAUXITE ĐỂ SẢN XUẤT ALUMIN 9
2.1.Giới thiệu chung Quy trình sản xuất nhôm 9
2.2 Giới thiệu sơ lược về phương pháp Bayer 9
2.2.1 Giới thiệu 9
2.2.2 Phân loại 10
2.2.3 Công nghệ chế biến quặng bô xít ở Việt Nam 11
2.3 Cơ sở lý thuyết 12
2.4 Cơ chế 13
2.5 Thông số công nghệ 14
2.6 Thiết bị 15
2.7 Thuyết minh Phương pháp Bayer 15
PHẦN 3 PHẦN KẾT LUẬN 32
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Công nghệ chế biến khoáng sản đang dần trở thành một trong những ngànhkinh tế mũi nhọn của nước ta, trong đó công nghệ chế biến bauxit, là một trong cácnghành công nghệ chủ lực trong tương lai
Nước ta có nguồn bauxit dồi dào đặc biệt là vùng tây bắc và tây nguyên
Có rất nhiều công ty khia thác khoáng sản khác nhau nhưng tất cả vì mụcđích chung là chế biến tinh quặng, tăng giá trị khoáng sản việt nam đáp ứng nhucầu ngay càng cao của công nghiệp và đảm bảo sự phát triển kinh tế
Nhiệm vụ của tiểu luận này là cung cấp cho moi người nhũng kiến thức mớinhất về bauxit và công nghệ chế biến bauxite của Việt Nam
Nội dung của bài tiểu luận gồm 4 phần:
Thành Phố Hồ Chí Minh, Ngày 10 Tháng 02 Năm 2012
Trang 3PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ BAUXITE ( BÔ XÍT) 1.1 Khái niệm chung
1.1.1 Khái niệm
Bô xít là nham thạch có màu từ trắng đến đen, chủ yếu là hỗn hợp các hợp chất
vô cơ và nhôm hydoxit Loại boxit thường gặp có màu đỏ Các loại hình quặngboxit quan trọng là bơsmit, gipsit (hydragilit), diaspo, alumogel
1.1.2 Thành phần chất lượng và các dạng tồn tại trong tự nhiên
a Thành phần hóa học
Boxit có thành phần tương đối phức tạp, nhưng chủ yếu là hỗn hợp các khoángnhôm hydroxit, thường bị nhiễm bẩn bởi sắt oxit (tạo ra màu đỏ cho quặng)hoặc silic oxit Thành phần hóa học của boxit dao động giữa 50-63% Al2O3,12-32 % H2O, 15-25 % Fe2O3, 2-10 % SiO2 và 2-5 % TiO2
Hàm lượng nhôm oxit và silic oxit là những yếu tố quyết định chất lượng củaquặng boxit
Nhôm oxit trong quặng boxit chủ yếu ở trong thành phần của hydroxit nhưdiaxpo, bơmit, gipsit hoặc bayerit Ngoài ra, nhôm oxit trong boxit còn có thể
ở dạng corundum và trong thành phần khoáng của nhóm caolinit
Gibbsit Boehmit DiasporeThành phần Al(OH)3 -AlO(OH) -AlO(OH)Hàm lượng alumina tối đa (%) 65,4 85,0 85,0
Hệ tinh thể Đơn tà Trực thoi Trực thoi
Trang 4Nhiệt độ tách nước (°C) 150 350 450
b Các dạng tồn tại
Quặng bauxite có thể tìm thấy dưới dạng thảm (blanket), túi (pocket), lớp(interlayered), và tích tụ (detrital) Thảm bauxite là các lớp liên tục và bằngphẳng, thường ở gần mặt đất, có bề dày thay đổi từ 1 đến 40 m (trung bình từ 4đến 6 m) và có thể rộng hàng cây số Túi bauxite là các túi nằm dưới mặt đất,
có chiều sâu thay đổi từ dưới 1 cho đến 30 m, nằm cô lập hoặc liên kết vớinhau Lớp bauxite là thảm hoặc túi bauxite bị phủ lấp và ép xuống, cho nên nó
bị nén nhiều hơn thảm hoặc túi bauxite do trọng lượng của lớp đất bên trên.Tích tụ bauxite rất hiếm thấy vì nó được cấu tạo do sự tích tụ của bauxite bịxói mòn từ thảm, túi, hay lớp bauxite ở nơi khác
1.2 Sự phân bố quặng Bauxite ở Việt Nam.
Kết quả thăm dò địa chất đã phát hiện trên lãnh thổ Việt nam được đánh giá làmột quốc gia có trữ lượng quặng boxit phong phú ở cả Miền Bắc và Miền NamViệt Nam Tổng trữ lượng quặng boxit của Việt Nam ước tính khoảng 8 tỷ tấn,trong đó có 7,6 tỷ tấn ở các tỉnh Tây Nguyên Với trữ lượng như vậy, nước tađứng trong số các nước có trữ lượng boxit lớn trên thế giới
Hà Giang Cao Bằng Lạng Sơn
Trang 5bố ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang) Tổng trữ lượng dựđoán khoảng trên 350 triệu tấn, hàm lượng nhôm dao động trong khoảng 39-65
% Modul silic (Al2O3 /SiO2) bằng 5-8
b Loại quặng gipsit, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên và Miền Nam Việt Nam,với tổng trữ lượng ước tính khoảng 7,6 tỷ tấn
Trữ lượng quặng boxit đã được thăm dò và chứng minh ở Tây Nguyên vàMiền Nam Việt Nam là khoảng 2772 triệu tấn Trong đó cụ thể các khu vựcnhư sau:
* Tài nguyên vùng Đắc Nông - Phước Long khoảng 1.570 triệu tấn
* Tài nguyên boxit vùng Lâm Đồng tập trung ở hai tụ khoáng là Tân Rai vàBảo Lộc
- Trữ lượng vùng khoáng Tân Rai khoảng 57 triệu tấn cấp C1, 120 triệu tấncấp C2, hàm lượng như sau:
- Trữ lượng vùng tụ khoáng Bảo Lộc khoảng 378 triệu tấn
Nói chung, quặng boxit nguyên khai ở Lâm Đồng đều có chất lượng khôngcao, hàm lượng Al2O3 chỉ khoảng 35 - 37% Người ta phải tuyển rửa quặngnguyên khai để thu được tinh quặng giàu nhôm hơn Sau khi tuyển, tinh quặngboxit ở các tụ khoáng Lâm Đồng cũng chỉ đạt hàm lượng 45 - 49% Al2O3
Trang 6Hình 1.2: Mặt cắt địa chất Bauxite ở Cao Nguyên miền trung.
Theo Maliavkin, tùy theo tỉ số trọng lượng của Al2O3 và SiO2, tất cả đá nhômđược chia làm 3 loại:
Trang 7Diaspore
Hình 1.3a: So sánh các loại Bauxit
Trang 8Hình 1.3c: Một mẫu đất đỏ bazan chứa quặng bô xít tại Dự án tổ hợp Bô xít
Nhôm Lâm Đồng
Hình 1.3d: Mẫu quặng nguyên khai tại Đăk Nông, nguồn nguyên liệu phục vụ
cho Nhà máy Alumin Nhân Cơ
Hình 1.3e: Mẫu quặng tinh tại mỏ bô xít Đăk Nông
Trang 9Hình 1.3f: Sulfat Nhôm kỹ thuật, sản phẩm đầu tiên sau quá trình xử lý quặng
bô xit tinh
1.4 Chất lượng quặng Bôxít và khả năng áp dụng công nghệ bayer ở Việt Nam.
Chất lượng quặng bô-xít có ảnh hưởng rất quyết định đến tính khả thi về mặt kinh tế cũng như tính cạnh tranh của công nghệ được lựa chọn
Nhìn chung, công nghệ Bayer được áp dụng cho loại bô-xít có chất lượng cao,
có hàm lượng SiO2 thấp Chỉ số “Modunsilic” (mSi) của bô-xít có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi lựa chọn công nghệ và có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả của công nghệ Chỉ số này được xác định bằng tỷ lệ giữa thành phần
Al2O3 và SiO2 trong quặng bô-xít Chỉ số này càng cao càng tốt (thành phần
Al2O3 càng cao, và SiO2 càng thấp càng tốt)
Theo đánh giá chung, chất lượng bô-xít của VN thuộc loại thấp, chứ không phải là cao như nhiều người lầm tưởng So với bô-xít của các nước trên thế giới, bô-xít của Tây Nguyên thuộc loại chất lượng thấp nhất, đòi hỏi phải có thêm công đoạn tuyển rửa quặng nguyên khai để tăng modun silic, vì vậy tính cạnh tranh khi sử dụng công nghệ Bayer cũng là thấp
Chỉ số mSi của bô-xít Tân Rai và Nhân Cơ chỉ có 3,5-7,8 (trung bình 4,93) trong khi của Indonesia 14-18; Jamaica 15-25; Úc 11-20, Ấn Độ 20-25; Pháp 11-18; Nam Tư (cũ) 10-20; Hungary 10-13; Suriman 18-23; Hy Lạp 10-19 v.v
Trang 10Trong công nghệ Bayer chỉ số mSi sẽ quyết định (ảnh hưởng tới) tỷ lệ thu hồi hóa học của alumina Như ta đã biết, theo lý thuyết, khi áp dụng công nghệ Bayer cho bô-xít của Tây Nguyên có modun silic mSi=4,93, tỷ lệ thu hồi Al2O3
(trên cơ sở hóa học) tối đa (chưa tính đến các yếu tố khác) là (1-1:4,93) x 100% = 79,71% Modun silic càng thấp, tỷ lệ thu hồi này càng thấp, và tính hiệu quả càng thấp
Trong quá khứ, chúng ta đã có các nghiên cứu cụ thể để lựa chọn công nghệ Kết quả cho thấy, cần có quy trình cụ thể đối với bô-xít của từng mỏ Mỏ “1 tháng 5” và mỏ Tân Rai cần có hai quy trình khác nhau, với các thông số công nghệ khác nhau (áp suất và nhiệt độ hòa tách, nồng độ kiềm trung bình, thời gian hòa tách, tốc độ hòa tách, yêu cầu khử silic v.v.)
1.5 Ứng dụng
Ứng dụng chủ yếu của boxit là làm nguyên liệu cho công nghiệp luyện nhôm.Ngành công nghiệp sản xuất nhôm kim loại tiêu thụ 85% quặng boxit trên toànthế giới Phần boxit còn lại được sử dụng trong hai lĩnh vực là sản xuất aluminchuyên dụng (10%), bao gồm alumin nung và alumin hoạt hóa, và sản xuất vậtliệu chịu lửa (5%), ví dụ gạch chịu lửa, ximăng chịu lửa và các vật liệu mài
Trang 11PHẦN 2 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP BAYER (THỦY LUYỆN) QUẶNG
BAUXITE ĐỂ SẢN XUẤT ALUMIN.
2.1.Giới thiệu chung Quy trình sản xuất nhôm
Hiện nay trên thế giới quy trình sản xuất nhôm được thực hiện theo 3 giaiđoạn chính đó là: Khai thác bauxite, chế biến alumina và luyện nhôm Trong
đó giai đoạn chế biến alumina và luyện nhôm được thực hiện theo 2 quy trình:quy trình Bayer-chế biến bauxite thành alumina và quy trình Hall-Heroult-điện phân alumina thành nhôm
Hình 2.1: Quy trình sản xuất nhôm
2.2 Giới thiệu sơ lược về phương pháp Bayer.
2.2.1 Giới thiệu
Công nghệ Bayer được Karl Bayer phát minh vào năm 1887 Khi làm việc
ở Saint Petersburg, Nga ông đã phát triển từ một phương pháp ứng dụng
alumina cho ngành công nghiệp dệt (nó được dùng làm chất ăn mòn trong việc nhuộm sợi bông), vào năm 1887 Bayer đã phát hiện rằng nhôm hydroxit kết tủa từ dung dịch kiềm ở dạng tinh thể và có thể tách lọc và rửa dễ dàng, trong
Trang 12khi nó kết tủa bởi sự trung hòa dung dịch trong môi trường axít thì ở dạng sệt
và khó rửa sạch
Công nghệ này trở nên rất quan trọng trong ngành luyện kim cùng với những phát minh về điện phân nhôm vào năm 1886 Cùng với phương pháp xử lý bằng xyanua được phát minh vào năm 1887, công nghệ Bayer khai sinh ra lĩnh vực luyện kim bằng nước hiện đại
Ngày nay, công nghệ này vẫn không thay đổi và nó tạo ra hầu hết các sản phẩm nhôm trung gian trên thế giới
Công nghệ Bayer là phương thức sản xuất chính tinh luyện quăng thô bauxit
để sản xuất ra quặng tinh alumina
Trong bauxit có đến 30-54% là alumina, Al2O3, phần còn lại là các silica, nhiềudạng ôxít sắt, và điôxít titan Alumina phải được tinh chế trước khi có thể sử dụng để điện phân sản xuất ra nhôm kim loại Trong tiến trình Bayer, bauxit bị chuyển hóa bởi một luồng dung dịch natri hydroxit (NaOH) nóng lên tới
175°C để trở thành hydroxit nhôm, Al(OH)3 tan trong dung dịch hydroxit theo phản ứng sau:
Al2O3 + 2 OH − + 3 H2O → 2 [Al(OH)4]−
Các thành phần hóa học khác trong bauxit không hòa tan theo phản ứng trên
được lọc và loại bỏ ra khỏi dung dịch tạo thành bùn đỏ, quặng đuôi hay đuôi quặng của loại quặng bauxit Chính thành phần bùn đỏ này gây nên vấn nạn
môi trường về vấn đề đổ thải giống như các loại quặng đuôi của các khoáng sản kim loại màu nói chung Tiếp theo, dung dịch hydroxit được làm lạnh và hydroxit nhôm ở dạng hòa tan phân lắng tạo thành một dạng chất rắn, bông, có màu trắng Khi được nung nóng lên tới 1050°C (quá trình canxit hóa), hydroxitnhôm phân rã vì nhiệt trở thành alumina và giải phóng hơi nước:
Trang 13Hiện nay và trong tương lai, khoảng 90% alumina trên thế giới vẫn được sảnxuất bằng công nghệ Bayer Để chuyển từ bô xít thành alumina, người tanghiền quặng và trộn với đá vôi và soda cốt tích, rồi bơm hỗn hợp này vàobình chứa áp lực cao, rồi nung lên Ô xít nhôm bị phân giải bằng soda cốt tích,rồi kết tủa, rửa, và nung để tách nước ra Thành phẩm là bột màu trắng mịnhơn muối ăn mà ta gọi là alumina.
Trong quá trình sản xuất alumina bằng phương pháp Bayer, tùy theo thànhphần khoáng vật của bô xít mà công nghệ Bayer được chia thành 2 giải phápkhác nhau:
a Công nghệ Bayer châu Mỹ
Được áp dụng nếu Al2O3 của bô xit ở dạng gippsite (trihydrate Al2O3 3H2O),
có thể được hoà tách dễ dàng Bô xít này thường được hòa tách ở nhiệt độ tối
đa 140-145oC trong dung dịch hòa tách có nồng độ kiềm thấp (120-140g/l
Na2O)
b Công nghệ Bayer châu Âu
Được áp dụng nếu Al2O3 của bô xít ở dạng boehmite và diaspore (monohydrate
Al2O3.H2O), phải hòa tách ở nhiệt độ cao hơn 200oC (240-250oC trong các nhàmáy hiện đại và có chất xúc tác đối với quặng diaspore) và trong dung dịch hòatách có nồng độ kiềm cao hơn (180-250g/l Na2O)
2.2.3 Công nghệ chế biến quặng bô xít ở Việt Nam
Bô xít ở Tây Nguyên là loại bô xít gippsite, mỏ lộ thiên dễ khai thác Bô xítnày thuộc loại gippsite-goethite, chất lượng trung bình, thường phải qua tuyểnrửa mới đảm bảo chất lượng để sử dụng công nghệ Bayer Bắc Mỹ (nhiệt độ,nồng độ kiềm hoà tách thấp) Tuy nhiên bô xít này có chứa nhiều goethite nênkhả năng lắng kém
Cho tới nay đã có hai nghiên cứu sản xuất alumina từ mỏ Tân Rai, tỉnh LâmĐồng, và mỏ “1/5”, tỉnh Đắk Nông để phục vụ cho việc lập Nghiên cứu khả thiphát triển 2 mỏ này
Trang 14a) Tinh quặng bô xít mỏ “1/5” thuộc loại bô xít tốt (Al2O3~ 50,23%; SiO2~2,09%), thành phần khoáng vật chủ yếu là gippsite dễ hoà tách, do đó có thể ápdụng công nghệ Bayer để sản xuất alumina từ bô xít gippsite của Tây Nguyên,
cụ thể:
- Bùn quặng được khử silic sơ bộ trước khi hoà tách để cải thiện việc khử silic
và khả năng lắng tách bùn đỏ với hàm lượng chất rắn 1.000-1.050 g/l nồng độkiềm hoạt tính là 160±3 g/l, lượng vôi thêm vào 2-2,2 % (quặng bô xít khô),nhiệt độ 95-100oC, thời gian 5-6 phút
- Hoà tách với bùn quặng sau khi tiền khử silic ở nhiệt độ 145oC, thời gian
60-75 phút, áp suất 12-14 ata, bùn hoà tách ra có ỏc = 1,36
b) Trong khi đó, một nghiên cứu khác đối với bô xít Tân Rai cho kết luận nhưsau:
- Bùn quặng qua tiền khử silic trước khi hoà tách để cải thiện việc khử silic vàkhả năng lắng tách bùn với hàm lượng chất rắn 900-1.100g/l, trong dung dịch
đã qua sử dụng, nhiệt độ 95-100oC , thời gian từ bay hơi cô đặc 6-10 giờ; hậukhử silic ở nhiệt độ 100oC, thời gian tối ưu là 6 giờ
- Hoà tách với bùn quặng sau khi tiền khử silic ở nhiệt độ 105oC đến 107oC,trong dung dịch có nồng độ kiềm cốt tích 210 g/l (hoặc cao hơn) với RP cầnđạt 1,10-1,12, thời gian: 2,5 giờ, áp suất khí quyển, bùn hoà tách ra có ỏc =1,45 – 1,50
Tóm lại, công nghệ Bayer chế biến bô xít gippsitic thuộc loại công nghệ phổ biến nhưng cũng có một số công đoạn của công nghệ này cần có những chuyêngia có kinh nghiệm về thiết kế, vận hành và chế biến thì mới sản xuất ra được alumina Trong tất cả mọi trường hợp liên quan đến bô xít gippsitic và aluminacát, điều cần chú trọng đầu tiên là phải dựa vào kết quả phân tích của phòng thínghiệm, mô hình toán học, tiếp cận được những kinh nghiệm vận hành nhà máy và có một đội ngũ kỹ thuật và công nhân lành nghề
Trang 15 AlOOH+ NaOH +H2O =Na[Al(OH)4] = NaAlO2+2H2O
Aluminat natri : 2NaAlO2 = Na2O.Al2O3
Các tạp chất
Fe2O3: không tác dụng với NaOH "Bùn đỏ
SiO2 : SiO2 (cát thạch anh) : không tan "Bùn đỏ
Caolinit :
Al2O3.2SiO2.2H2O +2NaOH = Na2O.Al2O3.2SiO2.3H2O "
Natri alumosilicat Na2O.Al2O3.2SiO2.3H2O"Bùn đỏ
TiO2 :
TiO2 + NaOH = "NaHTiO3 (hoặc Na2O.3TiO2.2.5H2O)
Natri metatitanat NaHTiO3 "Bùn đỏ
Trang 16NaOH g/l
mol O
Al
mol O
Na k
k
], [
], [
3 2
Trang 1745 100137g/lit m = 137 x 100/45 = 304 g/lit
Hình 2.6 Sơ đồ thiết bị
2.7 Thuyết minh Phương pháp Bayer.
Công nghệ Bayer chủ yếu gồm các công đoạn sau:
1 Hòa tách:
Bôxit được hoà tách với dung dịch kiềm NaOH Lượng Al2O3 được tách
ra trong dạng NaAlO2 hoà tan và được tách ra khỏi cặn không hoà tan(gọi là bùn đỏ mà chủ yếu là các ô xít sắt, ô xít titan, ô xít silic…)
2 Pha loãng
3 Khuấy phân hóa
4 Cô bay hơi
Trang 18Dung dịch aluminate NaAlO2 được hạ nhiệt đến nhiệt độ cần thiết vàcho mầm Al(OH)3 để kết tủa.
Sản phẩm Al(OH)3 cuối cùng được lọc, rửa và nung để tạo thành Al2O3
thành phẩm
Hình 2.3 Quy trinh đầy đủ phương pháp bayerBôxít sau khi xay đập thô và vừa, được trộn với lượng nhỏ vôi ( nếu là
Trang 19nóng bằng hơn đến 100oC hoặc hơn và giữ ở đây vài giờ, khuấy trộn liêntục để phần lớn silic oxít có thể tương tác với kiềm aluminat thànhalumosilicat không hòa tan.
Khi hòa tách liên tục, huyền phù được bơm qua thiết bị nung nóng để đi vàodãy ôtola, sau đó chảy qua thiết bị tách hơi, từ thiết bị tách hơi, huyền phùchảy vào các bể khuấy để được pha loãng huyền phù otola
Dung dịch chảy ra từ thiết bị lắng, được qua lọc để tách hoàn toàn các cặn
đỏ, và được làm nguội đến 70oC, sau đó được khuấy phân hóa ( làm việcgián đoạn hoặc liên tục) Người ta cho hydrat mồi vào quá trình khuấy phânhóa tùy theo lượng Al2O3 có trong dung dịch, tỷ số giữa mồi với Al2O3
trong dung dịch khoảng 1,3 đến 1,4
Sau khi khuấy được đưa qua lắng huyền phù và tách dung dịch cái Nhômoxít sau khi phân loại theo cỡ hạt được chia làm hai phần:
- Phần 1 có cỡ hạt lớn: được rửa kiềm và cho đi nung
- Phần 2 thì cho hydrat mồi vào
Dung dịch cái và nước rửa hydrat đưa đi cô bay hơi trong thiết bị chânkhông, nồng độ Na2O tăng, độ hòa tan của natricacbonat giảm khi hàmlượng NaOH trong duing dịch tăng
Trong quá trình bay hơi dung dịch cái, phần natricabonat giảm Điều nàycho phép tránh Natricabonat tích lũy trong dung dịch và giữ nồng độ
Na2CO3 nằm trong giới hạn nhất định
Để giảm tiêu tốn NaOH, Na2CO3 sau khi tách khỏi dung dịch tuần hoànđược hòa tan trong nước và kiểm hóa bằng sữa vôi Dung dịch kiềm loãngnhận được đem cô bay hơi cùng dung dịch cái, dung dịch đã cô bay hơiđược bổ sung kiềm mới, sau đó đưa vào máy nghiền cùng Boxít
Hydrat thành phẩm được khử nước và nung ờ 1200oC
SỰ TÁC DỤNG CỦA CÁC HỢP CHẤT TRONG BÔXÍT VỚI KIỀM
1 Silic oxít: