1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

91 597 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên nhìn từ góc độ khoa học quản lý đối với hệ VLVH, trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, còn có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, khảo sát như tư duy quản lý, chu trình quản lý, cá

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS Đặng Quốc Bảo

THÁI NGUYÊN – 2014

Trang 3

3

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài

Thực hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục (GD) và đào

tạo (ĐT): “GD cho mọi người”;“Cả nước trở thành một xã hội học tập”, nền

GD đại học Việt Nam còn phải đáp ứng nhu cầu học tập, học thường xuyên, học suốt đời ngày càng cao của mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Đẩy mạnh GD trong nhân dân bằng các hình thức chính quy và không chính quy, thực hiện GD cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập” Luật Giáo dục khẳng định “Chương trình giáo dục để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân theo hình thức vừa học vừa làm, học từ xa, tự học có hướng dẫn” Như vậy, cùng với GD đại học chính quy, GD đại học không chính quy (trong đó có hệ VLVH) đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến lược phát triển GD của đất nước

Giáo dục cao đẳng, đại học hiện nay hướng đến đạt mục tiêu “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng, hiệu quả và qui mô, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa (CNH-HDDH) đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế và nhu cầu học tập của nhân dân Đến năm 2020, giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực và tiếp cận trình độ tiên tiến trên thế giới, có năng lực cạnh tranh cao, thích ứng với cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Trích Nghị quyết 14 của Chính phủ) Trong số nhiều nhiệm vụ và giải pháp dành cho giáo dục đại học, có giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp và qui trình đào tạo Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo đại học theo 3 tiêu chí: “trang bị cách học, phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học; khai thác các nguồn tư liệu giáo dục mở và nguồn tư liệu trên internet; lựa chọn, sử dụng các chương trình, giáo trình tiên tiến của các nước v.v.” Tất cả những điều trên đều là thách thức không nhỏ đối với đào tạo

Trang 4

4

đại học, trong đó có đào tạo hệ vừa học vừa làm (lâu nay vẫn gọi là đào tạo tại chức) Không chỉ thế, việc Việt Nam gia nhập WTO vừa qua cũng tạo cho giáo dục đại học Việt Nam những cơ hội và thách thức mới Cơ hội của giáo dục đại học có thể là:

-Được tiếp cận với các nền giáo dục đại học tiên tiến, có khả năng học hỏi, tiếp thu những yếu tố tiên tiến phù hợp với truyền thống của giáo dục đại học Việt Nam, làm cơ sở cho sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học Việt Nam, hội nhập với giáo dục đại học thế giới

-Việc Việt Nam gia nhập WTO cũng thúc đẩy tiến trình đổi mới giáo dục đại học nhanh hơn, đồng bộ hơn và hiệu quả hơn Những thách thức của giáo dục đại học dường như cũng lớn hơn:

- Cạnh tranh trong lĩnh vực giáo dục đại học sẽ gay gắt hơn, với nhiều đối thủ hơn ngay trênđất nước Việt Nam

-Trong bối cảnh mới đầy biến động, giáo dục đại học Việt Nam vẫn phải gìn giữ bản sắc dân tộc, định hướng xã hội chủ nghĩa trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Hệ đào tạo vừa học vừa làm hiện tại cũng đang nỗ lực phấn đấu hướng tới mục tiêu chung của ngành giáo dục đào tạo

Là một trường cao đẳng có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường Cao đẳng Sư Phạm Hà Nội (CĐSPHN) có sứ mệnh là một trong những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở, giáo viên Tiểu học, giáo viên Mầm non có chất lượng cao của Thủ đô; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Bên cạnh nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Trung học cơ sở, giáo viên Tiểu học, giáo viên Mầm non có trình độ Cao đẳng

hệ chính qui Trường còn đào tạo, liên kết đào tạo, bồi dưỡng các nguồn nhân lực có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học các chuyên ngành sư phạm và các

Trang 5

5

chuyên ngành khác hệ vừa làm vừa học (VLVH) Công tác đào tạo hệ VLVH là một nhiệm vụ quan trọng của trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội cần phải được

tổ chức tốt và không ngừng nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của

xã hội về nguồn nhân lực Tuy nhiên nhìn từ góc độ khoa học quản lý đối với

hệ VLVH, trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, còn có nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, khảo sát như tư duy quản lý, chu trình quản lý, các thành tố quản

Trường CĐSPHN còn bộc lộ những bất cập như đội ngũ cán bộ quản lý chưa đồng bộ, thiếu những chính sách nhất quán trong QLGD, còn hạn chế trong việc tiếp cận với khoa học công nghệ hiện đại như ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý trường học v.v…

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay” với hy vọng đề xuất được một số biện pháp

cơ bản nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Cao đẳng sư phạm Hà Nội

2 Mục đích nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường

Cao đẳng Sư phạm

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở Trường Cao

đẳng Sư phạm Hà Nội

4 Giả thuyết nghiên cứu

Việc quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội trong những năm qua đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của loại hình đào tạo này, song chất lượng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao

Trang 6

6

của xã hội Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý theo hướng đổi mới, tăng cường liên kết đào tạo sẽ nâng cao hiệu quả đào tạo hệ vừa học vừa làm ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

5.Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1.Nhiệm vụ nghiên cứu:

-Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học

-Phân tích, đánh giá thực trạng về công tác đào tạo và quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường CĐSPHN

-Đề xuất giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường

CĐSPHN

5.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu khảo sát thực trạng công tác quản lý đào tạo hệ VLVH tại Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội 03 năm gần đây (2010-2013)

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu, phân tích, hệ thống hóa các tài liệu, các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn : tìm hiểu, khảo sát, điều tra, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn…sau đó phân tích, tổng hợp đánh giá thực trạng vấn

đề nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp thống kê xử lý số liệu

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học

Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Cao đẳng

Sư phạm Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội

Trang 7

7

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Xuất phát từ quan điểm nền giáo dục thời đại mới phải dựa trên 4 yêu cầu: học để biết, học để làm, học để xây dựng nhân cách và học để chung sống với đồng loại Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỉ XXI đã vạch ra nguyên tắc xây dựng nền giáo dục trước mắt và cho những năm sắp tới đó là học suốt đời hay nói khác đi là giáo dục suốt đời

Bản tuyên ngôn tại Hội nghị thế giới lần thứ V về giáo dục người lớn, giáo dục vừa làm vừa học, tổ chức tại thành phố Hamburg Cộng hòa liên bang Đức tháng 7 năm 1997 đã khẳng định: giáo dục người lớn (hệ vừa làm vừa học) tuy khác nhau về tổ chức, tùy theo sự phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục ở mỗi nước, song giáo dục người lớn đều là những bộ phận quan trọng, cần thiết của quan niệm mới về giáo dục và học tập suốt đời

Unesco, với tư cách là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc, trong lĩnh vực văn hóa, khoa học, giáo dục đã khuyến nghị “Giáo dục cần giữ vai trò chủ đạo trong việc đẩy mạnh giáo dục hệ vừa học vừa làm như một bộ phận không thể thiếu của hệ thống giáo duc mỗi quốc gia” [ 58,38]

Hội nghị lần thứ III, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về giáo dục thường xuyên do Unesco tổ chức tại KualaLumpur, Malaysia từ ngày 19 đến ngày 28 tháng 8 năm 1996, qua đó đã thể hiện sự quan tâm của các nước về giáo dục hệ vừa làm vừa học Hội nghị đã thừa nhận sự đóng góp to lớn của hệ VLVH đối với việc nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội, phát triển cá nhân, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường, đồng thời khẳng định vai trò của giáo dục vừa học vừa làm là chìa khóa bước vào thế kỷ XXI

Trang 8

8

Thực tế, ngay từ năm 1949 tại Ensinore (Đan Mạch) người ta đã bàn đến giáo dục cho người lớn Năm 1960 tại Montreal (Canada) đã mở hội nghị bàn nhiều về việc làm thế nào để xóa mù chữ cho người lớn tuổi ở các nước mới dành được độc lập và tạo cho người lớn tuổi vừa đi làm vừa có thể được học Năm 1972 tại Tokyo (Nhật Bản), người ta bàn nhiều về dân chủ trong giáo dục

và giáo dục cho người lớn là một nhân tố quan trọng cho việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế - xã hội cho từng quốc gia Năm 1997 tại Hamburg (Đức) trong xu thế toàn cầu hóa, người ta lại bàn nhiều đến giáo dục cho người lớn với các ý tưởng: Giáo dục người lớn vừa làm vừa học để thừa nhận chân giá trị của con người; Giáo dục vừa làm vừa học không chỉ để tạo điều kiện bình đẳng giữa người và người mà còn coi đây là nguồn lực lao động có chất lượng giúp cho KT-XH phát triển và vừa làm vừa học cũng chính là để cải tạo xã hội hướng đến việc học suốt đời trong xây dựng xã hội học tập

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Đào tạo theo hình thức vừa làm vừa học là một vấn đề đang được

cả xã hội quan tâm, đặc biệt là đào tạo vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết của các trường đại học nói chung Trong thời gian qua đã có rất nhiều cuộc hội thảo cấp quốc gia và cấp vùng miền cũng như tại các trường đại học,

có cả sự tham gia của các tổ chức nước ngoài về thực trạng đào tạo hệ vừa làm vừa học nói chung và hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết nói riêng

để từ đó tìm ra giải pháp nâng cao chất lượng của hệ đào tạo này

Đã có rất nhiều bài báo hoặc những bài viết của trực tiếp những người đang công tác trong ngành giáo dục được đăng tải đề cập đến chất lượng của việc đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các trường đại học và tại các

cơ sở liên kết

Bộ Giáo dục và đào tạo vẫn thường xuyên tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm đào tạo tại chức (vừa làm vừa học) Đã có rất nhiều ý kiến xung quanh vấn đề này được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng

Trang 9

Liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu quản lý đào tạo hệ VLVH, đã có nhiều tác giả đã bàn nhiều đến vấn đề công tác quản lý đào tạo, chú ý đến các biện pháp bồi dưỡng những kỹ năng nghề nghiệp cho cán bộ quản lý và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả chất lượng đào tạo của hệ VLVH v.v

Đó là các bài báo, các luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này, có thể kể tên

một số công trình như sau: Nâng cao chất lượng đào tạo tại chức/ Phan Huy Hiền - Nhân dân - 2002 - Số 17028 - Tr.1; Nhu cầu và biện pháp cho phương thức GD không chính quy / PGS.TS.Trịnh Minh Tứ, Th.s Lê Hải Yến – Giáo dục & Đào tạo CN - 2002 - Số 11 - Tr 1 & 5; Biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa học vừa làm ở trường CĐSPHN - Luận văn Thạc sĩ khóa 2007 -

2009 của Vũ Thị Gấm - Trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội; Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại các cơ sở liên kết đào tạo của trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội - Luận văn thạc sĩ khóa 2007 - 2009 của Nguyễn Khánh Thọ - Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội; Hoàn thiện quy trình đào tạo cử nhân hệ Tại chức ở Học viện Báo chí và Tuyên truyền - Luận văn

Thạc sĩ khóa 2004-2006 của Phạm Trung Kiên – Học viện Báo chí và Tuyên truyền v.v

Trong phạm vi cho phép, tác giả chỉ đề cập đến vấn đề quản lý đào tạo

Trang 10

10

hệ VLVH tại Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội Đây là một vấn đề chưa có tác giả nào nghiên cứu Từ thực tế của hoạt động đào tạo và những kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả hy vọng có thể đưa ra những biện pháp quản

lý đào tạo hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH của Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ rất sớm và là một

nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội C.Mác đã nói: “Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [37, 5]

Sự phát triển của xã hội loài người dựa vào ba yếu tố cơ bản, đó là tri thức, sức lao động và trình độ quản lý Quản lý là sự tổ chức, điều hành, kết hợp vận dụng tri thức với việc sử dụng sức lao động để phát triển sản xuất xã hội

Tuy tư tưởng về quản lý đã có từ rất lâu, từ khi con người được xã hội hóa nhưng khoa học quản lý lại chỉ mới phát triển thành một khoa học thực sự từ đầu thế kỷ XX Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm quản lý, tùy theo góc độ, quan điểm và phương pháp tiếp cận.Nhiều nhà nghiên cứu đã xem quản

lý là cai quản, cai trị, quản trị, lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo, kiểm soát, điều khiển, điều chỉnh v.v Sau đây là một số định nghĩa tiêu biểu:

- Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) là người đề xuất thuyết “Quản

lý khoa học” cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều mình muốn người

Trang 11

- Pall Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” [47]: Quản lý như là một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích của tổ chức

Theo Đại bách khoa toàn thư Liên xô, 1977, quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động [37, 7]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý đều nhấn mạnh các yếu tố: chủ thể quản lý, khách thể và mục tiêu quản lý, đồng thời khẳng định rằng: Quản lý là một hoạt động mà trong đó con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý Trong cuốn “Tâm lý học trong quản lý nhà nước”- Học viện hành chính quốc gia 1993, tác giả Mai Hữu Khuê nêu rõ “ Hoạt động quản lý là một dạng lao động đặc biệt của người lãnh đạo, mang tính tổng hợp của các dạng lao động trí óc liên kết bộ máy thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà, phối hợp các khâu quản lý và các cấp quản lý hoạt động nhịp nhàng đưa đến hiệu quả cao” [33]

Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “ Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý” 2000 - NXB chính trị quốc gia Hà Nội thì “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp

Trang 12

12

nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ mục đích của con người”[52, 5]

Như vậy, khi bàn về quản lý , các tác giả đều có quan điểm thống nhất

chung là: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với khách thể (đối tượng) quản lý về mặt chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội…bằng một hệ thống các luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp có thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng

Hoạt động quản lý về bản chất là tác động (bằng tổ chức, điều khiển và chỉ huy) hợp qui luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu đã đề ra với hiệu quả mong muốn Hoạt động quản lý được thể hiện qua sơ đồ 1.1 dưới đây, trong đó :

- Khách thể quản lý: Các đối tượng được quản lý

- Công cụ quản lý: Các quyết định quản lý, thông tin quản lý

- Phương pháp quản lý: Các cách thức tác động của chủ thể lên khách thể

Đối tượng, khách thể quản lý Mục

tiêu

Phương pháp quản lý Chủ thể

quản lý

Trang 13

13

Quản lý có bốn chức năng: Kế hoạch hóa; tổ chức; chỉ đạo, điều hành

;kiểm tra: Các chức năng trên, có mối liên quan chặt chẽ với nhau, đan xen lẫn nhau tạo thành một chu trình quản lý Khi thực hiện chức năng này, thường cũng

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lí tưởng, động cơ, tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu

1.2.2 Quản lý giáo dục

QLGD là một bộ phận của hệ thống quản lý xã hội QLGD là những tác động có hệ thống có ý thức hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau lên tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng

Kế hoạch hoá

Tổ chức

Thông tin Kiểm tra

Chỉ đạo

Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

Trang 14

14

1.2.3 Đào tạo và quản lý đào tạo

1.2.3.1 Đào tạo

Đào tạo và bồi dưỡng là hai quá trình tác động đến con người, nhằm trang

bị mới hoặc trang bị thêm kiến thưc, kỹ năng cho mỗi con người với mục đích hoàn thiện, nâng cao khả năng hoạt động nghề nghiệp và các hoạt động sống cho mỗi con người, với mục đích hoàn thiện hoạt động thực tiễn trong mỗi lĩnh vực nhất định

Theo Mạc Văn Trang, trong đề cương bài giảng Quản lý nhân lực “Đào tạo là quá trình hình thành kiến thưc, thái độ, kỹ năng chuyên môn, nghề nghiệp được huấn luyện có hệ thống theo chương trình qui định (chuẩn quốc gia hoặc quốc tế) để người học sau một khoảng thời gian đào tạo có được trình độ chuyên môn, năng lực và kiến thức đáp ứng yêu cầu công việc được giao”

Đào tạo là một hoạt động được tổ chức có hệ thống để trang bị cho người lao động nhận thức, kỹ năng tay nghề và động lực thực hiện công việc Đào tạo giúp trang bị cho con người cách thức và kỹ năng thực tiễn, nó giúp cho người lao động thực hiện tốt hơn các công việc hiện tại

Như vậy đào tạo theo nghĩa trên, cần phải có lượng thời gian phù hợp và kinh phí đầu tư thích hợp, do đó cần phải có lộ trình, kế hoạch đào tạo hợp lý, nhất là kinh phí và các chính sách của Đảng và Nhà nước

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, kiến thức con người ngày càng được nâng cao để nắm bắt tri thức mới, đào tạo trở thành nhiệm

vụ quan trọng của các nhà quản lý

1.2.3.2 Quản lý đào tạo

a)Quản lý đào tạo là một hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với qui luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống giáo dục đào tạo vận hành theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Quản lý đào tạo là quá trình “quản lý các hoạt động của giáo viên và học

Trang 15

15

sinh sinh viên trong việc thực hiện kế hoạch và nội dung chương trình đào tạo của nhà trường” [56,11], nhằm làm cho con người hướng đến việc nắm vững những tri thức, kĩ năng, kỹ xảo…một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người học thích nghi với cuộc sống, để chuẩn bị đảm nhận công việc phân công lao động mới, góp phần vào việc phát triển chung cho xã hội

Đối tượng của quá trình quản lý đào tạo : “là hoạt động của giáo viên, học sinh sinh viên và các tổ chức sư phạm của nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch và chương trình đào tạo nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đã qui định”[56,9] Quá trình đào tạo ở đây được xem là quá trình dạy học và quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp), là bộ phận cấu thành chủ yếu nhất trong toàn

bộ hoạt ddộng của nhà trường Do đó, quản lý quá trình đào tạo là một bộ phận chủ yếu trong toàn bộ công tác quản lý nhà trường

Như vậy, quản lý đào tạo về thực chất là quản lý: Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, lực lượng đào tạo, đối tượng đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo, điều kiện đào tạo, môi trường đào tạo, quy chế đào tạo,

bộ máy tổ chức đào tạo

Quản lý đào tạo có nội hàm rộng hơn quản lí quản lý quá trình đào tạo Nếu quản lý quá trình đào tạo được bắt đầu từ khâu xác định mục tiêu đào tạo và kết thúc ở sản phẩm đào tạo thì quản lý đào tạo bắt đầu từ khâu tuyển sinh (theo yêu cầu xã hội) và kết thúc ở sản phẩm đào tạo Quản lý đào tạo bao gồm quản lí khâu tuyển sinh và quản lí các thành tố của quá trình đào tạo Nhân lõi của quản

lý đào tạo chính là quản lí quá trình đào tạo Như vậy: quản lý đào tạo là quản lí

hệ thống các thành tố có liên quan mật thiết đến đào tạo từ khâu tuyển sinh đến

sự vận hành của tổ hợp các thành tố bao gồm: mục tiêu đào tạo, xác định nội dung chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo diễn ra trong môi trường đào tạo nhằm đạt được kết quả đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội

b) Biện pháp quản lí đào tạo

* Biện pháp: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Biện pháp là cách thức xử lí công

Trang 16

16

việc hoặc giải quyết vấn đề” [56] Biện pháp được hiểu là: Cách thức xử lí một công việc hoặc giải quyết một vấn đề, làm cho nó trở nên tốt hơn, hoàn thiện hơn

* Biện pháp quản lí đào tạo: Là cách thức quản lí hệ thống các thành tố có

liên quan mật thiết đến đào tạo từ khâu tuyển sinh đến quản lí sự vận hành tổ hợp các thành tố từ mục tiêu đào tạo, xác định nội dung chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo diễn ra trong môi trường đào tạo nhằm đạt được kết quả

đào tạo đáp ứng yêu cầu xã hội

c)Các thành tố của quản lí đào tạo

Chúng tôi cho rằng quản lí đào tạo là quản lí một hệ thống toàn vẹn gồm

12 thành tố (trong đó thành tố Người dạy trở thành Hoạt động dạy, thành tố Người học trở thành Hoạt động học trong quản lí đào tạo); các thành tố này có mối quan hệ tương tác với nhau, có thể biểu diễn trong sơ đồ 1.3 dưới đây:

YCXH: Yêu cầu xã hội

QLMT: Quản lí mục tiêu đào tạo

QLNDCTr: Quản lí nội dung, chương

trình đào tạo

QLPP: Quản lí phương pháp đào tạo

QLHĐD: Quản lí hoạt động dạy

QLĐK: Quản lí điều kiện (vật lực, tài lực, thông tin lực, lực lượng ngoài đội ngũ giảng dạy)

QLQC,MTr: Quản lí quy chế, Môi trường đào tạo

QLBM: Quản lí bộ máy tổ chức đào tạo

BM NDCTr KTĐG

Trang 17

17

QLHĐH: Quản lí hoạt động học

QLHT: Quản lí hình thức đào tạo

QLKTĐG: Quản lí kiểm tra, đánh giá đào tạo

QLSPĐT: Quản lí sản phẩm đào tạo

Sơ đồ 1.3: Mối quan hệ giữa các thành tố của QLĐT 1.3 Tầm quan trọng của hệ vừa làm vừa học và quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm

1.3.1.Tầm quan trọng của hệ vừa làm vừa học

Hệ đào tạo VLVH là hình thức đào tạo có lịch sử ra đời khá lâu ở Việt Nam cũng như trên thế giới Hình thức đào tạo này vừa đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, nâng cao chuyên môn, tay nghề của người học vừa đáp ứng nhu cầu của các ngành nghề trong xã hội, góp phần nâng cao dân trí Lịch sử đào tạo hệ VLVH ( hệ tại chức cũ) của Việt Nam đã có thâm niên gần 50 năm Đ ng như tên gọi của nó, thành tích đào tạo của bậc không chính quy này đã góp phần

trong quá trình công tác Trong điều kiện kinh tế, xã hội Việt Nam những năm chiến tranh và sau khi thống nhất đất nước thì đây là giải pháp tốt cho việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực phục vụ cho việc kiến thiết đất nước Cũng từ đó đến nay, hệ đào tạo này ngày càng phát huy khả năng vốn có của nó, mà ưu thế lớn nhất là tạo điều kiện cho mọi người được tham gia học tập suốt đời, hình thành xã hội học tập

Trước xu thế và nhịp độ phát triển nhanh chóng về kinh tế xã hội của đất nước hiện nay, ngành Giáo dục - Đào tạo đang đứng trước nhiều thách thức lớn,

đó là, đào tạo được nguồn nhân lực đảm bảo về số lượng và chất lượng cao, chuẩn bị nguồn nhân lực cho đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Hệ VLVH là một mô hình giáo dục nhằm tạo cơ hội học tập thuận lợi cho toàn

xã hội, đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương Nhờ cách làm này nhiều người

ở vùng sâu, vùng xa, nhiều người ở mọi lứa tuổi, mọi hoàn cảnh cũng có thể tham gia học tập, học thường xuyên, học suốt đời nhằm mở rộng nâng cao tầm

Trang 18

18

hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, có điều kiện làm việc và thích nghi với đời sống xã hội

Đối với xã hội và các địa phương, với quy mô đào tạo ngày càng tăng, hệ

vừa làm vừa học đã đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là hình thức để chính quyền quản

chẽ nguồn đào tạo, đảm bảo sau khi tốt nghiệp người học sẽ ở lại phục vụ tại chỗ, cải thiện nguồn nhân lực cho địa phương Hệ vừa làm vừa học còn góp phần khuyến khích học tập, hình thành “ xã hội học tập” tại địa phương

Đối với người học, hệ đào tạo vừa làm vừa học tạo cơ hội học tập suốt

đời cho tất cả mọi người trong xã hội, góp phần nâng cao trình độ đội ngũ cán

bộ, viên chức trong bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội; tạo cơ hội cho những người không có điều kiện theo học hệ chính quy được học tập theo nguyện vọng của mình Đây là hình thức học tập phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng người, vừa thực hiện nguyện vọng nâng cao trình độ vừa có thể công tác, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho quá trình học tập khi các lớp đào tạo hệ vừa làm vừa học được mở tại các địa phương hay địa bàn công tác

Đối với các trường đại học, cao đẳng, bên cạnh giảm được áp lực về cơ

sở vật chất vốn còn thiếu thốn hiện nay, đào tạo hệ vừa làm vừa học là một dịp

để các trường gắn đào tạo với nhu cầu xã hội, trường học gần hơn với thực tiễn địa phương, đáp ứng nhu cầu nghề nghiệp và nhu cầu nâng cao trình độ của nhân dân Các trường đại học, cao đẳng đã nhờ vào nguồn kinh phí đào tại tại chức mà cải thiện được thu nhập cho cán bộ, giảng viên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp như hiện nay

1.3.2 Những đặc điểm chính của hệ đào tạo VLVH

Đào tạo VLVH thuộc phương thức giáo dục không chính quy trong hệ thống giáo dục quốc dân Đây là hình thức đào tạo mà trong đó phần lớn thời gian học viên vừa phải học, vừa phải làm, đòi hỏi người học tự giác, kiên trì và quyết tâm cao để hoàn thành chương trình học tập của mình

Trang 19

19

Sự phối hợp này được thực hiện trên cơ sở cơ chế phân công nhiệm vụ và hợp đồng đào tạo đối với từng khâu của quá trình đào tạo: tuyển sinh, đào tạo, sau đào tạo

Về chương trình đào tạo theo hình thức VLVH thì Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hình thức VLVH số 36/2007/QĐ-BGDĐT điều 2 có nêu:

trên cơ sở chương trình hệ chính quy Nội dung chương trình VLVH phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung của chương trình hệ chính quy cùng trình độ đào tạo

Mục đích của đào tạo đại học hình thức VLVH bao gồm:

- Tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, có năng lực nhận thức tốt cả về

lý luận và thực tiễn; cung ứng, bổ sung kịp thời nguồn nhân lực cho những yêu cầu mới trong phát triển Kinh tế - xã hội của địa phương; nâng cao kiến thức - khoa học kỹ thuật - nghiệp vụ cho mọi đối tượng trong xã hội

- Khẳng định hiệu quả đào tạo của bất cứ hình thức nào (chính quy hay phi chính quy) là phải đáp ứng được yêu cầu của xã hội, của người sử dụng lao động (đây cũng là mục tiêu, yêu cầu đổi mới cả cách giáo dục nói chung, đào tạo Đại học nói riêng thông qua việc thực hiện quản lý đào tạo bằng hình thức học chế tín chỉ)

- Xây dựng một xã hội học tập theo tư tưởng của Hồ Chí Minh; theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ phát triển hội nhập; đồng thời phù hợp với quan điểm của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên hợp quốc UNESCO với 4 mục đích của giáo dục: Học để biết, Học để làm việc, Học để tự khẳng định mình, Học để cùng chung sống

1.3.3 Thực trạng đào tạo hệ VLVH tại các trường cao đẳng, đại học Việt Nam

Việt Nam đã chính thức công bố: tiến tới một xã hội học tập Nói cho dễ hiểu, đó là một xã hội mà người dân có cơ hội học tập suốt đời Trong bất cứ giai

Trang 20

20

đoạn nào của cuộc đời, người dân cũng có điều kiện học tập, để nâng cao trình

độ nghề nghiệp theo kịp với đà tiến như vũ bão của công nghệ thông tin hiện đại Hệ đào tạo tại chức các cấp học trở thành cái xương sống cho xã hội học tập phát triển, và chính hệ đào tạo này ở Việt Nam lại bị xã hội xem nhẹ, rung trong đời sống đương đại.Tại nhiều quốc gia, hệ VLVH được xem như một

hệ đào tạo thực hành độc lập, tách bạch khỏi hệ chính quy Hệ đào tạo này đi từ bậc sơ cấp, trung cấp đến đại học (ĐH) và cả sau ĐH, với một nội dung chương

của hệ VLVH phục vụ cho những người đang đi làm muốn nâng cao trình độ nghề nghiệp (chứ không phải trình độ nghiên cứu), hay muốn đổi nghề mới cho

hệ chính quy Và khi đang ở hệ đào tạo thực hành muốn chuyển sang hệ nghiên cứu chính quy thì dù ở bậc học nào cũng phải trải qua một kỳ học lấy

khối kiến thức phổ thông Trước đây bậc học này chỉ dạy bốn môn và “đỉnh

vậy, học sinh thoải mái đi vào các trường đại học chính quy với một lỗ hổng kiến thức phổ thông khá lớn Mục tiêu của đại học VLVH là nhắm tới một bộ phận người lao động đang đi làm muốn nâng cấp trình độ, nhưng lại có một

bộ phận sinh viên không có khả năng theo bậc học chính quy lại theo học hệ này? Tuy nhiên, với tư duy “đơn giản”, nội dung chương trình dạy ở hệ VLVH bậc đại học – cao đẳng- trung cấp chuyên nghiệp cũng chỉ là sự rút ngắn bớt

Trang 21

21

đào tạo này Với hệ VLVH, nhất thiết nội dung chương trình đào tạo phải hướng kiến thức người học đến gần với thế giới nghề nghiệp chuyên môn

“bóng mờ”của hệ đào tạo chính quy Với yêu cầu của thời đại, đại học hôm nay không thể chỉ dừng lại ở mô hình đào tạo tinh hoa nữa, yêu cầu phổ cập đại học

là chuyện không thể tránh được trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức, hội nhập toàn cầu Do đó, đất nước nào dù giàu có đến đâu cũng không đủ sức phát triển chỉ một loại hình đại học tinh hoa (nghiên cứu), vừa lãng phí về đầu tư, vừa không thể đáp ứng được khả năng học tập của người dân Bởi năng lực học tập và hoàn cảnh học tập cũng như định hướng tương lai nghề nghiệp của mỗi người mỗi khác.[29]

Thay đổi tên gọi từ hệ “tại chức” sang hệ VLVH từ thực trạng biến tướng Đào tạo hệ VLVH nở rộ từ năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, và bị biến tướng khi đối tượng đi học không chỉ còn là những người đang đi làm, được cơ quan cử đi học để nâng cao trình độ chuyên môn và hoàn thiện bằng

cấp Để phù hợp với thực tế, khái niệm "hệ tại chức" được chuyển thành "hệ VLVH" với đối tượng học cho cả những người chưa đi làm Đã có thời kỳ, các

trường đại học ồ ạt mở rộng quy mô đào tạo đại học tại chức, đến mức có những trường có cơ sở trên tất cả các tỉnh thành trong cả nước Khi nhìn nhận

hệ này, nhưng vì là "nồi cơm" của các trường đại học nên không thể bỏ như câu

nói của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân Bên cạnh đó, vấn nạn học để lấy bằng cấp với mục đích không trong sáng, vô hình trung tiếp tay cho hiện tượng tiêu cực trong giáo dục Hiện tượng thuê người đi thi, mua điểm, bán

Trang 22

22

điểm, theo kiểu "bỏ tiền để mua bằng" Chất lượng giảng dạy bị buông lỏng

và hầu hết những người đứng lớp là những "thợ dạy" theo cả nghĩa đen lẫn

nghĩa là (những người đang làm việc và được cơ quan, tổ chức cử đi học) Chưa

có cuộc điều tra xã hội học về những người học VLVH trong một lớp, một trường có bao nhiêu cán bộ, người lao động được cơ quan, tổ chức cử đi học,

số còn lại là những học sinh thi trượt ĐH, cho dù chỉ 5 điểm cũng có thể đi học đại học Thế mới thấy, đầu vào của hệ đại học VLVH thấp như thế nào

có Bộ, Ngành, địa phương đề nghị nhà trường đào tạo riêng cho cán bộ công nhân viên của họ một lớp học VLVH theo yêu cầu Khi vào lớp

hệ chính quy Tìm hiểu thì được biết, đây là con cháu của các cán bộ công nhân viên trong cơ quan do thi trượt đại học nên đi học tại chức, để sau này vào làm việc trong các đơn vị của Bộ, Ban, nghành địa phương, khi bố mẹ các sinh viên này nghỉ chế độ theo suất ưu tiên Với đầu vào như thế, với sự buông lỏng quản lý như thế, với những tiêu cực như thế, thì ai dám chắc chắn rằng chất lượng của những tấm bằng đại học “hệ VLVH” với tấm bằng ngang bằng chất lượng của tấm bằng đại học hệ chính quy? Và ai có thể đảm bảo những người có bằng đại học hệ tại chức - hệ VLVH có thể đáp ứng yêu cầu chuyên môn ở trình

độ đại học trong công việc được giao?[29]

Về chương trình đào tạo, với tư duy tiếp cận là đầu vào của hệ VLVH thấp

Lượng kiến thức trong môn học được giản lược bớt để phù hợp với thời gian

một môn học có khối lượng là bốn đơn vị học trình (hệ niên chế), tương đương với 60 tiết giảng Sinh viên hệ chính quy sẽ được học đầy đủ 60 tiết, tuy nhiên

Trang 23

23

Thời gian đào tạo đối với những lớp VLVH học tại cơ sở ĐT, dù

ngắn 1/3 thời gian học, nhưng vẫn được học trong thời gian 6 đến 7 tuần (trung bình mỗi tuần 06 tiết) Nhưng đối với những lớp học được tổ chức tại địa

mức tối đa mà không có sự quản lý và kiểm soát của cơ sở đào tạo cũng như

cơ sở liên kết Ví dụ môn học 60 tiết giảng nêu trên, thời lượng giảng dạy trung bình khoảng 40 tiết, và sẽ được dạy trong 08 ngày, mỗi ngày 05 tiết Tuy nhiên:

04 ngày (mỗi ngày 10 tiết) Với thời gian như vậy, đến sinh viên chính quy

chỉ ăn và học còn không tiếp thu nổi, chứ đừng nói gì đến sinh viên VLVH

Khi các cơ sở đào tạo được tự chủ trong tuyển sinh các ngành học, được xây dựng chương trình học và thi riêng, được mở lớp và liên kết mở lớp tại

các địa phương cũng như đào tạo VLVH là "nồi cơm" của các trường thì quy

mô mở rộng là điều tất yếu Tất cả các cơ sở đào tạo đều mở rộng quy mô bằng cách mở lớp tại các địa phương Có những trường ĐH, 64 tỉnh thành thì có đủ

64 cơ sở đào tạo tại chức Có những trường đại học còn có 2-3 cơ sở trong cùng một tỉnh thành Tình trạng trăm hoa đua nở, trường trường mở lớp tại chức,

hàng năm đỗ vào các trường ĐH, CĐ, nhưng không vì thế mà số lượng sinh viên

hệ VLVH giảm xuống Thực trạng đó dẫn đến chất lượng cán bộ công chức làm việc kém hiệu quả [ 2 9 ]

Tuy nhiên, có rất nhiều người theo học hệ VLVH vẫn thành đạt để chứng minh thành kiến “học VLVH là năng lực kém, là làm việc không hiệu quả” hoàn toàn sai lầm Theo chủ trương của Đảng và các văn kiện của Nhà nước, trong

đó có cả Luật Giáo dục đại học mà Quốc hội mới thông qua, chủ trương tiếp tục phát triển hệ thống giáo dục thường xuyên hay là phi chính quy để mọi người muốn học đều được đi học, hay tư tưởng thời đại là: Học suốt đời Nhưng trong

Trang 24

24

thực tế thì có chuyện về đầu vào, đầu ra, nhiều địa phương tỉnh, thành không tuyển dụng ng nghĩa VLVH và không nhận người tốt nghiệp hệ VLVH vào làm việc Như thế là trở thành một vấn đề xã hội lớn và vấn đề quản lý Nhà nước đối với hệ đào tạo VLVH Hiện nay nhưng người từng học hệ VLVH câu hỏi tại sao các công ty nước ngoài không phân biệt chính quy, tại chức, mà các nhà tuyển dụng Việt Nam lại chối bỏ sản phẩm của giáo dục nước nhà

Chia sẻ của một vài người đã từng trải qua hai hình thức đào tạo VLVH và chính quy thì cho rằng không chỉ riêng gì tại chức, đào tạo chính quy bây giờ cũng “nhan nhản chạy điểm, copy bài, sử dụng tài liệu , và một số vấn đề tế nhị khác Một cán bộ quản lý hiện đang làm việc tại một cơ quan Nhà nước của một tỉnh, đưa ra nhận định có phần khách quan: “Tại ngành tôi quản lý, có những em tốt nghiệp chính quy nhưng sau khi được tuyển dụng không phát huy được năng lực, chất lượng công tác chưa đạt yêu cầu, có trường hợp phải bố trí làm việc khác do tư duy trong một văn bản quá yếu Nhưng ngược lại, có những em học VLVH được tiếp nhận về đến nay đã phát huy tốt năng lực sở trường và đã được giao những vị trí quan trọng Vì vậy khi đọc thông tin tuyển dụng công chức của các tỉnh, thành trong nước thấy mà buồn…” Thực tế, vẫn có những người m dù học VLVH nhưng vẫn làm việc xuất sắc, thành đạt trong

sự nghiệp Tuy nhiên, vẫn không ít ý kiến cho rằng không thể phụ nhận m bằng chung của hệ VLVH yếu kém

Từ đó chúng tôi thấy tố chất của người học mới là mấu chốt của vấn đề chứ không phải là các yếu tố khác” Thời gian qua, các trường Cao đẳng, Đại học được mở ra, các địa phương hình thành nhiều trung tâm, cơ sở liên kết đào tạo và đã đem lại lợi ích cho nhiều bên Tuy nhiên, việc phát triển quá nhanh hình thức đào tạo này nhưng không kiểm soát chăt chẽ điều kiện, quy trình đào tạo nên chất lượng đào tạo ngày càng xuống cấp; việc tổ chức thi tuyển, quản lý đào tạo, dạy không đủ giờ, không đủ nội dung của giáo viên cũng góp phần làm

Trang 25

25

chất lượng đào tạo giảm sút

Trong số sinh viên hệ VLVH hiện nay cũng có nhiều người có ý thức và học tập tốt nên xã hội cần phải bảo vệ quyền được học cho những người này Đây là hình thức đào tạo nên được duy trì để tạo cơ hội học tập suốt đời cho

nhu cầu chính đáng

Khả năng nhận thức, tư duy và vốn kiến thức phổ thông của mỗi người học khác nhau, do đó, có một số ít người học có thể dùng mánh khóe khác nhau trong quá trình học để đạt được mục tiêu kiếm được tấm bằng cử nhân, trong khi đó, hoạt động này rất khó kiểm soát Đây cũng là một trong nhiều nguyên nhân làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo Đại học Cao đẳng hệ VLVH

Hệ đào tạo này chất lượng còn kém là do chưa đảm bảo từ chất lượng đầu

cao chuyên môn; chưa tổ chức lại quy trình đào tạo, xem nhẹ thời gian biểu, xem nhẹ việc bố trí giảng viên

Đơn vị sử dụng lao động chưa có sự thay đổi nhiều về tư duy trong bằng cấp khi tuyển dụng người lao động, do đó người học Đại học hệ VLVH luôn mang những nỗi m cảm của mình so với hệ chính quy Bên cạnh đó nhiều người học hệ VLVH có năng lực học nhưng suy nghĩ tiêu cực rằng có đầu tư vô việc học bao nhiêu thì kết quả cũng là tấm bằng cử nhân để có tiếng học đại học

và lên lương thôi chứ không được trọng dụng vì hiện nay các đơn vị hầu như chỉ

cơ cấu đại học chính quy

Trong quá trình đào tạo tổ chức lớp cần phải có một Ban cán sự lớp đủ mạnh để làm cầu nối giữa sinh viên với người quản lý lớp của trường và cơ sở liên kết đào tạo Song trên thực tế có một số người học không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được lựa chọn, có trường hợp khi được lựa chọn vào Ban cán

công việc của lớp

Trang 26

26

Sinh viên hệ VLVH vừa phải đi làm vừa phải đi học, đa phần là lớn tuổi,

trung nghe giảng Không có thời gian chuẩn bị bài trước khi đến lớp nên sinh viên hầu như ít hoạt động, sự trao đổi kiến thức giữa thầy và trò chưa sâu Hầu

học, tự nghiên cứu để nắm bắt được vấn đề

trình quản lý, kế hoạch dạy và học cho sinh viên tại các địa phương xa đôi khi

bị thay đổi làm cho sinh viên khó khăn trong thu xếp công việc tại cơ quan

Hiện tại công tác kiểm tra, đánh giá và công nhận tốt nghiệp hệ VLVH của các trường Cao đẳng, Đại học các trường được thực hiện khá tốt Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như, không có được sự giám sát, kiểm tra việc

được nhu cầu của người học, tình trạng quay cóp phổ biến đến mức trở thành thói quen… Điều này có thể do một số nguyên nhân như, Giáo viên cũng có tâm lý thông cảm với điều kiện học tập của sinh viên hệ VLVH, trong đó công tác kiểm tra đánh giá cũng thường yêu cầu vừa phải chấm bài nới tay, cho điểm có hệ số; Cả giáo viên, học viên và xã hội đều đánh giá văn bằng hệ VLVH không có giá trị bằng hệ chính quy nên cả việc dạy việc học và việc

trạng và có những giải pháp mang tính xây dựng để hệ đào tạo này có chất lượng và hiệu quả

1.3.4 Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở các trường cao đẳng, đại học sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Trang 27

27

Hiện nay, việc quản lí đào tạo hệ VLVH trong nhà trường vẫn được thực hiện theo quan điểm truyền thống tức là: quản lí mục tiêu, nội dung, phương pháp, người dạy (thầy), người học (trò), các hình thức, điều kiện phương tiện đào tạo (cơ sở vật chất kĩ thuật) phục vụ đào tạo hệ VLVH diễn ra trong bộ máy tổ chức đào tạo, trong môi trường đào tạo hệ VLVH nhằm đạt mục tiêu đào tạo

Nội dung của quản lí đào tạo hệ VLVH theo quan điểm này chính là :Quản lí công tác chiêu sinh; Quản lí việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo; Quản lí việc giảng dạy, học tập của giáo viên và học viên hệ VLVH; Quản lí việc kiểm tra, đánh giá quá trình đào tạo; Quản lí việc sử dụng trang thiết bị, CSVC phục vụ đào tạo hệ VLVH; Quản lí việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc thực hiện quát trình đào tạo

Việc quản lý đào tạo theo quan điểm trên có những ưu điểm cơ bản cần kế thừa

và phát huy, tuy nhiên trong bối cảnh đổi mới giáo dục tiến tới xã hội học tập chú trọng phát triển năng lực người học thì cần có những hướng tiếp cận quản lí mới theo hướng tiếp cận đảm bảo chất lượng, nghĩa là : quản lí hệ thống các thành tố có liên quan mật thiết đến đào tạo hệ VLVH từ khâu tuyển sinh đến sự vận hành của tổ hợp các thành tố từ mục tiêu đào tạo, xác định nội dung chương trình đào tạo, tổ chức hoạt động đào tạo diễn ra trong môi trường đào tạo nhằm đạt được kết quả đào

tạo cán bộ đáp ứng yêu cầu xã hội

Bảng 1.1 Mối liên hệ giữa các yếu tố đánh giá trong trong mô hình đào tạo theo hướng đảm bảo chất lượng và 12 thành tố trong QLĐT hệ VLVH

Các yếu tố đánh giá trong mô hình

đào tạo theo hướng đảm bảo chất

lượng

12 thành tố trong quản lý đào tạo hệ VLVH

1 Người học được khuyến khích

thường xuyên để có động cơ hoạt động

chủ động

1.Yêu cầu xã hội (công tác tuyển sinh)

Trang 28

28

Các yếu tố đánh giá trong mô hình

đào tạo theo hướng đảm bảo chất

lượng

12 thành tố trong quản lý đào tạo hệ VLVH

4 Phương pháp đào tạo

7 Hình thức đào tạo

3 Phương pháp và kĩ thuật dạy

học - học tập tích cực

4 Chương trình giáo dục thích

hợp với người học và người dạy

2 Mục tiêu đào tạo

3 Nội dung, chương trình đào

tạo

5 Trang thiết bị, đồ dùng dạy

học, học liệu và công nghệ giáo dục

thích hợp, dễ tiếp cận và thân thiện với

tham gia và dân chủ

10 Bộ máy tổ chức đào tạo, các lực lượng ngoài đội ngũ giảng dạy

8 Hệ thống đánh giá thích hợp với

môi trường, quá trình giáo dục và kết quả

đào tạo

11 Kiểm tra, đánh giá đào tạo

9 Tôn trọng và thu hút được

cộng đồng cũng như nền văn hóa địa

phương trong hoạt động giáo dục

10 Các thiết chế, chương trình giáo

dục có nguồn lực thích hợp, thỏa đáng

Trang 29

29

Các yếu tố đánh giá trong mô hình

đào tạo theo hướng đảm bảo chất

1.4.1 Chất lượng đào tạo

Là mức độ đạt được các mục tiêu - chuẩn đầu ra đã xác định cho giáo dục và đào tạo Chất lượng giáo dục và đào tạo cũng là mức độ làm thỏa mãn

“khách hàng” của giáo dục và đào tạo là người học, người sử dụng sản phẩm của giáo dục và đào tạo và nói chung là cộng đồng xã hội

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo hệ VLVH

- Chất lượng tuyển sinh đầu vào

- Nội dung, chương trình đào tạo phản ánh mục tiêu đào tạo

- Phương pháp đào tạo và tự đào tạo

- Điều kiện, phương tiện hỗ trợ đào tạo

- Quá trình tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo

1.4.2 Những điều cần chú ý khi tiến hành công tác quản lý đào tạo hệ VLVH trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

Trước hết, cần phải có một quy trình đào tạo thật cụ thể và hợp lý đối với

hệ đào tạo VLVH: từ khâu tuyển sinh, đào tạo và chuẩn đầu ra để có thể cấp

bằng cho từng ngành học Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo có một số quy định mới về tuyển sinh, tuy nhiên, đó chỉ là những quy định thay đổi có tính chất tình thế, chưa thể yên tâm là nhờ quy định này mà chất lượng tuyển sinh của hệ VLVH được nâng lên Thực chất, tuyển sinh chưa phải là yếu tố quyết

Trang 30

30

định chất lượng đào tạo mà quá trình đào tạo, sàng lọc mạnh mẽ mới có thể

quan tâm nhiều đến quá trình đào tạo, đ biệt quá dễ dãi trong khâu đánh giá nên gần như 100% học viên có đi học đều có thể tốt nghiệp Điều này mâu thuẫn với thực tế đào tạo: quy luật đào tạo là phải có đào thải Học viên VLVH

thường có câu cửa miệng: “yên tâm đi, tất cả sẽ cùng lên lớp 2”, có nghĩa là

dù học thể nào cũng sẽ được cho qua Câu nói này đã thể hiện sự coi thường của các học viên trong đánh giá của các cơ sở đào tạo hiện nay, nó đã chỉ cho

ta thấy chất lượng đào tạo của hệ này là khó chấp nhận

Cần hạn chế tình trạng đào tạo hệ VLVH một cách quá tràn lan như

hiện nay

các cơ sở liên kết đào tạo Mạnh dạn loại bỏ những cơ sở đào tạo không đủ chuẩn, thu hẹp quy mô đào tạo đối với những cơ sở đào tạo quá tải Rà soát mọi m như đội ngũ giảng dạy, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo,…để có chiến lược lâu dài về hệ đào tạo VLVH thích hợp Cũng cần có cơ chế, chính sách thích hợp để hạn chế quan niệm coi trọng bằng cấp như hiện nay, dẫn đến mọi người phải bằng mọi cách tìm lấy tấm bằng cho phù hợp với vị trí của mình

Cần phải triển khai nghiên cứu nghiêm túc và khách quan để có được một chương trình đào tạo chung giữa hai hệ chính quy và VLVH để từ đó tiến

tới cấp một loại văn bằng cho hai hệ đào tạo Muốn vậy, trước mắt cần phải

có các biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng đào tạo hệ VLVH dựa trên một chuẩn đào tạo cụ thể Chuẩn đầu ra của hai hệ đào tạo phải như nhau và phải có một quy trình đánh giá người học khách quan Như vậy, sẽ dần loại

bỏ quan niệm phân biệt giữa chính quy và VLVH gần nửa thế kỷ qua trong nhận thức của nhiều người

Cần tổ chức biên soạn hệ thống giáo trình, hệ thống tài liệu hướng dẫn

tự đọc, tự học để giảm giờ lên lớp cho người học hệ VLVH Các tài liệu này

Trang 31

31

Cần xây dựng cụ thể chuẩn đánh giá cho hệ đào tạo VLVH để học viên

phải tự phấn đấu đạt tới chuẩn chung cho từng ngành đào tạo, chuẩn này phải tương đương với chuẩn đầu ra của hệ chính quy

Về mặt phương pháp phải tăng cường khả năng tự đọc, tự nghiên cứu,

tiến tới giảm bớt thời gian vào lớp, thời gian g gỡ giảng viên của học viên Phải tăng cường các biện pháp cho học viên học trong thực tiễn và bằng thực tiễn để soi sáng cho lý luận, có như vậy mới tận dụng tối đa kinh nghiệm của học viên hệ này

Cần quan tâm đến đào tạo nghề, để sớm có một đội ngũ thợ giỏi, đảm

bảo được việc vận hành các thiết bị máy móc, các công nghệ hiện đại Các

cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cần có sự nghiên cứu đào tạo nghề phù hợp với từng địa phương, đón đầu được sự đầu tư của các công ty sản xuất của nước ngoài vào Việt Nam trước mắt và trong tương lai

Trong quá trình đào tạo, các cơ sở đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cần có những chuẩn đào tạo chung được thiết

kế trên chương trình, giáo trình chung nhất để tạo ra sản phẩm đào tạo có chất lượng đồng đều, tiện lợi cho việc sử dụng nguồn nhân lực với một phổ rộng

Các cơ sở được giao trách nhiệm đào tạo hệ này cần phải có sự cân đối giữa hai hệ đào tạo chính quy và VLVH qua từng thời gian đào tạo trên cơ sở

vật chất, đội ngũ giảng viên, đội ngũ cán bộ quản lý, có như vậy mới đảm bảo chất lượng sản phẩm cho xã hội

Trong bối cảnh mới, sinh viên không còn là người thụ động tiếp nhận kiến thức từ giảng viên, mà trở thành một chủ thể tự giác, tự tổ chức và tự chịu

trách nhiệm về quá trình nhận thức của bản thân dưới sự hướng dẫn và tổ chức của giảng viên Chất lượng của quá trình dạy - học phụ thuộc không nhỏ vào

Trang 32

32

việc cá nhân người học có tích cực trong việc học hay không Do đó, để đạt được hiệu quả của việc dạy học, phát huy tính chủ động của người học, người

nhận kiến thức, biến những kiến thức đó thành kiến thức của mình

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đào tạo, những quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như các quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo đến công tác đào tạo nói chung và đào tạo theo phương thức VLVH nói riêng Trong chương 1, tác giả đã cố gắng tập trung trình bày những quan điểm về quản lý đào tạo và hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường cao đẳng, đại học Kết quả của việc nghiên cứu này sẽ là cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp trong công tác quản lý các hoạt động đào tạo hệ VLVH ở Trường CĐSPHN

Trang 33

33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO VÀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO HỆ VỪA LÀM VỪA HỌC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu về trường CĐSPHN

2.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển của nhà trường

Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội được thành lập ngày 06/01/1959 Trong suốt quá trình hơn 50 năm xây dựng và trưởng thành, nhà trường đã không ngừng phát triển, đóng góp xuất sắc vào sự nghiệp giáo dục đào tạo của Thủ đô Hà Nội nói riêng và của cả nước nói chung Lịch sử hình thành và phát triển của nhà trường gắn liền với sự nghiệp đấu tranh cách mạng cũng như phát triển của đất nước và Thủ đô và có thể được chia ra thành những giai đoạn chủ yếu sau đây:

Giai đoạn 1959 – 1964 – Trường Sư phạm Trung, Sơ cấp Hà Nội

Trong thời gian chuẩn bị cho năm học 1959 – 1960, Sở Giáo dục Hà Nội

đã gửi tờ trình lên Bộ Giáo dục và Ủy ban Hành chính thành phố xin phép cho

Hà Nội được mở trường Sư phạm

Giai đoạn 1965 – 1969 – Trường Sư phạm Cấp II Hà Nội

Việc đào tạo giáo viên cấp 2 hệ 7+2, thật ra chỉ là giải pháp tình thế nhằm khắc phục tình trạng thiếu giáo viên nghiêm trọng của Thủ đô Hà Nội mấy năm sau hòa bình lập lại Nhưng chúng ta đã sớm nhận thức được, là muốn có đội ngũ giáo viên cấp 2 có chất lượng hơn thì cấn sớm nâng cấp hệ đào tạo khi điều kiện cho phép Chính vì vậy mà trường chỉ mở 2 khóa 7+2, sau đó chuyển sang

hệ 10+1

Giai đoạn 1970 – 1975 – Trường Sư phạm Cấp II Hà Nội

- Đầu năm học 1969 – 1970, nhà trường chỉ còn hệ đào tạo Sư phạm cấp

II với 4 ban: văn sử, toán lí, sinh hóa, sinh địa Đây cũng là năm học cuối cùng của khóa I

- Cũng từ năm học này, trường mang tên mới: Trường Sư phạm cấp II (10+3) Hà Nội Từ năm 1967, Bộ Giáo dục đã giao cho trường Đại học Sư phạm

Trang 34

Giai đoạn 1975 – 1978 – Trường Sư phạm Cấp II Hà Nội:

Từ năm 1975, Trường Sư phạm cấp II (10+3) Hà Nội được coi là đơn vị duy nhất của địa phương được Bộ cho phép đào tạo giáo viên cấp 2 theo chương trình đại học Ngày 31-03-1976, Bộ Giáo dục gửi Ủy ban Hành chính thành phố

Hà Nội chỉ thị số 764 về việc chuẩn bị công nhận tư cách pháp nhân cho trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội Chỉ thị trên có vai trò khá quan trọng đối với việc phát triển của trường

Giai đoạn 1978 – 1984

Từ một trường Sư phạm không chính quy của địa phương, chưa có tư cách pháp nhân để tổ chức các kì thi và cấp bằng tốt nghiệp cho các giáo sinh hệ 10+3, giờ đây nhà trường đã được công nhận là một đơn vị đào tạo Cao đẳng Sư phạm chính quy của nhà nước

Giai đoạn 1984 – 1989

Quán triệt và thực hiện những tư tưởng lớn của Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV, hướng tới kỉ niệm 30 năm ngày thành lập trường, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, tập trung mọi sức mạnh, với tư tưởng dám nghĩ dám làm, mạnh dạn đổi mới tư duy, đổi mới công tác tổ chức cán bộ, đổi mới tác phong và lề lối làm việc, thực sự làm chuyển biến các danh hiệu thi đua đã đạt được: Đảng bộ trong sạch và vững mạnh, Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh

Trang 35

35

Giai đoạn 1989 – 1999

Ngay từ năm học 1989 – 1990, nhà trường đã thí điểm việc áp dụng quy trình đào tạo mới: chuyển từ cách đào tạo theo niên chế sang cách đào tạo tích lũy học phần Để làm được việc này, nhà trường đã phải tự lực thiết kế lại chương trình đào tạo theo học phần cho cả 16 ban đào tạo khác nhau

Giai đoạn 1999 – nay

Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội là cơ sở đào tạo trực thuộc Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội có chức năng đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, giáo viên Trung học cơ sở có trình độ Cao đẳng Trường còn đào tạo, liên kết đào tạo các nguồn nhân lực có trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học các chuyên ngành sư phạm và các chuyên ngành khác theo qui định của pháp luật Hiện nay, nhà trường đã và đang đào tạo 24 mã ngành, trong đó có 18 mã ngành

sư phạm, 6 mã ngành ngoài sư phạm

2.1.2 Tổ chức bộ máy của Nhà trường

Trường CĐSPHN có tổng cộng 9 koa và 2 Trung tâm đào tạo với khoảng

150 giảng viên, hàng năm đào tạo trên 9000 sinh viên Hiện tại tại các Khoang đang đảm nhiệm việc đào tạo 17 ngành học cho sinh viên các hệ Cao đẳng, Trung cấp, hệ Đào tạo liên kết Đại học… Hiện nay giảng viên cơ hữu của trường

đã có 6 giáo sư và phó giáo sư, 28 tiến sĩ, 20 nghiên cứu sinh, 162 thạc sĩ, đạt tỷ

lệ gần 80% giảng viên cơ hữu có trình độ trên đại học nhiều đồng chí được đánh giá là Chuyên gia cấp học

2.1.3 Sứ mạng và tầm nhìn của Trường CĐSPHN

Sứ mạng: Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội là một trong những trung

tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, Trung học cơ sở có chất lượng cao của Thủ đô; là cơ sở nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, cung cấp nguồn nhân lực cho sự nghiệp giáo dục và các lĩnh vực phát triển kinh

tế - xã hội của thành phố Hà Nội

Trang 36

36

tâm đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Tiểu học, Trung học cơ sở có chất lượng cao Phát triển Nhà trường trở thành trường đại học đa ngành, đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển của Thủ đô Hà Nội"

2.1.4 Định hướng phát triển của Trường CĐSPHN

Sau khi có công văn của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/12/2013, đồng ý chủ trương thành lập trường đại học Thủ đô Hà Nội trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, trực thuộc UBND TP Hà Nội Trường đại học Thủ

đô Hà Nội được xác định là trường đại học chất lượng cao, đi đầu trong thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ VIII, BCH TƯ khóa XI Mô hình phát triển là trường đại học tiên tiến, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thủ đô và hội nhập quốc tế Định hướng phát triển Nhà trường trong những năm tới trường phát triển theo hướng đa ngành, nhưng trước mắt chú trọng vào thế mạnh các ngành đào tạo về sư phạm Xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đào tạo giáo viên, cán bộ có trình độ đại học, trên đại học, theo yêu cầu về số lượng, trình độ, chuyên ngành, tiến độ, nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu; chủ động đào tạo những chuyên ngành, bộ môn mang bản sắc đặc trưng của văn hóa và con người Hà Nội Trường đại học Thủ đô Hà Nội sẽ phát triển trở thành một cơ sở đại học chất lượng cao, xứng tầm với nền giáo dục phát triển, có thể làm đối tác tương xứng để phối hợp đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với Thủ đô và các nước trên thế giới; phù hợp với xu thế phát triển…

Định hướng phát triển hệ đào tạo VLVH được Nhà trường quán triệt: Ổn định về quy mô đào tạo so với đào tạo hệ chính quy, đổi mới và hoàn thiện các chương trình đào tạo hệ VLVH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội

2.2 Thực trạng đào tạo hệ VLVH ở trường CĐSPHN

2.2.1 Tổ chức thực hiện đào tạo hệ VLVH ở trường CĐSPHN

Trang 37

Sau khi thành lập Trung tâm Liên kết Đào tạo – Bồi dưỡng và qua những năm thực hiện quản lý các lớp hệ VLVH liên kết với các trường đại học: Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm Hà Nội 2, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao….nhìn chung, chất lượng quản lý đào tạo các lớp hệ VLVH của trường CĐSPHN luôn được đánh giá cao và có uy tín

Quá trình đào tạo hệ VLVH của nhà trường được thực hiện theo qui trình sau:

-Trung tâm Liên kết đào tạo – Bồi dưỡng tổ chức thi, xét tuyển và tiếp nhận các học viên trúng tuyển Trên cơ sở các chương trình đã được phê duyệt phối hợp với các Khoa, tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch đào tạo toàn khóa cho từng ngành học, cụ thể như: tên học phần, tổng số tiết dạy, ngày dạy, tên người dạy, thời gian thi học phần, thực tập, ôn thi tốt nghiệp và thi tốt nghiệp…

Thời gian học và việc bố trí thời khóa biểu cho học viên hệ VLVH hiện nay của trường là hướng đến nhu cầu của người học, hoặc theo hợp đồng đào tạo của đơn vị liên kết, nên thường rất đa dạng: học ngày thứ 7 và chủ nhật trong tuần hoặc học hai ngày khác trong tuần; học 2 tuần/tháng

Kế hoạch học tập và thời gian giảng dạy hệ VLVH phần lớn giáo viên đảm bảo đúng kế hoạch Tuy nhiên, đối với các môn mời giảng thời khóa biểu của học viên có thể bị xáo trộn, GV mời giảng tự đổi lịch học, hoặc tự ý cho

Trang 38

cơ sở liên kết quản lý trực tiếp

Khi lấy ý kiến thăm dò 464 học viên đang học và đã tốt nghiệp ra trường

về kế hoạch học tập và giờ giấc giảng dạy ở các lớp hệ VLVH của trường kết quả cho thấy 41% ý kiến cho rằng kế hoạch học tập và giờ giác giảng dạy hệ VLVH đảm bảo kế hoạch nhưng còn hạn chế thời gian học tập 52,7% ý kiến cho rằng đảm bảo đúng tiến trình và thời gian học tập

Trung tâm Liên kết đào tạo – Bồi dưỡng phối hợp với các khoa, tổ chuyên môn tổ chức thi học phần, ôn và thi tó nghiệp, xét điều kiện thi tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp theo đúng qui chế, đúng các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo của trường

Việc tổ chức, lên kế hoạch thực tập tốt nghiệp được trung tâm phối hợp với khoa, sinh hoạt hướng dẫn và cấp giấy giới thiệu cho học viên liên hệ với các cơ quan bên ngoài để thực tập Qua thăm dò lấy ý kiến của 125 học viên đã tốt nghiệp ra trường có 114 ý kiến học viên đánh giá là được thực tập theo đúng chuyên ngành đã học (chiếm tỉ lệ 91,2%)

Việc quản lý điểm, công bố kết quả thi cho học viên được thực hiện kịp thời và chính xác, nhưng còn lệ thuộc theo hình thức thủ công nhiêu, chưa có máy đánh phách, máy chấm điểm…phần mềm quản lý điểm đã được thiết kế nhưng chưa được đưa vào sử dụng…

Việc quản lý văn bằng và cấp phát bằng tốt nghiệp cũng được Trung tâm liên kết đào tạo – Bồi dưỡng thực hiện khá chặt chẽ và đúng qui trình, theo qui

Trang 39

39

chế của Bộ GD –ĐT, nhưng còn hạn chế là cán bộ được phân công phụ trách phát bằng tốt nghiệp kiêm nhiệm nhiều việc nên ảnh hưởng đế việc bố trí thời gian phát bằng cho học viên

Về chế độ và chính sách ưu tiên, đãi ngộ trong quản lý đào tạo: Hiện tại, trường chưa có chính sách đãi ngộ đối với CBQL – GV và học viên ngoài việc phối hợp với ngân hàng địa phương xác nhận vay vốn cho học viên nghèo của trường Cán bộ làm việc ngoài giờ thứ bảy, chủ nhật được nghỉ bù 1 ngày trong tuần GV dạy thứ bảy, chủ nhật vẫn được tính thù lao ở mức bình thường Trong quá trình phối hợp liên kết giữa trường CĐSPHN với các trường

số lượng lớn cán bộ, viên chức nhà nước, giáo viên….đạt trình độ đại học đáp ứng được nhu cầu phát triển nguồn nhân lực thành phố Hà Nội Đây là một

có thể vừa công tác vừa tham gia học tập một cách thuận lợi: giảm chi phí đào tạo, r ngắn được khoảng cách đi lại, giảm khâu lưu

- Thời lượng, chương trình nội dung học tập hợp lý, thiết thực cùng với việc sắp xếp bố trí chỗ học, thời gian hợp lý, khoa học, đảm bảo cơ sở vật chất

- Việc tổ chức mở lớp theo hình thức liên kết giữa trường CĐSPHN và trường đại học một m vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu học tập của người

tập: biết cách học, cách chiếm lĩnh tri thức để họ tiếp tục tự học, tự nghiên cứu trong thực tiễn công tác của chính mình Đây là biện pháp hữu hiệu mang tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu vừa mang tính cấp bách vừa mang tính chiến lược về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, người lao động đáp ứng nhu cầu phát

Trang 40

40

triển KT - XH

- Việc liên kế

dịp tiếp cận với chương trình, nội dung và phương pháp dạy học ở bậc đại học

- Việc liên kết đào tạo còn là động lực của sự phát triển nhà trường Liên

cuộc cạnh tranh về chất lượng sản phẩm Sở dĩ chung tôi khẳng định như vậy

vì điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo chính là việc trường CĐSPHN phải chuẩn bị tốt các điều kiện phục vụ cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học

- Từ thực tế tổ chức quản lý các lớp hệ VLVH liên kết với các trường đại học, đội ngũ cán bộ GV của Trung tâm liên kết Đào tạo – Bồi dưỡng đã trưởng thành hơn, tích lũy được nhiều kinh nghiệm hơn về m quản lý theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo Tính quen việc cũng thể hiện

rõ và nhất là sự chủ động với các kế hoạch của công việc được phân công Tập thể cán bộ GV Trung tâm liên kết Đào tạo – Bồi dưỡng luôn nêu cao ý thức trách nhiệm và thái độ phục vụ nhiệt tình tạo sự hài lòng ở SV biệt, sự thông cảm, hỗ trợ nhau trong công việc với tinh thần đoàn kết luôn là điểm mạnh của cán bộ trung tâm Chính vì vậy, sự phối hợp hoạt động của các thành viên trong trung tâm ngày càng trở nên nhịp nhàng hơn Bên cạnh đó, sự phối kết hợp giữa trung tâm với các phòng, khoa khác trong nhà trường cũng trở nên thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn của trung tâm trong thời gian qua

2.2.2 Qui mô đào tạo hệ VLVH tại trường CĐSPHN

Về số lượng ngành, tính đến nay (tháng 10 năm 2013), số lượng ngành đào tạo theo hình thức VLVH, bao gồm những ngành do trường CĐSPHN mở

và những ngành do các đơn vị liên kết mở tại trường CĐSPHN tổng cộng gần

20 ngành ở các bậc học khác nhau Có thể kể đến một số ngành tiêu biểu như:

Sư phạm Toán, Lý, Hóa, Văn, Sử, Địa, Tiếng Anh, Tiếng Trung, Sinh học; Tâm lý giáo dục, Công nghệ thông tin, Giáo dục mầm non, Giáo dục tiểu học,

Ngày đăng: 10/02/2015, 19:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2004), Chỉ thị số 40/CT-TƯ “Về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 40/CT-TƯ “Về việc xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng
Năm: 2004
5. Đặng Quốc Bảo (1997), “Khái niệm QLGD và chức năng QLGD”, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm QLGD và chức năng QLGD”, "Tạp chí Phát triển giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
6. Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên) (2008), Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng giáo dục – Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Châu (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2008
7. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mĩ Lộc (2005), “Những xu thế quản lí hiện đại và việc vận dụng vào QLGD”, Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Những xu thế quản lí hiện đại và việc vận dụng vào QLGD”
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mĩ Lộc
Năm: 2005
8. Hoàng Mạnh Dũng (2002), Hoàn thiện hệ thống quản lí chất lượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Tổ chức và quản lí sản xuất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống quản lí chất lượng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học tại Việt Nam
Tác giả: Hoàng Mạnh Dũng
Năm: 2002
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
10. Phạm Thị Doan và các tác giả (1995), Các học thuyết quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các học thuyết quản lý
Tác giả: Phạm Thị Doan và các tác giả
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1995
11. Nguyễn Tiến Đạt (2006), Kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD&ĐT trên thế giới (Tập 1), GD&ĐT ở các khu vực văn hóa Châu Âu và Châu Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và thành tựu phát triển GD&ĐT trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Tiến Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Minh Đường (1996), Tổ chức và quản lí quá trình đào tạo, Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lí quá trình đào tạo
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 1996
13. Nguyễn Minh Đường (1996), Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước – KX07-14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 1996
14. Vũ Thị Gấm (2010), Biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, chuyên ngành quản lý giáo dục, Trường đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội
Tác giả: Vũ Thị Gấm
Năm: 2010
15. Gruchetxki V.A (1978), Những cơ sở của tâm lí học sư phạm, Tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở của tâm lí học sư phạm
Tác giả: Gruchetxki V.A
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1978
16. Trình Thanh Hà (2011), Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ĐBCL đào tạo đại học từ xa ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ QLGD, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc ĐBCL đào tạo đại học từ xa ở Việt Nam
Tác giả: Trình Thanh Hà
Năm: 2011
17. Vũ Ngọc Hải (2005), “Các mô hình phát triển giáo dục”, Tạp chí Phát triển giáo dục, số 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mô hình phát triển giáo dục”, "Tạp chí Phát triển giáo dục
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Năm: 2005
19. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục
Tác giả: Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
20. Vũ Xuân Hồng (2010), Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lí chất lượng đào tạo tại trường đại học ngoại ngữ quân sự, Luận án Tiến sĩ QLGD, Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lí chất lượng đào tạo tại trường đại học ngoại ngữ quân sự
Tác giả: Vũ Xuân Hồng
Năm: 2010
21. Nguyễn Văn Hộ, Phạm Hồng Quang (1995), “Thực trạng học tập của học sinh - sinh viên miền núi hiện nay”, Nghiên cứu Giáo dục Số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng học tập của học sinh - sinh viên miền núi hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ, Phạm Hồng Quang
Năm: 1995
22. Nguyễn Văn Hộ (2007) , Xu hướng phát triển giáo dục, Viện KHGDVN, Hà Nội năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển giáo dục
23. Phạm Minh Hạc (1999). Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
24. Phạm Quang Huân (2005), “Triết lí mới trong quản lí chất lượng giáo dục”, Hội thảo khoa học giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lí mới trong quản lí chất lượng giáo dục”
Tác giả: Phạm Quang Huân
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Mô hình hoạt động quản lý. - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Sơ đồ 1.1 Mô hình hoạt động quản lý (Trang 12)
Sơ đồ 1.2: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý (Trang 13)
Bảng 2.1: Thống kê số lƣợng sinh viên từ năm 2010 - năm 2013  Số - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Bảng 2.1 Thống kê số lƣợng sinh viên từ năm 2010 - năm 2013 Số (Trang 41)
Bảng 2.2: Khảo sát nhu cầu đào tạo hệ VLVH của trường CĐSPHN - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Bảng 2.2 Khảo sát nhu cầu đào tạo hệ VLVH của trường CĐSPHN (Trang 42)
Bảng 3.1 : Tổng hợp kết quả khảo sát  tính cấp thiết của các biện pháp - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả khảo sát tính cấp thiết của các biện pháp (Trang 79)
Bảng 3.2 : Tổng hợp kết quả khảo sát tính khả thi  của các biện pháp - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp (Trang 80)
Bảng 3.3  Tổng hợp kết  quả  khảo sát  tính cấp  thiết và khả thi của   các biện pháp - Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường cao đẳng sư phạm hà nội trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm