Đề tài nhằm mô tả và đánh giá hiện trạng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, phạm vi bao phủ, xu hướng và mức độ thụ hưởng các chính
Trang 1UY BAN NHÂN DÂN TP HỒ CHÍ MINH
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Báo cáo nghiệm thu
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của hội đồng nghiệm thu)
NHỮNG VẤN ĐỀ AN SINH XÃ HỘI CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2Đề tài nhằm mô tả và đánh giá hiện trạng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của
người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, phạm vi bao phủ, xu hướng và mức độ thụ hưởng các chính sách về Bảo hiểm xã hội trong đó bao gồm cả bảo hiểm
y tế và bảo hiểm thất nghiệp; ưu đãi xã hội và trợ cấp xã hội; nhận thức, nhu cầu và khả năng tham gia vào các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại TP.Hồ Chí Minh như thế nào
Trong hai năm từ 4/2012 đến 4/2014 đề tài đã tiến hành khảo sát trên địa bàn TP.HCM tại 6 quận với tổng số mẫu là 600 người lao động trong khu vực phi chính thức; thực hiện 27 cuộc phỏng vấn sâu, trong đó 17 người lao động (4 người lao động tự tổ chức việc làm, 13 người làm công); 10 chủ lao động; và tiến hành 9 cuộc thảo luận nhóm tập trung Đề tài tổng hợp lí luận về an sinh xã hội trong nước
và thế giới Đề tài đã phân tích các chính sách, tình hình thụ hưởng một số dịch vụ
an sinh xã hội công như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, trợ giúp xã hội Đề tài cũng phân tích diễn tiến, những hạn chế của an sinh xã hội ở Việt Nam và TP.HCM; đánh giá mức độ thụ hưởng chính sách an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức; vai trò của mạng lưới xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho những người lao động này ở TP Hồ Chí Minh
Dựa trên kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tiếp cận chính sách, các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, đề tài
đề xuất những giải pháp hỗ trợ người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức
có thể tiếp cận hệ thống dịch vụ an sinh xã hội tốt hơn
Trang 3MỤC LỤC
8 Ý nghĩa và tính mới về mặt khoa học và thực tiễn 11
Chương 3 AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM VÀ TP PHỐ HỒ CHÍ MINH 50
3.1.3 Cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội Việt Nam 58
Chương 4 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN HỆ THỐNG AN SINH XÃ
HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC KINH TẾ PHI
CHÍNH THỨC TẠI TP HỒ CHÍ MINH
76
Trang 44.2 Chân dung người lao động KVKTPCT 82
4.3 Tiêp cận BHXH, BHYT và trợ giúp xã hội của người lao động
KVKTPCT
111
4.3.3 Tiếp cận bảo trợ xã hội, ưu đãi xã hội 119 4.3.4 Tiếp cận thông tin về các dịch vụ an sinh xã hội 123 4.3.5 Nhận thức, nhu cầu tham gia các dịch vụ ASXH của người lao
động
125
4.4 Các yếu tố tác động đến nhận thức, nhu cầu tham gia BHXH, BHYT
Chương 5 VAI TRÒ CỦA MẠNG LƯỚI XÃ HỘI TRONG VIỆC ĐẢM
BẢO AN SINH XÃ HỘI CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHU VỰC KINH TẾ
PHI CHÍNH THỨC Ở TP HỒ CHÍ MINH
141
5.1.1.Vai trò của mạng lưới xã hội trong tạo việc làm 141 5.1.2 Vai trò của mạng lưới xã hội trong việc huy động tài chính 144 5.1.3 Vai trò của mạng lưới xã hội trong tiếp cận thông tin việc làm 147 5.1.4 Vai trò của mang lưới xã hội trong tuyển dụng lao động 149
5.2 Vai trò của mạng lưới xã hội trong việc quản lý rủi ro xã hội của
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1 Danh sách quận, phường, số người lao động trong mẫu điều tra 10
2 Bảng 3.1 Số lượng người tham gia BHXH từ năm 2008 đến 2012 tại TP
6 Bảng 4.2.Đặc điểm nhân khẩu học xã hội của lao động có việc làm theo
khu vực thể chế ở Việt Nam
77
7 Bảng 4.3.Cơ cấu việc làm theo khu vực thể chế và nhóm ngành kinh tế ở Việt Nam (%)
78
8 Bảng 4.4 Việc làm của lực lượng lao động theo khu vực thể chế 79
9 Bảng 4.5 Cơ cấu hộ SXKD theo ngành kinh tế 80
10 Bảng 4.6 Vị trí công việc phân theo giới tính 83
13 Bảng 4.9 Hình thức sở hữu nhà phân theo tình trạng hộ khẩu 89
14 Bảng 4.10 Tình trạng sở hữu vật dụng sinh hoạt trong gia đình 94
18 Bảng 4.14 Thu nhập trung bình theo công việc làm 103
19 Bảng 4.15 Nhóm thu nhập trung bình/tháng cá nhân 103
20 Bảng 4.16 Thu nhập bình quân/tháng của người lao động 104
22 Bảng 4.18 Mức thu nhập bình quân/tháng phân theo tình trạng công việc 106
24 Bảng 4.20 Trung bình số giờ làm việc theo số năm đi học 107
27 Bảng 4.23 Lí do một số người không mua BHYT 113
29 Bảng 4.25 Diện trợ cấp của gia đình người lao động 119
30 Bảng 4.26 Những khoản được hỗ trợ tại nơi làm việc 121
Trang 631 Bảng 4.27 Mức độ hiệu quả của sự trợ giúp 121
32 Bảng 4.28 Đánh giá về chính sách Nhà nước đối với hộ nghèo 122
33 Bảng 4.29 Quyền lợi được hưởng tại nơi làm việc 122
34 Bảng 4 30 Nguồn nhận biết các loại bảo hiểm 123
35 Bảng 4.31 Các loại bảo hiểm phân theo nguồn nhận biết 124
36 Bảng 4.32 Biết các loại trợ cấp xã hội phân theo nguồn cung cấp thông
tin về trợ cấp xã hội
125
39 Bảng 4.35 Các loại bảo hiểm có nhu cầu mua 128
40 Bảng 4.36 Đánh giá mức độ quan trọng của BHXH, BHYT, trợ cấp xã
hội
131
41 Bảng 4.37 Loại bảo hiểm tham gia phân theo trình độ học vấn 131
42 Bảng 4.38 Các loại bảo hiểm muốn mua phân theo trình độ học vấn 132
43 Bảng 4.39 Cách phòng tránh rủi ro phân theo trình độ học vấn 133
44 Bảng 4.40 Loại bảo hiểm tham gia mua phân theo giới tính 134
45 Bảng 4.41 Các loại bảo hiểm có nhu cầu mua phân theo giới tính 134
46 Bảng 4.42 Cách phòng tránh rủi ro phân theo giới tính 135
47 Bảng 4.43 Loại bảo hiểm tham gia phân theo nhóm tuổi 135
48 Bảng 4.44 Loại bảo hiểm tham gia mua phân theo tình trạng hộ khẩu 136
49 Bảng 4 45 Các loại bảo hiểm nhận biết theo lĩnh vực việc làm 137
50 Bảng 4.46 Các loại bảo hiểm nhận biết theo thu nhập 139
51 Bảng 4.47 Các bảo hiểm có nhu cầu mua theo thu nhập 140
52 Bảng 5.1.Việc lựa chọn nghề và nơi làm việc theo mối quan hệ lao động 142
53 Bảng 5.2 Các nguồn huy động vốn tài chính 145
54 Bảng 5.3 Các nguồn cung cấp thông tin chongười lao động 148
55 Bảng 5.4 Các cách thức quản lý rủi ro của người lao động KVPCT 151
56 Bảng 5.5 Tình trạng tham gia các tổ chức chính trị - xã hội 153
57 Bảng 5.6 Sự tham gia của người lao động KVPCT vào các tổ chức xã
hội và sự hưởng lợi từ các tổ chức đó theo hình thức cư trú
154
58 Bảng 5.7 Nơi gia đình vay tiền để giải quyết khó khăn 156
59 Bảng 5.8 Các nguồn hỗ trợ xử lý rủi ro về bệnh tật của NLĐ khu vực phi 158
Trang 7chính thức
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2 Biểu đồ 4.2.Giới tính của người lao động 83
5 Biểu đổ 4 5.Số năm đi học phân theo giới tính 87
9 Biểu đồ 4.9 Mức độ diện tích nhà ở thích hợp cho nhu cầu sinh
hoạt của gia đình
90
14 Biểu đổ 4.14 Mức độ trang trải cuộc sống 95
16 Biểu đồ 4.16.Các thức giảm chi tiêu, tiết kiệm 101
20 Biểu đồ 4.20 Lí do không tham gia các loại bảo hiểm 112
21 Biểu đồ 4.21 Lí do không sử dụng thẻ BHYT 114
Trang 9BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ASXH: An sinh xã hội
ATM Máy rút tiền tự động (Automated teller machine)
BHYT: Bảo hiểm y tế
BRICS: Bra-zin, Liên bang Nga, Ấn Độ, Trung quốc, và Nam Phi
CEP: Quỹ hỗ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
HIV/AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch (Acquired Immunodeficiency Syndrome)
ILO: Tổ chức lao động quốc tế
KTPCT: Kinh tế phi chính thức
KVKTPCT: Khu vực kinh tế phi chính thức
LĐTBXH: Lao động –Thương binh - Xã hội
LĐ-TB&XH: Lao động-Thương binh và Xã hội
QĐ-UBND: Quyết định-Ủy ban nhân dân
Trang 10TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTLB-BYT-BTC: Thông tư liên bộ- Bộ y tế - Bộ tài chính UNDP: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc USD Đồng đô la Mỹ (United States dollar)
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam khu vực kinh tế phi chính thức (KVKTPCT) là một trong những khu vực tiên phong trong tiến trình đổi mới của đất nước, góp phần quan trọng vào quá trình chuyển đổi kinh tế từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường Đây là khu vực “bung ra” sớm nhất, mạnh nhất và với tốc độ phát triển nhanh nhất từ giữa những năm 1980 của thế kỷ trước
Một nghiên cứu chung giữa Tổng cục Thống kê Việt Nam và Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp năm 2009 cho thấy KVKTPCT (hoạt động kinh tế ngoài nông-lâm-ngư nghiệp của cá nhân, hộ gia đình không phải hoặc chưa đăng ký), tạo công
ăn việc làm cho 10,9 triệu lao động, chiếm 27,7 % lực lượng lao động trong toàn quốc (23% lực lượng lao động trong độ tuổi lao động có việc làm); chiếm 55,7%
số lao động phi nông nghiệp, và tạo ra giá trị sản lượng tương đương 20% GDP (1/5 tổng sản phẩm quốc nội)1 Tương tự, Ngân hàng Thế giới ước tính KVKTPCT có giá trị tương đương 15,6% tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng khu vực kinh tế phi chính thức có giá trị khoảng 30 - 50% giá trị của tổng sản phẩm nội địa Từ vài kết quả nghiên cứu nêu trên chúng ta có thể thấy khu vực phi chính thức có vai trò quan trọng KVKTPCT tạo ra rất nhiều công ăn việc làm (hơn một nửa số công ăn việc làm phi nông nghiệp, gần một phần ba của tổng số công ăn việc làm trong cả nước) Chỉ xét từ khía cạnh này nó là khu vực đáng trân trọng Là khu vực cung cấp nhiều sản phẩm
và dịch vụ cho các hộ gia đình Tuy đóng một vai trò quan trọng như vậy nhưng theo Tổng cục Thống kê và Viện Nghiên cứu phát triển những người lao động không được hưởng bất kỳ một chương trình BHXH 2 Đối với các nền kinh tế
1
Jean Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto, Francoise Roublaud, Thị trường lao động không chính thức,
và điều kiện sống hộ gia đình tại Việt Nam, Hà Nội, IRD-DIAL, 2009
2 Số liệu của Tổng cục thống kê và Viện nghiên cứu phát triển – Hội thảo quốc tế về khu vực kinh tế phi chính thức và việc làm phi chính thức do Viện KHXH Việt Nam, Viện nghiên cứu phát triển Pháp phối họp với tổng cục thống kê, Bộ LĐTBXH cùng các tổ chức quốc tế như cơ quan phát triển Pháp, Tổ chức lao động quốc tế, Ngân hàng thế giới và chương trình phát triển Liên hợp quốc đồng tổ chức tại Hà nội ngày 6-
7 tháng 5-2010
Trang 12đang phát triển, mặc dù khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức chiếm tỉ trọng lớn, nhưng nó ít được biết đến trong hoạch định chính sách công Điều kiện làm việc của người khu vực này rất khó khăn như: Thu nhập thấp, việc làm bấp bênh không ổn định, gần như không có BHXH và phần lớn vẫn chưa được hưởng lợi từ những chính sách đặc thù Tuy nhiên, các chính sách đó lại đóng góp rất lớn vào quá trình xóa đói, giảm nghèo
Kết quả điều tra LĐ việc làm khu vực KTPCT tại TP.HCM năm 2008, điều kiện làm việc của NLĐ khó khăn, tạm bợ, thời gian làm việc nhiều và thu nhập thấp Không kể lao động làm nông nghiệp, Hà Nội hiện có 132.300 người và TP.HCM là 343.700 người đang làm việc trong khu vực phi chính thức, chưa tính tới những người chủ đơn vị, người tự kinh doanh Trong đó, trên 60% không có hợp đồng với chủ sử dụng, 37% thỏa thuận miệng giữa đôi bên và chỉ khoảng 0,5% có hợp đồng lao động ngắn hạn hoặc dài hạn
Những lao động này phần lớn không được hưởng bất kỳ một khoản phúc lợi nào từ hoạt động SXKD nơi mình làm việc Chỉ có khoảng 0,6% số LĐ được chia lợi nhuận, 0,8% được trả lương cho những ngày nghỉ lễ tết Do khu vực KTPCT không đăng ký kinh doanh nên pháp luật lao động và BHXH dường như vẫn chỉ đứng bên ngoài, do vậy người lao động làm việc nhiều nhưng thu nhập và các chế độ đãi ngộ rất thấp Tác động của khủng hoảng kinh tế, nhu cầu về lao động trong nhiều lĩnh vực giảm đi đáng kể Người lao động tự do cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng phát triển kinh tế, phát triển xã hội và văn hóa Trong “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-
2020: đã chỉ rõ “Tăng trưởng kinh tế kết hợp hài hòa với tiến bộ và công bằng xã
hội, nâng cao không ngừng chất lượng cuộc sống của nhân dân; phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Tạo cơ hội bình đẳng hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội”
Nghị quyết Đại Hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam
đã đề ra nhiệm vụ giai đoạn 2011-2015: “Tập trung giải quyết vấn đề việc làm và
thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân
Trang 13dân Tạo bước tiến rõ rệt về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm tỉ lệ hộ nghèo; cải thiện điều kiện chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.”3
Trong tình hình kinh tế khó khăn do khủng hoảng, khu vực phi chính thức rất dễ bị tổn thương Đây là một khu vực quan trọng của nền kinh tế, đáng được trân trọng
và hỗ trợ KTPCT là khu vực có thể giúp giải quyết rất nhiều công ăn việc làm và
ổn định xã hội ở TP.HCM Các đề tài nghiên cứu về nhận thức, nhu cầu tham gia các dịch vụ an sinh xã hội từ phía người thụ hưởng chưa nhiều, đặc biệt là những nhóm
xã hội chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Thực tiễn đặt ra nhu cầu tiến hành một cuộc khảo sát nhận thức và nhu cầu, khả năng của người lao động trong khu vực kinh tế
phi chính thức đối với các dịch vụ an sinh xã hội Đề tài nghiên cứu ”Những vấn đề
an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ở TP.Hồ Chí Minh” là một mảng bổ sung cần thiết cho các công trình nghiên cứu đã
và đang tiến hành nhằm hoàn thiện chính sách phúc lợi xã hội ở nước ta hiện nay, nhất là những chính sách dành cho người lao động trong KVKTPCT
Các câu hỏi đặt ra:
1) Các chính sách xã hội về bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội hiện nay ở Việt Nam, đặc biệt là những chính sách của TP.HCM: diễn biến và thay đổi như thế nào?
2) Điều kiện làm việc của người lao động, điều kiện sống của gia đình người lao động trong KVKTPCT như thế nào? Người lao động trong KVKTPCT đã thực sự tiếp cận được các chính sách, các dịch vụ an sinh xã hội của Nhà nước chưa? Họ
có ở bên lề nhiều chính sách công hay không? Phạm vi bao phủ, xu hướng và mức
độ thụ hưởng các chính sách về an sinh xã hội (bảo hiểm xã hội, BHYT, trợ giúp xã hội, ưu đãi xã hội) của người lao động trong KVKTPCT như thế nào? Những rào cản nào, những khó khăn nào khiến cho người lao động trong khu vực kinh tế này chưa được hưởng dụng các chính sách an sinh xã hội?
3 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2011 - 2015 nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khoá X trình Đại hội XI
Trang 143) Người lao động trong KVKTPCT đã ứng phó như thế nào trong điều kiện kinh
tế khó khăn? Nhận thức, nhu cầu, khả năng, điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức như thế nào? Tác động của các chính sách ASXH đối với người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ra sao? Mạng lưới xã hội trong bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động trong vực kinh tế này tại thành phố Hồ Chí Minh đóng vai trò như thế nào?
4) Làm thế nào để phát triển hệ thống an sinh xã hội chính thức đề bảo đảm an sinh xã hội cho người lao động KVKTPCT để phòng chống những rủi ro kinh tế-
xã hội, sự phân hóa, bất bình đẳng, những rủi ro khách quan trong cuộc sống đối với nhóm dân cư này?
Những câu hỏi đó chúng tôi mong muốn tìm được câu trả lời thông qua nghiên
cứu”Những vấn đề an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi
chính thức ở TP.Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu của đề tài là đưa ra được những luận cứ khoa học và
thực tiễn để góp phần tiếp tục cải cách, xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống chính sách về an sinh xã hội, đề xuất những giải pháp phù hợp cho nhóm người lao động trong KVKTPCT có thể tiếp cận được với hệ thống dịch vụ an sinh xã hội chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân
và ổn định xã hội
Mục tiêu cụ thể:
-Tìm hiểu quan niệm về an sinh xã hội ở trên thế giới và ở Việt Nam
- Mô tả chân dung người lao động trong KVKTPCT tại TP HCM hiện nay
- Phân tích thực trạng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội của người lao động trong khu vực phi chính thức tại Tp.Hồ Chí Minh: phạm vi bao phủ, xu hướng và mức độ thụ hưởng các chính sách về BHXH; BHYT, trợ cấp xã hội và ưu đãi xã hội ; nhận thức, nhu cầu và khả năng tham gia vào các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động
Trang 15trong khu vực phi chính thức tại TP.Hồ Chí Minh; những rào cản (thời gian, kinh tế, tâm lí…)
- Tìm hiểu vai trò của mạng lưới xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức ở TP Hồ Chí Minh
- Đề xuất những giải pháp hỗ trợ người lao động thuộc khu vực kinh tế phi chính thức
có thể tiếp cận hệ thống dịch vụ an sinh xã hội
3 Đối tƣợng nghiên cứu: Những vấn đề an sinh xã hội của người lao động trong
khu vực kinh tế phi chính thức ở TP.Hồ Chí Minh
Chúng tôi quan tâm đến sự tiếp cận của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức với các hợp phần cơ bản của ASXH: chính sách và chương trình BHXH, BHYT, chính sách và chương trình trợ giúp xã hội; chính sách và chương trình trợ giúp đặc biệt (ưu đãi XH)
4 Giả thuyết nghiên cứu:
1 Hệ thống dịch vụ an sinh xã hội như BHXH, BHYT có phạm vi bao phủ hẹp trong khu vực kinh tế phi chính thức tại TP.HCM
2 Người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức chưa nhận thức được đầy
đủ về các dịch vụ an sinh xã hội Các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, cơ sở làm việc, thu nhập,tình trạng hộ khẩu, giới tính… ảnh hưởng đến nhận thức và sự tham gia vào các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động trong KVKTPCT
3 Mạng lưới xã hội, nhất các quan hệ gia đình, họ hàng đóng vai trò quan trọng giúp người nghèo, những người yếu thế giảm thiểu những rủi ro, nâng cao chất lượng cuộc sống của họ
Trang 16Khung phân tích
Điều kiện kinh tế-xã hội Môi trường-thể chế Thị trường lao động
Chính sách xã hội của Nhà Nước
Chính sách của địa phương Chính sách của doanh nghiệp,
AN SINH XÃ HỘI CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
Mức độ thụ hưởng Nhận thức
Tham gia
Xu hướng -Bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp)
-Trợ giúp xã hội
- Ưu đãi xã hội
Trang 175 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu là mô tả và đánh giá hiện trạng tiếp cận hệ thống
an sinh xã hội của người lao động trong KVKTPCT tại Tp.Hồ Chí Minh, để xem phạm vi bao phủ, xu hướng và mức độ thụ hưởng các chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH) trong đó bao gồm cả bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; ưu đãi xã hội và trợ cấp xã hội; nhận thức, nhu cầu và khả năng tham gia vào các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động trong KVKTPCT tại TP.Hồ Chí Minh như thế nào Đề tài khảo sát và phân tích diễn tiến, những hạn chế của an sinh xã hội ở Việt Nam và TP.HCM; mức độ thụ hưởng chính sách an sinh xã hội của người lao động trong KVKTPCT; vai trò của mạng lưới xã hội trong việc đảm bảo an sinh xã hội cho những người lao động này ở TP Hồ Chí Minh
Dựa trên kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tiếp cận chính sách, các dịch vụ an sinh xã hội của người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, đề tài
sẽ đề xuất những giải pháp hỗ trợ người lao động thuộc KVKTPCT có thể tiếp cận hệ thống dịch vụ an sinh xã hội tốt hơn
- Xác định lý thuyết tiếp cận vấn đề
- Định nghĩa và thao tác hóa các khái niệm chính liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Đọc và phân tích, tổng hợp văn bản, tài liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài
- Lựa chọn phương pháp nghiên cứu
- Xây dựng các công cụ thu thập thông tin sơ cấp
Trang 18Đề tài không nghiên cứu nông dân tại TP HCM
7 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu sẵn có: Tham khảo các văn kiện của Đảng và Nhà nước liên quan đến lĩnh vực an sinh xã hội; các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này ở Việt Nam và trên thế giới
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi;
- Phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
- Hội thảo, tọa đàm về an sinh xã hội cho người lao động KVKTPCT
Bước 1, chúng tôi lấy quận làm đơn vị chọn mẫu, trong 19 quận chúng tôi chọn 6
quận đại diện cho địa bàn quận nội thành và quận vùng ven 4đó là các quận: quận Bình Thạnh, quận Phú Nhuận, quận 4, quận 12, quận 9, quận Bình Tân
Bước thứ 2, lấy phường làm đơn vị chọn mẫu Từ danh sách các phường trong các
quận đã được chọn ở bước 1, chúng tôi chọn mỗi quận 3 phường Riêng 2 quận Bình Tân và Bình Thạnh có quy mô dân số lớn nên tại mỗi quận chọn ra 4 phường
Bước 3, tại mỗi phường đã được chọn, lập danh sách các tổ dân phố và chọn ngẫu
nhiên 3 tổ dân phố Lập danh sách những hộ có người lao động trong KVKTPCT dựa vào các tiêu chí:
Về cơ sở làm việc:
- Hộ gia đình hoặc cá nhân
- Hộ sản xuất, kinh doanh
Qui mô lao động: Dưới 10 người
4 Từ danh sách các quận nội thành, các quận được cho là vùng ven: quận 2,7,8,9,12, Tân Phú, Thủ Đức, Bình Tân
Trang 19Giai đoạn 2: Lập danh sách các lao động trong các hộ đã chọn ở từng tổ dân phố
và tiến hành chọn mẫu điển hình, hướng đích, mỗi hộ gia đình chỉ chọn một người lao động để phỏng vấn
Tổng cộng mẫu điều tra thu thập là 600 người lao động tại KVKTPCT, thuộc 60 tổ dân phố trong tổng cộng 20 phường thuộc 6 quận
Sau khảo sát giai đoạn 1, đề tài đã loại bỏ 87 lao động có hợp đồng không xác định thời hạn và khảo sát bổ sung thay thế để đủ dung lượng mẫu và đáp ứng các tiêu chí chọn mẫu
Trang 20Bảng 1 Danh sách quận, phường, số người lao động trong mẫu điều tra
Các quận trong mẫu
điều tra Các phường trong mẫu điều tra Số người lao động trong mẫu điều tra
1 Quận 12 Phường Thạnh Xuân
Phường Thới An Phường Trung Mỹ Tây
90
Phường Phước Long B Phường Phước Bình
90
3 Quận Bình Tân Phường Bình Hưng Hòa
Phường Bình Hưng Hoà
B Phường Tân Tạo A Phường Bình Trị Đông B
120
4 Quận Bình Thạnh Phường 13
Phường 12 Phường 24 Phường 27
120
5 Quận Phú Nhuận Phường 09
Phường 08 Phường 12
90
Phường 01 Phường 03
90
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 27 cuộc, trong đó 17 người lao động (4 người lao động tự tạo việc làm, 13 người làm công); 10 chủ lao động; và 9 cuộc thảo luận nhóm
Trang 21Phương pháp xử lí thông tin:
Thông tin định lượng được xử lí theo các phân tổ thống kê, dùng phần mềm SPSS 13.0
Thông tin định tính được phân tích theo đề mục, vấn đề
8 Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn
Về mặt lí luận, có nhiều nhà nghiên cứu cố gắng định nghĩa KVKTPCT nhưng đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Để hiểu rõ về khu vực kinh
tế này cần tiếp tục tìm hiểu, so sánh các quan niệm, thực tiễn trên thế giới và Việt Nam về KVKTPCT, đóng góp vào sự hiểu biết về khu vực kinh tế đa dạng này Khái niệm KVKTPCT vẫn chưa được hoàn toàn rõ ràng về nội hàm Trong điều kiện mới hiện nay cần tiếp tục hoàn thiện khái niệm này Trong văn bản chính thức của nhà nước chưa đưa vào khái niệm này nên các thống kê chưa được đầy
đủ Hơn nữa, có sự khác biệt về tiêu chí của khái niệm KVKTPCT của quản lý hành chính giữa Việt Nam và thế giới
Về vai trò của KVKTPCT, có quan niệm cho rằng KVKTPCT là “thừa” và không có vai trò quan trọng Ngược lại cũng có quan điểm cho rằng khu vực này
là một bộ phận vốn có của nền kinh tế và có tác dụng hỗ trợ cho khu vực kinh tế chính thức và được khu vực kinh tế chính thức ủng hộ Ở TP Hồ Chí Minh có khoảng 1/3 người lao động tham gia KVKTPCT (ở các nước châu Phi còn cao hơn) KVKTPCT đã góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp ở thành phố mặc
dù thu nhập thấp Cần xác lập quan điểm về vai trò của KVKTPCT trong nền kinh
tế quốc dân; vị trí của KVKTPCT đối với vấn đề phát triển đô thị Tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, lực lượng lao động tham gia vào nền kinh
tế phi chính thức chiếm một phần khá lớn Thực tế thị trường lao động Việt Nam cũng cho thấy phần lớn những việc làm mới đã được tạo ra từ KVKTPCT Nghiên cứu về KVKTPCT, người lao động trong khu vực này, nâng cao năng lực cho người lao động, cũng như sự thụ hưởng các chính sách xã hội của người lao động
Trang 22để tạo sức mạnh phát triển bền vững không chỉ cho khu vực vực kinh tế này mà cả cho nền kinh tế quốc dân nói chung Nghiên cứu của đề tài đóng góp một cái nhìn vào lí luận tiếp cận khu vực lao động phi chính thức và những vấn đề xã hội
có liên quan
Hệ thống an sinh xã hội cũng vậy, ở mỗi khu vực, mỗi quốc gia có những điểm chung nhưng cũng có những khác biệt về nguồn tài chính huy động, cách thức phân phối các nguồn lực, mức độ hưởng dụng Kinh nghiệm phát triển an sinh xã hội ở các nước là những bài học để chúng ta học hỏi
Trong tình hình kinh tế khó khăn do khủng hoảng, khu vực kinh tế phi chính thức rất dễ bị tổn thương Đây là một khu vực quan trọng của nền kinh tế, đáng được trân trọng và hỗ trợ KTPCT là khu vực có thể giúp giải quyết rất nhiều công ăn việc làm và ổn định xã hội ở TP.HCM Các đề tài nghiên cứu về nhận thức, nhu cầu tham gia các dịch vụ an sinh xã hội từ phía người thụ hưởng chưa nhiều, đặc biệt là những nhóm xã hội chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội Thực tiễn đặt ra nhu cầu tiến hành một cuộc khảo sát nhận thức và nhu cầu, khả năng của người lao động trong KVKTPCT đối với các dịch vụ an sinh xã hội Kết quả nghiên cứu của đề tài là một mảng bổ sung cần thiết cho các công trình nghiên cứu đã và đang tiến hành nhằm hoàn thiện chính sách phúc lợi xã hội ở nước ta hiện nay, nhất là những chính sách dành cho người lao động trong KVKTPCT Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm đưa ra những luận cứ thực tế để tiếp tục cải cách, hoàn thiện đồng bộ các chính sách về an sinh xã hội, đề xuất những giải pháp phù hợp cho nhóm xã hội này tại thành phố Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và ổn định xã hội
Trang 23CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tài liệu nước ngoài:
A Comparative Study On The Extension of Coverage in Brazil, The Russian Federation, India, China and South Africa, do Hiệp hội an sinh thế giới tiến hành năm 2012
Các nước BRICS được chọn để nghiên cứu so sánh vì:
- Đây là những nước điều khiển tăng trưởng kinh tế toàn cầu và những nước đóng vai trò địa chính trị chính yếu, các nước BRICS cũng trở nên nổi tiếng hơn do những cam kết quan trọng về bảo trợ xã hội và mở rộng đáng kể mức độ bao phủ
an sinh xã hội Hai thập niên gần đây thế giới đã chứng kiến sự phát triển và đổi mới mạnh mẽ tại các nền kinh tế mới nổi lên, đặc biệt là ở các nước BRICS
- Một số ví dụ điển hình như: Chương trình quốc gia bảo đảm việc làm ở nông thôn và Chương trình bảo hiểm y tế Rashtriya Swasthya Bima Yojana cho khu vực phí chính thức ở Ấn Độ (Bảo hiểm y tế bao phủ những ai sống dưới đường nghèo đói ở Ấn Độ; dùng thẻ thông minh, mức đóng phí theo vùng…); Hiệp hội phụ nữ
tự tạo việc làm ở Ấn độ đưa ra một số chính sách đời sống và chăm sóc sức khỏe đặc biệt cho các thành viên của mình với một số công ty bảo hiểm quốc hữu hóa
và tư nhân
Cách tiếp cận an sinh xã hội dựa trên quyền ở Nam Phi được chính phủ đưa ra năm 2012 là chương trình bảo hiểm y tế phổ quát đầy tham vọng; và chương trình Bolsa Familia, một chương trình chuyển tiền mặt có điều kiện ở Bra-zin, nơi dân
số được phân loại như “giai cấp trung lưu” tăng từ 38% năm 2001 lên 55% năm
2011
Trung quốc cũng có những bước bứt phá quan trọng trong việc mở rộng mức độ bao phủ an sinh xã hội Chẳng hạn như, tỷ lệ mức độ bao phủ bảo hiểm y tế tăng
từ 318 triệu người (24% dân số) năm 2005 lên 1,26 tỷ người (94% dân số) năm
2010, trung bình hàng tháng tăng gần 16 triệu người trong vòng 5 năm
Trang 24LB Nga đang giải quyết những khó khăn về cải thiện tính đầy đủ và bền vững của các chương trình an sinh xã hội, kiểm soát sự thu hẹp mức độ bao phủ và củng cố bảo trợ xã hội cho người di cư và người lao động khu vực phi chính thức
Mặc dù khác biệt về nền tảng văn hóa, chính trị và kinh tế- xã hội, các nước BRICS cùng chia sẻ những khó khăn chung trong việc củng cố bảo trợ xã hội cho dân cư của mình: sự già hóa dân số, thất nghiệp chính thức và ẩn dấu khá cao (đặc biệt là trong những người lao động không có kỹ năng, tay nghề); phát triển vùng không đồng đều; những lỗ hổng thu nhập lớn giữa các nhóm xã hội khác nhau; tính phân mảnh của các chương trình an sinh xã hội và những rào cản để dịch chuyển các lợi ích an sinh xã hội, các cơ sở hạ tầng an sinh xã hội tuyến đầu/cơ sở thường yếu kém; các hỗ hổng trong sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông; điều phối các chương trình an sinh xã hội với các chương trình và chính sách xã hội khác; và nhu cầu mở rộng bảo trợ cho người lao động di cư và khu vực phi chính thức Sự mong đợi của dân chúng cũng có liên quan, dẫn đến tăng nhu cầu
về những lợi ích cao hơn và dịch vụ tốt hơn Những điều này đòi hỏi chính quyền hướng đến tính bền vững tài chính và xã hội dài hạn của các chương trình
Tại Ấn Độ, đáng lưu ý Chương trình an sinh xã hội cho người lao động trong KVKTPCT (2002), làm thí điểm tại 50 bang Nhưng chỉ có vài ngàn lao động đăng kí tham gia và kết thúc năm 2005 Chương trình này là một ví dụ về nỗ lực không thành công nhằm cung cấp bảo trợ xã hội cho những người lao động trong KVKTPCT
Hiệp hội phụ nữ tự tạo việc làm ở Ấn độ (1972) đưa ra một số chính sách đời sống
và chăm sóc sức khỏe đặc biệt cho các thành viên của mình với một số công ty bảo hiểm quốc hữu hóa và tư nhân Đây là một chương trình bảo hiểm vi mô nổi tiếng thế giới dành cho phụ nữ nghèo tự tạo việc làm: bảo hiểm nhân thọ, tuổi già, bảo hiểm y tế và những sản phẩm khác mặc dù khởi đầu đơn giản chỉ như là chương trình tiết kiệm Hiệp hội phụ nữ tự tạo việc làm thành lập năm 1972 Năm 2010, Hiệp hội đã có 1,2 triệu thành viên Trên hai phần ba thành viên của Hiệp hội này
Trang 25sống ở vùng đô thị Những phụ nữ lao động trong KVKTPCT không ăn lương này nhận thức rằng họ có những nhu cầu đặc biệt Chương trình chăm sóc y tế, chăm sóc trẻ em, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm tài sản và hưu trí tuổi già của Hiệp hội phụ nữ tự tạo việc làm dành cho lao động nữ không được bảo vệ ra đời xuất phát
từ nhu cầu cuộc sống Ấn Độ hiện nay là nước dẫn đầu về phát triển bảo hiểm vi
mô và nhìn chung kinh nghiệm của nước này được xem là khá thành công
2.” Globalisation and Regional Welfare Regimes: the East Case., năm 2000, của tác giả Ian Gough, Đại học Bath, Vương quốc Anh.5
Bài viết đóng góp ý kiến vào cuộc tranh luận về tác động của toàn cầu hóa lên các hệ thống phúc lợi trên thế giới Luận điểm của bài viết cho rằng toàn cầu hóa thay đổi sự cân bằng lực lượng của thế giới so với “thời kỳ vàng son” của chủ nghĩa tư bản phúc lợi, nhưng
sự tác động của toàn cầu hóa lên chính sách và kết quả là do chế độ phúc lợi quốc gia và vùng làm trung gian quyết định Luận điểm này được phát triển trong mối quan hệ với các nước tư bản tiên tiến ở phía Bắc, nhưng ít được áp dụng tại phía Nam Bài viết dựa vào nghiên cứu trường hợp năm nước thành công về mặt kinh
tế ở Đông Á là Hàn Quốc, Malaysia,Thái Lan, Philippine và Inđônêsia Bài viết
mô tả và phân tích các chế độ phúc lợi, sử dụng khung lí thuyết mới được phát triển ở đại học Bath Vì thế bài viết xem sự tác động của khủng hoảng kinh tế ở châu Á như là một ví dụ về những rủi ro mới mà các nước nói trên phải đối mặt trong nền kinh tế thế giới Bài viết đi đến kết luận mặc dù có những điểm chung, những vấn đề kinh tế vĩ mô bất ngờ và có tính quyết định, các phản ứng chính sách có sự khác nhau ở năm nước, phần nào phản ánh những thay đổi trong chế độ phúc lợi
5
Ian Gough” Globalisation and regional welfare regimes: the East case The year
2000 International Research, Coference on Social Security, Hensinki 25-27 Sep 2000
Trang 263. Asia and Pacific: Addressing Complex Needs Through Innovative and Proactive
Social Security ISSA Geneva, 20126 trong cuốn sách này của Hiệp hội An sinh xã
hội quốc tế cho biết việc mở rộng mức độ bao phủ an sinh xã hội đến những người
sống và làm việc trong KVKTPCT và ở nông thôn tạo nên một trong những thách thức lớn nhất mà quản lí an sinh xã hội vùng Châu Á Thái Bình Dương phải đối mặt Nói chung, người lao động trong KVKTPCT và ở nông thôn không được thừa nhận hoặc thường không được bảo vệ theo qui định pháp luật lao động hoặc pháp luật an sinh xã hội Những năm 1990 đến 2009, việc làm phi chính thức trong các nền kinh tế của vùng tăng nhanh Cho dù di dân nông thôn-đô thị có ý nghĩa quan trọng thì vẫn còn hơn ½ dân số vùng (57%) vẫn sống ở nông thôn Mặc dù vùng Châu Á-Thái Bình Dương được cho là vùng phát triển kinh tế thế giới, sự tăng trưởng của vùng này đồng hành với sự tăng bất bất bình đẳng và vẫn còn dễ bị tổn thương do tác động của tăng giá cả năng lượng và thực phẩm, sự tiếp diễn khủng hoảng tài chính toàn cầu và các thảm họa tự nhiện tại nhiều nước Hệ quả là một số lượng lớn dân cư trong vùng dễ bị tổn thương Phần lớn những người lao động làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức và kinh tế nông thôn
và ít tiếp cận được các cơ hội đời sống, buộc họ phải nghĩ đến di dân nội địa hoặc
di dân ra nước ngoài như là một chiến lược sống sót
Các chương trình an ASXH trong vùng cung cấp mức độ bao phủ cho người lao động hưởng lương trong việc làm phi chính thức Tại Ấn độ, có 90% lực lượng lao động làm việc trong KVKTPCT Thực hiện mục tiêu mở rộng mức độ bao phủ của
an sinh xã hội gặp những khó khăn về tài chính, hành chính và lập pháp Người lao động trong KVKTPCT và lao động ở nông thôn có thu nhập thấp và không ổn định, thường thay đổi việc làm thường xuyên Người lao động thường có khả năng tài chính thấp hơn so với người lao động trong khu vực chính thức và không được hưởng lợi từ đóng góp của người sử dụng lao động Cần phải điều chỉnh những qui định lợi ích và đóng góp để phản ánh không chỉ khả năng tài chính của người lao
6
Asia and Pacific : Addressing Complex Needs Through Innovative and Proactive Social Security ISSA Geneva, 2012
Trang 27động được bao phủ mà cả các nhu cầu khác nhau về các lợi ích và dịch vụ của họ
Vì vậy, ở đâu các chương trình an sinh phổ quát được quản lí đến được với người lao động là những nỗ lực hành chính quan trọng, bao gồm sử dụng văn phòng di động và làm việc gần gũi với đại diện của người lao động, cũng như bao cấp tài chính Như vậy, để mức độ bao phủ KVKTPCT và nông thôn hiệu quả phải có những biện pháp trợ giúp: trao quyền, các biện pháp hành chính linh hoạt, đổi mới, chính thức hóa KVKTPCT, bao gồm những qui định về mức lương tối thiểu và hợp đồng lao động, chính sách phân chia nông thôn-đô thị và thúc đẩy sự bình đẳng
Bài viết đưa ra ba nhận xét dựa trên các bằng chứng hiện nay về mở rộng mức độ bao phủ cho dân cư sống và làm việc trong KVKTPCT và ở nông thôn:
- Các chương trình ASXH đóng góp và không đóng góp tạo ra những thành tựu
to lớn, mang ý chí chính trị mạnh mẽ và cam kết tài chính của nhiều chính phủ
và theo đuổi quản lí ASXH xuất sắc
- Một loạt các nước đã tiến hành các chương trình thẩm định tài sản để bao phủ dân cư dễ bị tổn thương Tuy nhiên có những thách thức liên quan đến các chương trình đó, bao gồm chi phí quản lí hành chính cao, những rủi ro do tham nhũng và những điều không được khích lệ, có thể một số nước chuyển từ cách tiếp cận thẩm định tài sản sang cách tiếp cận phổ quát hoặc kết nối các chương trình không đóng góp với các chương trình đóng góp
- Các chương trìnhBảo hiểm bắt buộc được chọn nhiều hơn các chương trình tự nguyện vì các chương trình tự nguyện thường đối mặt với những ảnh hưởng không được khuyến khích, sự lựa chọn trái ngược, những rào cản rủi ro về đạo đức Nơi nào chương trình tự nguyện tồn tại, các biện pháp như giảm thiểu hoặc tỷ lệ đóng góp của cá nhân linh hoạt, hoàn thuế và bao cấp đóng góp của nhà nước cũng như đề nghị tham gia dựa trên đơn vị gia đình có thể giúp điều chỉnh những rào cản như vậy và nhanh chóng mở rộng mức độ bao phủ
Trang 284 “Social Security for Women Workers in the Informal Economy”, 2007 7 của tác
giả Shalinin Sinha, giới thiệu về khu vực phi chính thức ở Ấn độ Phụ nữ chiếm
32% lực lượng lao động trong KVKTPCT (118 triệu lao động nữ)
-Đặc điểm nhu cầu ASXH của lao động nữ tự tạo việc làm: chăm sóc con cái, quyền làm mẹ, chăm sóc sức khỏe, tuổi già, các rủi ro và khủng hoảng
-Chương trình ASXH cho lao động nữ tự tạo việc làm của Hiệp hội phụ nữ tự tạo việc làm Ấn Độ: Năm 1972 Hiệp hội này được thành lập, là tổ chức của lao động
nữ trong KVKTPCT với mục đích tổ chức phụ nữ có việc làm đầy đủ, và đảm bảo thu nhập, thực phẩm và ASXH, ít nhất là chăm sóc sức khỏe, chăm sóc con cái, bảo hiểm và nhà ở Hiệp hội phụ nữ tự làm việc là những lao động nữ nghèo nhất
ở Ấn độ và có 4 loại chính: Những người bán hàng rong, những người làm việc tại nhà, những người sản xuất nhỏ, lao động chân tay và những người cung cấp dịch
vụ
Cách tiếp cận của Hiệp Hội phụ nữ tự làm việc là an sinh về kinh tế với an sinh xã hội Chương trình ASXH của hiệp hội này gồm: nhà băng, các hợp tác xã và kết nối bán và phân phối sản phẩm Mục đích chính của Nhà băng hiệp hội là tạo vốn
và tài sản cho các thành viên, giúp họ thoát nghèo Hiệp hội khuyến khích thành lập các hợp tác xã do phụ nữ quản lý, sản xuất và làm chủ Hiệp hội thành lập Trung tâm xúc tiến thương mại giúp các tổ chức địa phương phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống của mình đáp ứng yêu cầu của thị trường
Bài học kinh nghiệm rút ra: Dịch vụ cho phụ nữ nghèo phải đơn giản, linh hoạt, cung cấp tận nơi, và dựa vào cộng đồng, dựa vào những lao động tại cơ sở; đào tạo những bác sĩ chân trần những nhà quản lý chân đất để điều hành các hoạt động bảo hiểm và đào tạo, điều hành và quản lý tổ chức của họ Kết nối với các
7
Shalini Sinha, “Social Security for Women Workers in the Informal Economy”,
2007
Trang 29chương trình của chính phủ để cải thiện các dịch vụ do chính phủ cung cấp có tính đến cộng đồng và nhu cầu của người dân, đặc biệt là nhu cầu của phụ nữ
Về bảo hiểm, Hiệp hội phụ nữ tự tạo việc làm bắt đầu bằng chương trình ASXH hợp nhất năm 1992, bao gồm bảo hiểm nhân thọ, góa bụa, tai nạn cho các thành viên và chồng của họ, cũng như các quyền lợi khi bệnh tật, làm mẹ, và tài sản sản suất bị thiệt hại
Về sức khỏe, từ những năm 1970, hiệp hội có chương trình giáo dục sức khỏe,
và đưa ra những quyền lợi cho phụ nữ sinh con Hiện nay có rất nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe như cung cấp thông tin tập trung vào phòng ngừa bệnh Chương trình sức khỏe của hiệp hội có 4 thành phần chính: phòng ngừa bệnh, chương trình chữa bệnh, đảo tạo và nghiên cứu
Về chương trình cải thiện nhà ở, Hiệp hội cung cấp dịch vụ nhà ở cả về kỹ thuật và tài chính, từ năm 1994, cho các thành viên, nhằm cải thiện nhà ở và cơ sở
hạ tầng, môi trường sống cho họ Trên 20.000 hội viên đã sử dụng các dịch vụ này
Về chương trình chăm sóc trẻ em Năm 1975, trung tâm chăm sóc trẻ đầu tiên cho những người bán hàng rong Sau đó hàng trăm trung tâm chăm sóc trẻ được thành lập ở các thành phố và một số vùng nông thôn Nhờ đó, giờ làm việc và năng suất của phụ nữ tự tạo việc làm tăng lên
Về chương trình hưu trí, năm 2002, Ngân hàng của hiệp hội đưa ra sản phẩm hưu trí và đã có 2353 chủ tài khoản hưu trí
Công trình nghiên cứu này dùng phương pháp nghiên cứu trường hợp Nghiên cứu này chủ yếu quan tâm đến ASXH cho phụ nữ tự tạo việc làm, cả trong lĩnh vực nông nghiệp
Công trình nghiên cứu của chúng tôi sẽ đề cập ASXH của người lao động nói chung trong KVKTPCT và không chỉ người lao động tự tạo việc làm mà cả những người làm thuê
Trang 305 “Social Security and Prospects for Equity in Latin America”, Carmelo Mesa-Lago 8 Nghiên cứu này khẩn thiết yêu cầu mở rộng BHXH cho người
nghèo như là một biện pháp công bằng nhưng lưu ý rằng các phúc lợi xã hội hiện nay quá hào phóng để có thể mở rộng được đến tất cả người Mỹ la tinh Nhấn mạnh vào những phúc lợi cơ bản: chăm sóc sức khỏe phòng ngừa và chi trả lương hưu tối thiểu kết hợp với giá cả phục hồi đối với một số chăm sóc sức khỏe cá nhân và tư nhân hóa lương hưu trên mức tối thiểu, có thể cung cấp một giải pháp hấp dẫn tại một số nước trong vùng
Các chuyên gia đã đề cập đến những vấn đề đòi hỏi phải có sự quan tâm nhất là trong cung cấp dịch vụ xã hội của vùng: sự bất bình đẳng rõ rệt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe kép ở Mỹ la tinh và vùng Caribe- dịch vụ ASXH tốt cho các nhóm thu nhập trung bình và dịch vụ thấp kém hoặc không có dịch vụ đối với người nghèo nông thôn và các nhóm bên lề ở đô thị Nghiên cứu quan tâm đến ASXH với một phạm vi rộng ở các nước Mỹ La Tinh
Qua một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài cũng như báo cáo của Hiệp hội an sinh quốc tế, hiện nay các nước đều chú trọng cải cách các chương trình an sinh để tăng mức độ bao phủ đến các nhóm xã hội khác nhau, nhất là đối với các nhóm dễ
bị tổn thương, người lao động trong KVKTPCT, lao động ở nông thôn, rút ngắn
sự bất bình đẳng trong xã hội
1.2 Tài liệu trong nước
1 Bùi Thế Cường, Chính sách xã hội và công tác xã hội ở Việt Nam thập niên
90, Hà Nội, Nxb KHXH, 2002: Hiện nay có ba mô hình hệ thống chính sách xã
hội là „ bảo đảm toàn dân“ , „bảo hiểm xã hội“ và „ bảo đảm chọn lọc“ các nước đang thực hiện
Mô hình hệ thống chính sách xã hội „bảo đảm toàn dân“ được áp dụng rộng rãi ở
các nước Bắc Âu, như Thụy Điển, Đan mạch Mức độ can thiệp của nhà nước cao:
8Carmelo Mesa-Lago, “Social Security and Prospects for Equity in Latin
America”, World Bank Washington D.C, 1991
Trang 31để chăm lo cho toàn dân nhà nước chủ động phân phối lại các nguồn lợi quốc gia Phần lớn ngân sách phúc lợi được lấy từ thuế Chuyển dịch thu nhập thông qua các
dịch vụ xã hội
Nhà nước đóng vai trò chính trong mô hình „bảo hiểm xã hội „ để đảm bảo phúc
lợi xã hội cho toàn dân Bên cạnh đó có nhiều dạng BHXH của khu vực tư nhân
do người dân tự nguyện tham gia Các nước như Pháp, Ý, Áo áp dụng mô hình hệ
thống chính sách xã hội „bảo hiểm xã hội“ Mô hình này có các đặc điểm chính
như mức đóng phí và mức chi trả trợ cấp bảo hiểm phụ thuộc vào mức thu nhập của người được bảo hiểm Hệ thống bảo hiểm theo các loại rủi ro và các nhóm nghề nghiệp Tài chính do sự thỏa thuận đóng góp giữa nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động hoặc giữa Nhà nước và người sử dụng lao động Chủ
yếu chuyển dịch thu nhập bằng tiền
Tại các nước như Mỹ, Úc, Canada áp dụng chính sách xã hội „bảo đảm chọn lọc“, chủ yếu áp dụng hình thức bảo hiểm tự nguyện Vai trò của Nhà nước: chỉ trợ giúp
phúc lợi đối với một số nhóm dân cư nhất định đã được chọn lọc- chủ yếu là người nghèo, những người yếu thế; hệ thống chính sách xã hội „bảo đảm chọn lọc“ hạn chế thời gian và mức độ trợ cấp; mức độ tái phân phối thấp; các lực lượng được đảm bảo mức hoạt động tự do cao
2 Mai Huy Bích, An sinh xã hội Âu Mỹ, Tạp chí Xã hội học, số 1 (93), 2006:
Quan niệm của châu Âu về bảo trợ xã hội gồm các thành tố:
-Các chương trình thất nghiệp để trang trải cho sự mất việc bất đắc dĩ và tạm thời -Các chương trình nghỉ ốm để trang trải cho sự mất thu nhập do ốm và những chi phí về chăm sóc y tế
- Các chương trình tàn tật hoặc tai nạn lao động để trang trải những mất mát thể chất do công việc
-Trợ cấp gia đình để trang trải cho mất mát vị thế kinh tế do gia đình có con và thêm con;
Trang 32-Trợ cấp xã hội để trang trải cho những hoàn cảnh khó khăn khác như tan vỡ gia đình khiến cho thu nhập giảm sút
Năm 1935 an sinh xã hội được phát triển ở Mỹ, các bang chính thức thông qua Đạo luật an sinh xã hội Hệ thống an sinh xã hội ở Mỹ đang cải cách theo hướng
cơ chế bảo hiểm hưu trí dựa trên các tài khoản hưu trí cá nhân: một phần đầu tư của cá nhân hay tất cả các khoản đóng góp thuế thu nhập trên thị trường Các tài khoản cá nhân đảm bảo cá nhân kiểm soát tiết kiệm cá nhân và an sinh xã hội ở mức độ nào; các khoản thuế thu nhập được đầu tư thị trường làm tăng lợi nhuận của hệ thống
3 Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Đinh Yến Oanh, Đào Vĩnh Nguyên, “Kinh
nghiệm thế giới về đảm bảo an sinh xã hội và bài học rút ra cho Việt Nam”,
9Canada có các chính sách về an sinh xã hội tốt Chính phủ đã kết hợp nhiều nguồn lực, thực hiện nhiều chính sách giải quyết hiệu quả các vấn đề về lao động
và việc làm, giáo dục đào tạo cũng như hỗ trợ các đối tượng yếu thế trong xã hội Vai trò của chính phủ được thể hiện rất rõ thông qua hệ thống các chính sách , đặc biệt là các chính sách hỗ trợ về bảo hiểm thất nghiệp, hỗ trợ người cao tuổi và hỗ trợ tài chính cho địa phương để thực hiện các qui định và luật về giáo dục, các dịch vụ xã hội khác
Năm 1908, an sinh xã hội tại Úc bắt đầu bằng đạo luật quy định về tiền trợ cấp cho người cao tuổi Những đặc điểm quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của
Úc được thể hiện qua sự linh hoạt và sự khác biệt của nó so với các mô hình phổ biến trên thế giới Chính phủ Úc cho phép các thành phần tư nhân tham gia vào hệ thống phúc lợi xã hội bên cạnh nguồn hỗ trợ tài chính của Chính phủ, đồng thời huy động tối đa sự tham gia mọi nguồn lực kinh tế xã hội để cùng đóng góp cho sự phát triển đất nước, con người Úc Hiện nay, luật trợ cấp theo tuổi tác, Chính sách
mở rộng thêm đối tượng khác trong xã hội được trợ cấp, chủ yếu tập trung vào các
9 Nguyễn Quốc Nghi, Nguyễn Đinh Yến Oanh, Đào Vĩnh Nguyên, “Kinh nghiệm thế giới về đảm bảo
an sinh xã hội và bài học rút ra cho Việt Nam” Kỷ yếu Hội thảo “Chất lượng cuộc sống của người dân
TP HCM trong bối cảnh kinh tế hiện nay Viện nghiên cứu phát triển 2012
Trang 33đối tượng yếu thế như người khuyết tật, sản phụ, trẻ em, người không có việc làm hoặc cha/mẹ đơn thân
4 Đinh Công Tuấn chủ biên, “Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nxb KHXH, Hà Nội, 2008 Tại các nước trong cộng
đồng châu Âu, những thành tựu đạt được trong việc thực hiện chính sách ASXH:
an sinh thu nhập to lớn cho người dân, làm tăng chu kỳ cuộc sống, làm bùng nổ các dịch vụ XH, góp phần cải thiện đầu tư vào nguồn vốn con người, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc, sức khỏe, chăm sóc trẻ em Nghèo khổ được hạn chế
Tác giả phân tích những hạn chế của hệ thống ASXH của EU hiện nay:
- Chi phí lớn đi đôi với sức ì xã hội, không khuyến khích nâng cao năng suất lao động, nền kinh tế kém linh hoạt Chính sách ASXH ở mức cao đang là nguyên nhân gây ra sụt giảm năng suất LĐ
- Thất nghiệp cao, nghèo khổ, bất bình đẳng, cô lập XH, mất ổn định XH
Kinh nghiệm cho Việt Nam để hoạch định chính sách ASXH:
- Gắn liền phát triển kinh tế với việc phân phối ASXH đầy đủ cho toàn dân
- Cải cách hệ thống ASXH cho phù hợp với tình hình phát triển mới: gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển công bằng xã hội trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển
- Hệ thống ASXH càng phải xây dựng tốt trên cơ sở đóng góp của nhiều phía, trong đó điểm nòng cốt phải là người sử dụng lao động, người lao động và Nhà nước
Vai trò của nhà nước trong xây dựng chính sách ASXH và phân bổ phúc lợi XH
Hệ thống an sinh xã hội của nước Anh dựa trên 5 trụ cột là: bảo hiểm hưu trí, chăm sóc sức khỏe, trợ cấp ốm đau và mất sức lao động, chăm sóc trẻ em, bảo hiểm thất nghiệp
5 Lê Chí Hiếu, Mô hình an sinh xã hội Đức và một số kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí KHXH , số 5 (129)-2009
Trang 34Những thách thức đối với hệ thống an sinh xã hội Đức: chồng chéo, không rõ ràng, kém hiệu quả, khả năng ứng phó hạn chế trước những thay đổi về kinh tế-xã hội Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam: lựa chọn mô hình an sinh xã hội thích hợp với thực tiễn Việt Nam, cải cách hệ thống an sinh xã hội phù hợp với tình hình phát triển mới, nhất là với tốc độ tăng trưởng kinh tế, mô hình an sinh xã hội cần kết hợp triết lí „đoàn kết“ và triết lí „tự chủ“, đa dạng hóa loại hình cũng như sự đóng góp của nhiều chủ thể Và vai trò quan trọng của Nhà Nước trong xây dựng mô hình, chính sách an sinh xã hội và phân bổ phúc lợi xã hội
6 Trịnh Thành Vinh, Hệ thống an sinh xã hội Tây Ban Nha“, tạp chí Nghiên
cứu châu Âu, số 9(960.2008 tr.77-84
Tại Tây Ban Nha, hệ thống an sinh xã hội lúc đầu theo mô hình Bismarck của Đức, dựa trên nguyên tắc bảo hiểm đối với người mắc bệnh và bảo hiểm bắt buộc đối với người cao tuổi, cho những người thu nhập thấp và được những đóng góp xã hội tài trợ Sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống an sinh xã hội Tây Ban Nha chịu tác động của mô hình Beveridge của Anh, theo nguyên tắc bảo hiểm đối với mọi người Về đóng góp cho hệ thống an sinh xã hội: Những khoản thu từ bảo hiểm xã hội chiếm phần chủ yếu trong chi trả, còn lại là từ thuế Từ năm 1989: việc chi trả cho những người tham gia đóng bảo hiểm chủ yếu là từ quỹ đóng góp bảo hiểm, còn đối với những người không đóng góp thì do ngân sách Nhà nước chi
Sự đóng góp bắt buộc là yêu cầu đối với người làm công và người chủ, trừ tai nạn lao động, ốm đau sẽ do người chủ chịu trách nhiệm hoàn toàn Các dịch vụ bảo hiểm được cải cách và ngày càng hoàn thiện, rất đa dạng, phong phú: Bảo hiểm bệnh tật và sinh nở; bảo hiểm mất khả năng lao động và mất khả năng lao động vĩnh viễn và bảo hiểm sống và chết dành cho những người lao động đăng ký và ghi danh; bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp, trợ cấp cho những người không đóng bảo hiểm Như vậy, hệ thống an sinh xã hội Tây Ban Nha có quy định rõ ràng, cụ thể về người đóng góp, có phương pháp và thể thức thanh toán tiền bảo hiểm được thực hiện chặt chẽ
Trang 357 Đỗ Thiên Kính, „Hệ thống phúc lợi xã hội ở Nhật bản và bài học cho Việt Nam“, Tạp chí Xã hội học, số 1 (93), 2006 tr 104-113
Tại Nhật Bản việc sử dụng hai khái niệm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội có nội dung như nhau, bao hàm lẫn nhau Trước chiến tranh thế giới lần thứ II; hệ thống
an sinh xã hội chưa đầy đủ và chưa hoàn chỉnh, qui mô và phạm vi còn nhỏ bé, kém phát triển, chủ yếu là cứu trợ Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ II, hệ thống phúc lợi xã hội quan tâm đến những người có hoàn cảnh đặc biệt Các lĩnh vực chính của phúc lợi xã hội: phúc lợi cho bà mẹ, trẻ em; phúc lợi cho người già; phúc lợi cho người tàn tật; ngoài ra còn bổ sung: phúc lợi cho người nghèo (người thu nhập thấp); phúc lợi trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Một số hoạt động phúc lợi trong lĩnh vực nông nghiệp cũng được đề cấp đến như: chính sách bảo hộ đối với nông nghiệp, bảo hộ thị trường, chính sách trợ giá cho người sản xuất, chính sách trợ cấp cho nông nghiệp (trợ cấp đầu vào và giá đầu ra), chế độ phúc lợi đối với nông dân và so sánh bảo hiểm y tế giữa nông thôn và thành thị Hệ thống tổ chức và nguồn tài chính ở Nhật có nhiều cấp và ba nguồn tài chính chủ yếu: nhà nước, địa phương và các tổ chức tư nhân
Các bài học rút ra để xây dựng hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam: kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, an sinh xã hội; nhà nước phúc lợi
thích hợp với văn hóa phương đông, đề cao trách nhiệm cá nhân, trợ giúp của gia đình, các tổ chức tư nhân, và Nhà nước; thực hiện chính sách bảo hộ trong nông nghiệp và chế độ phúc lợi xã hội đối với nông dân
8 Nguyễn Mai Phương,“Hệ thống an sinh xã hội ở Trung Quốc: thực trạng, vấn đề và triển vọng phát triển“, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 6 (94)-
2009 Tr 23-34
Theo Đại hội XVII Đảng Cộng sản Trung quốc, hệ thống an sinh xã hội của nước này là một hệ thống nhiều tầng lớp, bao gồm ba trụ cột chính là bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, phúc lợi xã hội, với đặc điểm chính là chính phủ cưỡng chế thực thi, diện bao phủ rộng và đảm bảo đời sống cơ bản
Trang 36Hệ thống an sinh xã hội Trung quốc có hai thời kỳ chính: 1949-1978 và 1978 đến nay Thời kỳ 1949-1978 có bốn khuyết tật chính: phạm vi bao phủ hẹp, cấp độ bảo hiểm đơn nhất, thiếu sự chăm lo của toàn xã hội và các hạng mục bảo hiểm chưa đầy đủ
Cơ chế quản lí hệ thống an sinh xã hội khắc phục quản lý hành chính nhiều cửa, thiếu sự điều tiết vĩ mô; lẫn lộn giữa chế độ chính sách và tổ chức thực hiện; thiếu
cơ chế theo dõi, giám sát có hiệu lực
Giai đoạn hiện nay, hệ thống an sinh xã hội phạm vi bao phủ chuyển đổi từ mô hình đơn nhất Nhà Nước sang mô thức nhiều cấp độ, hạ mức bảo hiểm quá cao xuống mức bảo hiểm cơ bản để đạt tới yêu cầu của an sinh xã hội là mức chi thấp, diện bao phủ rộng
Bài học rút ra cho kinh nghiệm rút ra cho Việt nam:
- xây dựng hệ thống an sinh xã hội thích ứng với nền KTTT Xã hội chủ nghĩa; Khung bậc cơ bản gồm ba nguồn chi trả chủ yếu: các hạng mục do Nhà nước chi trả; những hạng mục do ba bên cùng đảm nhiệm ( Nhà nước, xí nghiệp và
cá nhân); kết hợp các hình thức an sinh của xí nghiệp và hình thức an sinh mang tính chất tích góp của cá nhân
- Bảo hiểm xã hội với năm loại hình chính: bảo hiểm dưỡng lão, thai sản, tai nạn, thất nghiệp; hệ thống phúc lợi xã hội với các loại hình chính là cứu tế, cứu trợ, trợ cấp xã hội; hệ thống ưu đãi xã hội có các hình thức: ưu đãi, trợ cấp xã hội đối với những người có công với đất nước
- Đối tượng và diện bao phủ: mọi người dân trên lãnh thổ quốc gia
- Xây dựng hệ thống an sinh toàn diện ở nông thôn
9 Trịnh Duy Luân, „Góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tổng thể ở nước ta hiện nay“, tạp chí Xã hội học, số 1 (93), 2006, tr 9
Về kinh nghiệm xây dựng hệ thống an sinh xã hội tại Việt Nam, tác giả Trịnh Duy Luân cho rằng cần bắt đầu từ trợ giúp xã hội với tiêu chuẩn thấp nhất của an sinh xã hội, dần dần xây dựng đầy đủ hơn các hạng mục của hệ thống bao phủ rộng
Trang 37rãi tới mọi người Xu hướng chung là sẽ giảm vừa phải gánh nặng của chính phủ ,
phát huy vai trò của bảo hiểm thương mại“
10 Đề tài “Bước đầu khảo sát mô hình tổ chức chính sách, cơ chế hoạt động của BHYT Việt Nam và một số nước trên thế giới” 10
Đề tài khảo sát khái niệm BHYT và đưa ra năm vai trò chính của BHYT:
- đảm bảo quyền lợi về chăm sóc y tế và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT khi họ bị ốm đau, bệnh tật
- Người tham gia BHYT được chia sẻ gánh nặng tài chính cá nhân khi sử dụng dịch vụ y tế
- BHYT góp phần giảm gánh năng tài chính cho ngân sách Nhà nước, tạo nguồn tài chính ổn định cho chăm sóc sức khỏe
- BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực y tế và tái phân phối thu nhập giữa mọi người
- BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó giữa các thành viên trong xã hội
Đề tài tổng quan chính sách BHYT ở một số nước trên thế giới như ở Đức, Mỹ, Hàn Quốc, Pháp,Nhật Bản và Thái Lan
Các nghiên cứu thực nghiệm
1 “ Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm“, do Trung tâm nghiên cứu khoa học bảo hiểm xã hội
Việt Nam tiến hành năm 2002 Về nội dung, đề tài quan tâm đến đặc điểm của lao động tự tạo việc làm, thực trạng về lao động tự tạo việc làm ở nước ta và bảo hiểm
xã hội đối với lao động tự tạo việc làm Nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu tham gia, sự hiểu biết về BHXH của người lao động tự tạo việc làm Đề tài đưa ra một số nguyên nhân người lao động chưa muốn tham gia bảo hiểm xã hội:
• Tự đảm bảo cuộc sống của bản thân: : 50,85%
• Điều kiện sống còn quá khó khăn, chưa thể tham gia: 46,30%
10 http:// khodetai.com/Buoc-dau-khao-sat-mo-hinh-to-chuc-chinh -sach-co-che-hoat-dong te-Viet-nam-va-mot-so-nuoc-tren-the-gioi c 51499.html
Trang 38cua-bao-hiem-y-• Chưa biết chính sách BHXH sẽ như thế nào: 38,65%
• Chính sách BHXH chưa hấp dẫn: 36,15%
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp
Đề tài quan tâm đến người lao động tự tạo việc làm - một bộ phận người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức, trong khi đó nghiên cứu của chúng tôi quan tâm đến các nhóm người lao động khác nữa trong khu vực kinh tế này
Về nội dung, chúng tôi quan tâm đến ASXH chứ không chỉ bảo hiểm xã hội- một
bộ phận cấu thành của ASXH Về phạm vi, chúng tôi chỉ quan tâm đến ASXH của người lao động trong khu vực phi chính thức ở thành phố Hồ chí Minh Phương pháp chúng tôi sử dụng: phân tích tài liệu sẵn có, điều tra chọn mẫu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
2.Lê Bạch Dương, Đặng Nguyên Anh, Khuất Thu Hồng, Lê Hoài Trung,
Robert Leroy Bach, “Bảo trợ xã hội cho những nhóm thiệt thòi ở Việt Nam“,
Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005, khảo sát các nhu cầu và những vấn đề có liên quan
của ba nhóm xã hội thiệt thòi, dễ bị tổn thương là nông dân nghèo, lao động di cư
từ nông thôn ra thành thị, người khuyết tật (cả người có HIV/AIDS); phân tích các chính sách và chương trình bảo trợ xã hội hiện nay ở Việt Nam; những vấn đề nghèo đói ở nông thôn và nhu cầu bảo trợ xã hội của ba nhóm xã hội nói trên đang
đối mặt
Một trong những phát hiện của nghiên cứu này là tình trạng bị gạt ra bên lề do sự
xa lánh, cô lập trong xã hội, lao động di cư dễ bị bóc lột, bị kỳ thị, có nguy cơ rơi vào bẫy túng quẫn, nghèo đói ở đô thị; những rào cản và khó khăn đối với nhóm đăng ký tạm trú hoặc không đăng ký có thể làm cho lao động di cư ngần ngại tìm đến bảo trợ chính thức Sự thiếu vắng những mối quan hệ mang tính thể chế và cộng đồng đối với lao động di cư đến các thành phố lớn
Về phương pháp, đề tài này sử dụng điều tra chọn mẫu (dữ liệu được thu thập tại 8 tỉnh), phỏng vấn sâu, phân tích tài liệu
Trang 39Đề tài này đi vào vấn đề bảo trợ XH, một bộ phận của ASXH, trong khi đó chúng tôi sẽ tìm hiểu cả BHXH, bảo trợ XH, trợ cấp đặc biệt Khách thể chính chúng tôi quan tâm là người lao động trong khu vực phi chính thức tại TP HCM trong đó có người di cư tự do đến thành phố và làm việc trong khu vực kinh tế này
3 Bạch Văn Bảy (1994), Đề tài “Khu vực Không Chính thức tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Viện Kinh tế TP.HCM (IER) tr 37 - 42
Năm 1994, PTS Bạch Văn Bảy và nhóm nghiên cứu Viện Kinh tế TPHCM đã điều tra 720 hộ hoạt động trong khu vực kinh tế “không chính quy” (informal sector) ở đô thị và ghi nhận có khoảng 38,5% lao động đang tham gia trong khu vực kinh tế này, so với tổng lao động của toàn thành phố 11
Kết quả nghiên cứu cho thấy “khu vực kinh tế không chính quy đã góp phần không nhỏ, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ cho xã hội, trong đó đáp ứng nhu cầu cho phần lớn cho những người nghèo Không chỉ có chức năng cung ứng sản phẩm - dịch vụ, kinh
tế không chính quy còn đóng vai trò bổ sung, thay thế cho khu vực kinh tế chính thức trong một số lĩnh vực hoạt động”
4 “Khu vực không chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh”, năm 1997, chủ
nhiệm đề tài là nhà nghiên cứu Lê Văn Thành, tổng hợp những nhận thức về khu vực kinh tế này ở TP.HCM, các đặc điểm nhận dạng khu vực kinh tế phi chính thức và đánh giá sự can thiệp của Nhà nước thông qua các chính sách kinh tế và công tác quản lý Đề tài đã tiến hành tổng hợp 4 đề tài nghiên cứu do Viện Kinh tế tiến hành Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, thu thập ý kiến chuyên gia, phương pháp quan sát Đề tài đi sâu vào hoạt động kinh tế của người lao động khu vực kinh tế này chứ không đi vào khía cạnh an sinh xã hội cho họ
5 Những vấn đề an sinh xã hội của nhóm dân cƣ lao động trong khu vực kinh
tế phi chính thức ở đô thị, tạp chí Xã hội học số 1 (97),2007 tr 76-84 Nhà nghiên cứu Đỗ Minh Khuê và cộng sự thực hiện tại Hà Nội năm 2007 dùng
11 Bạch Văn Bảy (1994), Đề tài “Khu vực Không Chính thức tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Viện Kinh tế
TP.HCM (IER) tr 37 - 42
Trang 40phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Về nội dung, công trình nghiên cứu đi sâu vào những vấn đề an sinh xã hội của nhóm dân cư lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức Kết quả nghiên cứu cho thấy người lao động trong khu vực phi chính thức tại đô thị ít quan tâm đến các dịch vụ bảo hiểm, sự hiểu biết và khả năng tham gia bảo hiểm còn hạn chế Nghiên cứu này lấy hộ gia đình làm đơn
vị phân tích Nghiên cứu của chúng tôi lấy đơn vị phân tích chính là cá nhân người lao động Về phạm vi không gian, đề tài của chúng tôi tiến hành tại TP Hồ Chí Minh
6 Trần Hữu Quang, Hệ thống phúc lợi ở Tp.HCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội“ (Bản phúc trình tổng kết đề tài nghiên cứu), Tp.HCM- 2009: mô tả, đánh giá hiện trạng của ba tiểu hệ thống phúc lợi mang tính chất thiết
yếu và đụng chạm đến cuộc sống hàng ngày của các hộ dân, đó là giáo dục, y tế và nhà ở 12
Công trình nghiên cứu đã nhận diện các xu hướng của phúc lợi XH của TP.HCM như: xu hướng hàng hóa hóa các dịch vụ phúc lợi cơ bản; xu hướng chuyển gánh nặng chi phí từ Nhà nước sang người dân; bất bình đẳng trong việc cung ứng và hưởng thụ các lợi ích phúc lợi: tính chất thiên vị cho những tầng lớp trung lưu và khá giả, và thiệt thòi đối với những tầng lớp nghèo
Đề tài này quan tâm đến mô tả đánh giá hiện trạng 3 tiểu hệ thống giáo dục, y tế, nhà ở trong hệ thống phúc lợi XH ở TP.HCM, hoạt động, mức độ hưởng dụng của các tầng lớp dân cư trong ba lĩnh vực trên Đề tài của chúng tôi quan tâm hẹp hơn,
đó là ASXH và chủ yếu là cho người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức tại thành phố Hồ Chí Minh, sự hiểu biết và sử dụng các dịch vụ ASXH của
họ trong khu vực kinh tế này
7 Đồng Quốc Đạt “Bảo hiểm xã hội khu vực phi chính thức ở Việt Nam: thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Kinh tế và Dự Báo, số 15/2008, Tr 35-36 Tác giả
đưa ra nhận định số người chưa có điều kiện tham gia thị trường bảo hiểm còn rất
12 Trần Hữu Quang, Hệ thống phúc lợi ở Tp.HCM với mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội“ (Bản phúc trình tổng kết đề tài nghiên cứu), Tp.HCM-2009