Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những nămtrước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đấtđai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quy
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI, 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-LÊ THỊ THÚY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT SAU KHI DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ : 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN KHẮC THỜI
HÀ NỘI, 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Thị Thuý
Trang 4LỜI CẢM ƠN !
Để có được kết quả nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bảnthân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ từ rất nhiều đơn vị và cá nhân Tôi xin ghinhận và bày tỏ lòng biết ơn tới những tập thể, cá nhân đã dành cho tôi sự giúp
đỡ quý báu đó
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời, người đã trực tiếp hướng dẫn đềtài này
Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô trong Khoa Tài Nguyên và Môi trường, các thầy cô trong Khoa Sau đạihọc
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo UBND huyện KhoáiChâu, các đồng chí lãnh đạo, chuyên viên Phòng Nông nghiệp, Phòng Tàinguyên và Môi trường, Phòng Thống kê và UBND các xã đã tạo điều kiện vềthời gian và cung cấp số liệu giúp tôi thực hiện đề tài này
Cám ơn sự cổ vũ, động viên và giúp đỡ của gia đình, các anh, chị đồngnghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Lê Thị Thuý
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN !
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích
2.2 Yêu cầu
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp 4
1.1.1 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
1.1.2 Ý nghĩa của dồn điền đổi thửa
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam .7 1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1992
1.2.4 Giai đoạn từ Luật đất đai năm 1993 đến nay
1.3 Tổng quan về dồn điền đổi thửa 12
1.3.1 Vấn đề manh mún đất đai
Trang 61.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.3.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 21
1.4.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
1.4.3 Nhóm các yếu tố tổ chức, kỹ thuật
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Nội dung nghiên cứu 25
2.2.1 Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và công tác quản lý đẩt sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn điền, đổi thửa
2.2.5 Đề xuất các giải pháp thực hiện liên quan đến vấn đề tập trung ruộng đất nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nông hộ:
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mền EXCEL
2.3.5 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
2.3.6 Phương pháp chuyên gia
Trang 7Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Khoái Châu 30
3.1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội:
3.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng đất huyện Khoái Châu 37 3.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012 của huyện Khoái Châu
3.2.2 Tình hình quản lý đất đai trên địa bàn huyện Khoái Châu
3.3 Tình hình Dồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu 43
3.3.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
3.3.2 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Khoái Châu
3.3.3 Kết quả thực hiện Dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
3.4 Thực trạng công tác dồn điền đổi thửa 3 xã nghiên cứu 50
3.5 Ảnh hưởng của dồn điền đổi thửa đến cơ cấu và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 53
3.5.1 Dồn điền đổi thửa tác động đến việc thay đổi của cơ cấu thu nhập của hộ nông dân
3.5.2 Chuyển đổi ruộng đất tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất đai
3.5.3 Dồn điền đổi thửa đã làm tăng diện tích đất giao thông thuỷ lợi
3.5.4 Chuyển đổi ruộng đất tạo tạo tâm lý ổn định cho người nông dân yên tâm đầu tư sản xuất
3.5.5 Chuyển đổi ruộng đất đã làm tăng diện tích đất nông nghiệp bình quân trên khẩu
3.5.6 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trên một héc ta đất sản xuất nông nghiệp của 3 xã nghiên cứu trước và sau chuyển đổi ruộng đất 3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
Trang 8đến công tác quản lý về đất đai 63
Nguồn: Tác giả tổng hợp
3.7 Ý kiến người dân về chính sách dồn điền đổi thửa 64
3.8 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Khoái Châu 67
3.8.1 Những quan điểm chủ yếu
3.8.2 Những giải pháp trọng tâm
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận 73
2 Kiến nghị 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất của các vùng ở Việt Nam
Bảng 1.2 Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Bảng 1.3 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Khoái Châu
Bảng 3.2 Kết quả thực hiện DĐĐT theo nhóm hộ ở huyện Khoái
Châu
Bảng 3.3 Kết quả thực hiện DĐĐT theo quy mô ở huyện Khoái Châu
Bảng 3.4 Thực trạng ruộng đất trước và sau thực hiện dồn điền đổi
thửa tại các xã nghiên cứu đại diện
Bảng 3.5 Sự thay đổi của cơ cấu thu nhập của hộ nông dân trước và
sau dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu đại diện
Bảng 3.6 So sánh cơ cấu sử dụng đất đai trước và sau dồn điền ở các
xã nghiên cứu đại diện
Bảng 3.7 Diện tích đất giao thông, thuỷ lợi trước và sau CĐRĐ
Bảng 3.8 Bình quân diện tích đất SXNN trên nhân khẩu trước và sau
CĐRĐ
Bảng 3.9 So sánh hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên một
ha/năm tại các xã nghiên cứu đại diện
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của dồn đổi ruộng đất đến lượng thống kê sổ
địa chính
Bảng 3.11 Quan điểm của hộ nông dân đối với công tác dồn điền đổi
thửa
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu kinh tế huyện Khoái Châu (%)
32
Biểu đồ 3.2 Cơ Cấu các loại đất năm 2012 huyện Khoái Châu
38
Trang 12
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chú giải
DĐĐT Dồn điền đổi thửa
NN & PTNT Nông nghiệp & Phát triển nông thônCNH - HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, vừa là
tư liệu sản xuất, đồng thời là đối tượng sản xuất Đất đai là thành phần quantrọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, cơ sởkinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng an ninh Đất đai có vai trò vô cùng quantrọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước
Trong công cuộc cải cách kinh tế nông nghiệp nông thôn những nămtrước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đấtđai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề lương thực của cảnước, điển hình là Luật đất đai năm 2003, Nghị định số 64/CP ngày27/9/1993 của Thủ tướng chính phủ quy định việc giao đất nông nghiệp cho
hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nôngnghiệp Với chính sách mới về quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổihoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông thôn, người nông dân đã thực sự trở thànhngười chủ mảnh đất của riêng mình – đó là động lực cho sự phát triển vượtbậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải phóng miền Nam Sản xuất nôngnghiệp từ tự cung tự cấp sang đa dạng hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu.Một số hàng hóa đã vươn lên cạnh tranh khá và có vị thế trên thị trường thếgiới, đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân như gạo, cà phê, hạt điều,thủy sản …
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như đã nóitrên là không thể phủ nhận Song với bối cảnh hiện nay, đất nước đangtrên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trong môi trườnghội nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quantrọng đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa nguyênliệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu Nhưng trên
Trang 14thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định 64/CP,chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội, ruộng tốt cũng như ruộngxấu, ruộng xa cũng như ruộng gần được chia đều tính trên nhân khẩu cho các giađình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán manh mún không đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của nền nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.Sự manh múnruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất thấp, hạn chế khảnăng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Ngoài ra,tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong quản lý và sửdụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất.
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như đã nói trên, thì việcdồn đổi ruộng đất nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn, liền khu, liền khoảnh làviệc làm hết sức cần thiết, đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xâydựng một nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật vào đồng ruộng, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiệncho các hộ nông dân yên tâm sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài, cóhiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về đấtđai.Từ đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ trương “ Dồn điền đổi thửa” để
việc sử dụng có hiệu quả hơn
Với những lý do nêu trên, cùng sự đồng ý của khoa Tài Nguyên – MôiTrường với sự hướng dẫn của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thời chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng đất sau khi đồn điền đổi thửa huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”.
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích
Đề tài nghiên cứu thực trạng công tác dồn điền đổi thửa đất sản xuấtnông nghiệp từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đấtsản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
Trang 153 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận của dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
1.1.1 Sự cần thiết phải dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổimới cơ chế kinh tế nông nghiệp, nông thôn thừa nhận hộ nông dân là một đơn
vị kinh tế tự chủ trong nền kinh tế thị trường Thực hiện Luật đất đai năm
1993, Nghị định 64/NĐ-CP của Chính phủ quy định, về việc giao đất nôngnghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sảnxuất nông nghiệp, cùng với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất(QSDĐ) và các chính sách về nông nghiệp, nông thôn; người nông dân phấnkhởi thực sự đầu tư, khai thác sử dụng đất có hiệu quả, thúc đẩy nền sản xuấtnông, lâm nghiệp phát triển [3]
Trước thực trạng của việc giao đất nông nghiệp ổn định lâu dài cũng nhưnhững đòi hỏi, nhu cầu mới của cuộc sống kinh tế - xã hội, của việc sử dụngđất vào mục đích sao cho có hiệu quả nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế củatỉnh nói chung, cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng Việc dồnđiền đổi thửa (DĐĐT) là một nhu cầu bức thiết nhằm các mục đích sau:
Thứ nhất, khắc phục những tồn tại và hạn chế của việc giao đất nông
nghiệp ổn định lâu dài theo đúng quy định của Luật đất đai năm 1993 và Nghịđịnh 64/NĐ-CP
Thứ hai, lập quy hoạch sử dụng đất dành cho các nhu cầu nhất là nhu
cầu công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch tạo tiền đề để đẩy mạnh côngnghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) nông nghiệp, nông thôn, từng bướcphân công lại lao động trong sản xuất nông nghiệp, nông thôn chuyển dầnmột bộ phận lao động nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp (TTCN) và dịch vụ
Thứ ba, từ việc dồn điền đổi thửa làm giảm chi phí sản xuất, tạo ra vùng
Trang 17sản xuất tập trung, sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sửdụng đất Song, trước tình hình mới, nhu cầu mới của sự nghiệp CNH - HĐHcủa đất nước, vấn đề ruộng đất trong nông nghiệp cũng bộc lộ những tồn tại,những nảy sinh mới cần phải được quan tâm giải quyết, đó là:
- Công tác quy hoạch lại đồng ruộng (giao thông, thuỷ lợi, cải tạo đất)hạn chế, không thực hiện được toàn diện, triệt để Người lao động ngại đầu tưvào những mảnh ruộng nhỏ, xa, trên nhiều xứ đồng
- Không khuyến khích người lao động đầu tư, thâm canh, chuyển dịch
cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản phẩm, cải tiến kỹ thuật chậm được áp dụngvào đồng ruộng
- Khả năng cơ giới hoá nông nghiệp, để giải phóng sức lao động, điềuchỉnh lao động nông nghiệp sang làm thủ công nghiệp, dịch vụ khác; áp dụngtiến bộ kỹ thuật, tăng công lao động, sản lượng hàng hoá thấp, giảm diện tíchđất, tăng chi phí quản lý Thực hiện các quyền sử dụng đất, từng bước hìnhthành các trang trại nông nghiệp và tích tụ ruộng đất sẽ gặp nhiều khó khăn
- Các địa phương khi chia ruộng đất cho nông dân đó lấy phương châmphải đồng đều về tốt, xấu, gần, xa nên đây là một trong những nguyên nhândẫn đến tình trạng manh mún đất đai và được coi là nguyên nhân bao trùm
- Có sự khác biệt về độ phì nhiêu tự nhiên giữa các khoảnh đất, lô đất
Sự khác biệt này tạo sự chênh lệch về thu nhập trong điều kiện canh tác cùngmột cây trồng, cùng một loại giống và cùng một điều kiện sản xuất
- Hệ số an toàn trong sản xuất chưa cao, diện tích úng ngập không tiêuthoát nước được ở đồng bằng sông Hồng cũng đến 57.449ha, chiếm khoảnghơn 8% diện tích đất lúa, đây là những diện tích sản xuất lúa không chắc ăn,kém ổn định Một diện tích khá lớn phân bố ở ngoài đê chịu sự ảnh hưởng củamưa lũ và mức độ an toàn phụ thuộc vào cấp địa hình của bãi phù sa
- Giá đất khác nhau, đặc biệt tại khu đô thị lớn, sự gia tăng giá trị là do
vị trí của lô đất chi phối
Trang 18Nhằm hạn chế những bất cập nói trên “Dồn điền đổi thửa” đã xuất hiện,đây là hoạt động liên quan đến thị trường đất đai, là hành vi của những hộ cóquyền sử dụng ruộng đất dồn đổi cho nhau, từ vị trí này sang vị trí khác đểhình thành các ô thửa lớn, nhằm khắc phục tình trạng phân tán, manh múntrong sản xuất là việc làm cần thiết, tạo tiền đề cho công cuộc thực hiện sựnghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn; nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hộiphát triển, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập ổn định cho người nông dân,đưa nông thôn nước ta tiến lên văn minh hiện đại.
1.1.2 Ý nghĩa của dồn điền đổi thửa
Khi hộ chưa tham gia dồn điền đổi thửa thì mỗi hộ có nhiều thửa, diệntích nhỏ, khoảng cách giữa các thửa xa nhau do mỗi thửa nằm ở các xứ đồngkhác nhau, nên tốn rất nhiều công trong các khâu sản xuất:
- Quá trình DĐĐT tạo sự thay đổi lớn về số thửa và quy mô thửa củamỗi hộ Sự dồn đổi ruộng đất từ các ô thửa nhỏ thành những ô thửa lớn sẽthuận lợi hơn cho hộ trong khâu làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch
- Dồn đổi ruộng đất tạo điều kiện tăng đầu tư thâm canh, tăng năng suấtcây trồng và năng suất đất đai, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
bố trí cây trồng hợp lý và từng bước đưa cơ giới hoá vào sản xuất
- Dồn đổi đất đai thành những thửa lớn sẽ làm giảm được công lao độngtrong tất cả các khâu, tiết kiệm diện tích bờ thửa, thuận lợi trong việc tướitiêu, giúp chúng ta thiết kế lại hệ thống kênh mương, giao thông nội đồngtheo hướng kiên cố hoá Về lâu dài việc dồn điền đổi thửa là tiền đề kích thíchquá trình tập trung ruộng đất nhằm tạo ra các tiểu trang trại, trang trại, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn
- Ruộng đất có ô thửa lớn sẽ thuận tiện cho việc giải thửa và thể hiệntrên bản đồ địa chính làm cơ sở cho việc cấp chứng nhận QSDĐ lâu dài cho
hộ nông dân và việc theo dõi sau này
- Từ việc dồn điền đổi thửa và tích tụ đất đai thành những vùng cụ thể rõ
Trang 19ràng, làm cho việc sử dụng quỹ đất công của địa phương hợp lý và hiệu quảhơn, khắc phục được tình trạng quỹ đất công nằm xen kẽ, giải rác khắp nơi,cản trở việc quản lý, sử dụng đất nông nghiệp [3].
1.2 Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp Việt Nam
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và phát triển kinh tế của ViệtNam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai Những mâuthuẫn trong chính sách đất đai đã diễn ra trong suốt thời kỳ là thuộc địa củathực dân Pháp; thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chínhphủ từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất
sở hữu cộng đồng và đất tư hữu Khu vực nông thôn được phân chia làm 2tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu đất đai đó là tầng lớp Địa chủ và Tá điền Sau năm 1945, đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt thuế chonông dân nghèo Sau khi kết thúc Kháng chiến chống thực dân Pháp, miềnBắc thực hiện cải cách ruộng đất; mục đích nhằm công hữu hoá ruộng đất củađịa chủ người Việt và người Pháp Đồng thời, tiến hành phân chia lại cho hộnông dân ít đất hoặc không có đất với khẩu hiệu “người cày có ruộng” Giaiđoạn tiếp theo của chính sách cải cách ruộng đất đó là miền Bắc bước sanggiai đoạn sở hữu tập thể đất nông nghiệp dưới hình thức hợp tác xã từng khâu(bậc thấp) và hợp tác xã toàn phần (bậc cao) Đến năm 1960, khoảng 86% hộnông dân và 68% tổng diện tích đất nông nghiệp đã vào hợp tác xã bậc thấp.Trong hợp tác xã này người nông dân vẫn sở hữu đất đai và tư liệu sản xuất, ởhình thức hợp tác xã bậc cao, nông dân góp chung đất đai và các tư liệu sảnxuất khác (trâu, bò, gia súc và các công cụ khác) vào hợp tác xã dưới sự quản
lý chung Từ năm 1961 đến năm 1975, có khoảng 20.000 hợp tác xã bậc cao
đã ra đời với sự tham gia của hơn 80% hộ nông dân cả nước
Ở miền Bắc, các Hợp tác xã (HTX) nông nghiệp mở rộng quy mô từ
Trang 20HTX toàn thôn đến HTX toàn xã Ở miền Nam, nông dân vẫn được phép hoạtđộng dưới hình thức thị trường tự do đến năm 1977 - 1978, sau đó cũng từngbước đi theo hướng tập thể hoá Kết quả thực hiện mô hình kinh tế tập thểkhác nhau ở các vùng, cụ thể ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, có khôngđến 6% số hộ nông dân tham gia HTX nông nghiệp Khác với miền Bắc, ởmiền Nam các hộ nông dân vẫn là đơn vị sản xuất cơ bản mặc dù họ đã thamgia HTX nông nghiệp Họ sử dụng chung lao động và các nguồn lực sản xuấtnhưng họ tự quyết định trong sử dụng các đầu vào cũng như áp dụng các kỹthuật sản xuất
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985
Sau năm 1975, nền kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nóiriêng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh để lại Mặtkhác, nền kinh tế Việt Nam còn chịu hậu quả từ những chính sách trong thời
kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế tập thể hoá trong nông nghiệp.Trong thời kỳ sở hữu tập thể trong nông nghiệp, sản xuất giảm do người nôngdân thiếu động lực làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rấtthấp 2% Cùng thời điểm này dân số tăng rất nhanh (2,2 - 2,35 %/năm), đãdẫn đến việc phải nhập khẩu bình quân hơn một triệu tấn lương thực mỗi nămtrong suốt thời kỳ sau chiến tranh Điều đó đã dẫn đến một bộ phận lớn dân sốsống trong tình trạng đói nghèo [10]
Sự thay đổi cơ chế quản lý và sử dụng đất trong lĩnh vực nông nghiệpbắt đầu bằng Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, hay còn gọi là
"Khoán 100" Dưới chính sách "Khoán 100", các HTX giao đất nông nghiệpđến nhóm hộ nông dân và người lao động Những người này có trách nhiệmtrong ba khâu của quá trình sản xuất Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX,cuối vụ hộ nông dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất
ra và ngày công đóng góp trong quá trình sản xuất Nhưng đất đai vẫn thuộc
sở hữu của Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX Mặc dù còn đơn giản
Trang 21nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nềnkinh tế thị trường Sự ra đời của "Khoán 100" đã có những ảnh hưởng đáng kểđến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3 %/nămtrong suốt giai đoạn 1981 - 1985.
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1992
Sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụthể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong giai đoạn 1986 -
1988 chỉ là 2,2 %/năm Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không đáp ứng đượcyêu cầu nên đã dẫn đến tình trạng thiếu ăn tại 21 tỉnh, thành ở Miền Bắc Ở miềnNam, một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt làmối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai Điềunày hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đãđược thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 28/03/1988 của
Bộ Chính trị, về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp Với sự ra đời của Nghịquyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đấtnông nghiệp sử dụng từ 10 - 15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhậnnhư một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Bắt đầu từ thời kỳ này, các tưliệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dướihình thức cá thể [10]
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một sốquyền sử dụng đất như cho hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận.Một loạt các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như: Trạmđiện, hệ thống giao thông nông thôn, thị trường, mà trước đây thuộc trách nhiệmquản lý của các HTX nông nghiệp Để giải quyết các vấn đề này Luật Đất đainăm 1993 đó ra đời
1.2.4 Giai đoạn từ Luật đất đai năm 1993 đến nay
Theo Luật Đất đai 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng
Trang 22đất lâu dài với 5 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thếchấp Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối vớicây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm Việc giao đất sẽ được tiến hànhlại tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất, nếu như người sử dụng đất vẫn có nhucầu sử dụng Luật Đất đai quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thểnhư quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm là 2 ha đối với các tỉnh ở miềnBắc và miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh ở miền Nam Cùng với việc giao đấtnông nghiệp thì việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ cũng được các cơ quan chứcnăng xem xét và cấp cho các hộ nông dân Đến năm 1998, giấy chứng nhậnQSDĐ đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2004 con số này trên 90% Đối với đất rừng ở khu vực Trung du và Miền núi nơi có rất nhiềuphong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứngnhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục Năm 1998,những sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1993, thì người nông dânđược giao thêm hai quyền sử dụng nữa, đó là quyền cho thuê lại và quyền đượcgóp vốn đầu tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất [1]
Năm 2004, những sửa đổi bổ sung một số điều Luật Đất đai năm 1993cho phép người sử dụng được tặng đất đai cho họ hàng, bạn bè của họ và đượcđền bù nếu bị thu hồi Sự bổ sung này cũng đưa ra một số các thay đổi liênquan đến đất đai và thay đổi trong thủ tục đăng ký đất đai Luật Đất đai mới rađời thay thế cho Luật Đất đai năm 1993 và các sửa đổi bổ, sung của Luật đấtđai được ban hành vào tháng 12 năm 2003 và có hiệu lực từ tháng 07 năm
2004 Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng vàdiện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993 Tuy nhiên, lần đầu tiên đấtđai được chính thức xem như là “hàng hoá đặc biệt’ có giá trị và chính vì thế cóthể chuyển nhượng (thương mại) Luật Đất đai năm 2003, vẫn khẳng định “đấtđai là tài sản của Nhà nước” và cũng cho rằng cần có sự khuyến khích đối vớithị trường bất động sản bao gồm thị trường các quyền sử dụng đất đối với khu
Trang 23vực thành thị Cá nhân (người nông dân) và các tổ chức kinh tế được quyềntham gia vào thị trường này Những thay đổi trong chính sách đất đai của ViệtNam từ năm 1993 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sảnlượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn Tổng sản lượng nôngnghiệp tăng 6,7 %/năm trong suốt giai đoạn 1994 - 1999 và khoảng 4,6% tronggiai đoạn 2004- 2003 An ninh lương thực quốc gia không còn là vấn đềnghiêm trọng nữa và đói nghèo đang từng bước được đẩy lùi [6].
Các chính sách đất đai liên quan đến việc giao đất và các quyền củangười sử dụng đất cho phép sự phát triển của thị trường đất đai Điều đó đãmang lại hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực trong điều kiện hiện nay.Theo Luật pháp của nước ta thì: Đất đai là tài sản của toàn dân, Nhà nướcthống nhất quản lý với tư cách người đại diện Luật Đất đai năm 2003 thừanhận rằng Chính phủ là “đại diện cho sở hữu toàn dân” Chính vì đất đaithuộc sở hữu toàn dân nên không thể chuyển quyền sở hữu cho từng cá nhân(hay tổ chức) mặc dù cá nhân hay tổ chức đó (có thể là người nước ngoài -Việt Kiều) có thể sở hữu hoặc chuyển nhượng tài sản trên đất, như nhà cửađược xây dựng trên thửa đất đó Các cá nhân (trừ người nước ngoài), hộ nôngdân và các tổ chức có thể sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Những chính sách đổi mới trong quản lý đất đai vào năm 1993, với mục đíchgiúp người nông dân có được sự đảm bảo trong việc sử dụng đất thông quaviệc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định, lâu dài và cấp giấy chứng nhậnQSDĐ Tuy nhiên, thời hạn giao đất vẫn còn ngắn và vẫn chưa được thay đổitrong Luật Đất đai năm 2003 Điều này có thể khiến người dân vẫn chưa yêntâm trong việc đầu tư dài hạn trong nông nghiệp Thêm vào đó, tính linh hoạttrong sử dụng đất vẫn bị ràng buộc, cá biệt là sự chuyển đổi sang các loại câytrồng khác trên diện tích đất lúa truyền thống Bằng việc tăng tính đảm bảochắc chắn cho người sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận
Trang 24với các nguồn tín dụng, thông qua việc cho phép họ có quyền thế chấp quyền
sử dụng đất và các quyền sử dụng đất được xem xét như những mặt hàng cóthể đem ra kinh doanh
1.3 Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.3.1 Vấn đề manh mún đất đai
1.3.1.1 Khái niệm
Khái niệm manh mún ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp được hiểutrên hai khía cạnh: Một là, sự manh mún về ô thửa đối với một đơn vị sảnxuất (thường là hộ nông dân), một hộ gia đình có nhiều thửa ruộng với diệntích một thửa thường tương đối nhỏ Hai là, Sự manh mún thể hiện về quy
mô đất đai trên một đơn vị sản xuất, diện tích ruộng đất quá nhỏ không tươngthích với số lượng lao động và các yếu tố về phương tiện sản xuất khác Manh mún ruộng đất là một đặc điểm quan trọng trong nông nghiệp củanhiều nước, nhất là các nước đang phát triển ở Việt Nam, manh mún ruộngđất rất phổ biến, đặc biệt ở miền Bắc Manh mún đất đai là một trong nhữngrào cản của sự phát triển nông nghiệp nhất là sản xuất trồng trọt Cho nên rấtnhiều nước đã và đang thực hiện chính sách khuyến khích tập trung đất đai, ví
dụ như: nước Kenya, Tanzania, Rwanda, Bulgari, Albania,
ở Việt Nam, cũng đang thực hiện chính sách này trong những năm gầnđây, dưới quan điểm kinh tế, nếu manh mún đất đai làm cho lao động và cácnguồn lực khác phải chi phí nhiều hơn thì việc giảm mức độ manh mún đấtđai sẽ tạo điều kiện để các nguồn lực này được sử dụng ở các ngành nghềkhác có hiệu quả hơn Như vậy, trên tổng thể nền kinh tế sẽ đạt được lợi íchkhi ta giảm mức độ manh mún đất đai
Trang 251.3.1.2 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng manh mún ruộng đất
Nguyên nhân đầu tiên, quan trọng nhất dẫn đến tình trạng manh mún
ruộng đất là sự phức tạp của địa hình đất đai ở mỗi địa phương, hầu như trongmỗi xã đều có 3 loại đất: đất cao, đất vàn và đất thấp [2]
Nguyên nhân thứ hai, của tình trạng này là do cách tư duy lệch lạc về
“công bằng xã hội”, mà thực chất là do ảnh hưởng của tư tưởng tiểu nông “bìnhquân chủ nghĩa”, do đó ruộng đất được xé nhỏ và phân đều cho các hộ [2]
Nguyên nhân thứ ba, là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con
cái Ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả cáccon sau khi ra ở riêng, vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu kỳphát triển của nông hộ [2]
Nguyên nhân thứ tư, là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ Do quy
mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi liênquan đến ruộng đất [2]
Nguyên nhân thứ năm, là quan điểm muốn bảo vệ sự công bằng giữa các
hộ dân được chia ruộng và các lý do sau đây khiến đa số các địa phương chianhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
- Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần - ruộng xa, ruộng tốt - ruộng xấu,ruộng cao - ruộng thấp, thuận lợi - khó khăn, có như vậy mới thể hiện tínhcông bằng xã hội
- Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ
- Do hiệu quả kinh tế của các loại sử dụng đất khác nhau nên phải chiađều đất cho các hộ
- Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như: úng, hạn,chua, do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ là chỉ tiêu quan trọng trong khichia ruộng [2]
1.3.1.3 Thực trạng về manh mún ruộng đất tại Đồng bằng sông Hồng
Việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào mục
Trang 26đích sản xuất nông nghiệp theo Nghị định 64/NĐ-CP được quy định như sau:Toàn bộ đất nông nghiệp đang được sử dụng thì giao hết cho hộ gia đình
và cá nhân sản xuất nông nghiệp, trừ đất đã giao cho các tổ chức, đất dùngcho nhu cầu công ích của xã (quỹ đất 5%) Qua báo cáo thực hiện Nghị định
64 của các tỉnh, tính bình quân mức đất nông nghiệp giao cho các khẩu nhưsau: Dưới 200m2 chiếm 2 - 3% số khẩu, từ 200 - 400m2 chiếm 8 - 10%, từ 400
- 600m2 chiếm 25 - 30%, từ 600 - 800m2 chiếm 50%, từ 800 - 1000m2 chiếm
10 - 12%, còn lại là được giao trên 1000m2 Vì vậy, tình trạng manh múnruộng đất diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là ở các tỉnh Trung du miền núi Bắc
bộ Trên thực tế, khái niệm manh mún ruộng đất xuất hiện từ khi chia ruộngcho hộ nông dân theo Nghị định 64 năm 1993 của Chính phủ Theo số liệutổng hợp của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, cả nước có khoảng 75triệu thửa đất, bình quân mỗi hộ có khoảng 0,25 - 0,5 ha đất nông nghiệp, vớicon số bình quân 6,8 thửa đất/hộ; khu vực có mức độ manh mún nhiều nhất làTrung du miền núi phía Bắc [6]
Bảng 1.1 Mức độ manh mún ruộng đất của các vùng ở Việt Nam
TT Vùng sinh thái
Tổng số thửa/hộ (thửa)
Diện tích bình quân/thửa (m 2 )
Trung bình Cá biệt Đất lúa Đất rau
1 Trung du miền núi Bắc Bộ 10 - 20 50 150 - 300 100 - 150
3 Duyên hải Bắc Trung Bộ 7 - 10 30 300 - 500 200 - 300
4 Duyên hải Nam Trung Bộ 5 - 10 30 300 - 1000 200 - 1000
7 Đồng bằng sông Cửu Long 3 10 3000 - 5000 500 - 1000
(Nguồn: Tổng cục Địa chính năm 1998) [17]
Trang 27Ở Đồng bằng sông Hồng sự manh mún ruộng đất là một hiện tượngmang tính lịch sử Hiện nay sự manh mún ruộng đất cấp nông hộ ở Đồngbằng sông Hồng thể hiện ở các đặc điểm: Diện tích canh tác bình quân trên hộhay trên lao động rất thấp (chỉ khoảng 0,25 ha/hộ) Số lượng các hộ có diệntích từ 1 ha trở lên không đáng kể (chưa đầy 15%), đa số có diện tích nhỏ hơn0,50 ha Bình quân diện tích đất canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm
do mất đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn
Mức độ manh mún ruộng đất thuộc một số tỉnh Đồng bằng sông Hồngcũng rất khác nhau, các tỉnh đông dân, diện tích đất nông nghiệp ít thì mức độmanh mún càng cao và đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượngcác loại cây trồng Tình trạng manh mún ruộng đất ở Đồng bằng sông Hồngđược thể hiện ở những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Sự manh mún ruộng đất không có mối quan hệ nào với mật
độ dân số Nói cách khác, không phải ở đâu đông dân thì ở đó ruộng đất manhmún ruộng đất lớn
Thứ hai: Sự manh mún ruộng đất thể hiện sự khác biệt giữa các vùng.
Dường như ở thượng đồng bằng, đất đai bị xé nhỏ hơn so với các vùng hạđồng bằng, hoặc càng ra gần biển, các ô thửa của ruộng càng lớn hơn
Thứ ba: Ngay trong vùng, hiện tượng manh mún cũng không giống
nhau; đất trũng ngập nước thường xuyên hay các ruộng ngoài đê, ô thửa ít bị
xé nhỏ hơn là ruộng đất cao được đê che chắn [17]
1.3.1.4 Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất nông nghiệp và quản lý đất đai
Tình trạng manh mún ruộng đất đã gây không ít khó khăn cho ngườinông dân và các nhà quản lý, chỉ đạo sản xuất Cho đến nay đã có khá nhiềucông trình nghiên cứu về vấn đề dồn đổi ruộng đất từ thửa ruộng nhỏ thànhthửa ruộng lớn Các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tiêu cực của sựmanh mún ruộng đất Có thể khái quát những ảnh hưởng bất lợi như sau:
Trang 28- Quy mô ruộng đất gây nhiều khó khăn cho quá trình sản xuất, pháttriển cơ giới hoá nông nghiệp, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, thực hành thâmcanh và chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hoá.
- Gây lãng phí diện tích canh tác do phải làm nhiều bờ ngăn, tính trungbình phải mất từ 3 - 5% diện tích đất canh tác dùng để làm bờ vùng, bờ thửa
- Gây cản trở cho quy hoạch giao thông, thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng khácphục vụ sản xuất nông nghiệp
- Gây khó khăn, phức tạp và tốn kém cho công tác quản lý đất đai, hoànthiện hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Tình trạng manh mún ruộng đất đã hạn chế việc thực hiện các quyền sửdụng đất của hộ nông dân (chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thếchấp, ) Vì vậy, cũng cản trở quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất để thựchiện mục tiêu CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Tích tụ và tập trung ruộng đất là một yêu cầu đặt ra trong quá trình CNH
- HĐH nông nghiệp, nông thôn của các nước Tập trung ruộng đất của cáctrang trại quy mô nhỏ thành những trang trại quy mô lớn, tạo điều kiện thuậnlợi để áp dụng khoa học kỹ thuật (KHKT) tiên tiến vào sản xuất, thâm canhtăng năng suất sinh học, tăng năng suất lao động, tăng khối lượng và tỷ suấtnông sản hàng hoá, giảm chi phí sản xuất và giá thành nông sản Vì vậy, việctích tụ ruộng đất trong quá trình công nghiệp hóa hầu như đã trở thành quyluật, diễn ra ở nhiều nước Tuy nhiên, chủ trương, biện pháp, tốc độ và mức
độ tích tụ ruộng đất ở mỗi quốc gia không giống nhau
1.3.2.1 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Âu, Mỹ
Ở các nước Âu, Mỹ bình quân ruộng trên đầu người khá cao, tốc độ đôthị hoá nhanh, nhu cầu lao động cho công nghiệp nhiều, chính quyền khuyếnkhích việc đẩy nhanh tốc độ tích tụ ruộng đất, mở rộng quy mô trang trại bằngcác chính sách và biện pháp cụ thể nhằm khuyến khích sản xuất kinh doanh
Trang 29của các trang trại lớn.
Tuy nhiên, để tránh tích tụ ruộng đất quá mức trong từng địa phương(hạn điền), một số nước như Pháp, Anh có biện pháp quản lý thông qua Hộiđồng quy hoạch đất đai của từng tỉnh, huyện, với Hội đồng quản trị gồmnhững đại diện nông dân địa phương, những chuyên viên ruộng đất và hai uỷviên của Chính phủ: Một người thuộc Bộ Nông nghiệp và một người thuộc
Bộ Tài chính Hội đồng này mua đất trên thị trường tạo ra quỹ đất dự trữ vàbán lại công khai cho các hộ nông dân mua đất theo giá thị trường
Ở Pháp, tuy không đề ra các mức hạn điền cụ thể, nhưng để đề phòngtích tụ ruộng đất quá mức, Nhà nước đã có biện pháp can thiệp vào thị trườngruộng đất, thông qua Hội đồng quy hoạch ruộng đất địa phương để mua bánđất của nông dân, lập quỹ đất dự trữ, điều tiết thị trường Bất động sản
Bảng 1.2 Tích tụ ruộng đất của các trang trại ở một số nước Âu, Mỹ
Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm 1998[8]
1.3.2.2 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Các nước thuộc Châu Á, bình quân ruộng đất ít, quy mô trạng trại nhỏnên việc tích tụ ruộng đất không dễ dàng như ở các nước Âu, Mỹ Ngay ởNhật Bản là một nước có trình độ công nghiệp hóa cao trong lĩnh vực nôngnghiệp cũng có tình trạng như vậy Ở Nhật Bản, sau cải cách ruộng đất năm
1950, Chính phủ có chủ trương hạn chế việc bán ruộng đất, đã gây trở ngạicho việc tích tụ ruộng đất Về sau đã thay đổi chủ trương này, nhưng việc tích
tụ ruộng đất cũng chậm chạp Tuy nhiên, ở Nhật Bản có kinh nghiệm đángquan tâm là họ có giải pháp hạn chế việc chia nhỏ quy mô ruộng đất của các
hộ nông dân Một hộ có nhiều con trai, theo tập quán chỉ có người con trai
Trang 30trưởng mới có nhiệm vụ tiếp tục ở nông thôn làm ruộng và chăm sóc bố mẹgià, còn các con khác phải đi làm nghề khác ngoài nông nghiệp, không chiaruộng cho tất cả các con.
Ở Đài Loan, có kinh nghiệm đáng chú ý về biện pháp tích tụ ruộng đấttrong điều kiện ruộng đất có hạn Thời gian bắt đầu công nghiệp hoá, nôngdân đi làm ngoài nông nghiệp có thu nhập cao hơn làm nông nghiệp, nhưngkhông muốn giao ruộng cho người khác thuê để sử dụng, vì sợ cho thuê saunày không đòi lại được Một số nông dân đi làm công nghiệp, uỷ thác cho anh
em hoặc bạn bè thân tín canh tác trên ruộng của mình, với giao kèo lúc nàođòi lại phải trả ngay Chính quyền thấy cách làm này tạo điều kiện tích tụruộng đất mà nông dân yên tâm không sợ mất ruộng nên đã đưa ra Quốc hộithông qua Luật “Sản xuất uỷ thác” trong nông nghiệp Bộ Luật này đã thúcđẩy quá trình tích tụ ruộng đất ở Đài Loan
Vấn đề hạn điền ở một số nước được đặt ra chủ yếu là trong thời kỳ cảicách ruộng đất, quy định hạn mức ruộng đất của những người có nhiều ruộngđược giữ lại, vượt quá hạn mức Nhà nước sẽ trưng mua để bán lại cho nôngdân thiếu đất như ở Nhật Bản, Đài Loan Đến thời kỳ công nghiệp hóa pháttriển thì vấn đề hạn điền thường không cần đặt ra
Bảng 1.3 Tích tụ ruộng đất ở một số nước Châu Á
Nước Năm 1950 Quy mô trang trại (ha)Năm 1970 Năm 1990
(Nguồn: Hội khoa học kinh tế Việt Nam năm 1998) [8]
Theo Macheal Lipton, 2002, nền nông nghiệp của các nước đang pháttriển ở Châu Á được đặc trưng bởi các yếu tố sau:
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp, nông thôn khá lớn và dư thừa;
- Nền nông nghiệp thâm canh sản xuất lương thực, đặc biệt là trồng lúa
Trang 31nước chủ yếu dựa vào đầu tư lao động của nông hộ với quy mô nhỏ;
- Sự tăng trưởng của khu vực nông nghiệp có tính chất quyết định đếntăng trưởng kinh tế nông thôn
Vì vậy, để xoá đói giảm nghèo cần tạo thêm công ăn việc làm cho lựclượng lao động nông thôn Thành quả của những cuộc cải cách ruộng đất thờigian qua đã mang lại công ăn việc làm và tạo điều kiện cho các nông hộ pháttriển kinh tế Cho nên, nếu việc tập trung ruộng đất, phát triển trang trại quy
mô lớn không hợp lý thì có nguy cơ làm tăng thất nghiệp trong nông thôn.Kinh nghiệm chung của các nước là tích tụ ruộng đất phải đi đôi với giảiquyết việc làm cho lực lượng nông dân cho thuê hoặc bán ruộng cho ngườikhác Việc làm ở đây bao gồm các công việc ngay trong lĩnh vực nông nghiệpnhư: làm thuê cho các trang trại lớn (có thể làm thuê cho chính người mìnhcho thuê đất hay bán ruộng) Tuy nhiên, chủ yếu vẫn là tạo ra các việc làmngoài nông nghiệp để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn
1.3.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.3.3.1 Khái niệm về dồn điền đổi thửa và nguyên nhân của việc tiến hành dồn điền đổi thửa
Khái niệm dồn điền đổi thửa ( Regrouping of lands): là việc tập hợp,dồn đổi các thửa ruộng nhỏ thành thửa ruộng lớn, trái ngược với việc chia cácmảnh ruộng to thành các mảnh ruộng nhỏ Có 2 cơ chế chủ yếu để thực hiệndồn điền đổi thửa:
Một là: để cho thị trường ruộng đất, và các nhân tố phi tập trung thamgia vào, Nhà nước chỉ hỗ trợ sao cho cơ chế nay vận hành tốt hơn;
Hai là: thực hiện các biện pháp can thiệp hành chính, tổ chức phân chialại ruộng đất, thực hiện các quy hoạch có chủ định Theo cách này, các địaphương đều xác định là dồn điền đổi thửa sẽ không làm thay đổi các quyềncủa hộ nông dân đối với ruộng đất đã được quy định trong pháp luật Tuynhiên, việc thực hiện quá trình này có thể làm thay đổi khả năng tiếp cận
Trang 32ruộng đất của các nhóm nông dân hưởng lợi khác nhau dẫn đến thay đổi bìnhquân ruộng đất ở các nhóm xã hội khác nhau.
1.3.3.2 Cơ sở thực tiễn của việc dồn điền đổi thửa
Việt Nam bắt đầu con đường đổi mới kinh tế từ Đại hội Đảng toàn quốclần thứ VI Mục tiêu của chính sách đổi mới là chuyển nền kinh tế Việt Nam
từ mô hình kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường theo địnhhướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp, Nghị quyết 10-NQ/TW của BộChính trị là bước ngoặt cơ bản Nội dung chính của chính sách này là côngnhận hộ nông dân là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự do hoá thị trường đầu vào
và đầu ra của sản xuất cũng như các tư liệu sản xuất khác (ngoại trừ đất đai)
và giao đất sử dụng ổn định, lâu dài cho người dân Chính sách mới này đãdẫn đến xoá bỏ hợp tác hoá trong nông nghiệp Cũng theo chính sách này,nông dân được giao đất nông nghiệp trong 15 năm và ký hợp đồng sử dụngcác đầu vào, sử dụng lao động và sản phẩm mà họ sản xuất ra, các chỉ tiêutrong hợp đồng chỉ được ổn định trong 5 năm Hơn nữa, hầu hết các tư liệusản xuất (máy móc, trâu bò và các công cụ khác) được coi là sở hữu tư nhân
Từ đó, nông nghiệp Việt Nam bước vào một giai đoạn mới tương đối ổn định.Tuy nhiên, thời gian giao đất còn quá ngắn và một số quyền sử dụng đất khácchưa được luật pháp hoá Điều này dẫn đến người nông dân ít có động cơ đầu
tư dài hạn trên những thửa ruộng được giao Sau khi Luật Đất đai năm 1993
ra đời đã giải quyết được những vấn đề nêu trên Theo Luật này nông dânđược giao đất ổn định lâu dài và được giao các quyền sử dụng đất như: Quyềnchuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế và thế chấp
Nguyên tắc quan trọng nhất trong việc giao đất là duy trì sự công bằng, nênđất đai được chia bình quân theo định suất (hoặc bình quân theo nhân khẩu).Ngoài ra, những tiêu chuẩn khác cũng được xem xét khi giao đất như: các hộ giađình thuộc diện chính sách, chất lượng đất, tình hình thuỷ lợi, khoảng cách đếnthửa ruộng và khả năng luân canh cây trồng, (đất cây hàng năm được chia
Trang 33thành 6 hạng) Do đó, để duy trì nguyên tắc công bằng mỗi hộ thường được giaonhiều thửa với nhiều hạng đất khác nhau, ở các cánh đồng khác nhau với chấtlượng đất khác nhau Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra tìnhtrạng manh mún đất đai ở Việt Nam Nguyên nhân của manh mún đất đai dotrong quá trình giao đất nông nghiệp mang nặng tư tưởng lấy "công bằng xã hội"
đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu thảo luận và phân tích những nămgần đây Manh mún có nhiều mức độ khác nhau, theo số liệu của Tổng cục Địachính năm 1998, bình quân một hộ vùng đồng bằng sông Hồng có khoảng 7thửa trong khi ở vùng núi phía Bắc, con số này còn cao hơn từ 10 - 20 thửa Sốliệu điều tra từ 42.167 nông hộ ở tỉnh Hưng Yên cho thấy sau khi giao đất năm
1993, trung bình một hộ có 6 ÷ 7 thửa nên khi sản xuất gặp nhiều khó khăn Vàonăm 1998, Chính phủ đã đề ra chính sách khuyến khích nông dân đổi ruộng chonhau để tạo thành những thửa có diện tích lớn hơn Từ đó, các tỉnh trên miềnBắc, đặc biệt là vùng Đồng bằng sông Hồng đã thành lập các Hội đồng thực hiệnthí điểm công tác “Dồn điền đổi thửa” Theo báo cáo trên toàn quốc khoảng 700
xã ở 20 tỉnh đã và đang thực hiện công tác chuyển đổi ruộng đất, tuy nhiên tiếntrình vẫn còn rất chậm Trên thực tế ở những vùng này đất đai được chia lại chocác hộ nông dân với mục tiêu là giảm số thửa ruộng
Ở tỉnh Hưng Yên, thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TW ngày 10/08/2004 của BanThường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên, và Quyết định số: 34/QĐ-UBND ngày18/09/2004 của UBND Tỉnh Hưng Yên “Về việc làm điển dồn thửa- đổi ruộngđất nông nghiệp” Sau khi dồn điền đổi thửa các vùng chuyên canh lớn được hìnhthành, là điều kiện tiền đề cho phong trào thi đua làm giầu trong nông nghiệp vàphong trào xây dựng cánh đồng 80 triệu đồng/ha/năm, hộ thu nhập 80 triệuđồng/ha/năm, nhằm từng bước chuyển đổi nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa vàthực hiện sự nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn toàn tỉnh
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trang 34Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất là hếtsức cần thiết, nó giúp cho việc đưa ra những đánh giá phù hợp với từng loạivùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sửdụng đất Các nhân tố ảnh hưởng có thể chia thành 3 nhóm:
1.4.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng,môi trường sinh thái, nguồn nước … Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét,thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sử dụng đất
+ Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghiệp, thànhphần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, …quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốthay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
+ Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điềukiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúpcho sinh vật sinh trưởng và phát triển
+ Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổnhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnhhưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
+ Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng,nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,… sẽ quyếtđịnh đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụngđất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn
có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường
1.4.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môitrường chính sách, …) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối vớikết quả và hiệu quả sử dụng đất [13]
Trang 35+ Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nógóp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tốđầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc,dịch vụ đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng đất Trong đó,thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay.Các yếu tố còn lại cũng cố hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng caohiệu quả sử dụng đất
+ Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sảnxuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điềunày giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
+ Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụngđất thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng
về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyềnthống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất
+ Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sảnxuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư,chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khíchđầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo … các chính sách này đã có những tác độngrất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đấtmới đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc
Trang 361.4.3 Nhóm các yếu tố tổ chức, kỹ thuật
Đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất,một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xãhội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng, vậtnuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng,gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 37Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các loại đất nông nghiệp được nhà nước giao đất cho các hộ nông dân
và ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến hiệu quả sử dụng đất nôngnghiệp của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Điều tra, đánh giá khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu.
- Điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý, khí hậu, đất đai, thủy văn, địa hình, …
- Điều kiện kinh tế – xã hội: cơ cấu kinh tế, dân số, lao động
2.2.2 Nghiên cứu thực trạng quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa ở huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên
- Cơ sở lý luận của việc tiến hành dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp
- Thực trạng manh mún ruộng đất trước khi dồn điền đổi thửa
- Tìm hiểu phương án dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bànhuyện Khoái Châu
- Quá trình tổ chức thực hiện dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trênđịa bàn huyện Khoái Châu
- Đánh giá kết quả đạt được của công tác dồn điền đổi thửa trên địa bànnghiên cứu
2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và công tác quản lý đẩt sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
2.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trước và sau khi dồn điền, đổi thửa.
- Sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của hộ nông dân;
- Khả năng đầu tư cho sản xuất của hộ nông dân;
Trang 38- Khả năng phát huy cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trước và sau khithực hiện Chính sách “Dồn điền đổi thửa”
2.2.5 Đề xuất các giải pháp thực hiện liên quan đến vấn đề tập trung ruộng đất nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất trong nông hộ:
- Giải pháp về chính sách
- Giải pháp kỹ thuật chuyển dịch cơ cấu sản xuất
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
- Xã Đông Tảo đại diện cho vùng I: Đại diện cho thị trấn Khoái Châu
và 7 xã : Đông Tảo, Bình Minh, Dạ Trạch, Hàm Tử, Ông Đình, Tân Dân, An
Vĩ của huyện; với diện tích tự nhiên 42,66 km2 chiếm 32,60% tổng diện tíchđất tự nhiên toàn huyện Là vùng có nhiều ngành nghề như: Chăn nuôi bò,lợn, gà ; trồng cây ăn quả và cây cảnh như cam, quất, bưởi; bên cạnh đó cònphát triển các ngành nghề truyền thống như đậu, mây tre Nằm ở phía Bắc củahuyện, đây là vùng có địa hình bằng phẳng, đất đai màu mỡ nên cơ cấu kinh
tế và cây trồng phát triển mạnh có phong trào chuyển đổi kinh tế phát mạnh.Đây cũng là vùng được đánh giá phát triển kinh tế trang trại và dịch vụ
- Xã Phùng Hưng đại diện cho vùng II: Gồm 9 xã: Dân Tiến, Đồng Tiến,
Phùng Hưng, Hồng Tiến, Việt Hoà, Đại Hưng, Thuần Hưng, Nhuế Dương,Thành Công của huyện; với diện tích tự nhiên 46,26 km2 chiếm 35,35% diệntích đất tự nhiên toàn huyện Nằm phía Nam và Đông Nam huyện Khoái Châu
có địa hình bằng phẳng, thấp trũng thuận tiện cho canh tác và chăn nuôi Đạidiện cho các xã nghề nghiệp chủ yếu là nghề nông, với mô hình cấy lúa kếthợp trồng cây mầu vụ đông (2 vụ lúa - 1 vụ đông)
- Xã Liên Khê đại diện cho vùng III: Gồm 8 xã: Tứ Dân, Đông Kết, Bình
Kiều, Tân Châu, Liên Khê, Đông Ninh, Đại Tập, Chí Tân của huyện; với diện
Trang 39tích tự nhiên 41,94 km2 chiếm 32,05% diện tích đất tự nhiên toàn huyện Nằmphía Tây và Tây Nam của huyện Đại diện cho các xã nằm gần Sông Hồng nênthuần nông và chủ yếu trồng các loại cây hoa màu, cam, bưởi, nhãn, chuối, bên cạnh đó vùng này có xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷtrọng ngành công nghiệp và dịch vụ, nhiều nhà máy may đã thành lập.
Mỗi xã nghiên cứu lựa chọn 50 hộ ngẫu nhiên để tiến hành điều tra
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.3.2.1 Thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Đó là những thông tin số liệu có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đếnquá trình nghiên cứu của đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, ngành.Thông tin số liệu chủ yếu bao gồm: các kết quả nghiên cứu có liên quan đãtiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình sử dụng đất nôngnghiệp, các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển sản xuất, kết quả sảnxuất nông nghiệp và các thông tin số liệu khác
2.3.2.2 Thu thập thông tin sơ cấp:
Là những thông tin số liệu được phỏng vấn các hộ nông dân, nó phảnánh một cách toàn diện đời sống kinh tế - xã hội, đặc biệt là vấn đề sử dụngđất đai và các vấn đề khác có liên quan
Để thu thập được thông tin số liệu sơ cấp: Đề tài sử dụng đã điều traphỏng vấn các hộ nông dân về các chỉ tiêu chi phí sản xuất và các chỉ tiêukhác phản ánh hiệu quả sử dung đất và tác động của dồn điền đến sản xuất
2.3.3 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA)
Thông qua việc đi thực địa để quan sát thực tế, phỏng vấn các cán bộnông dân cơ sở tại địa phương để thu thập những thông tin số liệu liên quanđến tình hình đời sống và sản xuất nông nghiệp
Điều tra phỏng vấn hộ nông dân: Công việc này được tiến hành sau khi
đã lựa chọn được các hộ nông dân trong mỗi thôn, xã
Mục đích của điều tra phỏng vấn hộ nông dân là nhằm thu thập các
Trang 40thông tin số liệu về tình hình đời sống, sản xuất cũng như các vấn đề liênquan như chính sách, đất đai, lao động việc làm, khó khăn trong sản xuất; môhình phương hướng sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của từng hộ nôngdân ở điểm nghiên cứu; điều tra phỏng vấn trực tiếp các hộ nông dân với bộcâu hỏi đã được chuẩn bị trước.
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu bằng phần mền EXCEL
- Các thông tin, số liệu thứ cấp: Sau khi được thu thập, toàn bộ các
thông tin số liệu được kiểm tra ở 3 khía cạnh đầy đủ, chính xác, kịp thời vàkhẳng định độ tin cậy Sau đó xử lý tính toán phản ánh thông qua các bảngthống kê, biểu đồ để so sánh, đánh giá và rút ra kết luận cần thiết
- Các thông tin, số liệu sơ cấp: Toàn bộ thông tin số liệu đều được xử lý và
dùng chương trình phần mềm EXCEL là công cụ chủ yếu để tính toán, xử lý, tổnghợp và phân tích thông tin số liệu dựa vào những chỉ tiêu cụ thể nhằm đạt đượcmục đích nghiên cứu đề ra Trong quá trình xử lý số liệu, phương pháp phân tổthống kê được coi là phương pháp chủ đạo để đánh giá phân tích, so sánh
2.3.5 Phương pháp xác định hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
* Hiệu quả kinh tế
Để đánh giá hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nông nghiệp chúng tôi tiếnhành phân tích tài chính trên địa bàn huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên thôngqua hệ thống chỉ tiêu kinh tế sau đây:
+ Giá trị sản xuất: (GO: Gross Ouput)
GO = ∑ Qi*Pi
Trong đó: Qi: là sản lượng của sản phẩm thứ i được tạo ra
Pi: là giá trị của đơn vị sản phẩm thứ i
+ Chi phí trung gian (IC: Intermediate Cost)
IC = ∑ Cj
Trong đó: Cj là khoản chi phí thứ j