PHẦN MỞ ĐẦU KH-CN mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển quốc gia, giúp đẩynhanh CNH-HĐH, thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại, nâng caonăng suất lao động, hà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHUYÊN ĐỀ KHOA HỌC
Đề tài:
Vai trò của khoa học-công nghệ trong phát triển kinh tế thế
giới nói chung và kinh tế Đông Á nói riêng
Nhóm 2: Đoàn Thị Ngọc Hà
Nguyễn Diệu Anh
Đỗ Hiền Anh
Lê Minh Nguyệt
Hà Nội, 2/2015
Trang 2MỤC LỤC
Chương 1:Cơ sở lí luận và thực tiễn
1.1.Cơ sở lí luận……….2
1.2.Cơ sở thực tiễn……….3
Chương 2: Tầm quan trọng của khoa học- công nghệ với sự phát triển kinh tế thế giới và khu vực Đông Á………4
2.1 Khoa học- công nghệ với sự phát triển kinh tế thế giới ……….4
2.1.1 Tổng quan về khoa học- công nghệ trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới……… 4
2.1.2 Khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế thế giới………5
2.2 Khoa học- công nghệ với sự phát triển khu vực Đông Á………8
2.2.1.Tổng quan ……….8
2.2.2.Khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế Đông Á……….9
2.2.2.1 Tác động của khoa học- công nghệ đến phát triển kinh tế Đông Á……… 9
2.2.2.2 Kì tích châu Á: Thành công của ứng dụng khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế………… 14
2.2.2.3 Kỳ vọng của Việt Nam về thúc đẩy khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế………… 19
Chương 3: Xu hướng phát triển khoa học- công nghệ giai đoạn tới………21
3.1 Xu hướng của thế giới ……… 21
3.2 Xu hướng của khu vực Đông Á……… 22
Kết luận……….……….24
Danh mục tài liệu tham khảo……… 25
Trang 5BẢNG CHÚ GIẢI VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Nguyên nghĩa tiếng Anh Nguyên nghĩa tiếng Việt
hóa
2 GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm nội địa
4 KIST Korea Institiute of Science
Viện nghiên cứu Sinh học
và Công nghệ sinh học HànQuốc
7 WEF World Economic Forum Diễn đàn Kinh tế thế giới
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
KH-CN mang lại nhiều lợi ích đối với sự phát triển quốc gia, giúp đẩynhanh CNH-HĐH, thay thế công nghệ cũ bằng công nghệ mới hiện đại, nâng caonăng suất lao động, hàng hóa, của cải vật chất tăng cao, đất nước ngày càng pháttriển và có vị thế về kinh tế trong quá trình hội nhập Ngoài ra, KH-CN giúp nângcao chất lượng y tế, quốc phòng, an ninh, về máy móc, phương tiện Đời sốngnhân dân từng bước cải thiện, quốc phòng an ninh ngày càng hiện đại Tăngcường sức mạnh phòng thủ đất nước, hiện đại hóa máy móc, công nghệ trong cáclĩnh vực như: văn hóa, giáo dục Rút ngắn thời gian thực hiện ý tưởng, vòng đờicác sản phẩm KH-CN, giải phóng người lao động khỏi quá trình sản xuất trựctiếp, thay đổi các quan hệ xã hội, thể hiện hào khí dân tộc
Vai trò của khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế thế giới nói chung?
- Thúc đẩy khả năng sản xuất
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tăng tính cạnh tranh của hàng hóa
- Phát triển bền vững đất nước
Vai trò của khoa học công nghệ với phát triển kinh tế Đông Á?
Đóng vai trò quan trọng trong các cuộc cải cách chuyển mình mang tính cáchmạng của các quốc gia Đông Á, KHCN đã có ứng dụng đáng kể khi mang lạihiệu quả trong việc: thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nôngnghiệp sang công nghiệp hóa, mở rộng khả năng sản xuất, tăng sức cạnh tranhcủa hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy tăng trưởng GDP,…
Trang 7Khoa học thường được phân thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.Trong
đó khoa học tự nhiên nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và quá trình tựnhiên.Khoa học xã hội thì nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vậnđộng, phát triển của xã hội
Công nghệ
Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ vàphương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm hay dịch vụ phục vụđời sống xã hội Ngày nay, công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa phầncứng và phần mềm.Phần cứng thể hiện kỹ thuật của phương pháp sản xuất nógồm các phương tiện sản xuất và máy móc thiết bị Phần mềm bao gồm ba thànhphần: thứ nhất, là thành phần con người với những kiến thức, kỹ năng, kinhnghiệm, tay nghề, thói quen trong lao động; thứ hai là thành phần thông tingồm các bí quyết, quy trình, phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế ; và thành phầncuối cùng là thành phần tổ chức thể hiện trong việc bố trí sắp xếp, điều phối vàquản lý
Phát triển kinh tế và tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hằng năm của tổng sản phẩm nội địa (GDP)thực tế, hoặc thu nhập bình quân đầu người Như vậy, bản chất của tăng trưởngkinh tế là sự thay đổi về lượng của nền kinh tế
Phát triển kinh tế, bao hàm nghĩa rộng hơn, là sự tăng trưởng kinh tế kèm theonhững thay đổi căn bản về cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội Những thay đổi này
Trang 8được thể hiện ở những dấu hiệu sau: Một là, tăng trưởng thu nhập bình quân đầungười diễn ra trong một thời gian dài , lợi ích tăng trưởng được phân bố một cáchđồng đều hơn Hai là, cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tỷ trọng của sản lượngnông nghiệp giảm trong GDP còn tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ tang Ba
là, tiến bộ kĩ thuật được sử dụng phổ biến trong nền kinh tế làm tăng năng suátlao động ở tất cả các ngành và các vùng.Bốn là, quá trình đô thị hóa tăng lên làmcho tỷ lệ dân sống ở thành phố lớn hơn tỷ lệ dân sống ở nông thôn
1.1.2 Mối quan hệ khoa học- công nghệ
Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệchặt chẽ, tác động thúc đẩy lẫn nhau Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khicòn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng
đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếptới sản xuất Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, trithức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiện phục
vụ cho sản xuất và các hoạt động khác
Khoa học không chỉ mô tả khái quát công nghệ mà còn tác động trở lại, mởđường cho sự phát triển công nghệ.Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương phápcho ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất, đời sống.Ngược lại côngnghệ là cơ sở để tổng quát hoá thành những nguyên lý khoa học, công nghệ còntạo ra những phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài.Khoa học càng gầnvới hoạt động sản xuất và đời sống thì việc ứng dụng, triển khai công nghệ càngmang tính trực tiếp nhiều hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Khoa học- công nghệ đã trở thành lưc lượng sản xuất trực tiếp bởi các lí do sauđây:
Một là, trong cuộc cách mạng KH-CN hiện đại, các yếu tố KH-CN và sản xuất
đã thâm nhập, gắn bó bền chặt với nhau với vai trò dẫn đường của khoa học Nókhông chỉ được hiểu đơn thuần là kĩ thuật ( các phương tiện vật chất kĩ thuật) màgồm 4 yếu tố cơ bản: phần cứng của công nghệ( kĩ thuật) và 3 yếu tố của phầnmềm là con người, thông tin và tổ chức quản lý Với việc KH-CN trởthành LLSX trực tiếp và việc khai thác và sử dụng triệt để 3 yếu tố của phầnmềm đã làm cho cuộc cách mạng của KH-CN thực sự trở thành cuộc cách mạng
về trí tuệ với vai trò quyết định của tri thức( kinh tế tri thức, vốn tri thức, nănglượng tri thức hay trí năng, vật liệu tri thức ) sự khai thác nguồn trí năng là đặctrưng cơ bản của cuộc cách mạng KH-CN hiện đại đó chính là sự biến đổi tậngốc LLSX xã hội - làm tiền đề, cơ sở cho mọi sự biến đổi khác trong xã hội.Hai là,với cuộc cách mạng khoa học_ công nghệ hiện đại , các yếu tố riêng biệtcủa quá trình sản xuất được kết hợp chặt chẽ hữu cơ với nhau thành một hệthống liên hoàn : máy công tác - máy động lực - các phương tiện vận chuyển
Trang 9vừa tiết kiệm được thời gian, công sức, vừa nâng cao hiệu quả và năng suất laođộng.
Ba là, cuộc cách mạng KH-CN đã cho ra đời những hệ thống công nghệ mới vớibốn trụ cột chính:công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệumới Các hệ thống công nghệ đã liên kết đồng bộ với nhau với vai trò dẫn đầu làcông nghệ thông tin để cùng tác động mạnh mẽ , có hiệu quả cao lên nền sảnxuất xã hội
Bốn là, cuộc cách mạng KH-CN hiện đại đã làm thay đổi về chất quá trình sảnxuất Con người ngày càng có vai trò quan trọng và quyết định đối với sản xuất.Con người được tách dần ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp Trí năng- năng lựctrí tuệ của con người đã trở thành nguồn năng lượng mới của công nghệ và sảnxuất và dã hình thành nên nhưng con ngươi lao động kiểu mới, có tri thức, có kĩnăng,kĩ xảo và năng lực toàn diện
Năm là,cuộc cách mạng KH-CN dã tạo nên sự tăng trưởng vượt bậc của năngsuất lao động nhờ sự thay đổi của cơ cấu LLSX, của phân công lao đông xã hộitrong phạm vi quốc gia, khu vực và thế giới
Chương 2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ
VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ THẾ GIỚI
2.1 Khoa học- công nghệ với sự phát triển kinh tế thế giới
2.1.1 Tổng quan vềkhoa học – công nghệ trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới
Trong quá khứ thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật Cuộc cách mạng
kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra đầu tiên ở nước Anh vào 30 năm cuối thế kỷ XVIII
và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ XX với nội dung chủ yếu là cơ khíhoá, thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc Cuộc cáchmạng kỹ thuật lần thứ hai còn gọi là cuộc cách mạng KH-CN hiện đại, xuất hiệnvào những năm 50 của thế kỷ XX và nhanh chóng làm nên sự thay đổi to lớn trênnhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội toàn cầu Cuộc cách mạngnày có nhiều nội dung, song có 5 lĩnh vực chủ yếu, đó là: Tự động hoá, sử dụngngày càng nhiều máy tự động quá trình, máy công cụ điều khiển bằng số, rôbốt;
sử dụng năng lượng, ngoài những dạng năng lượng truyền thống (nhiệt điện, thuỷđiện) ngày nay đã và đang chuyển sang lấy dạng năng lượng nguyên tử là chủyếu và các dạng năng lượng "sạch" như năng lượng mặt trời, v.v ; công nghệ vậtliệu mới, xuất hiện với nhiều chủng loại rất phong phú và có nhiều tính chất đặcbiệt mà vật liệu tự nhiên không có được Đến cuối thế kỷ XX, có thể khẳng định
Trang 10rằng nền sản xuất xã hội đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ cả về cơ cấu, chức năng
và phương thức hoạt động tạo nên một sự phát triển nhảy vọt, một bước ngoặtlịch sử có ý nghĩa trọng đại sang một thời đại kinh tế mới (thường gọi là thời đạikinh tế tri thức) quá độ sang một nền văn minh mới (thường gọi là nền văn minhtrí tuệ) mà nguyên nhân và động lực chính là cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ mới(còn gọi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần thứ ba), hình thành
từ mấy chục năm qua
KH&CN có vai trò ngày càng sâu sắc, tác động lớn đến nhịp độ tăng trưởng kinhtế ở nhiều quốc gia
Theo phân tích gần đây của Ngân hàng thế giới(WB) ở 38 quốc gia và khu vực,tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển,hơn 30% ở các nước đang phát triển Tại Hàn Quốc, đột phá trong KH&CN giúpkinh tế-xã hội nước này tăng trưởng mạnh, mức thu nhập bình quân đầu ngườităng cao từ 1.040 USD (1977) lên 3.360 USD sau 10 năm Đầu tư cho KH&CNcủa nước này tăng nhanh từ 378 triệu USD lên 5 tỷ USD, tăng 13 lần Với TrungQuốc, đầu tư cho KH&CN tăng mạnh từ 0,6% GDP (2001) lên 1,43% GDP(2007) đã tạo đòn bẩy đưa GDP bình quân đầu người tăng từ 1.047 USD lên2.604 USD
Trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ đã thực sự thúc đẩy sựgia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêudùng ngày càng cao của con người
Theo một số số liệu thống kê đáng tin cậy:
+ Tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới năm 1990 so 1982 tăng 28,5% - khối lượngthương mại thế giới tăng 57,9% (IMF 10/1990)
+ Trong 5 năm đầu thế kỷ XXI, GDP của thế giới tăng 40,5% (44 nghìn tỷUSSD/31,6 nghìn tỷ USD - Niên giám thống kê/ TCTK 2006)
+ Thế kỷ XVIII, một nước muốn công nghiệp hóa thường mất 100 năm Đầu thế
kỷ XX, còn khoảng 30 năm.Vào thập niên 70 - 80 rút xuống 20 năm.Thập niên
90 chỉ còn trên dưới 10 năm
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, KH & CN thực sự đóngvai trò là động lực và nền tảng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Thực tiễn cho thấy, nơi đâu đầu tư, khai thác đúng mức việc nghiên cứu, ứngdụng khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống thì nơi đó nền kinh tếphát triển nhanh, đời sống người dân cải thiện nhanh hơn
2.1.2 Những đóng góp của khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế thế giới
Mở rộng khả năng sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trang 11Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất được mở rộng.
Mở rộng khả năng phát hiện, khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên; làmbiến đổi chất lượng nguồn lao động Cơ cấu lao động xã hội chuyển từ lao độnggiản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy móc, có kỹ thuật nhờ đó nâng caonăng suất lao động Mở rộng khả năng huy động, phân bổ và sử dụng các nguồnvốn đầu tư một cách có hiệu quả biểu hiện thông qua quá trình hiện đại hoá các
tổ chức trung gian tài chính, hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải Khoa học công nghệ với sự ra đời của các công nghệ mới đã làm cho nền kinh tếchuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu tức là tăngtrưởng kinh tế đạt được dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố sảnxuất Với vai trò này, KH & CN là phương tiện để chuyển nền kinh tế nôngnghiệp sang nền kinh tế tri thức, trong đó phát triển nhanh các ngành công nghệcao, sử dụng nhiều lao động trí tuệ là đặc điểm nổi bật
Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển củacác ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc
và đưa đến phân chia ngành kinh tế thành nhiều ngành nhỏ, xuất hiện nhiềungành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới.Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướngtích cực thể hiện:
-Tỷ trọng trong GDP của ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng dần,còn của ngành nông nghiệp thì ngày càng giảm
-Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng mởrộng quy mô sản xuất ở những ngành có hàm lượng công nghệ cao Lao động trithức ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, mức độ đô thị hoá cũng ngày càng tăngnhanh
Tăng sức cạnh tranh cho hàng hoá, thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường
Muốn tối đa hóa lợi nhuận, các doanh nghiệp phải sản xuất những mặt hàng cónhu cầu lớn, tối thiểu hoá các chi phí yếu tố đầu vào, nâng cao chất lượng sảnphẩm, cải tiến mẫu mã, hình thức sản phẩm cho phù hợp Những yêu cầu nàychỉ được thực hiện khi áp dụng tiến bộ KH & CN vào trong sản xuất và kinhdoanh
Trong nền kinh tế thị trường, việc áp dụng tiến bộ KH & CN đã có những tácđộng sau:
-Các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, lao động ngày càng hiện đại và đồng
bộ
-Quy mô sản xuất mở rộng, thúc đẩy sự ra đời và phát triển của nhiều loại hìnhdoanh nghiệp mới
Trang 12-Tạo ra nhịp độ cao hơn trong mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh Chiến lượckinh doanh từ chỗ hướng nội, thay thế hàng nhập khẩu sang hướng ngoại, hướngvào xuất khẩu, từ thị trường trong nước hướng ra thị trường thế giới, tăng sứccạnh tranh trên thị trường quốc tế
Ngày nay các nước đi đầu về khoa học công nghệ không chỉ có ưu thế trong cạnhtranh trên thị trường thế giới, mà còn có ưu thế về xuất khẩu tư bản, chuyển giao
KH & CN sang các nước khác
Khoa học và công nghệ là một công cụ mạnh đối với phát triển con người
Do sự thường xuyên đổi mới theo hướng hiện đại dần của các tranh thiết bị sảnxuất và đời sống buộc con người phải thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức,chuyên môn để khỏi bị đào thải ra khỏi quá trình sản xuất xã hội thích ứng vớicuộc sống hiện đại Chính nhờ vậy mà trình độ và chất lượng của đội ngũ nhữngngười lao động trong lực lượng sản xuất không ngừng được nâng cao và hiện đạihoá
KH & CN tác động thông qua việc đổi mới sản phẩm, và đổi mới quy trình sảnxuất đã làm tăng quy mô sản xuất; tăng năng suất của máy móc thiết bị Một mặt
KH & CN kích cầu; mặt khác nó giúp tăng năng suất qua đó tăng cung và từ đónền kinh tế tăng trưởng và làm tăng thu nhập bình quân; cải thiện mức sống củangười dân
Hoàn thiện cơ chế tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh
Những công việc quản lí, điều hành, phân phối ngày càng rộng lớn, phức tạp, vừa
tỉ mỉ, chi tiết của công tác tổ chức và quản lý ngày nay đang được thực hiện mộtcách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn nhờ có sự phát triển của khoa học và côngnghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Khoa học công nghệ ngày nay cũng đã đúcrút và xây dựng nên nhiều những tri thức, cả tri thức lý luận và tri thức kinhnghiệm trong lĩnh vực tổ chức và quản lý.Tổ chức và quản lý đã trở thành mộtKH-CN quản lý
Góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của
xã hội
Phát triển bền vững hay phát triển lâu bền đang là quan tâm sâu sắc của toànnhân loại KH & CN góp phần quan trọng vào việc thực hiện các mục tiêu pháttriển bền vững Những đóng góp có tính chất quyết định của KH & CN vào thúcđẩy sản xuất, nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh là điều đã quá rõ ràng.Ngoài ra sự phát triển của KH&CN đ ã giảm bớt sự lãng phí các nguồn tàinguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi trường; khắc phục những hậu quả tiêu cự dosản xuất xã hội mang lại giúp cho tăng trưởng kinh tế không những nhanh mà
Trang 13còn an toàn.
Đối với mục tiêu sinh thái, trước tiên KH-CN cung cấp cho con người những trithức về môi trường thiên nhiên, qua đó giúp con người có cơ sở để xây dựng ýthức sinh thái KH-CN giúp con người cập nhật được thông tin về môi trường từ
đó con người có thể chủ động phòng tránh, khắc phục để giảm thiểu những hậuquả xấu, những rủi ro không đáng có
Bản thân KH-CN đang có tác động rất mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc lên sự pháttriển của xã hội loài người Khoa học và công nghệ đặc biệt là công nghệ thôngtin góp phần to lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng,bình đẳng trong xã hội, tự do dân chủ, giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận vớicác thông tin hơn, tạo ra một cơ chế phản ánh tiếng nói của người dân đặc biệt làcủa người nghèo đến chính phủ hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng củacác dịch vụ công
2.2 Khoa học- công nghệ trong sự phát triển kinh tế Đông Á
2.2.1.Tổng quan
Các quốc gia Đông Á
Các quốc gia Đông Á hay các quốc gia phía Đông Châu Á, gồm có 19 quốcgia và vùng lãnh thổ thuộc hai khu vực, trong đó có 11 quốc gia Đông Nam Á(Brunei, Myanmar, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia,Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) và 8 quốc gia cùng vùng lãnhthổ Đông Bắc Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mông Cổ vàcác vùng lãnh thổ là: Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan)
Các quốc gia Đông Á nổi lên như là những quốc gia có tiềm lực lớn về kinhtế, tài chính và thương mại Trong đó có 4 con rồng Châu Á (Singapore,Hồng Kông, Đài Loan và Hàn Quốc), các nền kinh tế có tổng GDP đứng thứ
3 và thứ 2 thế giới là Nhật Bản và Trung Quốc, các quốc gia mới nổi nhưMalaysia, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam đã tạo điều kiện cho một loạt các
đô thị lớn ra đời và phát triển hưng thịnh, như những trung tâm tài chính,thương mại, văn hóa của khu vực, châu lục và trên thế giới như: Hồng Kông,Thượng Hải, Tokyo, Singapore, Bắc Kinh, Đài Bắc
Khái quát kinh tế Đông Á
Sơ lược lịch sử phát triển:
Đông Á đã trở thành một khu vực có nền kinh tế phát triển sau cuộc cải cáchMinh Trị Duy Tân những năm cuối thế kỷ 19 khi Nhật Bản nhanh chóngchuyển hướng tập trung phát triển công nghiệp theo định xu hướng của châu
Âu và Hoa Kỳ
Trang 14Trong đầu những năm 1960, các thuộc địa của Anh ở Hồng Kông đã giữ vị trítiên phong cho phát triển nền kinh tế và trở thành một trong những "Con rồngChâu Á" bằng cách phát triển các ngành công nghiệp dệt may và sản xuấtmạnh mẽ những năm 1970 Tiếp bước thành công của Hồng Kông, các quốcgia và vùng lãnh thổ như Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore cùng nhanhchóng công nghiệp hóa nhờ vào các chính sách của chính phủ Đến năm
1997, bốn quốc gia này đã vươn lên sánh ngang với Nhật Bản khi trở thànhnhững nước có nền kinh tế phát triển nhất Châu Á Ngoài ra cũng phải kể đến
Ma Cao, nhờ vào ngành sản xuất dệt may và phát triển công nghiệp cờ bạc,
đã thu hút được sự đầu tư cao độ của nước ngoài để có thể thay thế Las Vegastrở thành trung tâm cờ bạc lớn nhất thế giới vào năm 2007
Hiện nay, tốc độ tăng trưởng ở Đông Á hiện đã dịch chuyển từ Đông Bắc Ásang Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia,Malaysia và Philippines Tính đến đầu năm 2013, Nhật Bản, Hồng Kông, vàSingapore là những quốc gia Đông Nam Á được coi là thị trường phát triểnbởi các chỉ số kinh tế đạt chuẩn Tuy nhiên, theo các nhà kinh tế đánh giá và
dự đoán, trong tương lai có khả năng Hàn Quốc sẽ vượt qua Nhật Bản vềGDP bình quân và sức mua vào năm 2017
2.2.2.Khoa học- công nghệ trong phát triển kinh tế Đông Á
2.2.2.1.Tác động của KH-CN đến phát triển kinh tế Đông Á
Đóng vai trò quan trọng trong các cuộc cải cách chuyển mình mang tính cáchmạng của các quốc gia Đông Á, KH-CN đã có ứng dụng đáng kể khi mang lạihiệu quả trong việc: Thay đổi cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từnông nghiệp sang công nghiệp hóa, mở rộng khả năng sản xuất, tăng sức cạnhtranh của hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy tăng trưởng GDP,…
Mở rộng khả năng sản xuất
Dưới tác động của khoa học và công nghệ, các nguồn lực sản xuất ở cácnước đang phát triển sẽ được mở rộng: Mở rộng khả năng phát hiện, khả năngkhai thác và khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên Từ đó làm biếnđổi chất lượng nguồn lao động, mở rộng khả năng huy động, phân bổ sử dụngcác nguồn vốn đầu tư một cách hiệu quả Khoa học công nghệ tạo điều kiệnchuyển phát triển kinh tế theo chiều rộng sang phát triển kinh tế theo chiều sâu
Trang 15Nghĩa là thực hiện tăng trưởng kinh tế dựa trên việc nâng cao hiệu quả sử dụngcác yếu tố sản xuất chứ không phải dựa trên việc sử dụng thêm các yếu tố đầuvào của quá trình sản xuất.
Liên hệ ngay trong đất nước Việt Nam chúng ta Trước 1986, một cơ chếnền kinh tế quan liêu bao cấp, bế quan tỏa cảng, không cho giao lưu hội nhập vớicác nền kinh tế bên ngoài Một nền sản xuất tự cung tự cấp là chính Vì thế khảnăng sản xuất bị bó hẹp, sản xuất thủ công, sản phẩm không có tính cạnh tranh.Nền kinh tế tụt hậu, kém phát triển Từ những năm 1986 trở đi, do nhận thứcđược vai trò to lớn của hội nhập kinh tế, đất nước ta đã bước sang một trang sửmới Mở cửa giao lưu với các nền kinh tế khác Từ đó, nước ta đã có cơ hội giaolưu, học hỏi các nước, chuyển giao khoa học và công nghệ, dẫn đến khả năng sảnxuất đã được mở rộng Sản xuất bắt đầu có sự chuyển biến từ thủ công sang máymóc Năng suất lao động tăng nhanh, sản phẩm phong phú, đảm bảo chất lượng
Là điều kiện cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế
Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của khoa học và công nghệ ở các nước đang phát triển đãgóp phần phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc và đưa đến phân chiathành nhiều các phân ngành nhỏ, xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tếmới Từ đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Tăng tỷ trọng GDPcủa ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỷ trọng GDP của ngành nôngnghiệp.Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng thay đổi theo xu hướng ngàycàng mở rộng quy mô sản xuất Vai trò của lao động trí tuệ trong các ngành kinhtế ngày càng được coi trọng tỉ trọng các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch
vụ trong GDP năm 2011 của Nhật Bản là: 1.4%, 24%, 74.6%
Lấy ví dụ ngay trong ngành công nghiệp của Việt Nam khi có yếu
tố khoa học công nghệ cao tác động Cơ cấu các ngành công nghiệp đã có chuyểndịch đáng kể, hình thành một số sản phẩm mũi nhọn, một số khu công nghiệp,khu chế xuất với nhiều cơ sở sản xuất có công nghệ khá hiện đại Đến năm 2000,công nghiệp khai thác chiếm khoảng 15% tổng giá trị sản xuất toàn ngành, trong
đó khai thác dầu khí chiếm 11,2%, công nghiệp chế tác chiếm 79%, trong đó
Trang 16công nghiệp sản xuất thực phẩm chiếm khoảng 23,6% công nghiệp sản xuất vàphân phối điện, khí đốt, nước, chiếm khoảng 6% trong đó công nghiệp điệnchiếm 5,4%.
Tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và sự phát triển của thị trường
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận Muốnvậy phải sản xuất được các sản phẩm có nhu cầu lớn, tối thiểu hóa chi phí, nângcao chất lượng sản phẩm… Những yêu cầu đó chỉ được thực hiện khi áp dụngkhoa học công nghệ trong quá trình sản xuất Ở các nước đang phát triển nhưViệt Nam nhờ có sự ứng dụng của khoa hoc công nghệ đã làm cho các mặt hàngtrở nên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều Cùng một loại sản phẩm nhưng córất nhiều các mặt hàng khác nhau với mẫu mã khác nhau Ví dụ như có rất nhiềucác sản phẩm về dầu gội đầu : DOVE, SUNSILk, CLEAR, PENTEN,…khôngkể đến những sản phẩm nhập khẩu từ nước ngoài Từ đó tạo ra sức cạnh tranhtương đối lớn không chỉ thị trường trong nước mà còn trên cả thị trường quốc tế
Từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã nhằm nângcao năng lực cạnh tranh của mình
Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế
Trước kia, khi khoa học và công nghệ chưa phát triển thì yếu tố quyết địnhtăng trưởng và phát triển kinh tế đó chính là : Vốn, đất đai, lao động Cho đếnngày nay, tăng trưởng và phát triển kinh tế lại phụ thuộc chủ yếu vào việc triểnkhai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
Theo phân tích gần đây của Ngân hàng thế giới ở 38 quốc gia và khu vực,tiến bộ công nghệ đóng góp 50% vào tăng trưởng kinh tế ở các nước phát triển,hơn 30% ở các nước đang phát triển Tại Hàn Quốc, đột phá trong KH&CN giúpKTXH nước này tăng trưởng mạnh, mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao
từ 1.040 USD (1977) lên 3.360 USD sau 10 năm Đầu tư cho KH&CN của nướcnày tăng nhanh từ 378 triệu USD lên 5 tỷ USD, tăng 13 lần Với Trung Quốc,đầu tư cho KH&CN tăng mạnh từ 0,6% GDP (2001) lên 1,43% GDP (2007) đãtạo đòn bẩy đưa GDP bình quân đầu người tăng từ 1.047 USD lên 2.604 USD