Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đo lường năng suất đa nhân tố Total Factor Productivity – TFP để đánh giá hiệu quả kinh tế của các phân ngành cấp 3 thuộc 6 ngành công nghiệp của thành
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO NGHIỆM THU
(Đã chỉnh sửa theo góp ý của Hội đồng nghiệm thu) ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT ĐA NHÂN TỐ (MFP) CỦA MỘT SỐ NGÀNH CÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI
ĐOẠN 2000 - 2010
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
(Ký tên)
CƠ QUAN QUẢN LÝ CƠ QUAN CHỦ TRÌ
(Ký tên/đóng dấu xác nhận) (Ký tên/đóng dấu xác nhận)
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÁNG 10/2014
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA
Trang 3TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, chủ trương của Nhà Nước là phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp Việc xây dựng một hệ thống tiêu chí phù hợp
để xác định các phân ngành và loại hình doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế cao là cần thiết Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đo lường năng suất đa nhân tố (Total Factor Productivity – TFP) để đánh giá hiệu quả kinh tế của các phân ngành cấp 3 thuộc 6 ngành công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2000-2009 Kết quả nghiên cứu đã khẳng định được một số yếu tố ảnh hưởng tích cực đến TFP như trình độ và kỹ năng của người lao động, lợi thế cạnh tranh của ngành, hiệu quả sử dụng tài sản, tỷ trọng Giá trị gia tăng (GTGT) trong doanh thu, mức độ thu hút nhà đầu tư nước ngoài, và mức động quan tâm đến môi trường Các yếu tố có tác động tiêu cực đến TFP là mức độ tập trung của ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tiêu chí năng suất TFP giúp đánh giá hiệu quả của các ngành tốt hơn các tiêu chí đơn nhân tố như năng suất vốn, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư ROE, ROA, và thu nhập bình quân người lao động Tuy nhiên, kết quả phân tích dữ liệu trong 10 năm cho thấy không có mối liên hệ giữa năng suất TFP và tăng trưởng của ngành Điều này khẳng định chúng ta phải kết hợp phân tích hiệu quả của ngành với tốc độ tăng trưởng của ngành khi lựa chọn ngành công nghiệp mũi nhọn Nghiên cứu đã
áp dụng khung phân tích này để đánh giá một số ngành cấp 3 tiêu biểu Những ngành có năng suất cao là chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa (mã ngành 105), sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế (mã ngành 192), sản xuất sản phẩm thuốc lá (mã ngành 120), Sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng (mã 264) ,…Lĩnh vực có năng suất TFP thấp nhất là các phân ngành của dệt may (mã ngành 13 và 14) Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng đã tìm thấy nhiều sự khác biệt lớn trong trong nội bộ một số ngành công nghiệp Ví dụ, ngành sản xuất sản phẩm điện tử dân dụng (mã 264) có năng suất TFP thuộc nhóm cao nhất trong khi các ngành 265 (Sản xuất thiết bị đo lường, kiểm tra, định hướng và điều khiển; sản xuất đồng hồ) lại thuộc nhóm có năng suất TFP thấp nhất
Kết quả của nghiên cứu sẽ tạo cơ sở cho các cơ quan quản lý Nhà Nước hoạch định chính sách phát triển công nghiệp cho thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4ABSTRACT
According to the social economic development strategy for the period 2011 – 2020, Vietnamese Government advocates the strong industrial developments through modernization, product quality improvement, and firm competitiveness enhancement to create the foundation for an industrialized nation It is necessary to have an appropriate framework to assess and prioritize the development of the most productive industries This study employs Multifactor Productivity (MFP) in evaluating the economic productivity of the 3-digit VSIC industries belonging to the six major industries in Ho Chi Minh City during the period 2000 – 2009 It is found that some factors significantly influence the MFP index The positive influence factors are labor skills and education, industry’s competitiveness, efficiency of asset utilization, the ratio of Value – Added to revenue, foreign investors’ attractiveness, and the environmental management systems The negative influence factors are the industry concentration and income tax per value added
This study has also shown that MFP provides a better measure of industry’s value-added performance than other measures like capital productivity, labor productivity, return on equity (ROE), return on assets (ROA), average labor compensation However, no relationship
is found between the industries’ MFP and long-term growth rate This implies that we need to consider both MFP and long-term growth rate when prioritizing the industries Based on the MFP framework, this study assesses some typical 3-digit VSIC industries The most productive industries include 105 (Manufacture of dairy products), 192 (Manufacture of refined petroleum products), 120 (Manufacture of tobacco products), and 264 (Manufacture
of consumer electronics) The least productive industries include 13 (Manufacture of textiles) and 14 (Manufacture of wearing apparel) However, significant differences exist within the same industries For instance, while 264 (Manufacture of consumer electronics) belongs to the list of the top MFP industries, its neighbor 265 (Manufacture of measuring, testing, navigating and control equipment, watches and clocks) belongs to list of bottom MFP industries This implies that we have to consider the industry boundary carefully when assessing its attractiveness
The results in this study will be helpful for the government’s planning organizations in building strategies to develop Ho Chi Minh City
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT i
Abstract ivii
MỤC LỤC viii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viiivi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ xviii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT xiiixi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: GIỚI THIỆU 2
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 3
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 4
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 6
1.4 Đối tượng nghiên cứu 7
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
1.6 Phạm vi nghiên cứu 8
1.7 Phương pháp nghiên cứu 8
1.8 Ý nghĩa và tính mới của đề tài 8
1.9 Kết cấu của đề tài 8
CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG NĂNG SUẤT 11
2.1 Giá trị gia tăng 12
2.2 Khái niệm năng suất 13
2.3 Một số cách tính năng suất phổ biến 16
Trang 62.4 Các nghiên cứu liên quan đến năng suất đa nhân tố 21
CHƯƠNG 3: THU THẬP VÀ XỬ LÝ DỮ LIỆU 22
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TÍNH TOÁN TFP 27
4.1 Phương pháp nghiên cứu 28
4.2 Cơ sở lý thuyết của phân tích dữ liệu bảng (panel data analysis) 29
4.3 Tính toán dữ liệu đầu vào của TFP 31
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ TFP CỦA SÁU NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA TP.HCM 36
CHƯƠNG 5: TỔNG QUAN VỀ SÁU NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA TP.HCM 37
5.1 Phân loại các phân ngành 38
5.2 Đặc điểm chung 43
5.3 Đánh giá các chỉ số tổng hợp của 6 ngành 53
CHƯƠNG 6: THAY ĐỔI CƠ CẤU KINH TẾ TẠI SÁU NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA TP.HCM 60
6.1 NGÀNH THỰC PHẨM ĐỒ UỐNG 61
6.2 NGÀNH DỆT MAY 70
6.3 NGÀNH HÓA CHẤT 78
6.4 NGÀNH VẬT LIỆU XÂY DỰNG 90
6.5 NGÀNH ĐIỆN TỬ 99
6.6 NGÀNH CƠ KHÍ 107
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 116
CHƯƠNG 7: CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG LÊN TFP CỦA CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP TẠI THANH PHỐ HỒ CHÍ MINH 117
CHƯƠNG 8: KHUNG PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ NGÀNH 126
8.1 Đánh giá hiệu quả lựa chọn ngành theo tiêu chí năng suất TFP 127
8.2 Mối tương quan giữa năng suất TFP và tăng trưởng ngành 131
Trang 78.3 Năng suất TFP của các phân ngành hẹp 135
PHẦN IV: KẾT LUẬN 138
KẾT LUẬN 139
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 156
HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 157
TÀI LIỆU THAM KHẢO 158
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1: Tổng quan một số cách tính năng suất phổ biến 15
Bảng 3-1: Số quan sát qua từng năm 24
Bảng 3-2: Số quan sát hợp lệ trong từng ngành công nghiệp, 2000 - 2009 26
Bảng 3-3: So sánh Mẫu phân tích (Mẫu 1) với mẫu dữ liệu gốc (Mẫu 0) 26
Bảng 4-1: Phân ngành cấp 2 của 6 ngành công nghiệp 28
Bảng 5-1: Phân loại các phân ngành cấp 2 của ngành thực phẩm đồ uống 38
Bảng 5-2: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành thực phẩm đồ uống 38
Bảng 5-3: Phân loại các phân ngành cấp 2 của ngành dệt may 39
Bảng 5-4: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành dệt may 39
Bảng 5-5: Phân loại các phân ngành cấp 2 của ngành hóa chất 39
Bảng 5-6: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành hóa chất 40
Bảng 5-7: Phân loại các phân ngành cấp 2 của ngành vật liệu xây dựng 40
Bảng 5-8: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành vật liệu xây dựng 40
Bảng 5-9: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành điện tử 41
Bảng 5-10: Phân loại các phân ngành cấp 2 của ngành cơ khí 41
Bảng 5-11: Phân loại các phân ngành cấp 3 của ngành điện tử 42
Bảng 5-12: Thay đổi số lượng doanh nghiệp trong các ngành trong giai đoạn 2000-2009 43
Bảng 5-13: Mức độ tập trung của các ngành - HHI (Herfindahl–Hirschman Index) 45
Bảng 5-14: Qui mô vốn của các ngành giai đoạn 2000-2009 (tỷ VND) 46
Bảng 5-15: Qui mô lao động trong các ngành (1.000 người) 48
Bảng 5-16: Lương bình quân đầu người (triệu đồng/người/năm) 50
Bảng 6-1: Sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến TFP của phân ngành thực phẩm đồ uống 66
Trang 9Bảng 6-2: Sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến TFP của phân ngành dệt may 76
Bảng 6-3: Sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến TFP của phân ngành hóa chất 85
Bảng 6-4: Sự thay đổi của các yếu tố có ảnh hưởng đến TFP của phân ngành vật liệu xây dựng 96
Bảng 6-5: Sự thay đổi từ giai đoạn 00-04 sang giai đoạn 05-09 của một số nhân tố ảnh hưởng đến TFP của ngành điện tử 104
Bảng 6-6: Sự thay đổi từ giai đoạn 00-04 sang giai đoạn 05-09 của một số nhân tố ảnh hưởng đến TFP của ngành cơ khí 112
Bảng 7-1: số lượng công ty trong các phân ngành cấp 3 122
Bảng 7-2: Mô tả thống kê các phân ngành cấp 3 123
Bảng 7-3: Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất TFP 125
Bảng 8-1: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí TFP (2000-09) 128
Bảng 8-2: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí năng suất vốn (2000-09) 129
Bảng 8-3: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí năng suất lao động (2000-09) 130
Bảng 8-4: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí ROE (2000-09) 130
Bảng 8-5: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí thu nhập bình quân của người lao động (2000-09) 131
Bảng 8-6: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí tăng trưởng của giá trị gia tăng (2000-09) 132
Bảng 8-7: Phân loại ngành cấp 3 theo tiêu chí tăng trưởng của giá trị doanh thu (2000-09) 132 Bảng 8-8: Các ngành cấp 3 có tốc độ tăng trưởng của giá trị doanh thu (2000-09) 133
Bảng 8-9: Hệ số tương quan giữa năng suất TFP và tốc độ tăng trưởng (2000-09) 134
Bảng 8-10: Số lượng các ngành có số quan sát ít, 2000 -09 135
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2-1: Đồ thị Năng suất Vốn và Lao động (VKL) 18
Hình 5-1: Giá trị gia tăng của 6 ngành trong giai đoạn 2000-2009 (Đvt: tỷ VND tại giá 1/1/2000) 54
Hình 5-2: Thay đổi của các thành phần lương, thuế, khấu hao và lợi nhuận trong thay đổi GTGT 55
Hình 5-3: Phần trăm thay đổi của các thành phần lương, thuế, khấu hao và lợi nhuận trong GTGT 56
Hình 5-4: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong 6 ngành giai đoạn 00-04 và 05-09 57
Hình 6-1: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành thực phẩm đồ uống 61
Hình 6-2: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L) của ngành thực phẩm đồ uống 62
Hình 6-3: Giá trị gia tăng trên đồng tài sản (VA/Sale) của ngành thực phẩm đồ uống 63
Hình 6-4: Tỉ trọng vốn trên lao động (K/L) của ngành thực phẩm đồ uống 63
Hình 6-5: Thay đổi năng suât vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng của ngành thực phẩm đồ uống giai đoạn 00-04 và 05-09 64
Hình 6-6: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong phân ngành cấp 3 của ngành thực phẩm đồ uống giai đoạn 00-04 và 05-09 65
Hình 6-7: Tăng trưởng TFP và GTGT trong phân ngành thực phẩm đồ uống giai đoạn 00-04 và 05-09 69
Hình 6-8: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành dệt may 70
Hình 6-9: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L) của ngành dệt may 71
Hình 6-10: Giá trị gia tăng trên đồng tài sản (VA/Sale) của ngành dệt may 72
Hình 6-11: Tỷ trọng vốn trên lao động (K/L) của ngành dệt may 73
Hình 6-12: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng của ngành dệt may giai đoạn 00-04 và 05-09 74
Trang 11Hình 6-13: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong phân ngành
cấp 3 của ngành dệt may giai đoạn 00-04 và 05-09 75
Hình 6-14: Tăng trưởng TFP và GTGT trong phân ngành dệt may giai đoạn 00-04 và 05-09 78
Hình 6-15: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành hóa chất 79
Hình 6-16: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L)của ngành hóa chất 80
Hình 6-17: Giá trị gia tăng trên đồng doanh thu (VA/Sale) của ngành hóa chất 81
Hình 6-18: Tỷ trọng vốn trên lao động (K/L)của ngành hóa chất 82
Hình 6-19: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng của ngành hóa chất giai đoạn 00-04 và 05-09 83
Hình 6-20: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong phân ngành cấp 3 của ngành hóa chất giai đoạn 00-04 và 05-09 84
Hình 6-21: Tăng trưởng TFP và GTGT trong phân ngành hóa chất giai đoạn 00-04 và 05-09 87
Hình 6-22: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành vật liệu xây dựng 90
Hình 6-23: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L)của ngành vật liệu xây dựng 91
Hình 6-24: Giá trị gia tăng trên đồng doanh thu (VA/Sale) của ngành vật liệu xây dựng 92
Hình 6-25: Tỷ trọng vốn trên lao động (K/L)của ngành vật liệu xây dựng 93
Hình 6-26: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng của ngành vật liệu xây dựng giai đoạn 00-04 và 05-09 94
Hình 6-27: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong phân ngành cấp 3 của ngành vật liệu xây dựng giai đoạn 00-04 và 05-09 95
Hình 6-28: Tăng trưởng TFP và GTGT trong phân ngành vật liệu xây dựng giai đoạn 00-04 và 05-09 97
Hình 6-29: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành điện tử 99
Hình 6-30: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L) của ngành điện tử 100
Hình 6-31: Giá trị gia tăng trên đồng doanh thu (VA/Sale) của ngành điện tử 101
Hình 6-32: Tỷ trọng vốn trên lao động (K/L) của ngành điện tử 102
Trang 12Hình 6-33: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng trong phân ngành
cấp 3 của ngành điện tử giai đoạn 00-04 và 05-09 103
Hình 6-34: Tăng trưởng năng suất TFP và GTGT trong phân ngành Điện tử giai đoạn 00-04 và 05-09 106
Hình 6-35: Thay đổi của giá trị gia tăng (VA) trong ngành cơ khí 108
Hình 6-36: Hiệu quả năng suất lao động (VA/L) của ngành cơ khí 109
Hình 6-37: Giá trị gia tăng trên đồng doanh thu (VA/Sale) của ngành cơ khí 109
Hình 6-38: Tỷ trọng vốn trên lao động (K/L) của ngành cơ khí 110
Hình 6-39: Thay đổi năng suất vốn, năng suất lao động và giá trị gia tăng của ngành cơ khí giai đoạn 00-04 và 05-09 111
Hình 6-40: Tăng trưởng TFP và GTGT trong phân ngành cơ khí giai đoạn 00-04 và 05-09 115 Hình 8-1: Tương quan giữa năng suất TFP và tốc độ tăng trưởng GTGT (2000-2009) 134
Hình 8-2: Năng suất TFP của các ngành cấp 3 thuộc sáu ngành công nghiệp, 2000-09 136
Hình 1: Năng suất lao động và năng suất vốn trung bình trong giai đoạn 2000 – 2009 (tính theo giá 1/1/2000) 141
Hình 2: Năng suất tổng hợp TFP và tỉ trọng GTGT của 6 ngành công nghiệp trung bình giai đoạn 2000-2009 143
Hình 5: TFP và qui mô GTGT trung bình giai đoạn 2000 – 2009 146
Trang 13GBV Nguyên giá tài sản cố định hữu hình
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
GTGT Giá trị gia tăng
TFP Năng suất đa nhân tố (Multifactor productivity)
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for Economic Cooperation
and Development)
OLS Mô hình hồi qui tuyến tính (Ordinary Least Square)
VA Giá trị gia tăng (Value Added)
TFP Năng suất tổng hợp
TPDU Thực phẩm đồ uống
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 152
PHẦN I: GIỚI THIỆU
Trang 16CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
Trang 174
Chương này giới thiệu lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa và lợi ích nghiên cứu của đề tài
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định số 53/2008/QĐ-BCT của Bộ Công thương về phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp áp dụng công nghệ cao đến năm 2020 đã nêu rõ cần tập trung đầu tư áp dụng công nghệ cao vào một số ngành công nghiệp ưu tiên, mũi nhọn và có vai trò nền tảng thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Đó phải là các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao và có xu hướng phát triển mạnh trong tương lai Bộ Công thương đã chỉ ra sáu ngành kinh tế mũi nhọn, bao gồm: (1) điện tử, (2) cơ khí, (3) luyện kim, (4) hóa chất, (5) chế biến thực phẩm và (6) năng lượng Quyết định số 164/2006/QĐ-UBND của UBND Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định một trong những nhiệm vụ của Thành phố là phải thúc đẩy lĩnh vực công nghiệp chuyển dịch theo hướng ưu tiên phát triển các ngành công nghệ kỹ thuật có năng suất lao động, giá trị gia tăng cao và có lợi thế cạnh tranh, cụ thể là bốn ngành công nghiệp sau đây: (1) cơ khí, (2) điện tử, (3) hóa chất và (4) chế biến tinh lương thực thực phẩm
Từ trước đến nay, đa số các nghiên cứu tại Việt Nam vẫn dựa trên tiêu chí lợi nhuận hoặc doanh thu để chọn ra nhóm ngành chủ yếu trong các lĩnh vực công nghiệp ưu tiên Một trong những lý do chính là phương pháp này dễ tính toán và dễ thu thập số liệu Tuy nhiên, các phương pháp này đều có hạn chế Doanh thu không phải thước đo hiệu quả vì không tính đến các chi phí đầu vào Lợi nhuận chỉ phản ánh được hiệu quả đối với chủ doanh nghiệp, mà không phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh tế của cả xã hội, bỏ quả ảnh hưởng đến thu nhập người lao động cũng như đóng góp đối với ngân sách nhà nước Để đánh giá hiệu quả của ngành, nhiều nghiên cứu trên thế giới sử dụng giá trị gia tăng thay vì lợi nhuận hay doanh thu Bên cạnh đó, để tính hiệu quả thì chúng ta cần phải cân nhắc cả đầu ra lẫn đầu vào Vì vậy, nghiên cứu này đề xuất sử dụng năng suất tổng hợp TFP (Total Factor Productivity) hay còn gọi là MFP làm thước đo cho hiệu quả của ngành Cũng cần phải nhấn mạnh rằng năng suất TFP chỉ là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế theo góc độ hiệu quả kinh tế - xã hội Cụ thể, nghiên cứu này sẽ đo lường và đánh giá năng suất TFP của sáu ngành công nghiệp chủ yếu của Thành phố trong giai đoạn 2000 – 2010
Phương pháp năng suất TFP ưu thế hơn phương pháp lợi nhuận ở chỗ:
Trang 18(1) Đánh giá được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn và có thể so sánh hiệu quả giữa các doanh nghiệp với nhau Hơn nữa, năng suất có mối liên hệ với tỉ suất lợi nhuận Năng suất tăng không nhất thiết làm lợi nhuận tăng trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn năng suất cao sẽ làm lợi nhuận tăng
(2) Đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao hay thấp Với các doanh nghiệp, yếu tố cạnh tranh thường liên quan tới cơ sở hạ tầng, công nghệ, lao động, vốn, thị trường, kỹ năng quản lý Mức độ ưu thế của từng yếu tố và sự kết hợp của các yếu tố
ấy là cơ sở tạo nên sức cạnh tranh cao hay thấp Năng suất TFP chính là chỉ tiêu cho thấy một doanh nghiệp đã kết hợp các yếu tố đầu vào hiệu quả như thế nào để tạo ra giá trị gia tăng cho mình
(3) Đánh giá được vai trò, tiềm lực và khả năng cạnh tranh của ngành kinh tế
Do đó, bài nghiên cứu đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau đây:
(1) Làm thế nào để ứng dụng phương pháp xác định năng suất TFP cho các phân ngành thuộc sáu ngành công nghiệp của Thành phố?
(2) Các phân ngành nào có năng suất TFP cao (thấp)?
(3) Các yếu tố nào có ảnh hưởng đáng kể đến năng suất TFP của các phân ngành kinh tế?
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong các nghiên cứu về năng suất, đa phần các tác giả đánh giá năng suất ở cấp độ quốc gia, ngành hoặc ở cấp độ doanh nghiệp Tipper (2011) sử dụng mô hình Cobb-Douglas đánh giá năng suất ở cấp độ ngành cho 20 ngành công nghiệp của New Zealand Zheng (2005) ứng dụng phương pháp tính năng suất đa nhân tố (Multi Factor Productivity – TFP) dựa trên tổng sản lượng và giá trị gia tăng để đo lường năng suất cho 12 ngành công nghiệp ở Úc Lierberman & Kang (2008) đề xuất phương pháp tính TFP dựa trên giá trị gia tăng ở cấp độ công ty- ứng dụng tại công ty thép Pohang, Hàn Quốc Gupta & Dey (2011) phát triển mô hình đo đạc năng suất cho ngành công nghiệp sản xuất trà- ứng dụng tại trang trại trà Rosekandi, Ấn Độ
Tại Việt Nam, việc tính toán năng suất theo các phương pháp mới ở nước ta còn hạn chế Phan (1998) giới thiệu một số vấn đề lý luận và cách tiếp cận mới về năng suất, đồng thời nêu lên những kinh nghiệm của nước ngoài và phương pháp tính năng suất theo cách tiếp cận mới
ở Việt Nam Nội dung nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống kê lại phương pháp tính năng suất, chưa ứng dụng tính toán năng suất tại Việt Nam Năm 2004, Tổng cục Thống kê thực
Trang 196
hiện nghiên cứu tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991-2003 (Khiên và cộng sự, 2004), nghiên cứu trình bày một số vấn đề chung về năng suất, các hình thức biểu hiện và thực tế tính toán các chỉ tiêu năng suất ở Việt Nam, phân tích năng suất các nhân tố tổng hợp và phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nghiên cứu tính toán tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp của công nghiệp Việt Nam và trong toàn nền kinh tế quốc dân Việt Nam Từ năm 2006, Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiên cứu tính toán và xây dựng hệ thống chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp TFP (Tâm và cộng sự, 2009),
đã ứng dụng tính toán năng suất tổng hợp ở cấp độ doanh nghiệp, nhưng mẫu rất ít, chỉ khoảng 20 doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên kết quả không mang tính đại diện cho toàn ngành Như vậy, khái niệm năng suất đã được nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam từ rất lâu Tuy nhiên, việc ứng dụng hệ thống chỉ tiêu đo lường năng suất, cụ thể là năng suất đa nhân tố (TFP) ở các doanh nghiệp có quy mô lớn và ở ngành công nghiệp chủ yếu theo như các tài liệu mà tác giả thu thập được thì vẫn chưa có ai nghiên cứu ở Việt Nam
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Bằng cách ứng dụng phương pháp đo lường năng suất TFP dựa trên giá trị gia tăng, nghiên cứu này tạo ra cơ sở xác định các phân ngành có hiệu quả kinh tế cao trong một số ngành công nghiệp chủ yếu của Thành phố trong giai đoạn 2000 - 2010 Kết quả của nghiên cứu sẽ giúp các cơ quan quản lý nhà nước hoạch định các chính sách phát triển công nghiệp cho thành phố Hồ Chí Minh
Cụ thể mục tiêu trên được thể hiện bằng các câu hỏi nghiên cứu sau:
1 Làm thế nào để đo năng suất tổng hợp TFP của một ngành công nghiệp?
2 Các ngành có hiệu quả như thế nào khi được xem xét dưới các khía cạnh khác nhau? (các khía cạnh này bao gồm: hiệu quả về mặt kinh doanh, đóng góp thuế cho ngân sách, tăng trưởng vốn, lao động, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập cho người lao động)
3 Đặc điểm của các ngành thay đổi như thế nào trong thời kỳ nghiên cứu? (các đặc điểm này bao gồm: đóng góp của lao động, vốn, năng suất vào giá trị gia tăng; thay đổi năng suất lao động, tỷ lệ đóng góp của giá trị gia tăng trong doanh thu )
Trang 204 Yếu tố nào tác động lên TFP? (trong bài nghiên cứu này không xác định được ảnh hưởng của trình độ công nghệ lên TFP do bộ dữ liệu cung cấp từ Cục Thống kê không đầy đủ)
5 TFP tương quan với các thước đo hiệu quả khác như thế nào? (các thước đo này bao gồm: năng suất vốn, năng suất lao động, Lợi nhuận biên, doanh thu trên Tổng tài sản, suất sinh lợi trên tài sản, Suất sinh lợi trên vốn cổ đông, bình quân thu nhập năm, tốc
độ tăng trưởng GTGT giữa 2 giai đoạn 2000-04 và 2005-09, tốc độ tăng trưởng doanh thu giữa 2 giai đoạn 2000-04 và 2005-09)
6 Việc xây dựng chiến lược phát triển ngành nên thực hiện ở cấp độ phân ngành nào? (ở mức độ rộng là ngành cấp 1, hoặc ở mức độ sâu là ngành cấp 5)
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá năng suất TFP của sáu ngành công nghiệp chủ yếu của Thành phố bao gồm cơ khí chế tạo, điện tử viễn thông, hóa chất, thực phẩm đồ uống, vật liệu xây dựng, dệt may
1.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xác định năng suất TFP của sáu ngành công nghiệp chủ yếu của Thành phố, bao gồm:
cơ khí chế tạo, điện tử viễn thông, hóa chất, thực phẩm đồ uống, vật liệu xây dựng, dệt may Trong đó, đối với ngành cơ khí chế tạo, đề tài sẽ nghiên cứu các phân ngành
25, 27, 28, 29, 30, 33 Đối với ngành điện tử viễn thông, sẽ nghiên cứu phân ngành
26 Đối với ngành hóa chất, sẽ nghiên cứu phân ngành 192, 20, 21, 22, 23 Đối với ngành thực phẩm đồ uống, sẽ nghiên cứu các phân ngành 10, 11, 12 Đối với ngành vật liệu xây dựng, sẽ nghiên cứu phân ngành 23 Đối với ngành dệt may, sẽ nghiên cứu các phân ngành 13 và 14
Đánh giá năng suất TFP của sáu ngành công nghiệp nêu trên
Đánh giá sự tác động của các nhân tố lên năng suất TFP của các phân ngành cấp 3 thuộc sáu ngành công nghiệp của thành phố Hồ Chí Minh
Xem xét việc dịch chuyển cơ cấu thành phần của TFP tại sáu ngành công nghiệp chủ yếu của thành phố
Đề xuất các kiến nghị về năng suất và một số giải pháp phát triển sáu ngành công nghiệp chủ yếu dựa trên phân tích kết quả TFP
Trang 218
1.6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các công ty thuộc một số ngành công nghiệp chủ yếu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh như: cơ khí chế tạo, điện tử viễn thông, hóa chất, và thực phẩm đồ uống Ngoài ra nghiên cứu này còn chọn thêm hai ngành là dệt may và vật liệu xây dựng để làm ngành phân tích đối chứng Nghiên cứu dự định thu thập dữ liệu thống kê trong giai đoạn
2000 – 2010; tuy nhiên dữ liệu năm 2010 không thu thập được nên nghiên cứu này chỉ giới hạn phân tích trong giai đoạn 2000 – 2009
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích định lượng kết hợp với phỏng vấn chuyên gia để đánh giá năng suất TFP của các ngành cấp 1 và ngành cấp 3 thuộc sáu ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh bao gồm: Thực phẩm & Đồ uống, Dệt may, Hóa chất, Vật liệu xây dựng, Điện tử và Cơ khí
1.8 Ý nghĩa và tính mới của đề tài
Làm sáng tỏ sự đóng góp của sáu ngành công nghiệp đối với phát triển kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh
Xác định cụ thể các phân ngành trong sáu ngành công nghiệp có hiệu quả cao dựa trên tiêu chí năng suất TFP
Làm cơ sở để giúp các nhà hoạch định chiến lược định hướng phát triển các ngành công nghiệp tại TP HCM
Đề tài này sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo như mở rộng việc đánh giá năng suất của tất cả các ngành kinh tế, từ đó có cơ sở khoa học để xác định các ngành công nghiệp chủ yếu của Thành phố nói riêng và cả nước nói chung dựa trên tiêu chí năng suất đa nhân tố TFP
1.9 Kết cấu của đề tài
Đề tài được chia thành 4 phần theo thứ tự như sau:
PHẦN I: GIỚI THIỆU
Chương 1: Giới thiệu
Trang 22Chương này giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, khách thể và phạm
vi nghiên cứu, ý nghĩa và tính mới của đề tài
Chương 2: Các phương pháp đo lường năng suất
Chương này tóm tắt các cơ sở lý thuyết liên quan đến khái niệm giá trị gia tăng, năng suất, đo lường năng suất lao động, năng suất vốn, tác động qua lại giữa hai năng suất này, năng suất tổng hợp TFP, và một số khái niệm kinh tế lượng liên quan đến mô hình hồi qui năng động GMM sai phân bậc nhất của Arellano-Bond
Chương 3: Thu thập và xử lý dữ liệu
Chương này mô tả cách thức thu thập và xử lý dữ liệu thống kê, cách hiệu chỉnh ảnh hưởng của lạm phát đối với đầu vào tính toán của năng suất TFP, cách phân tích và xử lý dữ liệu bảng (panel data)
Chương 4: Phương pháp nghiên cứu và tính toán TFP
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, cơ sở lý thuyết của phân tích dữ liệu bảng, cách tính toán dữ liệu đầu vào của TFP như đo lường vốn thực, đo lường giá trị gia tăng thực, tính toán năng suất TFP, chỉ số HHI và các thước đo khác
PHẦN II: ĐÁNH GIÁ TFP CỦA SÁU NGÀNH CÔNG NGHIỆP CHỦ YẾU CỦA TP.HCM
Chương 5: Tổng quan về sáu ngành công nghiệp chủ yếu của tp.hcm
Nội dung chủ yếu của chương này là đánh giá đặc điểm chung và hiệu quả hoạt động của các ngành thực phẩm đồ uống, dệt may, hóa chất, vật liệu xây dựng, điện tử, cơ khí
Chương 6: Thay đổi cơ cấu kinh tế của sáu ngành công nghiệp chủ yếu của TPHCM
Nội dung chủ yếu của chương này là tập trung vào phân tích thay đổi giá trị gia tăng, năng suất lao động, năng suất vốn, tỷ lệ đóng góp của giá trị gia tăng trong doanh thu
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Chương 7: Các nhân tố tác động lên TFP của các ngành công nghiệp tại TPHCM
Trang 2310
Chương này sẽ phát triển các giả thuyết liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng năng suất TFP, các kiểm định tính ổn định, và phân tích phương trình hồi qui GMM của Arellano – Bond
Chương 8: Khung phân tích hiệu quả ngành
Nội dung chủ yếu là đánh giá hiệu quả của tiêu chí năng suất TFP trong việc lựa chọn ngành
so với các tiêu chí đơn nhân tố như năng suất vốn, năng suất lao động, hiệu quả đầu tư ROE, ROA, và thu nhập bình quân người lao động Chương này sẽ xây dựng khung phân tích đánh giá lựa chọn ngành dựa trên dữ liệu thống kê
PHẦN IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Hướng nghiên cứu tiếp theo
Phần này đặt ra các vấn đề còn hạn chế của đề tài cũng như các khuyến nghị tiếp theo trong quá trình thực hiện nghiên cứu giúp đóng góp vào việc chọn lựa ưu tiên phát triển kinh tế cho thành phố cũng như việc phát triển tri thức quản lý kinh tế nói chung
Trang 24CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO
LƯỜNG NĂNG SUẤT
Trang 2512
Chương này trình bày các khái niệm về Giá trị gia tăng (GTGT), năng suất, một số cách tính năng suất phổ biến, và mô hình đo lường năng suất đa nhân tố (MultiFactor Productivity, TFP) dựa trên hàm sản xuất Cobb-Douglas
2.1 Giá trị gia tăng
Giá trị gia tăng thể hiện sự đóng góp của những yếu tố đầu vào như lao động và vốn vào việc tăng giá trị sản phẩm và thu nhập cho doanh nghiệp sở hữu các đầu vào đó Giá trị gia tăng phản ánh việc sử dụng hiệu quả các tài sản của doanh nghiệp, đặc biệt là kiến thức và kỹ năng của người lao động và người quản lý trong việc biến nguyên vật liệu thô thành sản phẩm cung cấp cho khách hàng
Công thức tính giá trị gia tăng (Value-added VA):
Giá trị gia tăng bằng doanh thu trừ đi chi phí mua nguyên vật liệu và dịch vụ phục vụ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp (Lieberman & Kang, 2008), hay nói cách khác, đó chính là chênh lệch giữa tổng đầu ra với nguyên vật liệu và dịch vụ mua vào Như vậy, giá trị gia tăng
có thể được tăng lên nhờ việc nâng cao giá trị cho khách hàng (tăng doanh thu) hoặc nhờ giảm chi phí và lãng phí
VA = Doanh thu – Chi phí mua nguyên vật liệu và dịch vụ (3.13)
Ngoài ra giá trị gia tăng còn có thể được tính bằng phương pháp thu nhập, theo đó VA là tổng của thu nhập của người lao động, khấu hao tài sản cố định, lợi nhuận và thuế:
VA = Thu nhập của người lao động + Khấu hao tài sản cố định + Lợi nhuận hoạt động + Thuế(3.14)
- Thu nhập của người lao động: tổng các khoản mà doanh nghiệp phải thanh toán cho người lao động bao gồm lương, thưởng, tiền trích hiểm xã hội và bảo hiểm y tế mà doanh nghiệp phải nộp cho người lao động, các khoản phụ cấp
- Khấu hao tài sản cố định: là toàn bộ giá trị khấu hao tài sản cố định đã trích trong kỳ
- Lợi nhuận: được xem là lợi nhuận phát sinh từ các hoạt động của doanh nghiệp, nghĩa là tổng lợi nhuận của doanh nghiệp trừ đi chi phí từ đầu tư, lãi (lỗ) từ việc bán tài sản cố định, Lợi nhuận được xác định là lợi nhuận trước khi trả lãi suất và thuế
- Thuế: gồm thuế phát sinh do kết quả tiêu thụ sản phẩm như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, ngoài ra còn bao gồm khoản thuế và lệ phí phải nộp khác
Trang 26Về lý thuyết, cả hai phương pháp này đều cho ta cùng một kết quả Tuy nhiên trong báo cáo thống kê, các doanh nghiệp không báo cáo chi tiết về các chi phí mua nguyên vật liệu và dịch
vụ phục vụ cho quá trình sản xuất, nên nghiên cứu này sẽ sử dụng phương pháp thu nhập để tính giá trị gia tăng1 Hơn nữa, cách tính này cho thấy mối quan hệ phối hợp thống nhất trong thu nhập của người lao động, tỷ lệ thu hồi vốn của nhà đầu tư để thu được kết quả của doanh nghiệp Điều này khuyến khích sự tham gia của tất cả các bên có liên quan trong việc hoàn thiện hoạt động của doanh nghiệp Để tránh ảnh hưởng của lạm phát, giá trị gia tăng ở các năm sẽ được điều chỉnh bằng hệ số lạm phát để đưa giá trị tài sản về năm gốc
2.2 Khái niệm năng suất
Các nước phát triển trên thế giới đã tiến hành nghiên cứu về năng suất cũng như các phương pháp đo lường nó từ rất lâu Khái niệm năng suất đã ra đời từ hơn hai thế kỷ trước, do Quesnay sử dụng vào năm 1766 (Tangen, 2005) Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong một bối cảnh kinh tế cụ thể, nên trong giai đoan đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của nó trong doanh nghiệp Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) trong nhiều năm đã đưa ra quan điểm tiến bộ hơn về năng suất, đó là việc sử dụng có hiệu quả những nguồn lực vốn, đất đai, nguyên vật liệu, năng lượng, thông tin và thời gian chứ không chỉ bó hẹp trong yếu tố lao động Nhưng nếu chỉ dừng ở quan điểm như vậy thì năng suất chỉ xét đến các yếu tố đầu vào mà chưa đề cập đến giá trị đầu ra Mà đầu ra
là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế như hiện nay Vì năng suất là một quan điểm nên mỗi người sẽ có nhiều cách hiểu về
nó khác nhau tùy thuộc vào những khía cạnh mà họ nhìn nhận và quan tâm đến
Khái niệm năng suất theo cách tiếp cận mới
Định nghĩa năng suất theo đúng bản chất được hiểu một cách đơn giản là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó Năng suất liên quan đến hiệu quả sản xuất ở đầu ra (nhà máy, công ty, hay ngành công nghiệp, ) so với những đầu vào
1
Nếu tìm cách ước lượng chi phí trung gian dựa trên một số giả định thì kết quả sẽ không tin cậy
Trang 27Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức
để tối đa hóa đầu ra và giảm thiểu đầu vào Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội Đầu ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả Đối với doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hóa tính bằng đơn vị hiện vật Ở cấp vĩ
mô, thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, máy móc thiết bị, năng lượng, kỹ năng quản lý2 Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới hai khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm
và dịch vụ Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức mới của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội Trong nền kinh tế thị trường, năng suất được gắn chặt với các hoạt động kinh tế, đó là làm sao để tạo ra nhiều đầu ra hơn với lượng đầu vào hạn chế Cải tiến năng suất cho phép tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống cho xã hội Đối với các doanh nghiệp, tăng năng suất làm tăng khả năng cạnh tranh thông qua việc sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và tạo ra nhiều đầu ra hơn Cải tiến năng suất còn có ý nghĩa đối với mỗi cá nhân trong xã hội với cách hiểu tạo ra nhiều của cải hơn, thu nhập cao hơn và chất lượng cuộc sống được cải thiện tốt hơn Năng suất còn được hiểu là một tư duy hướng tới thói quen cải tiến và vận dụng những cách thức biến mong muốn thành các hành động cụ thể Theo cách tiếp cận này, năng suất là không ngừng cải tiến để vươn tới sự tốt đẹp hơn Ngày hôm nay phải tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay Điều này có thể thực hiện được nhờ vào các nỗ lực cá nhân và tập thể không ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng,
kỷ luật và các hoạt động phát huy tinh thần sáng tạo cũng như việc quản lý công việc tốt hơn,
2
Theo Trung tâm năng suất Việt Nam
Trang 28phương pháp làm việc tốt hơn, giảm thiểu chi phí, giao hàng đúng hạn, hệ thống và công nghệ tốt hơn để đạt được sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, thị phần lớn hơn và mức sống cao hơn
Tăng trưởng năng suất tạo cơ sở cho những tiến bộ trong thu nhập và phúc lợi xã hội Tăng trưởng năng suất thấp sẽ giới hạn tốc độ tăng của thu nhập cũng như tăng khả năng xung đột của những nhu cầu liên quan đến phân phối thu nhập Đo đạc tăng trưởng năng suất, do đó, tạo thành những chỉ báo kinh tế quan trọng
Có nhiều cách đo đạc tăng trưởng năng suất khác nhau, việc chọn lựa cách tính nào phụ thuộc vào mục đích của việc đo đạc năng suất, và trong nhiều trường hợp, việc lựa chọn chủ yếu phụ thuộc vào loại dữ liệu mà ta thu thập được Nhìn chung, đo đạc năng suất có thể được chia làm 2 loại:
(1): đo đạc năng suất đơn nhân tố (tính năng suất dựa trên một yếu tố đầu vào)
(2): đo đạc năng suất đa nhân tố (tính năng suất tổng hợp dựa trên nhiều yếu tố đầu vào) Một cách phân biệt khác, liên quan đến đo đạc năng suất theo mức độ ngành hay công ty, đó
là tính tổng sản lượng (gross output) từ một hoặc nhiều đầu vào hay sử dụng khái niệm giá trị gia tăng (value-added) để theo dõi sự biến động đầu ra Sau đây là bảng liệt kê một số cách tính năng suất dựa trên hai tiêu chuẩn này:
Bảng CHƯƠNG 2-1: Tổng quan một số cách tính năng suất phổ biến
Năng suất vốn – lao động (capital – labor TFP)
Năng suất vốn – lao động – năng lượng – nguyên vật liệu (capital – labor – energy – materials TFP hay viết tắt là KLEMS TFP)
Giá trị
GT
Năng suất lao
động Năng suất vốn Năng suất vốn – lao động
Cách tính năng suất dựa trên
một yếu tố đầu vào
Cách tính năng suất đa nhân tố dựa trên nhiều yếu tố đầu vào
Nguồn: OECD (2001)
Trang 2916
2.3 Một số cách tính năng suất phổ biến
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tư liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên
Năng suất lao động theo khái niệm của OECD3 là tỷ lệ giữa lượng đầu ra trên đầu vào, trong
đó, đầu ra được tính bằng GDP (Gross Domestic Products) hoặc GVA (Gross Value Added), đầu vào thường được tính bằng giờ công lao động, lực lượng lao động và số lượng lao động đang làm việc
Năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó Đó là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh yếu
tố chất lượng lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học, công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay
Năng suất lao động được tính dựa trên số lượng lao động sẽ được tính như sau:
Tỷ số này cao chỉ ra năng suất lao động cao, thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình sản xuất hay tạo ra của cải vật chất Tỷ số thấp nghĩa là các quá trình làm việc không thuận lợi như: lãng phí thời gian, sử dụng nhân lực không hiệu quả, chi phí nguyên vật liệu và dịch vụ mua vào cao, …
Năng suất lao động là một trong những phương pháp đo năng suất phổ biến nhất vì cách này tính toán không phức tạp Ở cấp độ doanh nghiệp, năng suất lao động cho biết tổng sản lượng
3
OECD (Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development), trong cuốn sách “Đo lường năng suất, đo lường tốc độ tăng năng suất tổng thể và năng suất ngành - 2002”
Trang 30tạo ra trên một nhân công lao động Ở cấp độ quốc gia, năng suất lao động thể hiện tổng thu nhập tạo ra bởi một người lao động (Lieberman & Kang, 2008) Tuy nhiên, năng suất lao động chỉ phần nào thể hiện năng suất của riêng người lao động, mà bỏ qua các yếu tố đầu vào quan trọng khác
Chất lượng sản phẩm đảm bảo, quan tâm đến sự phát triển và đổi mới từ đó, dẫn đến duy trì và phát triển được khách hàng, có khả năng tiêu thụ cao
Sử dụng lao động có tay nghề cao phù hợp với trình độ công nghệ, thiết bị, đảm bảo được quá trình sản xuất ổn định, tránh được lãng phí, khai thác được tài sản một cách
ổn định và lâu dài
Bố trí sản xuất phù hợp, sản xuất có kế hoạch, kiểm soát chặt quá trình, đảm bảo khai thác được tối đa năng lực của thiết bị
Cả năng suất lao động và năng suất sử dụng vốn chỉ dựa trên một yếu tố đầu vào duy nhất là lao động hoặc là vốn Việc so sánh dựa trên năng suất lao động hay năng suất vốn chỉ có ý nghĩa khi giả định các yếu tố đầu vào khác không đổi Trong thực tế, hai năng suất này không độc lập với nhau Ví dụ, một công ty đầu tư vốn nhiều hơn thì thường có năng suất lao động cao hơn Ngược lại, một dây chuyền hay nhà máy sử dụng nhiều lao động hơn thì thường năng suất vốn cũng tăng lên Để đánh giá mức độ tương tác của hai năng suất này, chúng ta
có thể vẽ chúng trên cùng một đồ thị (xem hình 1):
Trang 3118
Hình CHƯƠNG 2-1: Đồ thị Năng suất Vốn và Lao động (VKL)
Hình CHƯƠNG 2-1Hình 2-1 mô tả năng suất tương đối của 3 công nghệ khác nhau: công nghệ A có năng suất vốn cao, công nghệ B có năng suất lao động cao và công nghệ C có năng suất vốn và lao động đều thấp Như vậy, công nghệ A sẽ hiệu quả hơn C về mặt vốn, và B hiệu quả hơn C về mặt sử dụng lao động Đồ thị Năng suất Vốn và Lao động (gọi tắt là VKL) chỉ rõ là cả công nghệ A và B đều hiệu quả hơn công nghệ C, nhưng không giúp chúng ta lựa chọn giữa A và B vì mỗi công nghệ đều có những ưu khuyết điểm riêng
Để giải quyết bài toán này, chúng ta cần phải đánh đổi một cách tối ưu giữa năng suất vốn và năng suất lao động
Giả sử nền kinh tế chỉ có 2 thành phần đầu vào là lao động (nhân công) và vốn (máy móc), và sản lượng đầu ra được quyết định bởi một sự phối hợp giữa các yếu tố đầu theo mô hình Cobb-Douglas như sau:
Năng suất lao động (VA/L)
Trang 32Tổng lợi nhuận tạo ra (π) là chênh lệch giữa giá trị của Q sản phẩm và tổng chi phí đầu vào
TC, có thể được biểu diễn như sau:
L
1
Nếu nguồn lực vốn K và lao động L được phân bổ tối ưu trong nền kinh tế thì hệ số alpha (đóng góp của lao động) chính là tỷ lệ của tổng lương trên tổng giá trị gia tăng Đây là một giả định thường gặp trong các nghiên cứu liên quan đến TFP (xem Liberman và Kang, 2008)
Trang 33Năng suất đa nhân tố phản ánh hiệu quả tổng hợp của các yếu tố đầu vào hữu hình nhƣ nhƣ lao động, vốn, nguyên vật liệu trung gian và cả những yếu tố vô hình nhƣ kiến thức, kinh nghiệm quản lý, công nghệ lên việc tăng tổng sản lƣợng trong quá trình sản xuất Năng suất
đa nhân tố sẽ cho ta cái nhìn tổng thể về việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để có thể tạo ra một lƣợng giá trị đầu ra cao Đây là một công cụ quan trọng để đánh giá sự cạnh tranh của một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế, từ đó có thể giúp chúng ta xác định các ngành kinh tế cạnh tranh cao để phân bổ nguồn lực kinh tế xã hội hiệu quả hơn Trong bài
Trang 34toán so sánh công nghệ A và B ở trên, nếu ta so sánh năng suất TFP của công nghệ A với năng suất TFP của công nghệ B thì ta có thể xác định được công nghệ nào có hiệu quả tổng hợp cao hơn Đây là ưu điểm của năng suất TFP so với các năng suất thành phần
2.4 Các nghiên cứu liên quan đến năng suất đa nhân tố
Trong các nghiên cứu về năng suất, đa phần các tác giả đánh giá năng suất ở cấp độ quốc gia, ngành hoặc ở cấp độ doanh nghiệp Tipper (2011) sử dụng mô hình Cobb-Douglas đánh giá năng suất ở cấp độ ngành cho 20 ngành công nghiệp của New Zealand Zheng (2005) ứng dụng phương pháp tính năng suất đa nhân tố (Multi Factor Productivity – TFP) dựa trên tổng sản lượng và giá trị gia tăng để đo lường năng suất cho 12 ngành công nghiệp ở Úc Lierberman & Kang (2008) đề xuất phương pháp tính TFP dựa trên giá trị gia tăng ở cấp độ công ty- ứng dụng tại công ty thép Pohang, Hàn Quốc Gupta & Dey (2011) phát triển mô hình đo đạc năng suất cho ngành công nghiệp sản xuất trà- ứng dụng tại trang trại trà Rosekandi, Ấn Độ
Tại Việt Nam, việc tính toán năng suất theo các phương pháp mới ở nước ta còn hạn chế Phan (1998) giới thiệu một số vấn đề lý luận và cách tiếp cận mới về năng suất, đồng thời nêu lên những kinh nghiệm của nước ngoài và phương pháp tính năng suất theo cách tiếp cận mới
ở Việt Nam Nội dung nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống kê lại phương pháp tính năng suất, chưa ứng dụng tính toán năng suất tại Việt Nam Năm 2004, Tổng cục Thống kê thực hiện nghiên cứu tính tốc độ tăng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) của công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1991-2003 (Khiên và cộng sự, 2004), nghiên cứu trình bày một số vấn đề chung về năng suất, các hình thức biểu hiện và thực tế tính toán các chỉ tiêu năng suất ở Việt Nam, phân tích năng suất các nhân tố tổng hợp và phương pháp tính tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nghiên cứu tính toán tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp của công nghiệp Việt Nam và trong toàn nền kinh tế quốc dân Việt Nam Từ năm 2006, Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện nghiên cứu tính toán và xây dựng hệ thống chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp TFP (Tâm và cộng sự, 2009),
đã ứng dụng tính toán năng suất tổng hợp ở cấp độ doanh nghiệp, nhưng mẫu rất ít, chỉ khoảng 20 doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên kết quả không mang tính đại diện cho toàn ngành Như vậy, khái niệm năng suất đã được nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam từ rất lâu Tuy nhiên, việc ứng dụng hệ thống chỉ tiêu đo lường năng suất, cụ thể là năng suất đa nhân tố (TFP) ở các doanh nghiệp có quy mô lớn và ở ngành công nghiệp chủ yếu theo như các tài liệu mà tác giả thu thập được thì vẫn chưa có ai nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 3522
LIỆU
Trang 36Đề tài sử dụng số liệu dạng bảng (panel data) do Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp trong thời gian 10 năm (2000 – 2009) Bảng CHƯƠNG 3-1Bảng 3-1 mô tả tổng số quan sát qua từng năm Dòng đầu tiên là tổng số quan sát trong bộ dữ liệu của cục Thống kê Cụ thể, số công ty có báo cáo thống kê trong năm 2000 là 1.482 Con số này tăng lên 9.813 trong năm 2009 Tuy nhiên, một số công ty báo cáo thiếu dữ liệu hoặc dữ liệu báo cáo không hợp
lý (ví dụ như thiếu dữ liệu về tài sản cố định, tài sản cố định âm, số lao động cuối kỳ bằng không,…) nên những quan sát này cần bị loại khỏi bộ dữ liệu Dòng thứ hai mô tả số lượng công ty có đầy đủ báo cáo cuối kỳ về tài sản cố định, số lượng người lao động, lương người lao động, doanh thu, và lợi nhuận Tuy nhiên, qua phỏng vấn cán bộ thống kê cũng như phân tích sơ bộ dữ liệu, chúng tôi có chứng cứ tin rằng một số công ty báo cáo có báo cáo dữ liệu
về tài sản cố định, số người lao động,… nhưng có thể dữ liệu báo cáo không đầy đủ Điều này sẽ dẫn đến đánh giá sai lệch về năng suất lao động, năng suất vốn cũng như năng suất TFP Để hạn chế ảnh hưởng của các sai lệch này, nhóm nghiên cứu quyết định loại bỏ các quan sát cực biên dựa trên những phân tích như sau:
- Khi công ty không báo cáo đầy đủ vốn (tài sản cố định) thì lợi nhuận trên vốn sẽ rất cao nếu lợi nhuận dương, và sẽ rất thấp nếu lợi nhuận âm Vì vậy, chúng tôi loại 0.1% các quan sát có tỷ suất lợi nhuận trên vốn lớn nhất hay nhỏ nhất
- Khi công ty không báo đầy đủ doanh thu thì tỷ số lợi nhuận biên (lợi nhuận trên doanh thu) sẽ có xu hướng quá lớn (nếu công ty có lợi nhuận dương) hoặc quá nhỏ (nếu công ty
bị lỗ) Để tránh tình trạng này, chúng tôi loại 1% những công ty có tỷ số lợi nhuận biên nhỏ nhất và 0,1% công ty có lợi nhuận biên lớn nhất
- Khi công ty báo cáo không đầy đủ quĩ lương người lao động thì lương bình quân của người lao động có thể bị quá thấp Ngược lại nếu công ty không báo cáo đầy đủ số lượng người lao động thì lương bình quân sẽ rất cao Vì vậy, chúng tôi loại 1% số quan sát có lương bình quân thấp nhất và các quan sát có lương bình quân cao hơn 15 triệu/ tháng
- Khi công ty báo cáo không đầy đủ vốn (TSCĐ) thì tỷ lệ vốn/đầu người lao động sẽ nhỏ
Vì vậy chúng tôi loại bỏ 1% quan sát có tỷ lệ Vốn/lao động thấp nhất Tuy nhiên chúng tôi không loại bỏ các quan sát có tỷ lệ vốn/ lao động cao vì đặc thù một số ngành như dầu khí có tỷ lệ vốn/lao động cao
- Phần lớn các quan sát cực biên đều có qui mô nhỏ, cũng như không thường xuyên xuất hiện trong bộ dữ liệu thống kê Điều này cho thấy rằng việc loại các quan sát cực biên như trên là hợp lý Tuy nhiên đối với một số ít công ty cực biên có qui mô lớn và có báo cáo đầy đủ trong nhiều năm thì nhóm sẽ phân tích dữ liệu từng trường hợp cụ thể trước
Trang 3724
khi quyết định xem có nên loại ra khỏi bộ dữ liệu hay không Kết quả sau khi loại các quan sát cực biên được mô tả trong hàng thứ 3 bảng 3.2 Ta thấy, khoảng 3,1 – 3,3% số công ty bị loại trong từng năm, tương ứng với 0,2 -0,4% tổng doanh thu trong các năm
2000 – 2005, và 1,5% - 2,5% tổng doanh thu trong các năm 2006-2009
Ba hàng cuối cùng của Bảng CHƯƠNG 3-1: Số quan sát qua từng nămBảng 3-1: Số quan sát qua từng năm mô tả số công ty mới tham gia mẫu thống kê, ra khỏi mẫu thống kê, hay không thay đổi Nói chung, trong các 8 năm 2000-2007, số công ty mới tham gia mẫu thống kê thường gấp đôi số công ty ra khỏi mẫu, và số công ty mới tham gia thường ít hơn số công ty
đã có sẵn (ngoại trừ năm 2009, khi số lượng công ty mới tham gia đột biến tăng từ 2.260 lên 5.102)
Bảng CHƯƠNG 3-1: Số quan sát qua từng năm
1 Số quan sát trong
bộ dữ liệu thống kê 1.482 1.856 2.560 2.996 4.019 4.712 5.285 6.289 8.116 9.813
2 Số quan sát Đủ dữ
liệu cơ bản cuối kỳ 1.302 1.568 2.052 2.362 2.766 2.848 3.530 4.298 4.889 8.119
3 Số quan sát sau khi
loại các quan sát
cực biên (outliers)
1.261 1.519 1.986 2.289 2.681 2.763 3.421 4.163 4.733 7.866
4 % số DN bị loại 3,3% 3,2% 3,3% 3,2% 3,2% 3,1% 3,2% 3,2% 3,3% 3,2%
5 %Doanh thu bị loại 0,2% 0,2% 0,3% 0,2% 0,4% 0,3% 1,9% 2,3% 1,5% 2,5%
6 + mới vào mẫu (E) 490 697 674 817 659 1.186 1.603 2.260 5.102
7 - Ra khỏi mẫu (X) 232 230 371 425 577 528 861 1.690 1.969
8 Không đổi (R) 1.029 1.029 1.289 1.615 1.864 2.104 2.235 2.560 2.473 2.764
Việc loại bỏ một số đáng kể các quan sát có thể gây ảnh hưởng khác nhau đến các ngành Do vậy ở đây ta có hai nhóm mẫu:
Mẫu 0: gồm tất cả các quan sát do TCTK cung cấp
Mẫu 1: gồm các quan sát đủ dữ liệu để tính VA, K, L sau khi đã loại các quan sát cực biên
Bảng CHƯƠNG 3-2Bảng 3-2 mô tả số quan sát hợp lệ hàng năm của từng ngành Cột “Mẫu 1” mô tả tổng số quan sát và tỷ lệ số quan sát của từng ngành trong toàn bộ 10 năm Ví dụ,
Trang 38ngành thực phẩm có tổng cộng 4.514 quan sát trong 10 năm, chiếm 13,8% tổng số quan sát của cả 6 ngành trong 10 năm Mẫu 0 mô tả các số liệu tương tự mẫu 1 nhưng cho toàn bộ dữ liệu thống kê trước khi loại bỏ các quan sát không hợp lệ, hoặc cực biên Ta thấy ngành dệt may, cơ khí, và hóa chất có nhiều quan sát nhất, mỗi ngành chiếm khoảng 23,5 – 28,5% tổng
số quan sát Trong khi đó, ngành Điện-Điện tử và Vật liệu xây dựng, mỗi ngành chỉ chiếm khoảng 3% số quan sát Tổng số quan sát hợp lệ chiếm khoảng 69% số quan sát trong dữ liệu gốc của thống kê Tuy nhiên, tỷ trọng số quan sát của các ngành trong mẫu 1 tương tự như tỷ trọng trong mẫu 2 Như vậy việc sàng lọc dữ liệu không làm thay đổi tỷ lệ quan sát giữa các
ngành
Để kiểm định ảnh hưởng của việc sàng lọc dữ liệu đến các đặc trưng của năng suất TFP, chúng tôi so sánh một số đặc trưng quan trọng của mẫu 1 với mẫu 0 Kết quả được trình bày
ở Bảng CHƯƠNG 3-3Bảng 3-3 Ta thấy, mặc dù mẫu 1 chỉ chiếm khoảng 69% tổng số công
ty trong mẫu 2 nhưng lại lần lượt chiếm tới 92%, 95%, 93%, và 98% doanh thu, vốn, số lao động, và GTGT của mẫu 0 Như vậy phần lớn các doanh nghiệp bị loại là những doanh nghiệp nhỏ về qui mô vốn, lao động, doanh thu, và không tạo ra GTGT đáng kể Cũng có thể những doanh nghiệp này không báo cáo đầy đủ về doanh thu, vốn, số lao động, lợi nhuận, … Nếu để những doanh nghiệp này trong mẫu phân tích thì sẽ làm sai lệch kết quả phân tích năng suất Tuy nhiên khi so sánh tỷ lệ doanh thu, vốn, lao động, và GTGT của mẫu 1 với mẫu
0 trong từng ngành thì ta thấy cả 2 tỷ lệ này không có sự khác biệt đáng kể nào Như vậy có thể kết luận rằng quá trình sàng lọc dữ liệu giúp loại bỏ nhiễu nhưng lại không tạo ra các sai lệch giữa các ngành và có lẽ sẽ không ảnh hưởng đến đánh giá năng suất tương đối giữa các ngành
Trang 39Bảng CHƯƠNG 3-2: Số quan sát hợp lệ trong từng ngành công nghiệp, 2000 - 2009
Tổng Doanh thu 2000-09 Tổng Vốn, 2000-09 Tổng Lao động, 2000-09 Giá trị gia tăng, 2000-09
Tỷ
VNĐ %
Tỷ VNĐ %
Tỷ VNĐ %
Tỷ VNĐ % Nghìn người % Nghìn người %
Tỷ VNĐ %
Tỷ VNĐ %
TPđồ uống 312.878 27% 324.953 26% 60.826 19% 62.626 19% 621 14% 656 14% 45.789 25% 46.558 25% Dệt may 168.170 14% 176.494 14% 62.287 20% 66.203 20% 2.090 47% 2.251 47% 44.384 24% 46.322 25% Hóa chất 293.550 25% 323.655 26% 61.340 19% 64.548 19% 657 15% 698 15% 38.695 21% 39.976 21%
Cơ Khí 188.569 16% 229.478 18% 49.141 16% 55.348 17% 555 12% 616 13% 24.217 13% 23.058 12%
Tổng 1.166.704 100% 1.263.769 100% 316.822 100% 333.463 100% 4.451 100% 4.774 100% 183.467 100% 187.194 100%
Trang 40CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU VÀ TÍNH TOÁN TFP