Theo nguồn gốc, hệ sinh thái gồm các hệ tự nhiên vμ nhân tạo, Theo kích cỡ thì hệ sinh thái có đủ loại, có thể cực bé được tạo ta trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn, một hệ sinh thái tron
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nha Trang, thỏng 3 năm 2011
Thuật ngữ đa dạng sinh học (ĐDSH) ra đời từ những
năm 80 của thế kỷ trước vμ được hiểu "Đa dạng sinh
học lμ sự phồn thịnh của sự sống trên Trái Đất, lμ hμng
triệu loμi thực vật, động vật vμ vi sinh vật, lμ những gen
chứa trong các loμi, lμ những hệ sinh thái vô vùng phức
tạp cùng tồn tại trong môi trường" (WWF,1989),
McNeely vμ cs (1991) cho rằng, ”ĐDSH lμ một khái
niệm chỉ tất cả động vật, thực vật vμ vi sinh vật, những
đơn vị phân loại dưới chúng vμ các hệ sinh thái mμ sinh
vật lμ những đơn vị cấu thμnh,
1.2.1 Đa dạng loài
Loμi lμ một đơn vị sinh học cơ bản của sinh giới vμ
được thể hiện ra dưới dạng các cá thể Các cá thể của
loμi khá giống nhau về nhiều đ2hình thái, sinh lý, sinh
thái vμ di truyền, không cách ly nhau về mặt di truyền,
Loμi đồng hình lμ những loμi khác nhau về nguồn gốc,
song do sống trong điều kiện môi trường như nhau mμ
chúng phát triển đồng quy về mặt hình thái,
Loμi dị hình lμ những loμi có chung nguồn gốc, song
sống trong những điều kiện khác nhau, chúng khác
nhau trước hết về mặt hình thái,
1.2 Cỏc mức đa dạng sinh học
Trang 21.2.1 Đa dạng loài (tt)
Các loμi khác nhau sống trong một sinh cảnh xác định
tạo nên quần xã sinh vật Cấu trúc của quần xã sinh vật
bao gồm nhiều chỉ số sinh thái khác nhau như sự đa dạng
về thμnh phần loμi, đa dạng về thông tin, mức độ giμu có
của các loμi cũng như sự ưu thế của loμi hay nhóm loμi
trong quần xã sinh vật,
Mức đa dạng về các thμnh phần cấu trúc của quần xã
được thể hiện dưới cả 2 chỉ số: Mức giμu có (hay độ
phong phú) của loμi vμ mức bình quân (hay sự san bằng)
của các loμi với các chỉ số dưới đây:
+ Chỉ số về mức giμu có (hay độ phong phú) về loμi được
R Margalef (1958), H.I Odum vμ cộng sự (1980), E.F
Menhinick (1964) mô tả bằng biểu thức:
hoặc hoặc
d - Mức giμu có của loμi, S - số loμi, N-tổng số cá thể
Để tính dngười ta thường dùng logarit tự nhiên (loge),
Chỉ số đa dạng (mức giμu có) của loμi còn được E.H
Simpson (1949) mô tả theo biểu thức:
hay hay
ni lμ số lượng cá thể của một loμi inμo đó, pi lμ xác suất
xuất hiện của loμi ni,
S I i
p
d
1 2
1
+ Chỉ số về mức bình quân hay sự san bằng (e)hay chỉ số
Pilou do E.C Pilou đề xuất năm 1966 theo biểu thức:
hay
Giá trị ebiến thiên từ 0đến 1, trong đó, 0- mức bình
quân tối đa vμ1-mức ưu thế tối đa,
Người ta cũng xác định giá trị đa dạng Dvtheo công
11
1 2
S H
H e H
N N n n n
i
Trang 3- Chỉ số về mức đa dạng thông tin trong quần xã được tính
theo lượng thông tin trung bình (Shannon & Weaveerm
1949, Margalef, 1986) theo:
ni lμ vai trò (số lượng, sinh khối…) của một loμiinμo
đó, N- tổng số giá trị các vai trò (số lượng, sinh khối…)
trong quần xã có thể tính bằng loga với cơ số 2 (log2)
để nhận ngay được giá trị bằng bit cho các quần xã
Hiện nay, chỉ số nμy được áp dụng như một chỉ số để
đánh giá chất lượng nước; với cμng cao, nước cμng
sạch,
N ni n
i N ni
1 2log
1.2.2 Đa dạng di truyền
Các cá thể có bộ gen khác nhau quy định sự khác nhau về
hình thái ngoμi (bởi các allen khác nhau) Sự khác nhau
cũng do đột biến gen (mutation), tức lμ thay đổi đột biến
thμnh phần cấu trúc nhiễm sắc thể trong chuỗi AND,
Mô hình về sự biến dị:
-Khác kiểu gen, nhưng sống trong MTgiống nhaucho
kiểu hình giống nhau,
-Cùng kiểu gen, nhưng sống trong MTkhác nhaucho
kiểu hình khác nhau,
Tổng các gen vμ alen trong một quần thể lμvốn gen
của quần thể vμ những tổ hợp của các allen mμ mỗi cá
thể có được được gọi lμkiểu di truyền (genotype) Kiểu
hình (phenotype)của các cá thể được thể hiện bởi các
tính chất về hình thái, sinh lý, sinh thái vμ được đặc trưng
bằng các kiểu di truyền trong từng môi trường xác định,
Mất một quần thể sẽ lμm nghèo quỹ gen của loμi, nhưng
mất một loμi lμ mất đi tất cả, không thể cứu vãn được
như khi mất đi một số quần thể của loμi,
Loμi đơn hình (Monomorphis) có vùng phân bố hẹp,
điêu kiện môi trường khá đồng nhất vμ ổn định hoặc
những loμi có kích thước quần thể đã bị suy giảm dưới
giới hạn tối thiểu thường có nguy cơ diệt chủng lớn,
Những loμi có kích thước lớn, tuổi thọ cao, khả năng
khôi phục số lượng của quần thể kém,
1.2.2 Đa dạng di truyền (tt)
Trang 41.2.3 Đa dạng hệ sinh thỏi
Là tất cả mọi sinh cảnh, mọi quần xó sinh vật và mọi
quỏ trỡnh sinh thỏi khỏc nhau, cũng như sự biến đổi
trong từng hệ sinh thỏi,
Hệ sinh thái lμ sự thống nhất giữa quần xã sinh vật với
môi trường vật lý mμ nó tồn tại (hình 1),
Cấu trúc hệ bao gồm sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ
vμ sinh vật phân huỷ, các chất vô cơ, các chất hữu cơ vμ
các nhân tố khí hậu,
Hình 1 Mô hình hệ sinh thái hồ:1-Năng lượng, 2-Muối N-P, 3-TV
nổi, 4-ĐV nổi, 5-Côn trùng ở nước, 6-Giun, 7- Cá nổi, 8- Cá dữ, 9-VSV
phân hủy, 10- Cỏ nước, 11- Chim ăn cá, 12- Côn trùng trên cạn, 13- Bốc
hơi nứơc
ánhsáng
21
Sinh vật sản xuấtgồm các sinh vật mang mμu, có khả
năng tổng hợp nguồn thức ăn sơ cấp thông qua hoạt
động quang hợp vμ những sinh vật có khả năng hoá tổng
hợp,
Sinh vật tiêu thụlμ những sinh vật dị dưỡng, sống nhờ vμo
nguồn thức ăn sơ cấp, gồm chủ yếu những loμi động vật,
Vi sinh vậtchủ yếu lμ sinh vật dị dưỡng, sống hoại sinh,
phân hủy xác chết vμ mảnh vụn hữu cơ phức tạp thμnh các
chất vô cơ đơn giản để trả lại cho môi trường
Vi sinh vật đóng vai trò rất quan trọng, vừa kết thúc vừa
mở đầu cho các chu trình sinh địa hoá diễn ra trong các hệ
sinh thái, đồng thời như “một vệ sinh viên” cần mẫn của
sinh quyển, giữ cho môi trường luôn luôn trong sạch,
Trang 5Các hệ sinh thái rất đa dạng về nguồn gốc hình thμnh vμ
kích cỡ Theo nguồn gốc, hệ sinh thái gồm các hệ tự
nhiên vμ nhân tạo,
Theo kích cỡ thì hệ sinh thái có đủ loại, có thể cực bé
được tạo ta trong phòng thí nghiệm, chẳng hạn, một hệ
sinh thái trong ống nghiệm hay một bể cá cảnh trong
gia đình đến cỡ lớn hơn như ao nuôi vμ cực lớn như đại
dương vμ sinh quyển,
Các hệ sinh thái đều có chung một tính chất: thực hiện
trọn vẹn chu trình sinh họccủa mình dựa trên các hoạt
động chức năng (sản xuất-phân huỷ vật chất, thực hiện
các chu trình sinh địa hoá vμ biến đổi năng lượng),
Các HST cũng có quá trìnhphát sinh, phát triển, tồn tại
vμ suy vong,
1.3 Đa dạng sinh học của thủy sinh vật
Thủy sinh vật lμ những vi sinh vật, tảo đơn bμo vμ đa
bμo, thực vật bậc cao, động vật không xương sống vμ
có xương sống thích nghi với đời sống dưới nước, kể
cả nước ngọt vμ nước mặn, hoặc trong các hang nước
hay dưới đáy đại dương sâu trên 11.000 m,
Thủy sinh vật nói chung, có tuổi lịch sử giμ hơn so với
các loμi sinh vật sống trên cạn Chúng có những đặc
tính hình thái, sinh lý vμ tập tính sinh thái thích nghi
với đời sống trong nước, từ tầng mặt đến các vùng đáy
sâu, từ nước ngọt đến nước mặn, thậm chí nước quá
mặn,
1.3.1 Về kớch thước
Cơ thể thủy sinh vật gồm những loμi rất nhỏ chỉ có thể
quan sát được dưới kính hiển vi vμ những loμi có kích
thước khổng lồ như cá mập, cá voi xanh Nói chung,
những sinh vật nổi (Plankton) được chia thμnh mấy
Trang 6• Sinh vật đáy theo kích thước cũng được chia thμnh:
- Sinh vật đáy lớn (Macro-benthos) có kích thước lớn
Theo dạng sống, thủy sinh vật gồm các dạng plankton,
benthos, pelago-benthos, neckton, pleiston vμ neiston:
- Sinh vật nổi hay sinh vật phù du (Plankton) lμ những
loμi vi sinh vật, động vật vμ thực vật sống trôi nổi trong
tầng nước (hỡnh 1),
Hình 1 Các dạng sống Plankton: Phyto- (trái) vμ
Zooplankton (phải)
Trang 7Nhiều động vật sống nổi suốt đời trong tầng nước gọi
lμHoloplanktonvμ những loμi chỉ trải qua đời sống
plankton ở những giai đoạn đầu của đời sống cá thể
gọi lμMeroplankton như trứng, ấu trùng của nhiều
nhóm động vật đáy vμ cá,
- Động vật tự bơi (Nekton) gồm những loμi có khả
năng bơi lội giỏi như cá, rùa, rắn biển, thú biển, các
loμi thuộc lớp Mười chân (Decapoda) cỡ lớn, Chân
đầu (Cephalopoda) như mực Nang, mực ống, Bạch
tuộc (hình 2)
Hình 2 Benthos (trái) vμ Nekton (phải)
- Sinh vật đáy gồm vi khuẩn đáy (Bacteriobenthos), thực
vật đáy (Phytobenthos) vμ động vật đáy (Zoobenthos)
với nhóm sống ở bề mặt đáy (epibenthos hay epifauna)
vμ trong tầng đáy (endobenthos hayinfauna).Nhiều loμi
động vật đáy có khả năng vận động giỏi trên mặt đáy
còn được gọi lμ Nectobenthosnhư các loμi tôm, cua
(hình 2),
- Sinh vật bám (Periphyton): Gồm vi khuẩn bám
(Bacterioperiphyton), thực vật bám (Phytoperiphyton),
động vật bám (Zooperiphyton) Chúng bám vμo các giá
thể ở đáy, trong tầng nước, các công trình xây dựng, kể
cả bám vμo các cơ thể lớn khác (cá, rùa biển, trai ốc, tμu
bè ),
- Động vật đáy - nước (Pelago-benthos), tức lμ những loμi
sống ở nơi tiếp giáp giữa đáy vμ nước (cá bơn, cá
đuối ),
Trang 8- Sinh vật mμng nước gồm nhóm sống nửa nước, nửa
khí (Pleiston) như một số loμi sứa (Physalia, Velella,
Porpita ), các loμi thực vật trôi nổi trên mặt nước
(bèo Ong, bèo Tấm, Lục bình, Trang ) hoặc ở mμng
nước (Neiston), nhưng trên mặt mμng (Epi-neiston),
ví dụ, con Đo nước, Gọng vó hoặc bám dưới mμng
nước (Hyponeiston),
Sinh vật thủy sinh rất đa dạng về hình thái, kích thước
cơ thể, dạng sống vμ các đặc tính sinh lý sinh thái
khác Chúng chiếm lĩnh mọi sinh cảnh, mọi nơi sống,
đủ khả năng thu hồi tối đa mọi vật chất vμ năng lượng
có trong thủy quyển,
1.3.3 Về sinh cảnh và nơi sống
< 0,5Nước ngọt
Limnetic
4
0,5 – 30 (32):
18 - 30 (32)5,0 - 18,00,5 - 5,0
Euhaline
2
> 40Nước quá mặn
Hyperhaline
1
Độ muối(‰)Các dạng thủy vực
TT
+ Các thủy vực nước ngọt gồm hệ nước chảy (sông suối)
vμ hệ nước đứng (ao, hồ, nước trong các hang) Giữa
nước chảy vμ nước đứng lμ các hồ chứa (Reservoir)
Giữa lục địa - đại dương lμ đới biển ven bờ
(Coastalzone) mμ biểu hiện trước hết của nó lμ nơi
chuyển tiếp sông - biển (Estuary),
+ Theo chiều sâu, khối nước được chia thμnh: Tầng
được chiếu sáng (Euphotic) vμ tầng không được chiếu
sáng (Aphotic),
+ Khối nước còn được chia thμnh: nước tầng mặt
(Epilimnionđối với hồ hay Epipelagicđối với biển vμ
đại dương), nước tầng giữa (Metalimnion đối với hồ
hay Benthipelagic đối với biển vμ đại dương) vμ nước
tầng sâu (Hypolimnion) đối với hồ hay (Abissopelagic)
vμ cực sâu (Ultraabissopelagic) đối với biển vμ đại
dương,
Trang 9+Men theo đáy, thủy vực có các vùng sau:
- Vùng trên triều (Supralittoral),
- Vùng triều (Littoral),
- Vùng dưới triều (Sublittoral),
- Vùng chuyển tiếp xuống đáy (Littorioprofundal),
- Đáy sâu (Fundal) đối với hồ, còn lòng chảo (Abissal)
vμ đáy cực sâu (Ultra-abissal) của biển vμ đại dương,
Đáy lμ nơi sống của sinh vật đáy được hình thμnh bởi
các vật liệu khác nhau trong quá trình phát triển của
thủy vực Người ta chia đáy thủy vực thμnh 2 loại: đáy
cứngvμđáy mềmdựa theo kích thước của các phần tử
cấu trúc nền đáy dựa vμo tỷ lệ pha trộn của các hạt có
kích thước nhỏ (dưới 0,01mm) với các thμnh phần cấu
- Đáy cát-bùn với tỷ lệ các hạt nhỏ chiếm 5-10%
- Đáy bùn-cát với tỷ lệ các hạt nhỏ chiếm 10-30%,
- Đáy bùn với tỷ lệ các hạt nhỏ chiếm 30-50%,
- Đáy bùn nhuyễn với tỷ lệ các hạt nhỏ chiếm trên 50%,
1.3.4 Vai trũ của đa dạng sinh học
Các hệ sinh thái lμ cơ sở sinh tồn của mọi sự sống, bao
gồm trong đó cả con người,
Đảm bảo cho sự chu chuyển không ngừng của các
nguyên tố hóa học giữa môi trường vμ quần xã sinh vật,
Duy trì sự ổn định vμ mμu mỡ của đất đai, điều tiết nước
ngầm, chống xói lở bờ bãi, điều hòa chế độ thủy văn,
khí hậu thời tiết, thanh lọc các chất ô nhiễm,
Cung cấp trực tiếp cho con người lương thực, thực
phẩm, các dược liệu, nguyên liệu cho các ngμnh công
nghiệp, cung cấp năng lượng nguyên khai (than, củi),
Trang 10Lμ kho gen dự trữ quan trọng để bổ sung cho vật
nuôi vμ cây trồng,
Phục vụ cho đời sống tinh thần vμ thỏa mãn
những nhu cầu về thẩm mĩ, nâng cao tri thức
khoa học vμ khát vọng khám phá thế giới tự
nhiên (hỡnh 3),
Hình 3 Hồ Hoμn Kiếm - một thắng cảnh của thủ đô Hμ Nội
1.2 Đa dạng sinh học thủy sinh vật nước ngọt VN
1.2.1 Cỏc vựng sinh thỏi nước ngọt
Lãnh thổ nước ta được chia thμnh 9 vùng sinh thái
(Ecological Zone) với 33 tiểu vùng sau đây (Le Quy An
et al., 1995):
Vùng núi phía Bắc vμ Trung tâm Bắc với 4 tiểu vùng,
Vùng trung du Bắc bộ vμ Bắc Trung bộ với 2 tiểu vùng,
Vùng đồng bằng sông Hồng,
Vùng Trung bộ,
Trang 11Vùng cao nguyên Trung bộ,
lμ “điểm nóng” về đa dạng sinh học bởi mấy lẽ:
- Sự phân hóa cao về sinh cảnh vμ nơi sống, kéo theo lμ
mức đa dạng cao về thμnh phần loμi sinh vật vμ những
biến dị di truyền trong nội bộ loμi,
- Lưu giữ nhiều loμi mới cho khoa học, những dạng đặc
hữu vμ quý hiếm hoặc những loμi đang bị đe dọa diệt
chủng ở mức toμn cầu hoặc đã biến mất ở nhiều vùng
khác trên thế giới,
- Tốc độ hủy hoại sinh cảnh, nơi sống vμ tiêu diệt các loμi
trên lãnh thổ nước ta ở mức cao,
Trong chúng không ít loμi không thể tự khôi phục số
lượng của mình, đang rơi vμo tình trạng bị đe doạ tuyệt
chủng ở những mức độ khác nhau do bị khai thác quá
mức hoặc do nơi sống bị ô nhiễm, bị xáo động thường
xuyên hay bị huỷ hoại hoμn toμn như Cμ cuống, trai
Cánh, trai Cóc, cá Mòi cờ, cá Cháy, cá Anh vũ, cá Lăng,
cá Chiên, cá Chình Nhật, cá Sấu hoa cμ v.v
Trang 12- Sự phân hóa cao về sinh cảnh vμ nơi sống, kéo theo lμ
mức đa dạng cao về thμnh phần loμi sinh vật vμ những
biến dị di truyền trong nội bộ loμi,
- Lưu giữ nhiều loμi mới cho khoa học, những dạng đặc
hữu vμ quý hiếm hoặc những loμi đang bị đe dọa diệt
chủng ở mức toμn cầu hoặc đã biến mất ở nhiều vùng
a Sinh vật dũng chảy (sụng suối):
- Sinh vật nước chảy,nhất lμ động vật, lμ những dạng
ưa hμm lượng oxy cao Mức đa dạng tăng dần từ thượng
lưu xuống hạ lưu,
- Sông lμ con đường di cư sông – biển (katadromy)
như các loμi cá Chình (Anguilla) ở các tỉnh miền Trung
hoặc biển – sông (anadromy) như cá Mòi, cá Cháy
trên hệ thống sông Hồng, cá Cháo lớn ở hệ thống sông
Cửu Long,
- Sông không có sinh vật mμng nước Thực vật nổi đa
dạng hơn động vật nổi, trong thực vật nổi tảo Silic
thường ưu thế, còn trong động vật nổi, Cladocera vμ
Rotatoria ưu thế so với nhóm Copepoda vì chúng có
khả năng trinh sản (Parthenogenese) Cá lμ nhóm đa
dạng nhất, nhiều loμi lμ đối tượng có giá trị kinh tế cao
trong bộ cá Chép (Cypriniformes) như cá Trắm đen, cá
Mè, cá Bỗng, cá Anh vũ, cá Hô, cá Cờy , cá nhóm da
trơn (bộ Siluriformes) như cá Chiên, cá Nheo, cá Lăng,
cá Tra, cá Ba sa,
-Động vật thủy sinh trong các dòng chảy duy trì nguồn
gen quan trọng cho khu hệ động vật của các thủy vực
nội địa,
Trang 13b Sinh vật nước đứng
• Sinh vật nước đứng (nước tĩnh) gồm rất nhiều loμi có
nguồn gốc từ các hệ dòng chảy hoặc các loμi bản địa,
thích nghi với điều kiện nước tĩnh với hμm lượng oxy
thường thấp vμ rất dao động theo ngμy đêm vμ theo
mùa liên quan với độ nông sâu vμ diện tích rộng hẹp
của thủy vực,
• Sinh vật nổi (Plankton): Trong nước đứng, các dạng
sống khá phong phú vμ mức đa dạng sinh học khá
cao,
• Thực vật lớn (Macrophyta)nước đứng không kém đa
dạng về thμnh phần loμi vμ cách sống, nhất lμ trong
các vực nước nông, giμu chất dinh dưỡng:
- Các loμi sống trôi nổi trên mặt nước như Lục bình
(Eichhornia crassipes), bèo Cái (Pistia strratiotes),
- Nơi nước sâu lμ vùng phân bố của các loμi sống chìm,
phổ biến lμ rong rêu như rong Sét (Myriophyllum
dicoccum), rong Xuơng cá (M Indicum),
- Nơi nước nông xuất hiện những loμi có lá vμ một phần
thân nhô lên khỏi mặt nước Những loμi nμy có quan
hệ chặt chẽ với những loμi sống trên cạn trước đây:
rong Mác (Sagittaria sagittaefolia, S Guyanensis),
Chóc (Monochoria hastata, M Lanceolata),
- Những vùng đất, nước chua phèn thường lμ nơi sống
của các loμi thân thảo như Năn phù (Elaeocharis
congesta), Năn cạnh (E Acutangula), Năn gối
(E.geniculata), Cỏ bấc (Juncus effusus), Lác (Cyperus
cephalotes),
Trang 14Hình 4 Rong Mác (Sagittaria) nở hoa trong các đầm nước
ngọt ảnh của Vũ Trung Tạng
1.3 Đa dạng sinh học thủy sinh vật biển
1.3.1 Cỏc vựng sinh thỏi biển
Trong phạm vi vùng thềm lục địa đã xuất hiện nhiều sinh
cảnh rất đặc trưng, nhạy cảm với những tác động của các
nhân tố tự nhiên vμ hoạt động của con người (Vũ Trung
Tạng, 1982,1994):
- Các hệ cửa sông,
- Các bãi triều trần gồm thềm cát, bãi bùn, bờ đá hoặc
các bãi triều lầy được phủ bởi rừng ngập mặn,
- Chuỗi các đầm phá ven biển miền Trung,
- Hệ thống vũng vịnh nông ven bờ,
- Các rạn san hô,
- Các đảo vμ quần đảo thềm lục địa,
Các vùng vμ tiểu vùng sinh thái:
- Vùng biển ven bờ Đông bắc,
- Vùng biển ven bờ châu thổ Bắc bộ,
- Vùng biển ven bờ Nga Sơn - Hải Vân,
- Vùng biển ven bờ Hải Vân - mũi Cμ Ná,
- Vùng biển ven bờ Cμ Ná-Vũng Tμu,
- Vùng biển ven bờ châu thổ sông Cửu Long,
- Vùng biển ven bờ phía đông bán đảo Cμ Mau,
- Vùng biển ven bờ phía tây bán đảo Cμ Mau,
- Các hải đảo trên thềm lục địa,
Trang 151.3.2 Thành phần thủy sinh vật biển
Thμnh phần loμi thủy sinh vật trong vùng nước thềm lục
địa(bảng),
Sinh vật biển phân bố rất khác nhau trong các khu vực
khác nhau Về mặt địa lý động vật, thềm lục địa nước ta
nằm trong 2 phân vùng lớn: Phân vùng Trung Hoa
-Nhật Bản vμ phân vùng ấn Độ - Mã Lai thuộc Tổng
vùng Nhiệt đới ấn Độ - Tây Thái Bình dương, trong đó
mũi Varella (12030’ N) lμ ranh giới giữa chúng,
nguồn lợi thủy sản
Khỏi niệm về nguồn lợi thủy sản: Nguồn lợi thủy sản
lμ phức hợp các loμi thủy sinh vật có giá trị của một
vùng địa lý xác định, được con người khai thác vμ sử
dụng trực tiếp cho những mục đích khác nhau, trước
hết lμ lμm thực phẩm, sau lμ sử dụng như những
nguyên liệu cho các ngμnh công nghiệp, sản xuất
dược liệu, lμm cảnh v.v Nguồn lợi chỉ lμ một bộ
phận của tμi nguyên đa dạng sinh học, được hình
thμnh trong mối quan hệ cân bằng phức tạp của các
loμi trong hệ sinh thái, bao gồm chủ yếu lμ cá, giáp
xác, thân mềm, da gai thuộc các thuỷ vực nước ngọt
vμ nước mặn,
Vi sinh vật vμ Protozoa
Hình 5 Mối quan hệ dinh dưỡng giữa các loμi sinh vật
trong RNM - một trong những đơn vị cấu trúc của vùng
cửa sông- ven biển (Vũ Trung Tạng, 1994, 1999, có sửa
chữa)
Trang 162.1 Thế giới
Tốc độ khai thác thủy sản tăng khá nhanh, đặc biệt
trong khoảng thời gian từ năm 1950 đến 1970 tăng 3,5
lần (từ 20 triệu tấn đến 70 triệu tấn) Sau đó, sản lượng
nghề cá bước vμo trạng thái ổn định vμ đạt gần 95 triệu
Nguồn: FAO, Yearbook, 2000
Trong các đối tượng hải sản khai thác được, cá chiếm
83% tổng số, sau lμ giáp xác gần 5,0 % (tôm, cua), thân
mềm trên 7,0 % (chủ yếu lμ hai vỏ vμ chân đầu), rong
tảo trên 4,0 % (chủ yếu lμ tảo Nâu), số còn lại lμ giun
biển, cầu gai vμ thú biển,
Cá thường tập trung chính ở nhóm cá Trích
(Clupeiformes) 21-23 %, cá Gadus (Gadiformes) gần
16,0 %, cá Thu (Scombridae) khoảng 6,5 %, cá Sòng
(Carangidae) 6,0%, cá Gai (Gasterosteidae) trên 5,0%,
cá Ngừ (Thunnidae) gần 3,5%, cá Merlucidae 2,6% vμ
cá Bơn (Pleuronectiformes) khoảng 2% trong tổng sản
lượng cá,
Với sản lượng chung như thế thì nghề cá biển thế giới đã
vượt quá giới hạn chịu đựng của đại dương (WWF,
1998) vμ đến năm 1994 có khoảng 60% nguồn lợi cá đại
dương hoặc đã được khai thác đến giới hạn cho phép
hoặc đã rơi vμo tình trạng suy giảm,
Hướng phát triển của nghề cá đại dương có chiều
hướng thay đổi:
- Đưa việc khai thác từ Bắc Bán cầu xuống Nam Bán cầu,
tại trung tâm phía nam của các đại dương,
- Đưa nghề cá từ bờ ra khơi, từ tầng nước mặt đến các tầng
sâu của đại dương,
- Tìm kiếm những đối tượng khai thác mới,
Trang 172.2 Việt Nam
2.2.1 Khai thỏc thủy sản
Theo đánh giá của Bộ Thuỷ sản (2005), gần nửa thế kỉ
qua, kể từ ngμy thμnh lập, thuỷ sản từ một lĩnh vực sản
xuất nhỏ bé, nghèo vμ lạc hậu, nay đã phát triển trở
thμnh một trong những ngμnh kinh tế hμng hoá quan
trọng của đất nước với tốc độ tăng trưởng cao vμ tỷ
trọng GDP ngμy cμng lớn, giữ vị trí xứng đáng trong
Trang 182.2.2 Nuụi trồng thủy sản
NTTS đã trở thμnh ngμnh sản xuất hμng hoá, mang tính
chiến lược cho sự phát triển của nghề cá,
Khai thác vμ NTTS được xem lμ “hai chân” của nghề cá,
NTTS phải nhanh chóng biến các trang trại NTTS nói
riêng hay các vùng biển nông nói chung thμnh những hệ
sinh thái canh tác có sức sản xuất cao,
Nghề cá nước ta phải đồng thời thực hiện 2 nhiệm vụ
mang tính chiến lược: “Công nghiệp hoá khai thác” vμ
“Nông nghiệp hoá thủy vực”,
Theo Bộ Thủy sản (2005), diện tích nuôi trồng thủy sản
trong cả nước được đánh giá lμ 1.379.038 ha, (ven biển
lμ 374 400 ha với sức gánh chịu lμ 115 ha/km bờ biển,
chiếm 27,3% diện tích có khả năng nuôi trồng),
Diện tích bãi triều Bắc bộ trên 78.000 ha, bắc Trung bộ
13.000 ha, duyên hải Nam Trung bộ 22.200 ha, Đông
Nam bộ 50.000 ha vμ các tỉnh thuộc đồng bằng sông
Cửu Long trên 127.000 ha,
Bắc vμ Nam Trung bộ diện tích eo vịnh, đầm phá khá
lớn, đạt đến 64.700 ha, chiếm 44,8% diện tích eo vịnh
toμn quốc,
Đất đai, mặt nước ven biển có thể khai thác vμ sử dụng
cho NTTS gồm các khu vực sau đây:
- Vùng trên triều (Supralittoral) không chịu ảnh hưởng
của thủy triều, thích hợp cho việc xây dựng các xưởng
đóng vμ sửa chữa tμu thuyền, xây dựng nhμ máy sản
xuất thức ăn, chế biến hải sản vμ lμm dịch vụ cho nuôi
trồng hay nghề cá nói chung, xây dựng các trại sản xuất
giống vμ nuôi thực nghiệm,
- Vùng triều (Littoral) lμ nơi ngập nước có chu kì, nhiều
thuận lợi, nhất lμ nguồn nước, giống vμ thức ăn tự
nhiên, thậm chí cả năng lượng thủy triều được khai thác
để lấy giống vμ thức ăn tự nhiên từ biển, thu hoạch tôm
cá, thay rửa đầm,
Trang 19- Vùng dưới triều (Sublittoral), nhất lμ những nơi tương
đối kín sóng gío không chỉ lμ bãi đẻ, nơi kiếm ăn vμ
nuôi dưỡng các ấu thể của nhiều đμn động vật biển
mμ còn lμ địa bμn thích hợp để phát triển nuôi thả
biển trên cơ sở tạo dựng lồng bè, phên dậu,
Tính ưu việt của vùng nước ấm vĩ độ thấp như nước ta
lμm các tập đoμn nuôi thả rất đa dạng, có thể gồm tới
• Hình thức nuôi hiện nay cũng rất đa dạng vμ sáng tạo:
Nuôi đơn canh, đa canh, luân canh, xen canh, nuôi
quảng canh truyền thống (QCTT), quảng canh cải tiến
(QCCT), nuôi thâm canh (TC) vμ bán thâm canh
(BTC), nuôi trong ao đầm, nuôi tôm trên cát, nuôi
lồng bè, giμn dậu trong nước ngọt cũng như trong các
eo vịnh,
Hình 6 Đầm nuôi tôm bán thâm canh
xã Giao Lâm, Giao Thủy, Nam Định ảnh: Vũ Trung Tạng
Trang 20• Ở vùng ven biển nước ta, nuôi QCTT chỉ ở giai đoạn
sơ khai Hiện tại nuôi QCCT lμ hình thức nuôi phổ
biến nhất ở các địa phương Nuôi BTC vμ TC mới
chiếm khoảng 5% diện tích nuôi trồng cả nước vμ
năng suất chưa đạt được đỉnh cao vốn có của chúng,
• Trong 20 năm đổi mới, năm 2005 so với năm 1985,
sản lượng NTTS ở nước ta tăng lên khá nhanh, từ
231.200 tấn lên 1.437.355 tấn, gấp 6,22 lần Sự tăng
trưởng đó nhờ vμo sự phát triển của nghề nuôi tôm cá
2.2.3 Chế biến và xuất khẩu thủy sản
Chế biến thuỷ sản phục vụ cho thị trường trong nước vμ
xuất khẩu ngμy một tiến bộ dựa trên việc mở rộng,
nâng cấp các cơ sở chế biến vμ ứng dụng công nghệ
tiên tiến Nhờ vậy, các mặt hμng thuỷ sản xuất khẩu
tăng nhanh, từ 5% lên 30-35% sản lượng thuỷ sản vμo
những năm gần đây,
- Năm 1985, cả ngμnh có 72 nhμ máy đông lạnh, năng
lực chế biến công nghiệp chỉ với cấp đông mới đạt 381
tấn/ngμy, chủ yếu lμ lμm đông khối, xuất nguyên liệu
thô, đến năm 2005 tăng lên 439 nhμ máy đông lạnh với
tổng công suất đông lμ 4.262 tấn/ngμy, chuyển sang sản
xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng bằng các dây
chuyền tiên tiến ở mức độ khu vực vμ thế giới,
- Hμng thủy sản Việt Nam đã xuất đi 105 thị trường
khác nhau, chủ động cho các thị trường chính lμ Hoa
Kỳ, EU, Nhật Bản Về an toμn vệ sinh, hiện có 171
doanh nghiệp nằm trong danh sách 1 vμo thị trường
EU, 300 doanh nghiệp đủ điều kiện vμo Hoa Kỳ, 295
doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn vμo Trung Quốc vμ 251
doanh nghiệp chế biến đáp ứng được các yêu cầu an
toμn vệ sinh đối với thị trường Hμn Quốc,
Trang 21- Nhờ sự phát triển nhanh vμ đồng bộ trong các lĩnh vực
sản xuất vμ chế biến thủy sản, năm 1985 kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản cả nước chỉ đạt 90 triệu USD thì đến
năm 2005 con số đó lμ 2,742 tỷ USD, tăng gấp 30,5 lần,
- Việt Nam ngay từ năm 2002 với kim ngạch xuất khẩu
2,03 tỷ USD đã được FAO xếp vμo vị trí thứ 7 trong 10
nước xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất thế giới sau Trung
Quốc, Thái Lan, Na Uy, Hoa Kỳ, Canada, Đan Mạch,
- Sự tăng trưởng các mặt trên của ngμnh đã thu hút được
nguồn lao động đáng kể, từ 740 nghìn người năm 1985
lên 4 triệu người vμo những năm vừa qua Cơ cấu lao
động cũng thay đổi rõ rệt,
Chương 3 Nguồn lợi thủy sản và những điều kiện
cho sự phỏt triển của nghề cỏ nội địa nước ta
3.1 Tiềm năng diện tớch mặt nước
Khai thác vμ nuôi trồng thuỷ sản được triển khai trên
mọi loại hình thuỷ vực, bao gồm đồng bằng, sông suối,
Diện tích mặt nước có khả năng khai thác vμ nuôi trồng
thuỷ sản ở nước ta rất lớn (chiếm gần 54,7% toμn
quốc), tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long,
thứ đến lμ Bắc bộ (24,16%) vμ sau cùng lμ Nam Trung
bộ (13,4%), trong đó Tây Nguyên chỉ có 65.000 ha
(chiếm 4,7 diện tích của cả nước), tập trung ở các sông,
hồ Diện tích các mặt nước lớn chiếm gần 30% tổng
diện tích có tiềm năng khai thác vμ nuôi trồng, bao gồm
các hệ thống sông suối, hồ tự nhiên vμ hồ chứa,
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản ở các vực nước nội địa
biến đổi hμng năm theo chiều hướng tăng lên, từ
453.600 ha (năm 1995) lên 853.300 ha (năm 2003),
chiếm đến 62,24% tổng diện tích có tiềm năng,
Trang 223.2 Thành phần nguồn lợi thủy sản
Thμnh phần nguồn lợi thuỷ sản nước ta khá đa dạng,
gồm nhiều nhóm đối tượng như cá, giáp xác, thân mềm,
trong đó cá đóng vai trò quan trọng bậc nhất, phân bố ở
các sông suối, ao hồ từ miền núi, trung du đến đồng
bằng thấp, các hệ đầm phá ven biển vμ các thuỷ vực
thuộc các hải đảo thềm lục địa,
Theo Bộ Thuỷ sản (1996), khu hệ cá nước ngọt điển
hình có 544 loμi, trong đó 11 loμi phân bố rộng rãi
chung cho cả 2 miền Bắc vμ Nam,
- Những kết quả công bố mới đây (Nguyễn Văn Hảo,
2000, 2005) chỉ ra rằng, cá nội địa nước ta (cá nước ngọt
vμ một bộ phận cá nước lợ thích nghi với độ muối thấp ở
phần đầu các cửa sông, đầm phá ) đã giám định được
1027 loμi thuộc 427 giống, 98 họ của 22 bộ cá, gồm 79
loμi đặc hữu của 32 giống thuộc 8 phân họ, trong đó 1
giống, 40 loμi vμ phân loμi được tác giả ghi nhận lμ
những taxon mới cho khoa học,
- Ngoμi cá, trong các thủy vực nội địa còn có mặt nhiều
đối tượng khác như Tôm sông (Macrobranchium
nipponensis), tôm Cμng xanh (M rosenbergi), các loμi
thân mềm Chân bụng (Viviparidae, Bithyniidae,
Mytilidae, Ampullariidae ), Hai vỏ (Bivalvia): Trai,
Hến, Trùng trục thuộc các họ Unionidae, Corbiculidae
vμ một số đại diện của Bò sát (Ba ba, Rùa nước ngọt, Lưu
điu, Kỳ đμ, Cá sấu ),
Các hệ thống sông lμ những thuỷ vực thường có số lượng
các loμi thuỷ sản, trước hết lμ cá, đa dạng nhất Dòng
chính của sông Hồng có trên 162 loμi, còn hạ lưu sông
Mê Kông chảy trên lãnh thổ nước ta đã gặp khoảng 250
loμi, chúng đóng vai trò chủ yếu trong việc duy trì đa
dạng sinh học cho các khu hệ cá lân cận,
Thμnh phần loμi cá trong các hồ tự nhiên vμ hồ chứa
cũng có khoảng 100 loμi Trong các ao đầm, đồng ruộng
thμnh phần các loμi cá tự nhiên nghèo, có khoảng 30 - 40
loμi, cá nuôi chiếm ưu thế về sản lượng vμ thường thu
hẹp ổ sinh thái của các loμi cá tự nhiên, hạn chế sự phát
triển số lượng của chúng xuống mức tối thiểu Số lượng
loμi cá nói riêng hay thủy sinh vật nói chung trong các
thuỷ vực thuộc các hải đảo lμ nghèo nhất,
Trang 233.3 Sản lượng khai thỏc và nuụi trồng thủy sản
- Cá nội địa được khai thác trong các sông suối, đầm,
hồ, ao, ruộng vμ đầm phá ven biển Trong khoảng thời
gian 15 năm (1981 - 1995) sản lượng cá đánh bắt được
dao động từ 26 đến gần 33%, trung bình lμ 30,11%
tổng sản lượng khai thác chung của cả nước (934.708
tấn) Đến năm 2005, giá trị đó giảm đi đáng kể, chỉ đạt
185.700 tấn (chiếm 9,3 % tổng sản lượng cá khai thác)
vμ trong 5 năm lại đây (2001 - 2005) sản lượng cá nội
địa giảm so với năm 2000 lμ 22% với tốc độ giảm trung
bình gần 6,6%/năm (Nguyễn Xuân Lý vμ nnk., 2005),
- Khi sản lượng khai thác suy giảm thì sản lượng nuôi
thả ngμy một gia tăng, trung bình từ 24,90% trong
thời kỳ 1993-2002 lên đến 41,19% tổng sản lượng
thủy sản cả nước vμo năm 2005,
- Sản lượng cá Tra, cá Ba sa năm 1999 lμ 86.700 tấn,
đến 2005 ước đạt 375.500 tấn,
- NTTS ở nước ta nói chung hay nuôi nước ngọt nói
riêng đang phát triển theo hướng đa dạng hoá đối
tượng vμ đa dạng hoá các loại hình nuôi thả,
- Trong NTTS, tốc độ sản lượng tăng nhanh lμ dựa vμo
kỹ thuật nuôi ngμy một cải thiện, công nghệ sản xuất
con giống ngμy một tiến bộ vμ các cơ sở sản xuất
giống ngμy một gia tăng,
- NTTS nước ngọt đã chủ động sản xuất nguồn giống
nhờ phương pháp dục đẻ nhân tạo vμ cho cá đẻ nhân
tạo, không còn phụ thuộc vμo nguồn giống tự nhiên vớt
trên sông,
Trang 24Hầu như các tỉnh đồng bằng cũng như một số tỉnh miền
núi đã có trại sản xuất giống cho hầu hết các đối tượng
nuôi thông thường như cá Mè, cá Trắm, cá Trôi, Rôhu,
cá Tra, Ba sa Năm 2005 đã có 392 trại cho sinh sản
nhân tạo cá giống với sản lượng 17 tỷ cá bột các loại
(trong đó cá Tra - 3 tỷ con) với gần 5 tỷ cá hương Riêng
Rô phi đơn tính đực lμ 200 triệu con 21 ngμy tuổi, tôm
cμng xanh lμ 120 triệu con giống,
Từ năm 1980 công nghệ sản xuất giống tôm đã được áp
dụng thμnh công Năm 1999 cả nước sản xuất 7,8 tỷ tôm
giống PL15, đến năm 2005 lμ 28,8 tỷ Viện III đã hoμn
thiện công nghệ sản xuất cua Bể, ghẹ Xanh Năm 2003
sản xuất 0,5 triệu cua giống, năm 2004-10 triệu ốc
hương giống năm 2002-1 triệu con, năm 2003-63 triệu
con Nhiều cơ sở (Quảng Ninh, Khánh Hoμ, Bμ
Rịa-Vũng Tμu ) sản xuất 800.000 cá Vược giống cỡ 3cm;
700.000 cá Song chấm nâu cỡ 4-5cm cho nghề nuôi lồng
trên biển,
3.4 Phõn bố nguồn lợi TS theo loại hỡnh thủy vực
3.4.1 Cỏc hệ thống sụng suối
Thμnh phần nguồn lợi thuỷ sản trong các sông suối khá
đa dạng, song cá có vai trò quan trọng bậc nhất Theo
thống kê, sông ở miền Bắc có trên 243 loμi, 125 giống
của 30 họ cá với khoảng 50 loμi có giá trị kinh tế, các
sông ở miền Trung có 134 loμi thuộc 88 giống, 20 họ,
trong đó 20 loμi lμ những đối tượng quan trọng trong
khai thác, ở các sông ở miền Nam, thμnh phần loμi cá
phong phú hơn với 255 loμi, 102 giống vμ 46 họ với
khoảng 50 loμi lμ những đối tượng kinh tế (Nguyễn
Văn Hảo, 1976, Nguyễn Hữu Dực, 1995, Mai Đình
Yên, 1993),
- Theo các nghiên cứu về khu hệ cá vμo những năm
60-80 của thế kỷ trước, trên các dòng chảy chính
thuộc lưu vực sông Hồng-Thái Bình như sau: Sông
Gâm 107 loμi, sông Năng 32 loμi, sông Chảy 43 loμi,
sông Thao 100 loμi, sông Đáy 107 loμi, sông Châu
Giang 30 loμi, sông Ninh Cơ 84 loμi, sông Thái Bình
107 loμi, sông Lạch Tray 31 loμi, sông Cầu 95 loμi,
- Nhiều loμi lμ cá sống nổi ăn Plankton, nhiều loμi ăn
tạp nghiêng về thức ăn động vật, một số không nhiều
lμ cá dữ ăn cá điển hình Phần lớn cá đẻ trứng nổi hay
trứng bám vμo thực vật ven bờ, một số loμi di cư lên
nơi nước chảy mạnh, gần biên giới Campuchia - Lμo
để sinh sản,
Trang 25- Một đặc trưng nổi bật của hệ thống sông Cửu Long lμ
trong mùa lũ, nước lũ trμn ngập đồng bằng, không chỉ có
tác dụng thau chua, rửa phèn vμ cung cấp phù sa cho
đồng ruộng mμ còn đem theo vμo các thuỷ vực nguồn
giống thuỷ sản, đồng thời tạo cho các loμi cá đồng những
điều kiện thuận lợi để sinh sản vμ dinh dưỡng,
- Nhìn chung, sản lượng cá khai thác trên các hệ thống
sông suối ở nước ta không cao vμ rất biến đổi với chiều
hướng ngμy một suy giảm, nhất lμ gần nửa thế kỷ qua khi
dân số ngμy một đông vμ nhu cầu đời sống ngμy một cao
Sự biến đổi nμy còn phụ thuộc vμo vị trí địa lý của các hệ
thống sông vμ ngay cả các phần khác nhau của dòng
chảy, mực nước trên sông dao động theo mùa,
- Tổng kết của Bộ Thuỷ sản (1996) chỉ ra rằng, trong
các hệ thống sông lớn, sản lượng cá dao động trong
khoảng 200 - 500 tấn (sông Chảy 200 tấn, sông Gâm
300 tấn, sông Thao 300 tấn, sông Lô 500 tấn) Riêng
sông Hồng sản lượng cá khai thác đạt đến 1.200
tấn/năm,
- Ngoμi sản lượng cá khai thác cao, các hệ thống sông
lớn lμ nguồn cung cấp cá giống quan trọng cho các
ao, đầm, hồ, đồng ruộng thuộc lưu vực của chúng,
nhất lμ trước đây, khi nguồn giống hoμn toμn phụ
thuộc vμo sự sinh sản tự nhiên của các loμi,
3.4.2 Hồ tự nhiờn
Diện tớch và sự phõn bố đầm hồ tự nhiờn
Số lượng các đầm hồ lớn không nhiều, đa phần có diện
tích nhỏ (100-500 ha) Những hồ lớn tập trung chủ yếu ở
vùng núi cao Việt Bắc vμ Tây Nguyên Hồ thuộc nhiều
nguồn gốc khác nhau như nguồn gốc núi lửa (Biển Hồ ở
Pleiku), do địa chấn vμ hoμ tan (Ba Bể), từ sự đổi dòng
của sông (hồ Tây, Hoμn Kiếm, đầm Chính Công, đầm
Vạc, Đại Lải ),
Trang 26Hồ Lăk, Đăk Lăk - Một thắng cảnh vμ lμ cơ sở khai thác & NTTS
quan trọng của Tây Nguyên, ảnh: Vũ Trung Tạng
Đầm, hồ thường có độ sâu nhỏ (3-5m), trừ một số hồ ở
miền núi như hồ Ba Bể, hồ Lăk, Biển Hồ, có độ sâu lớn
hơn, nhưng cũng không vượt quá 30m Nghiên cứu tổng
hợp vμ chi tiết về các đầm hồ còn chưa nhiều, nếu có
cũng tản mạn Do vậy, những hiểu biết về đa dạng sinh
học, tiềm năng về nguồn lợi thuỷ sản, nhất lμ những giá
trị khoa học vốn có của các hồ tự nhiên chưa đầy đủ vμ
cặn kẽ, do đó các biện pháp khai thác, sử dụng vμ quản lý
chúng chưa hiệu quả,
Các loμi cá hồ không thật đa dạng, dao động từ 20 đến
70 loμi Hồ Lăk (Buôn Mê Thuột) đã thống kê được 41
loμi (Nguyễn Quốc Nghị, 1998), hồ Ea Krông vμ Đăk
Minh có 58 loμi (Nguyễn Thị Thu Hè, 2004), hồ Tây - 36
loμi, Ba Bể - 56 loμi, An Khê - 19 loμi (Nguyễn Văn Hảo,
1995), đầm Trμ ổ - 67 loμi, đầm khu BT ĐNN Vân Long
(Ninh Bình) - 54 loμi, đầm Vạc (Vĩnh Phúc) - 28 loμi
(Vũ Trung Tạng, 2000, 2004, 2005),
- Năng suất sinh học của hồ, trước hết lμ cá, thay đổi
theo hình thái hồ vμ phụ thuộc vμo vùng phân bố,
trung bình dao động từ 70 kg/ha đến 550kg/ha,
- Sản lượng vμ năng suất của các hồ, nói chung đều có
xu hướng giảm, chủ yếu do khai thác quá mức hoặc
khai thác hủy diệt, đồng thời mức độ ô nhiễm môi
trường nước hồ có chiều hướng gia tăng do phát triển
du lịch sinh thái như Ba Bể (Bắc Kạn), hồ Tây (Hμ
Nội), Đại Lải, đầm Vạc (Vĩnh Phúc),
-Sản lượng vμ năng suất cá khai thác ở một số đầm,
hồ tự nhiên
Trang 273.4.3 Hồ chứa
- Hồ chứa được hình thμnh do con người đắp đập, chặn
dòng ở trung vμ thượng lưu sông để lấy nước tưới tiêu,
điều tiết dòng chảy, phòng tránh lũ lụt vμ lấy nước chạy
máy phát điện Số lượng hồ chứa ngμy một nhiều, diện
tích ngμy một mở rộng,
Phân loại các hồ chứa ở nước ta theo kích cỡ hồ
- Các hồ chứa phân bố tập trung ở Đông Nam bộ, trung
du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên (bảng 14) Những
hồ chứa có diện tích vμ độ sâu lớn lμ hồ Hoμ Bình, Thác
Bμ, Núi Cốc, Trị An, Yaly Gần đây, số lượng hồ chứa
mới đã vμ đang xuất hiện ngμy một nhiều nhằm đáp
ứng nhu cầu về điện, về nước tưới cho các vùng đất
nông nghiệp, nhất lμ ở các tỉnh miền Trung vμ Tây
Nguyên như Yaly (Gia Lai - Đắk Lăk), Na Hang
(Tuyên Quang), hồ Sơn La,
- Nguồn lợi thủy sản của các hồ chứa khá đa dạng, song
cá lμ cơ cấu khai thác chính, có từ 20 đến 100 loμi
Các hồ chứa ở miền Bắc có khoảng 80 loμi thuộc 62
giống vμ 12 họ, đều chung nguồn gốc với cá sông
Hồng Các hồ chứa ở Đông Nam bộ có 96 loμi thuộc
53 giống, 16 họ, chung nguồn gốc với cá sông Mê
Kông - Đồng Nai ở các hồ chứa thuộc khu IV vμ Tây
Nguyên, thμnh phần loμi cá nghèo hơn, khoảng 20
-50 loμi,
- Cá hồ chứa gồm 2 nhóm: cá tự nhiên vμ cá nuôi
Chúng chủ yếu lμ những loμi của họ cá Chép, rồi đến
các loμi cá da trơn, còn các loμi thuộc các họ, bộ cá
khác thường ít vμ kém giá trị,
- Các loμi cá hồ chứa ở miền Bắc có khoảng 30 loμi
có giá trị kinh tế Cá kinh tế của các hồ chứa thuộc
khu IV có khoảng 20 loμi, Tây Nguyên khoảng 10
loμi với các loμi cá quý có thể gặp lμ cá Dμy
(Cyprinus centralus), cá Chình (Anguilla bengalensis,
A bicolor pacific, A marmorata) Cá kinh tế ở các hồ
chứa Đông Nam Bộ có số lượng tương tự như các hồ
miền Bắc với những đại diện quan trọng lμ cá Thát
lác, cá Duồng, cá Ngựa, cá Mè vinh, cá Trê trắng,
Lươn, cá Lóc, cá Bống tượng, cá Tai tượng,
Trang 28Cá nuôi trong các hồ chứa thường lμ những đại diện
thuộc nhóm cá Chép với 13 loμi, trong đó 5 loμi lμ cá
nội địa (Mè trắng, Trôi, Chép, Trắm đen, Mè Vinh) vμ
8 loμi lμ những cá nhập từ các nước khác nhau như
Mè trắng Hoa Nam, Mè hoa, Trắm cỏ, Rôhu, Mrigan,
Cát la, Rô phi đen, Rô phi hồng Cá Rô phi không
phổ biến trong các hồ chứa, trừ một vμi nơi nμo có
điều kiện thuận lợi cho đời sống của chúng,
Nhìn chung, thμnh phần loμi vμ năng suất cá biến đổi
theo quy luật phát triển của hồ chứa:
- Ở những năm đầu mới ngập nước, những loμi cá ưa
nước chảy giảm hẳn số lượng, trong khi những loμi cá
nổi, vốn đã sống trong các thuỷ vực nước tĩnh trước đây
(ao, đầm, hồ), nhất lμ cá dữ ăn cá, có cơ hội phát triển
số lượng nhanh chóng; cá đáy kém phát triển do đáy
hình thμnh chậm vμ thức ăn nghèo Cá ăn thực vật bậc
cao vμ mùn bã hữu cơ phát triển mạnh ở giai đoạn đầu,
sau đó giảm,
- Sau 2 - 3 năm hoặc 3 - 5 năm, tuỳ thuộc vμo vị trí của
hồ ở đồng bằng hay miền núi, các loμi cá nói riêng hay
thủy sinh vật nói chung hoμn thμnh việc phân chia lại
nơi sống vμ ổ sinh thái mới thực sự bước vμo trạng thái
ổn định cả về kết cấu của khu hệ vμ năng suất của
chúng nói riêng hay của hồ nói chung,
- Các loμi cá nuôi sớm được đưa vμo thường phát huy hiệu
quả cao trong cơ cấu năng suất vμ sản lượng nhờ được
thừa hưởng không gian rộng lớn, nguồn thức ăn trù phú,
kéo theo lμ tốc độ tăng trưởng về kích thước rất nhanh
Chúng lấn át các loμi cá tự nhiên vμ trở thμnh đối tượng
khai thác chính của hồ ở thời kì đầu mới ngập nước,
Những đánh giá của Bộ Thuỷ sản (1996) vμ các nghiên
cứu khác (Trần Trường Lưu vμ nnk., 2000; Nguyễn Hải
Sơn vμ nnk, 2001; Trần Thanh Việt, Nguyễn Ngọc Vinh
vμ nnk., 2001,) chỉ ra rằng, trong các hồ chứa năng suất
trung bình của cá tự nhiên dao động trong phạm vi từ
dưới 20 đến gần 70 kg/ha, còn cá nuôi từ 5 đến gần 80
kg/ha, phụ thuộc vμo vị trí vμ hình thái của hồ,
Trang 293.4.4 Đồng ruộng
- Loại hình đồng ruộng tập trung chính ở 2 vùng châu thổ
lớn nhất đất nước lμ châu thổ sông Hồng vμ châu thổ
sông Cửu Long,
- Thμnh phần các loμi cá đồng ruộng không đa dạng,
thường lμ những loμi thích nghi với điều kiện nước đứng
với mực nước dao động phụ thuộc vμo chế độ canh tác
Những đại diện chính thuộc các họ Notopteridae,
Cyprinidae, Clariidae, Channidae, Anbantidae,
Belontiidae, Cobittidae, Synbranchidae… với khoảng vμi
chục loμi đến 40 - 50 loμi, tuỳ theo từng vùng,
-Số lượng loài, sản lượng và năng suất cỏ ruộng,
Năng suất cá đồng, nói chung lμ thấp vμ rất biến động
Sản lượng vμ năng suất cá đồng miền Bắc thường thua
kém so với cá đồng ở đồng ruộng thuộc đồng bằng sông
Cửu Long (bảng 17) do bị cách li hầu như hoμn toμn với
các sông lớn bởi hệ thống đê, quá trình trao đổi nguồn lợi
cá sông vμ đồng rất ít khi xảy ra, trừ ở nơi nμo đó đê bị
vỡ trong mùa lũ,
Trong đồng, ngoμi cá còn có một số loμi có giá trị kinh tế
cao về nhiều khía cạnh (lμm thực phẩm, lấy vỏ lμm thuốc
hay sản xuất các mặt hμng mỹ nghệ ): Tôm Sông, tôm
Cμng xanh, tép Riu, cua Đồng, Hến, trai Sông, trai Cánh,
trai Cóc, các loμi ốc thuộc các họ Bithyniidae, Thiaridae,
Viviparidae hay họ Ampullariidae, Cμ cuống, ếch Đồng,
ba ba Trơn, Lưu điu,
3.5 Phõn bố nguồn lợi thủy sản theo cỏc vựng
sinh thỏi
Nguồn lợi thủy sản trong các vùng sinh thái khác nhau
có những đặc tính riêng, được phản ảnh sâu sắc trong
thμnh phần giống loμi, đặc tính sinh học, sinh thái học
cũng như trong các quy luật biến động số lượng của các
quần thể nói riêng hay sản lượng vμ năng suất khai thác
của thủy vực,
Theo các kết quả nghiên cứu (Bộ Thuỷ sản, 1996), trong
số 546 loμi cá nước ngọt, có 11 loμi phân bố rộng, chung
cho cả 2 miền Bắc vμ Nam Các tỉnh thuộc Bắc bộ có
222 loμi (chiếm 40,08%),
Trang 30Các tỉnh Nam bộ có 306 loμi (chiếm 56,25%) Các tỉnh
Bắc Trung bộ, từ Thanh Hoá đến Thừa Thiên - Huế có
145 loμi (chiếm 26,65%) Các tỉnh Nam Trung bộ, từ
Quảng Nam - Đμ Nẵng đến Bình Thuận có 120 loμi
(chiếm 22,06%),
Theo Nguyễn Văn Hảo (2000, 2005), 1027 loμi cá nội
địa đã được giám định tên, phân bố như sau: Khu vực
Cao-Bắc-Lạng có 104 loμi (chiếm 10,12% toμn khu hệ),
khu vực Việt Bắc 226 loμi (22,0%), khu vực Tây Bắc 192
loμi (18,7%), trong đó riêng khu Điện Biên Phủ 110 loμi
(10,7%), khu vực đồng bằng Bắc bộ 316 loμi (30,77%),
khu vực Bắc Trung bộ 372 loμi (36,22%), khu vực Nam
Trung bộ 251 loμi (24,44%), khu vực Tây Nguyên 189
loμi (18,40%), khu vực Đông Nam bộ 277 loμi (26,97%)
vμ khu vực đồng bằng sông Cửu Long 388 loμi (37,78%),
3.5.1 Nguồn lợi thuỷ sản đồng bằng sông Hồng
- Khu hệ cá tự nhiên sống trong các vực nước ngọt điển
hình gồm chủ yếu các đại diện của họ cá Chép
(Cyprinidae) vμ cá da trơn (Bagridae, Siluridae,
Clariidae), cùng với một số loμi của bộ cá Vược
(Perciformes) với khoảng 40-50 loμi lμ những cá kinh tế,
- Ở vùng cửa sông, thμnh phần loμi cá vμ những đối
tượng khai thác, nuôi trồng rất đa dạng, hầu hết lμ những
loμi có nguồn gốc biển, thích nghi với điều kiện môi
trường, trước hết lμ độ muối, biến động nhanh theo thời
gian vμ không gian,
Vân Long, Gia Viễn, Ninh Bình - Vùng ĐNN lớn nhất còn sót
lại ở ĐBSH, ảnh: Vũ Trung Tạng
Trang 31- Năm 1985, 1994 trong vùng cửa sông thuộc hệ thống
sông Hồng - Thái Bình đã xác định được khoảng 233
loμi cỏ, 71 họ thuộc 18 bộ, trong đó bộ cá Vược
(Perciformes) lμ cơ cấu chính của khu hệ, gồm 33 họ
với 120 loμi,
- Ngoμi cá, Giáp xác vμ Thân mềm đóng vai trò quan
trọng trong khai thác vμ nuôi trồng, đặc biệt lμ các loμi
tôm He (Penaeidae), cua, ghẹ (thuộc Portunidae) với
khoảng 20 loμi; thân mềm Hai vỏ (Hμu, Sò, Ngao, Don,
Dắt, Móng tay, Trùng trục ),
+ Khu hệ cá tự nhiên nói riêng hay nguồn lợi
thủy sản nói chung có thể gồm những nhóm sinh
thái chủ yếu sau đây:
- Các loμi cá thích nghi với điều kiện dòng chảy với
trên 100 loμi Nhiều loμi có kích thước lớn, tuổi thọ
cao, kết cấu của đμn phức tạp (cá Mè, cá Trắm, cá
Nheo, cá Chiên, cá Anh vũ, cá Bống, cá Chạch
sông ),
- Nhóm cá nước tĩnh, chủ yếu sống trong các hồ, ao,
đầm, có biên độ sinh thái rộng như khả năng chịu
được sự dao động lớn về nhiệt độ, hμm lượng oxy
Nhiều loμi cho sản lượng khai thác cao như cá Chép,
cá Diếc, cá Trôi, cá Măng, cá Chμy, cá Vền,
- Nhóm cá di cư biển-sông (anodromy), gồm những loμi
động vật cửa sông bán di cư, xâm nhập vμo phần thấp
của hạ lưu sông để kiếm ăn vμ sinh sản, nhất lμ khi
triều cường (cá Lμnh canh, cá Ngần, cá Đối, cá Nhụ,
cá Hau, cá Quai, cá Kìm, cá Nhói, cá Bống,
Trang 32Hμng năm vμo đầu hay giữa tháng 3, cá Mòi, cá Cháy di
cư vμo hạ lưu vμ trung lưu hệ thống sông Hồng để sinh
sản Đến tháng 5 mùa sinh sản kết thúc, chúng cùng với
cá con xuôi dòng ra biển,
Các nghiên cứu của Vũ Trung Tạng (1997) chỉ ra rằng,
cá Mòi trên sông Hồng tuy không còn cho sản lượng
khai thác, nhưng chưa bị tuyệt chủng Nguợc lại, kích
thước cá còn sót lại lớn hơn, sức sinh sản cao hơn so với
các đμn khai thác vμo những năm trước đây, đủ điều kiện
tạo cho cá tự khôi phục lại kích thước quần thể của mình,
nếu như Nhμ nước vμ ngμnh Thuỷ sản có những chính
sách vμ biện pháp đủ hiệu lực để bảo Vử,
Cá Cháy cũng tương tự như cá Mòi Trên sông Hồng,
nguồn lợi cá Cháy suy giảm nhanh hơn,
- Nhóm cá nuôi chủ yếu lμ các loμi thuộc họ cá Chép
(Cyprinidae): Chép, Trắm đen, Trắm cỏ, Mè trắng, Mè
hoa, Trôi ta, Trôi ấn, Rô phi (Cichlidae), Trê phi
(Clariidae) Chúng có nguồn gốc khác nhau (Rô phi, Trê
phi, Trôi ấn, Mrigan, cá Chim trắng ), nhiều dòng khác
nhau (Chép ta, Chép hung, Chép Indonesia ) do nhập nội
để lai tạo, nhưng đều đóng vai trò nhất định trong cơ cấu
đμn cá nuôi ở các ao đầm,
- Sản lượng cá thuộc châu thổ sông Hồng không ổn định
vμ có chiều hướng suy giảm, nhất lμ cá ruộng do khai thác
quá mức, sử dụng các phương tiện đánh bắt huỷ diệt, sử
dụng nhiều phân hoá học vμ thuốc phòng trừ sâu bệnh,
-Sản lượng khai thỏc và nuụi trồng thủy sản,
Sản lượng cá nuôi theo các loại hình mặt nước được
thống kê như sau: Cá ao hồ nhỏ cho sản lượng khai
thác 32.790 tấn (77,34%), cá ruộng - 3.550 tấn
(8,37%), cá mặt nước lớn - 3.671 tấn (8,65%), cá lồng
bè - 274 tấn (0,67%), cá mặn lợ -2.108(4,97%),
Các tỉnh vμ thμnh phố có sản lượng cá nuôi cao (trên
10% sản lượng toμn vùng) lμ Hμ Nội, Hải Phòng, Hμ
Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hμ-Nam-Ninh, Vĩnh
Phú, Hμ Bắc,
Trang 333.5.2 Nguồn lợi thuỷ sản đồng bằng sông Cửu Long
- ĐBSCL gồm 13 tỉnh vμ thành phố, có diện tích 39.554
km2, rộng hơn đồng bằng sông Hồng và điều kiện tự
nhiên rất thuận lợi cho phát triển nghề cá,
- Nguồn lợi thủy sản ĐBSCL khá đa dạng vμ mang tính
chất nhiệt đới gió mùa điển hình, không chỉ giμu về
thμnh phần loμi mμ còn phát triển phong phú về số
lượng,
- Khu hệ cá ĐBSCL có khoảng 306 loài Những bộ cá có
số lượng loμi lớn lμ bộ cá Chép (Cypriniformes) với
trên 80 loμi, bộ cá Nheo (Siluriformes) gần 60 loμi vμ
bộ cá Vược (Perciformes) - trên 60 loμi Nhiều loμi lμ
những đối tương kinh tế vμ có ý nghĩa khoa học như cá
Hô (Catlocarpio siamensis), có kích thước lớn nhất
trong bộ cá Chép, dμi đến 3m, nặng 200 kg,
Dựa vμo các đặc điểm sinh thái các nghiên cứu đã chia
nguồn lợi cá ở ĐBSCL thμnh các nhóm sau:
- Nhóm cá có nguồn gốc biển hay còn gọi lμ cá nước
ngọt cấp 2, gồm những loμi di cư từ biển vμo trong
nước ngọt để kiếm ăn vμ sinh sản như cá Cơm (Corica
sorbona), cá Mề gμ (Colia macrognathus),
- Nhóm cá sông hay còn gọi lμ nhóm cá trắng, sống
trên dòng chính vμ đi vμo vùng ngập lũ theo các kênh
rạch lớn Hμng năm các loμi nμy thường di cư vμo vμ ra
khỏi vùng ngập lũ theo sự lên xuống của chế độ ngập
nước, gồm cá Duồng (Cirrhinus microlepis), cá Linh
(Cirrhinus jullient),
- Nhóm cá đen hay còn gọi lμ cá đồng, thích ứng với
điều kiện nước tĩnh vμ nông, hμm lượng oxy thấp vμ rất
dao động, pH đôi khi xuống thấp do nước bị nhiễm
phèn, nhất lμ trong mùa khô ở vùng đất ngập nước rừng
Trμm U Minh vμ Đồng Tháp mười Nhóm nμy gồm các
loμi thuộc họ cá Lóc (Channidae), cá Rô đồng
(Anabantidae),
- Nhóm cá nước lợ cửa sông lμ những loμi cá biển rộng
muối thường xâm nhập vμo vùng cửa sông kiếm ăn khi
triều cường, nhất lμ vμo thời kỳ mùa khô, lưu lượng
nước các dòng sông thấp Chúng thuộc các họ cá Trích
(Clupeidae), cá Khế (Carangidae), cá Thu
(Scombridae),
Trang 34- Tôm Cμng xanh lμ loμi có giá trị kinh tế cao của các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long Tôm phân bố rộng trong các
vực nước ngọt, các dòng vμ cửa rạch lớn, đôi khi cách
cửa sông đến 200km,
- Trước đây, ĐBSCL được xem như lμ vựa cá lớn của Nam
bộ Không những thế, trên các dòng sông chính, nhiều
loμi cá có kích thước lớn nặng từ vμi ba chục cân (cá
Trèn dốc, cá Leo, cá Bông lau, cá Tra) đến vμi trăm cân
như cá Hô, cá Tra dầu cũng thường xuất hiện,
-Sản lượng thủy sản,
Trong khai thác tự nhiên, sản lượng cá tập trung ở các
tỉnh Cửu Long, Hậu Giang, Đồng Tháp, An Giang vμ
Tiền Giang, còn tôm tập trung ở tỉnh An Giang, Long
An, Đồng Tháp, Hậu Giang vμ Bến Tre,
Sản lượng NTTS của 8 tỉnh ven biển đồng bằng sông
Cửu Long năm 2003, bao gồm tôm cá nước ngọt vμ
nước lợ lμ 432.939 tấn, trong đó, nước ngọt lμ
140.913 tấn, chiếm 32,5% tổng sản lượng, tôm
192.068 tấn, chiếm 44,4%, nghêu sò 91.801 tấn,
chiếm 21,2%, còn lại lμ các đối tượng khác,
Trong NTTS, sản lượng cá nuôi tập trung ở An Giang,
Đồng Tháp, Cửu Long; sản lượng tôm Cμng xanh ước
tính khoảng 6.000 - 8.000 tấn/năm, được nuôi nhiều nhất
ở tỉnh Cửu Long, sau lμ Hậu Giang vμ Bến Tre; sản lượng
tôm nước lợ khai thác nhiều nhất thuộc các tỉnh Cμ Mau,
Hậu Giang, Cửu Long vμ Bến Tre; sản lượng cá bè tập
trung ở tỉnh An Giang vμ Đồng Tháp,
Theo đánh giá của Nguyễn Minh Niên (2005), NTTS của
các tỉnh ven biển ĐBSCL mới sử dụng khoảng 60% diện
tích tiềm năng, đặc biệt trong đó nuôi nước ngọt chưa
phát triển; nuôi tôm biển đã sử dụng khoảng 77% diện
tích tiềm năng, song chủ yếu lμ nuôi QCCT (gần 74%
tiềm năng diện tích nuôi tôm), nuôi BTC vμ TC chiếm
3,92% diện tích đất nuôi tôm, do đó, năng suất nuôi
trung bình của toμn vùng dao động qua các năm (1999
-2003) từ 220 đến 410 kg/ha/năm,
Trang 35Nghề lưới đáy trên sông Cửa lớn, Cμ Mau.
ảnh: Vũ Trung Tạng
Nhìn chung, trong thời gian qua, nguồn lợi thủy sản
ĐBSCL giảm sút rõ rệt cả về số loμi, cỡ cá khai thác vμ
sản lượng Trong những năm của thập niên 70 sản lượng
cá nước ngọt khai thác ở ĐBSCL khoảng 85 nghìn
tấn/năm (gồm sản lượng hμng hoá vμ tiêu thụ gia đình),
năng suất khai thác trung bình trên các dòng sông chính
lμ 136kg/ha, trong ruộng lúa 4,4kg/ha vμ vùng ngập lũ
65,6kg/ha (Lagler,1976),
Đến năm 1990 theo ước tính của Công ty Nedeco, sản
lượng cá chỉ còn khoảng 66 nghìn tấn (giảm khoảng
22,4%), trong đó, 50% lμ cá hμng hoá vμ 50% lμ cá tiêu
thụ trong gia đình Theo các ngư dân đánh cá thường
xuyên trên sông Tiền vμ sông Hậu, sản lượng cá khai
thác hiện nay chỉ bằng 50% so với 15 năm về trước vμ cỡ
cá khai thác cũng nhỏ hơn nhiều,
3.5.3 Nguồn lợi thuỷ sản vμ những điều kiện cho
sự phát triển nghề cá ở các tỉnh miền núi
- Những thuỷ vực miền núi vμ trung du phân bố trong các
vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung bộ vμ Tây Nguyên
với diện tích chung 88,2 nghìn ha, chiếm 9,3% diện tích
mặt nước NTTS nội địa cả nước,
- Các loμi cá sông suối lμ những đối tượng có tầm quan
trọng nhất trong các thuỷ vực trung du vμ miền núi,
- Nhìn chung, các loμi cá thuộc khu vực miền núi thường
lμ những loμi có kích thước nhỏ, song một số loμi có kích
thước khá lớn như các đại diện của Bagridae, Cyprinidae
(cá Lăng, cá Anh vũ, cá Bỗng ),
Trang 36- Nghề đánh cá ở các sông suối miền núi thường lμ những
nghề mang truyền thống địa phương, đơn giản vμ lạc hậu
Những phương tiện đánh bắt huỷ diệt như sử dụng thuốc
nổ, hoá chất, kích điện hiện nay cũng được du nhập vμo,
trở thμnh nhân tố nguy hại đối với đa dạng sinh học vμ
nguồn lợi thủy sản,
- NTTS ở các tỉnh miền núi được đẩy mạnh trong vμi thập
niên qua không chỉ bổ sung nguồn đạm động vật, nâng
cao đời sống, trực tiếp tham gia xoá đói giảm nghèo cho
các cộng đồng dân cư miền núi mμ còn nâng cao tỷ trọng
thủy sản trong cơ cấu của nền kinh tế địa phương,
- Đối tượng nuôi cũng khá đa dạng, gồm những loμi truyền
thống (Mè trắng, Mè hoa, Chép, Trắm cỏ, cá Bỗng…) có
nguồn gốc bản địa vμ còn di nhập những đối tượng mới
như Rô phi, Tôm cμng xanh, cá Tra, cá Chim trắng…để
nuôi trong các ao hay trong lồng bè,
- Tiếp tục thực hiện Quyết định số 224/1999/QĐ-TTC của
Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển NTTS,
quan điểm của các tỉnh miền núi trong thời kì 1999-2010
được định hình trong các lĩnh vực chính sau đây:
+ Tiếp tục xác định thuỷ sản lμ một ngμnh có vai trò quan
trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền
núi,
+ Xây dựng các quy hoạch, tận dụng mặt nước ao, hồ
nhỏ kết hợp với việc sử dụng tổng hợp vμ hợp lý các
mặt nước lớn (hồ chứa, sông)…để phát triển NTTS
nước ngọt, tạo nhiều công ăn việc lμm, trực tiếp thực
hiện xoá đói giảm nghèo vμ nâng cao mức sống vật
chất cho các cộng đồng dân cư miền núi,
+ Tăng sản lượng nuôi theo hướng tăng năng suất vμ
chất lượng, hạ giá thμnh sản phẩm nhằm nâng cao hiệu
quả nuôi Đa dạng hoá đối tượng vμ các loại hình nuôi
thả, bao gồm cả các loμi bản địa vμ các loμi nhập nội
có giá trị kinh tế cao,
+ Phát triển thuỷ sản (khai thác vμ nuôi trồng) gắn liền
với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ vμ phát triển
nguồn lợi thủy sản,
Trang 37Chương 4 Nguồn lợi thủy sản và những điều
kiện cho sự phỏt triển nghề cỏ biển
4.1 Đặc trưng về điều kiện tự nhiờn của thềm lục địa
Việt Nam
- Việt Nam có bờ biển dμi trên 3260 km nằm trải dμi
trên 13 vĩ độ với diện tích thềm lục địa khoảng
1.000.000 km2 vμ trên 3000 đảo vμ quần đảo, trong
đó Hoμng Sa vμ Trường Sa lμ 2 quần đảo lớn nhất Hai
vịnh nông dưới 100m thuộc Biển Đông lμ vịnh Bắc bộ
vμ vịnh Thái Lan,
- Bờ biển Việt nam lμ cửa ngõ của hầu hết các hệ thống
sông, chảy theo hướng đông bắc - tây nam, đưa nước
ra Biển Đông, trong đó 2 hệ thống lớn nhất lμ hệ
thống sông Hồng-Thái Bình vμ Cửu Long - Đồng Nai,
- Dọc bờ biển xuất hiện hμng loạt sinh cảnh đặc trưng:
Các hệ cửa sông, chuỗi đầm phá, vũng, vịnh nông ven
bờ, những bãi bồi rộng lớn được phủ hoặc không được
phủ bởi cây ngập mặn, những bờ đá lởm chởm, dốc
đứng, những bãi cát phẳng ven biển dμi,
- Biển Đông lμ biển lục địa, nhưng mang nhiều nét đại
dương điển hình vμ nằm kế cận với quần đảo ấn Độ - Mã
Lai, một trong những trung tâm phát sinh vμ phát tán cổ
xưa vμ lớn nhất của động vật biển thế giới,
- Những điều kiện thiên nhiên quyết định đến ĐDSH,
những đặc trưng về sinh học, sinh thái học của các loμi
cũng như cơ chế hình thμnh nguồn lợi sinh vật biển,
4.2 Cấu trỳc thành phần loài và nguồn lợi sinh vật
Khu hệ động vật, thực vật biển nước ta khá
phong phú, gồm cây rừng ngập mặn, các loμi
cỏ biển, các loμi tảo đa bμo (rong biển) sống
bám vμ những loμi tảo đơn bμo trôi nổi trong
tầng nước, hμng chục ngμn loμi động vật, từ
những cơ thể nguyên sinh động vật đến những
loμi có mức tiến hoá cao nhất như chim, thú
biển Tất cả chúng đã trải qua quá trình tiến
hoá lâu dμi, hình thμnh nên nguồn lợi sinh vật
vμ duy trì sự cân bằng sinh học ổn định cho đời
sống của biển,
Trang 384.2.1 Rừng ngập mặn vμ vai trò của nó trong đời
- Nơi sinh sống, kiếm ăn vμ sinh sản của nhiều loμi động
vật trên cạn vμ biển, do đó, trở thμnh “vườn ươm” cho
các ấu thể của chúng,
- Rừng ngập mặn còn cung cấp nguồn thức ăn hữu cơ trù
phú cho nhiều loμi động vật vùng cửa sông vμ ven biển,
Các kết quả điều tra đã xác định được 92 loμi cây RNM
thuộc 72 chi, 3 họ, trong đó có 35 loμi thực vật ngập
mặn chính thức, 40 loμi đi theo vμ 17 loμi từ nội đồng
chuyển ra với 42 loμi thuộc dạng cây gỗ, 8 loμi cây bụi,
26 loμi thân thảo, 8 loμi dây leo, 3 loμi sống bì sinh vμ 1
loμi sống kí sinh,
Dọc bờ biển, nơi nμo RNM được bảo vệ vμ phát triển,
nơi đó nguồn lợi thủy sản giμu có, bờ, bãi biển được
bảo vệ vững chắc, còn nơi nμo RNM bị tμn phá vμ chặt
trắng, nguồn lợi trở nên nghèo nμn, bờ bãi không thể
chống cự nổi bão tố Rất nhiều bằng chứng thực tế đã
khẳng định điều đó,
Theo Nguyễn Hoμng Trí vμ Phan Nguyên Hồng
(1984), hμng năm RNM đã cung cấp trung bình 10
tấn/ha các sản phẩm rơi rụng, trong đó rừng giữ lại
60%, 40% còn lại được “xuất” ra vùng cửa sông ven
biển, cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho các
động vật ăn mùn bã (Detritivore), đặc biệt lμ tôm, cua,
thân mềm vμ một số loμi cá,
Bởi vậy, dọc bờ biển, nơi nμo RNM được bảo vệ vμ
phát triển, nơi đó nguồn lợi thủy sản giμu có, bờ, bãi
biển được bảo vệ vững chắc, còn nơi nμo RNM bị tμn
phá vμ chặt trắng, nguồn lợi trở nên nghèo nμn, bờ bãi
không thể chống cự nổi bão tố Rất nhiều bằng chứng
thực tế đã khẳng định điều đó,
Trang 39Hình 8 RNM ven biển Thái Thụy, Thái Bình bảo vệ bờ
biển vμ giúp cho đất ngμy một tiến xa ra biển
ảnh: Vũ Trung TạngPhân bố diện tích đất ngập nước ven biển vμ
rừng ngập mặn ở Việt Nam
4.2.2 Cỏ biển - nơi lưu giữ nguồn gen cho biển
- Vùng ven biển nước ta đãghi nhận được 15 loμi thuộc 4
họ (Hydrocharitaceae, Zosteraceae, Pruppiaceae,
Cymodoceaceae) trong số 16 loμi cỏ biển có mặt trong
vùng biển Đông Nam Á,
- Cỏ biển cũng như RNM ven biển, lμ nơi quần tụ của
nhiều loμi sinh vật, từ rong tảo sống xen kẽ hay sống phụ
sinh đến hμng trăm, nghìn loμi động vật biển,
- Cỏ biển cũng tạo nên “phên dậu” bảo vệ bờ biển, thanh
lọc các chất thải bã, lμm thức ăn cho một số loμi “động
vật ăn cỏ”, trong đó phải kể đến lμ Bò biển (Dugong
dugon),
Hình 9 Hệ sinh thái cỏ biển (Fortes, 1990)