1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

cơ sở khoa học tính chọn lọc trong khai thác

71 401 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cường độ khai thác I được đưa vào vùng nước xác định, trong trường hợp chung có thể xác định như tích số của cường lực nghề U với hệ số hiệu quả đánh bắt ngư cụ γ, nghĩa là: Biểu thức 1-

Trang 1

BÀI GIẢNG MÔN HỌC:

Cơ sở khoa học tính chọn lọc trong khai thác

Mã môn học: 11004

Người biên soạn:

Nguyễn Phong Hải Viện Khoa học & Công nghệ Khai thác TS

(Lưu hành nội bộ)

Trang 2

CHƯƠNG 1

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ KHAI THÁC HỢP LÝ NGUỒN LỢI THỦY SẢN

1 Những tiền đề cơ bản của lý thuyết khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản

Những năm 60 của thế kỷ XIX, K.M Ber và N Ia Đaniovski trên cơ sở phân tích nghề khai thác

cá của nước Nga đã đưa ra quan điểm khao học toàn diện về nghề khái thác thủy sản Từ đầu thế kỷ XX, người ta tiếp tục chú ý đến vấn đề tăng cường độ khai thác thủy sản

Quan điểm về khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản có thể chia ra thành hai hướng là xây dựng lý thuyết tiềm năng nguồn lợi và lý thuyết khai thác nguồn lợi thủy sản Tuy nhiên hai hướng nghiên cứu lý thuyết này là một khoa học duy nhất về sử dụng hợp lý nguồn lợi thủy sản

Người sáng lập lý thuyết hiện đại về nghề khai thác cá dựa trên cơ sở phân tích toán học là giáo

sư F.I Baranov đã xác định toàn diện các vấn đề khai thác hợp lý nguồn lợi thủy sản Ông đã xây dựng đường cong chết của cá và thiết lập đường cong chủng quần và đồ thị cá khai thác Lần đầu tiên đưa ra khái niệm sự chết tức thời và xác định phương trình số lượng cá thể và khối lượng chủng quần Sau

đó, ông còn cho biết sự phức tạp của việc xác định trong thực tế đại lượng trong điều kiện ảnh hưởng của việc khác thác lên tiềm năng nguồn lợi

Tiếp tục nghiên cứu theo phương hướng này, các nhà khoa học người Nga G.N Monasưrski, A.N Đejavin đã đưa ra phương pháp đánh giá số lượng dựa trên cơ sở tăng lượng cá (thay đổi các nhóm tăng trưởng)

Ở nước khác, năm 1914 nhà nghiên cứu người Na Uy Iokhan Iort đã đưa ra phương pháp phân tích ảnh hưởng khai thác trên cở sở biến động đàn

Năm 1939 nhà nghiên cứu người Anh Lesli người đề xướng và Đeluri – 1947 áp dụng trên cá phương pháp tính số lượng theo sự giảm nguồn lợi trên một đơn vị cường lực Phương pháp này giống phương pháp định ngạch lượng cá đánh bắt của Baranov, chỉ khác nhau việc tính định ngạch không phải bằng lượng cá khai thác mà bằng cường lực khai thác

Sau này các nhà nghiên cứu người Anh Beverton và Holt (1969) đã phân tích lý thuyết và đưa ra những ví dụ cụ thể về ảnh hưởng của số lượng cá lên toàn bộ các yếu tố cơ bản: mức tăng trưởng, mức chết, khai thác chọn lọc v v…

Những nghiên cứu về nguồn lợi và khai thác nguồn lợi đã sử dụng khái niệm khoa học về cường

độ khai thác đàn, nghĩa là cường độ đánh bắt cá

Cường độ khai thác đàn là tỷ số giữa số lượng cá đánh bắt với số lượng cá trong nguồn lợi, được biểu diễn bằng công thức:

Trang 3

Cường độ khai thác I được đưa vào vùng nước xác định, trong trường hợp chung có thể xác định như tích số của cường lực nghề U với hệ số hiệu quả đánh bắt ngư cụ γ, nghĩa là:

Biểu thức (1-2) xác định chính xác và đúng bản chất Tuy nhiên, nó không cụ thể và khó sử dụng trong thực tế vì những nguyên nhân sau: Thứ nhất, cho đến nay chưa có cách xác định hữu hiệu về mặt định lượng hệ số hiệu quả đánh bắt cho từng loại ngư cụ Thứ hai, trong nghề khai thác cá hiện nay chưa

có phương pháp thống nhất đặc trưng cho cường lực nghề mà tùy theo phương pháp đánh bắt khác nhau

nó có trị số khác nhau và đơn vị đo cũng khác nhau Ngoài ra, xác định cường độ khai thác bằng công thức (1-2) chỉ phản ánh giá trị tuyệt đối cường lực nghề, mà không cho phép phán đoán ở mức độ nào thì giá trị cường độ là đáng kể theo quan điểm điều khiển hợp lý đánh bắt trong vùng nước nghiên cứu

Khi điều khiển hợp lý đánh bắt, cần biết không chỉ cường độ khai thác mà còn cả cách điều khiển

nó Để nhằm mục đích đó, người ta sử dụng không phải là cường độ tuyệt đối mà là tương đối

Cường độ khai thác tương đối I’ được hiểu như là tỷ số của giá trị thực tế của cường độ khai thác, được xác định bằng số liệu khai thác thực tế với giá trị khai thác hợp lý giữa tiềm năng nguồn lợi với sản lượng khai thác cho phép Ihl

Từ (1-3) thấy rằng, nếu I’ <1 thì cường độ khai thác chưa đúng mức, cần gia tăng khai thác Nếu I’ ≥ 1 thì cường độ khai thác đạt đến giới hạn, tăng hơn nữa là không thể được

Để tính toán cường độ khai thác tương đối, không cần thiết phải biết cường độ tuyệt đối và cường

độ hợp lý, mà chỉ cần sử dụng tỷ lệ của chúng Việc tính toán như trên gặp phải khó khăn trong việc xác định hệ số hiệu quả đánh bắt của ngư cụ

Trong điều kiện của nền sản xuất nghề cá phát triển cao, đánh giá cường độ khai thác cần cho việc chỉ đạo sản xuất Với mục đích đó, người ta tìm cách xác định nó bằng phương pháp gián tiếp Ví dụ,

có thể cho rằng trong nghề lưới kéo, đánh bắt luân phiên trong vùng biển xác định thì sản lượng khai thác tính trên một đơn vị cường lực nghề sẽ thay đổi tỷ lệ thuận với cường độ khai thác Vì vậy, trong mục đích thực tế (có hàm ý gần đúng), cường độ khai thác của nghề lưới kéo có thể đặc trưng bằng mối quan

hệ giữa sản lượng khai thác trong một khoảng thời gian tương ứng với khối lượng nước lọc qua lưới trong cùng thời gian đó (Tresev, 1996), nghĩa là:

Trong biểu thức 2-4, có thể phán đoán hiệu quả khai thác của nghề lưới nào đó từ cường độ của

nó Ví dụ, nếu trong một năm, tại vùng biển bào đó đánh bắt được p tấn cá, còn trong vùng khác là 2p thì

có thể nhận thấy, tại vùng biển thứ hai, cường độ khai thác cao hơn vùng biển thứ nhất 2 lần Đại lượng i được phân biệt với đại lượng không thứ nguyên I là nó được đo bằng đơn vị hiệu suất (T/M3)

Biểu diễn về mặt lý thuyết cường độ khai thác nghề lưới kéo theo mối quan hệ sản lượng đánh bắt

là chưa đầy đủ, bởi vì đối tượng khai thác là sinh vật sống Chi phí cường lực nghề trên một đơn vị sản lượng trong trường hợp đã cho phụ thuộc cơ bản vào trạng thái của đối tượng khai thác Vì vậy, cường độ khai thác của nghề lưới kéo trong trường hợp chung có biểu diễn đầy đủ theo quan hệ hàm số dạng:

Ở đây, δ – mật độ tập trung cá

γ – hệ số hiệu quả đánh bắt của lưới kéo

Trang 4

ks – hệ số chọn lọc, là quan hệ giữa lượng cá thoát ra khỏi lưới kéo với lượng cá bị giữ lại trong lưới

t – thời gian kéo lưới

Mật độ tập trung cá trước lưới kéo có thể đánh giá gần đúng bằng máy dò cá Tính chọn lọc của lưới kéo cũng được nghiên cứu khá đầy đủ và hệ số chọn lọc với độ chính xác nhất định cũng đã được xác định Thời gian đánh bắt đã biết Chỉ còn hệ số hiệu quả đánh bắt của ngư cụ là chưa được nghiên cứu đầy

đủ Trị số này đặc trưng cho quan hệ tương hỗ giữa lưới và cá, phụ thuộc vào tập tính sinh lý của cá, vào cấu trúc lưới kéo và điều kiện đánh bắt Ngày nay, với các thiết bị nghiên cứu tiên tiến, có thể quan sát dưới nước bằng tàu lặn, cũng chỉ có thể xác định (giá trị trung bình) hệ số γ đối với một kiểu lưới kéo nhất định là những giá trị gần đúng Ví dụ, tiến hành quan sát lưới kéo đánh cá tuyết đầu to (Gadus morhua macroce phalus) và cá trích bằng buồng lặn kiểu “Severianka” và các thiết bị khác, đã chỉ ra rằng,

hệ số γ phụ thuộc chính vào độ chiếu sáng của nước, kích thước miệng lưới kéo và tốc độ kéo lưới

Trạng thái sinh lý cá tuyết đầu to qua nghiên cứu nhận thấy, phản ứng của nó với lưới kéo trong năm không thay đổi Nó ít sợ lưới kéo và thường đi trước lưới theo phương kéo lưới Cá trích lại phản ứng rõ rệt với lưới kéo và thay đổi rõ rệt theo mùa Vào mùa lạnh, cá trích ít vận động và cũng như cá tuyết, nó ít phản ứng với lưới kéo và thường đi trước lưới Vào thời gian ấm nóng, nó có phản ứng mạnh, chạy trốn khi gặp lưới, nhưng cá tạo đàn phản ứng đó chỉ xảy ra không xa miệng lưới, nên với tốc độ kéo lưới lớn, cá thường bị bắt Vì vậy, xác định hệ số hiệu quả đánh bắt của lưới kéo và ngư cụ khác thường là giá trị trung bình theo từng mùa

Để đánh giá gần đúng cường lực khai thác người ta sử dụng các phương pháp gián tiếp khác Năm 2003, Baranov đã xác định cường độ khai thác của lưới rùng trên cơ sở những lý do hình học như quan hệ giữa diện tích bao lưới và diện tích thủy vực khai thác; Maslov (1960) và Marti (1961) đã sử dụng sản lượng cá của lưới kéo sau một giờ kéo lưới như một chỉ số của cường lực khai thác Trên quan điểm này, nếu như trong cùng một điều kiện như nhau, sản lượng đánh bắt trên một giờ kéo lưới bắt đầu giảm thì cường độ khai thác đạt giá trị tới hạn Phương pháp đánh giá gián tiếp cường độ khai thác, người

ta không chỉ sử dụng đối với lưới kéo, mà còn dùng với các loại ngư cụ khác Ví như nghề lưới rê trôi đánh cá trích, người ta lấy sản lượng đánh bắt một lưới sau một mẻ lưởi là giá trị tỷ lệ của cường độ khai thác v.v… Người ta đã có ý định đặc trưng cường độ khai thác bằng số và bằng thời gian tồn tại trong khai thác ngư cụ và tàu thuyền Phương pháp này cho phép phán đoán đơn giản và dễ dàng về sự thay đổi tương đối cường độ khai thác trong khoảng thời gian nào đó, nhưng nó chứa đựng những khó khăn về việc không thống nhất biểu diễn cường lực nghề và quá phụ thuộc vào trình độ thăm dò tìm kiếm nguồn lợi và quy trình công nghệ khai thác, nghĩa là phụ thuộc vào hoạt động đa dạng của người khai thác cá, trong thực tế không thể lượng hóa được

Sử dụng các phương pháp gián tiếp cùng với việc đánh giá cường độ khai thác thực là công việc buộc phải làm trong tương lai Tuy nhiên lúc đó, không nên đồng nhất cường độ khai thác thực (tương đối

và tuyệt đối) và trị số tỷ lệ của nó được xác định bằng phương pháp gián tiếp Thực chất của phương pháp đánh giá gián tiếp cường độ khai thác, loại trừ xác định theo hệ dố hình học quá trình khai thác, đặc trưng không phải là cường độ mà là hiệu suất khai thác không gắn với sản lượng khai thác nói chung, mà chỉ thuần túy chỉ số cơ học của quá trình sử dụng ngư cụ Vì vậy, sau này để tránh sự nhầm lẫn, chúng ta sẽ biểu thị cường độ khai thác là I, còn trị số tỷ lệ của cường lực khai thác được ký hiệu là i

Một khó khăn lới gặp phải khi đánh giá trong thực tế về cường độ khai thác là đa số các nghiên cứu trước đây về lý thuyết khai thác cá đều phân tích nghề khai thác cá trong trạng thái ổn định

Baranov đã phân tích trường hợp lý tưởng của thủy vực phân lập, trong đó cường độ khai thác không thay đổi trong suốt thời gian dài và giả thiết rằng trong thủy vực đó không xảy ra dịch bệnh, các

Trang 5

yếu tố thủy văn thay đổi ít, từ đó không gây lên sự thay đổi ngẫu nhiên trong thành phần quần thể cá Tuy nhiên, ông cũng nhấn mạnh sự quan trọng và ý nghĩa của các yếu tố biến đổi trong lý thuyết khai thác cá

Ngày nay, trong các nghề khai thác cá quan trọng có khá đầy đủ tài liệu để định ra được cách tính toán chính xác một số vấn đề nghiên cứu Trong nghiên cứu lý thuyết khai thác đã có thể đánh giá được

số lượng cá tương đối trên cơ sở biến động sản lượng khai thác đã có thể đánh giá được số lượng cá tương đối trên cơ sở biến động sản lượng khai thác và một số dấu hiệu khác Một số nước có tiềm lực nghiên cứu đã có thể xác định được giá trị trữ lượng đàn cá dựa trên thành quả của các thiết bị máy dò cá hiện đại

và các ảnh chụp dưới nước Điều này cho phép tiến hành chi tiết hơn phân tích trữ lượng nguồn lợi và dự báo cường lực khai thác các nghề

3 Phân loại ngư cụ

Trong nghề khai thác thủy sản hiện nay, có nhiều loại ngư cụ hoạt động theo những phương thức

và tính năng tác dụng khác nhau, trong đó đối tượng khai thác cũng khác nhau Chưa có phân loại nào chặt chẽ, phân tích các vấn đề về cường lực nghề còn rất trừu tượng hoặc mang đặc trưng riêng nào đó Vì vậy, trước tiên phải đi tới việc phân tích cường lực và tính chọn lọc trong khai thác cá, cần phải xác định đầy đủ và đúng để phân biệt được những ngư cụ khác nhau

Hiện nay, mỗi nước có một cách phân loại riêng Đaniovski đã mô tả ngư cụ đang sử dụng ở nước Nga nửa cuối thế kỷ XIX Baranov mở rộng, phát triển, mô tả những ngư cụ trong giai đoạn mới Ông đã lập ra những nguyên lý cơ bản của hoạt động ngư cụ và phân loại chúng Schnakenbeck (1942) mô tả nhiều loại ngư cụ của các nước Bắc Âu Devis, 1927 đã mô tả ngư cụ nước Pháp v.v… Tuy nhiên, ở mỗi tác giả đã phân loại ngư cụ theo những dấu hiệu khác nhau Umani, 1952 đã xây dựng hệ thống ngư cụ trên bán đảo Phần Lan theo bảng chữ cái Anpha B Budon, 1952 đã xây dựng hệ thống ngư cụ và phương pháp khai thác dựa trên hệ thống ngư cụ dựa trên số lượng lớn các số liệu khác nhau (trên 50) và hệ thống phân loại này rất cồng kềnh và phát sinh nhiều sai sót về đặc trưng của ngư cụ Kejewski, 1957 đề nghị sử dụng nguyên tắc phân loại ngư cụ theo đối tượng khai thác Brand, 1957 đề nghị phân loại ngư cụ thành

14 nhóm nhưng không trình bày nguyên tắc phân loại Năm 1963, Mirski, Nikonorov – 1969; Lucasov; Fomitrev – 1970 đã đưa ra quan điểm phân loại riêng của mình Tuy nhiên hiện nay chưa có phương pháp phân loại nào được xác định là duy nhất đúng

Dưới đây là phân loại theo Tresov dựa trên nguyên lý phân tích cấu trúc ngư cụ và nguyên tắc tác dụng của chúng Ông chia ngư cụ theo lớp, nhóm và dạng (loại hình), lớp – đặc trưng bằng nguyên lý đánh bắt, được ký hiệu bằng số La Mã; nhóm – đặc trưng bằng phương pháp thực hiện nguyên lý đánh bắt, được đặc trưng bằng số La Tinh Loại hình đặc trưng bằng đặc tính chủ yếu của cấu trúc ngư cụ và phương pháp áp dụng chúng Ngư cụ hiện nay được chia như sau:

Lớp I: Ngư cụ tách cá khỏi nước

Nguyên lý đánh bắt: Tách cá khỏi nước bằng cách chuyển dịch chúng

Trang 6

Nguyên lý đánh bắt: Lọc cá từ nước khi ngư cụ chuyển động tương đối với nước

A – Ngư cụ kéo (lưới kéo)

1 Lưới kéo đơn tầng đáy

2 Lưới kéo đơn tầng gần đáy

3 Lưới kéo đơn tầng giữa

4 Lưới kéo đơn tầng đáy

5 Lưới kéo đôi gần đáy

6 Lưới kéo đôi tầng giữa

7 Lưới kéo khung

8 Lưới đáy

B – Lưới vây

1 Lưới vây một tàu

2 Lưới vây hai tàu

3 Lưới vây màn (vây cá cơm, moi, tép)

4 Lưới vây kết hợp ánh sáng

C – Lưới rùng

1 Lưới rùng cánh bằng kéo vào bờ

2 Lưới rùng cánh bằng không kéo vào bờ

3 Lưới rùng không thân

4 Lưới rùng có túi

D – Chài

1 Chài quăng tay

2 Chài quăng bằng máy

1 Te – xiệp đẩy tay

2 Te – xiệp đẩy bằng tàu

Lớp III: Ngư cụ bẫy

Nguyên lý đánh bắt: Thu gom và giữ cá trong nước khi cá đi vào sân lưới và trở ra khó

khăn nhờ mê cung hoặc bằng phương thức khác

A – Bẫy cố định

1 Lưới đăng hở trên với đường dẫn cao dần

2 Lưới đăng hở trên với đường dẫn mê cung

3 Lưới đăng hở trên với hom lưới dạng phễu

Trang 7

4 Lưới đăng hở trên với đường vào kín

5 Lưới đăng hở trên với tổ hợp hom lưới

6 Lưới đăng có nắp (kín trên) với đường dẫn mê cung

7 Lưới đăng có nắp với lưới hom dạng phễu

8 Lưới đăng có nắp với tổ hợp hom lưới

9 Lưới đăng có nắp với cửa vào tự do

10 Lưới đăng có đường bao cứng

B – Bẫy với mô đun thay đổi tuần tự

1 Lưới rê trôi sông 1 lớp

2 Lưới rê trôi sông 2 lớp

3 Lưới rê trôi sông 3 lớp

4 Lưới rê khung sông

5 Lưới rê trôi biển 1 lớp

C – lưới rê vây

1 Lưới rê vây 1 lớp

2 Lưới rê vây 2 lớp

3 Lưới rê vây 3 lớp

4 Lưới rê vây khung

B – Câu cố định không mồi

C – Câu kéo có mồi

1 Đường câu kéo

2 Đường câu (dây câu móc vào giá câu)

D – Câu nhấc

Lớp VI: Ngư cụ gây chấn thương

Nguyên lý đánh bắt: Giết, làm chấn thương, làm tê liệt cá

A – Súng phóng lửa

B – Công cụ lạnh

Trang 8

Lớp VII: Ngư cụ tách nước

Nguyên lý đánh bắt: Tách cá khỏi nước bằng cách chắt nước

A – Công trình giữ cá khi triều rút

4 Đơn vị đo mức độ khai thác

Khoa học nghề cá là lĩnh vực tri thức tương đối non trẻ, nó không theo một phương pháp đo lường duy nhất, ngay cả giá trị rất quan trọng như hiệu suất ngư cụ sau này FAO đã thống nhất chiến lược quốc tế nghề cá và đưa ra một số đặc trưng hiệu quả nghề của các ngư cụ bằng hai chỉ tiêu: Thời gian khai thác và độ mạnh khai thác

4.1 Thời gian khai thác: Được đo bằng số giờ khai thác, số mẻ lưới hoặc số lần vây cá, số

ngày khai thác, số ngày lưu lại trên khu vực khai thác, số ngày rời khỏi cảng và số lần di chuyển đi khai

thác

 Số giờ khai thác: Được xác định bằng những cách khác nhau tùy theo kiểu khai thác khác nhau Với lưới kéo, được xác định bằng số giờ mà dây kéo lưới đặt tại cơ cấu hãm dây Với lưới rê, rùng,

câu v.v… được tính bằng số giờ ngư cụ được đặt trong vùng tác dụng, nghĩa là lưới trực tiếp khai thác

 Số ngày lưu lại trên vùng khai thác, bao gồm cả thời gian đánh bắt, thời gian tìm kiếm

đàn cá và tất cả thời gian còn luu lại trong vùng khai thác

 Số ngày xa cảng (không có mặt tại cảng): Được tính từ thời điểm xuất bến đi khai thác đến ngày trở lại cảng Nếu như ngư trường xa cảng phải di chuyển nhiều hơn một ngày đêm thì ngày xuất

Trang 9

bến và ngày đến ngư trường được coi như một ngày xa cảng Nếu như ngư trường gần cảng thì ngày rời

bến và ngày đến ngư trường phải được tính thành hai ngày

 Số chuyến biển được xác định bằng số lần ra khơi của người đánh cá đến ngư trường và

sử dụng ngư cụ để khai thác cá

4.2 Độ mạnh khai thác cá (mức khai thác cá): Được đặc trưng bằng kiều tàu (chiều dài, tải

trọng, công suất động cơ chính) và ngư cụ (lưới kéo đôi, đơn, kéo khung, kéo tôm, rùng, vây, rê trôi, rê cố định, lưới đăng, câu vàng, câu cần hoặc một số loại đặc biệt khác) Khi đó không tính đến kích thước ngư

cụ và đặc điểm khác

Sự thống nhất hóa để đo cường lực nghề như trên thực sự là hình thức ước định để chọn lựa những số liệu tĩnh Hệ thống đặc trưng này cũng chưa có cơ sở khoa học vững chắc, nó không phản ánh thực chất các quá trình sản xuất và không thể cho biết được sự đánh giá bằng số hiệu quả nghề khi sử dụng ngư cụ này hay ngư cụ khác

Để đặc trưng cho nghề khai thác thủy sản, một số tác giả (Ionas – 1967) đưa ra cách tính toán năng suất ngư cụ tương tự như trong tính toán sản xuất công nghiệp

Có thể nhận thấy, năng suất ngư cụ bào gồm nhiều yếu tố, là kết quả sử dụng tổng hợp tàu và trang bị toàn bộ trên tàu và ngư cụ Ngoài ra, thành quả khai thác còn phụ thuộc rất lớn vào đối tượng khai thác, là cơ thể sống, điều kiện khí tượng thủy văn và nhiều yếu tố điều khiển và không thể điều khiển khác Từ “năng suất” trong khoa học và kỹ thuật phải hiểu là toàn bộ kết quả đã được xác định, nhận được do chi phí số lượng lao động xác định của người hoặc công suất máy trong các quá trình sản xuất hoàn toàn được điều khiển

Trong khai thác thủy sản hiện đại, đặc biệt khi tính toán để xác định ảnh hưởng nghề khai thác đến trữ lượng nguồn lợi, người ta sử dụng rộng rãi các đơn vị đo mới về hiệu quả khai thác Ví như nghề lưới kéo người ta áp dụng các đơn vị đo như sau

- Đơn vị đo của Anh

- Đơn vị đo của Đức

- Đơn vị đo của Liên Xô (cũ)

- Đơn vị đo của Na Uy

Các đơn vị trên thường không có tính tổng hợp thậm chí trong giới hạn của một nhóm nghề Từ tất cả các đơn vị đo trình bày trên thì đơn vị đo của Anh có hình thức hoàn chỉnh hơn cả, bởi vì nó tính không chỉ thời gian đánh bắt mà cả tải trọng tàu khai thác Tuy vậy nó cũng vẫn chưa thỏa mãn những yêu cầu của nghề khai thác cá hiện đại

Trong khai thác cá hiện đại trên các tàu có tải trọng như nhau có thể đặt các động cơ có công suất, kiểu, cấu trúc và vật liệu chê tạo khác nhau, sử dụng lưới kéo có kích thước khác nhau, kéo lưới với tốc

độ khác nhau Vì vậy, tải trọng tàu và kích thước nói chuyng của tàu chỉ thể hiện gián tiếp chỉ tiêu hiệu quả nghề của quá trình khai thác bằng lưới kéo

Đơn vị đo của các nước ít gắn với quá trình khai thác Trong các nghề khai thác hải sản còn lại, các đơn vị đo hiệu quả nghề, hình thức biểu hiện không rõ rệt Trong các nước khác nhau, thậm chí trong các khu vực khác nhau của một quốc gia phương pháp biểu thị số liệu nghề cũng có sai khác

Như vậy, hiện nay không có chuẩn mực đo hiệu quả khai thác và đối chiếu các số liệu thu được từ các tàu khai thác, và ở các nước khác nhau người ta cũng sử dụng phương pháp tính toán được nghĩ ra chứa đựng nhiều điều kiện và chức năng khác nhau Nguyên nhân chính của tình trạng này là do phương pháp đo hiệu quả khai thác chưa gắn với nội dung của phân loại ngư cụ hoặc đã gẵn với phân loại ngư cụ nhưng sự phân loại đó chưa phản ánh nguyên lý đánh bắt cá

4.3 Một số đặc trưng nghề khai thác cá và đơn vị đo

Trang 10

Vấn đề đo quá trình khai thác thủy sản có thể đơn giản rất nhiều, nếu như xuất phát từ cách phân loại được trình bày ở trên, thiết lập hai nhóm đơn vị Nhóm đầu, đưa ra các đơn vị dành để đặc trưng kỹ thuật ngư cụ, còn nhóm hai, là các đơn vị dành để xác định hiệu quả nghề Đại lượng cơ bản nhất để đặc trưng kỹ thuật ngư cụ là độ mạnh của nghề

Độ mạnh nghề được hiểu là vùng tác dụng của từng ngư cụ trong quá trình đánh bắt Ta sẽ đặt độ

mạnh nghề cho mỗi nhóm ngư cụ tương ứng theo sự phân loại ngư cụ, phụ thuộc vào nguyên lý tác dụng

và đặc tính của chúng Trong trường hợp vùng tác dụng của ngư cụ không thể biểu thị một cách trực tiếp,

để đánh giá độ mạnh nghề, ta sẽ sử dụng các giá trị tỷ lệ của nó

Cường lực nghề là tích số giữa độ mạnh của ngư cụ với thời gian tác dụng của chúng Các đơn vị

đo cường lực nghề của các nhóm ngư cụ khác nhau sẽ khác nhau và được xác định bắt nguồn từ đơn vị đo

độ mạnh nghề

Như vậy, cường lực nghề và độ mạnh nghề trong hệ thống đo quá trình khai thác cá không liên quan đến sản lượng khai thác và chỉ đặc trưng cho tiềm năng kỹ thuật của ngư cụ Khi chọn các đơn vị đo phù hợp chúng sẽ là những giá trị xác định theo mỗi lớp hoặc nhóm ngư cụ cùng một kiểu Kết quả đo theeo những đơn vị đo, trong giới hạn mỗi lớp hoặc mỗi nhóm, là những giá trị tổng quát, nghĩa là không phụ thuộc vào cấu trúc, kích thước, và phương thức sử dụng chúng

Hiệu quả nghề có đơn vị đo duy nhất cho tất cả các lớp và nhóm, là sản lượng khai thác tính trên

một đơn vị cường lực nghề

Nếu sản lượng khai thác là giá trị trung bình của khoảng thời gian khai thác đủ lớn thì đơn vị đo hiệu quả nghề của mỗi lớp hoặc nhóm ngư cụ sẽ là tập hợp tất cả các đặc điểm của quá trình đánh bắt, loại trừ tập tính cá, tổ chức, kỹ thuật và chiến lược nghề Đơn vị đo hiệu quả nghề mới này khác với các đơn vị đo cũ là ở chỗ, nó không có quan hệ đến nguyên lý đánh bắt như sản lượng khai thác tính trên một đơn vị thời gian hoặc tính trên một đơn vị tải trọng tàu thuyền Đơn vị đo hiệu quả nghề mới này đồng thời tính đến cả hiệu quả khai thác và trình độ hoàn thiện kỹ thuật quá trình khai thác Khi kỹ thuật khai thác không đổi thì độ mạnh nghề cũng không thay đổi và hiệu quả nghề của các ngư cụ sẽ thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của trữ lượng nguồn lợi Bởi vì hiệu quả nghề dựa trên cơ sở các số liệu thực tế của nghề sau một chu kỳ thời gian đủ lớn, nên nó cũng chính xác hơn các giá trị khác được xác định bằng con đường lý thuyết trên cơ sở của những giả thuyết khác nhau về tập tính đối tượng khai thác

Độ mạnh của nghề, cường lực nghề và hiệu quả nghề có mỗi quan hệ tương hỗ Hiểu biết đầy đủ cách xác định đơn vị đo độ mạnh nghề của các dạng ngư cụ khác nhau sẽ xác định được đơn vị đo cường lực nghề và hiệu quả nghề

Năm 1969, Lucasov đã tiến hành kiểm tra hệ thống đơn vị đo các thông số của nghề khai thác cá cho nghề lưới kéo, lưới vây, lưới rê, đã chỉ ra rằng hệ thống đo mới hơn hẳn hệ thống đo cũ và cho thấy

cả ba nghề khảo sát trên đều sử dụng cùng một đơn vị đo Trên cơ sở các kết quả trên, Lucasov đã kiểm nghiệm trên nghề lưới rùng, lưới đăng, cầu vang và các loại nghề khác sử dụng các đơn vị đo mới về độ mạnh của nghề, cường lực nghề, hiệu quả nghề và cường độ khai thác, như đối với ba nghề đã được nghiên cứu trước

Từ mục đích đó, Lucasov đã chia tất cả các dạng ngư cụ thành ba nhóm:

1 Ngư cụ với độ mạnh nghề được xác định trực tiếp (bảng 1)

2 Ngư cụ với độ mạnh nghề được xác định bằng thực nghiệm (bảng 2)

3 Ngư cụ với độ mạnh nghề được xác định theo sản lượng khai thác tương ứng với mỗi nghề

Ở đây, độ mạnh nghề được biểu diễn bằng một đại lượng như nhau đối với toàn bộ ngư cụ, là khối nước được khai thác trong một đơn vị thời gian (một ngày đêm)

Trang 11

Nhóm thứ nhất: Ngoài các ngư cụ đã phân tích như lưới kéo, lưới vây, lưới rê, nhóm này còn bao gồm các ngư cụ khi hoạt động tạo thành khối nước Đặc điểm của ngư cụ nhóm này là có thế tính toán trực tiếp khối nước tác dụng tạo được khi ngư cụ làm việc theo kích thước và các thông số khai thác nghề

Nhóm thứ hai: Bao gồm các ngư cụ có khối nước tác dụng phụ thuộc cơ bản vào bán kính tác dụng của thiết bị hoặc các tác nhân được sử dụng để lôi cuốn cá vào khu vực khai thác Tác nhân lôi cuốn

cá được nghiên cứu nhiều nhất là ánh sáng điện và ngư cụ sử dụng kết hợp ngoài lưới vây, mành còn sử dụng rộng rãi lưới vó mạn tàu, bơm hút cá Bán kính hình cầu lôi cuốn cá được xác định bằng thực nghiệm và có giá trị khác nhau khi đối tượng khai thác và nguồn sáng khác nhau Độ mạnh nghề của ngư

cụ kết hợp với tác nhân lôi cuốn cá vào vùng khai thác, nếu biết được bán kính tác dụng của tác nhân lôi cuốn cá, bằng tích số của khối nước chứa trong hình cầu loii cuốn với hệ số liên tục khai thác của ngư cụ

Hệ số liên tục khai thác là tỷ số giữa thời gian tác dụng của tác nhân lôi cuốn trong chu kỳ khai thác với thời gian của chu kỳ đó

Nhóm thứ ba: Bao gồm các ngư cụ mà với kiến thức hiện nay không có thể đưa vào nhóm 1 hoặc nhóm 2, bởi vì khối nước tác dụng của ngư cụ khi làm việc không thể xác định chính xác được bởi những nguyên nhân khác nhau Đối với các dạng ngư cụ loại này có độ mạnh nghề được xác định bằng phương pháp gián tiếp, nghĩa là bằng cách so sánh sản lượng khai thác của ngư cụ đó với sản lượng của ngư cụ khác mà khối nước tác dụng đã biết Ví dụ, nếu sản lượng khai thác của lưới rê trôi là x, khối nước tác dụng của nó trong một đơn vị thời gian là Vx, còn sản lượng khai thác của lưới rê cố định (một lớp) đánh bắt cùng đối tượng là y, thì hoàn toàn có thể cho rằng khối nước tác dụng chưa biết của lưới rê cố định

Vy, sẽ là:

V = ∗

Như vậy chúng ta nhận được độ mạnh nghề của lưới rê cố định sẽ khác độ mạnh nghề của lưới rê trôi bao nhiêu lần khi sản lượng trung bình của lưới thứ nhất lớn hơn hoặc nhỏ hơn của lưới thứ hai bấy nhiêu lần Bằng cách này, có thể đánh giá độ mạnh nghề không chỉ đối với những ngư cụ một kiểu, mà còn đối với ngư cụ có công dụng kép, với nguyên lý đánh bắt khác nhau Ví dụ, lưới rê so sánh với câu, lưới rê so sánh với lưới đăng v.v… Cũng cần nhớ rằng, trong trường hợp đánh giá độ mạnh nghề các ngư

cụ nhóm 3, khối nước tác dụng của chúng không phải là khối nước thực, mà là khối nước biểu tượng nào

đó, nhờ nó có thể biểu diễn độ mạnh nghề của tất cả các ngư cụ theo đơn vị đo khả ước

Dưới đây đưa ra một số ví dụ cách tính toán độ mạnh nghề của nhóm ngư cụ nhóm 3

Lưới rê cố định: Để xác định độ mạnh nghề của lưới rê cố định, ta so sánh sản lượng khai thác

trung bình trên một tấm lưới của lưới rê cố định với giá trị tương ứng của lưới rê trôi

Sản lượng hàng năm tính trên một tấm lưới của lưới rê trôi của một nước nào đó, ví dụ của Liên

Xô (cũ) như sau:

Sản lượng trung bình trên một tấm lưới rê cố định cùng kích cỡ là Pc.d = 1,78 tạ Kích thước của lưới rê trôi 30 x 12 sau một khoảng thời gian trôi lưới 1000m có khối nước đánh bắt (khối nước tác dụng) là:

Khối nước tương đương tác dụng của lưới rê cố định có thể xác định bằng công thức:

Trang 12

Thể tích khối nước tác dụng này gần bằng thể tích của khối trụ với đáy là hình tròn có đường kính bằng chiều dài lưới còn chiều cao hinh trụ bằng chiều cao của lưới, nghĩa là:

Như vậy, xuất phát từ sản lượng khai thác tương ứng, có thể xác định được độ mạnh của nghề lưới rê cố định tính trên một đơn vị thời gian bằng công thức sau:

Ở đây, l – chiều dài lưới, m

a – chiều cao lưới, m;

n – số tấm lưới;

t – thời gian đánh bắt, ngày đêm

Lưới đăng: Có thể lấy ví dụ trong nhiều trường hợp so sánh lưới đăng với lưới rê cố định đánh bắt cùng loại đối tượng Ví dụ, nghiên cứu tính toán lưới rê cố định vùng hạ Azov, đánh bắt cá măng biển

và cá diếc biển Lưới có chiều dài 20m, cao 3m

Lưới đăng có ba loại có chiều dài là 30; 80; 120m và chiều cao trung bình là 3m Khi đó, các ngư

cụ khác cũng cùng đánh bắt tại cùng địa điểm đó vào cùng thời gian: mùa xuân từ 15/03 ÷ 20/04 và mùa thu từ 01/10÷20/12

Trong chu kỳ đánh bắt cao nhất của các loại ngư cụ trong vùng này, từ năm 1946 ÷ 1955, tại vùng

hạ biển Azov sản lượng hàng năm (tính theo tạ) như sau:

I Ở lưới rê cố định có kích thước 20 x 3 m……… 3

II Ở lưới đăng một chuồng có cánh dài 30 m……… 20

III Cùng lưới đăng như thế nhưng cánh dài 80 m……… 50

IV Ở lưới đăng hai chuồng với cánh dài 150m……… 160

Trong điều kiện bằng nhau chiều dài lưới rê cố định và cánh lưới dẫn của lưới đăng, tỷ số sản lượng khai thác tương ứng các loại lưới kể trên sẽ là:

Khối nước khai thác (khối nước tác dụng) có thể tính toán theo công thức:

- Đối với lưới rê:

- Đối với lưới đăng:

Từ đó dẫn tới quan hệ sau:

Như vậy, tỷ lệ tương ứng của sản lượng khai thác và khối nước khai lưới đăng và lưới rê cố định gần bằng nhau Từ đây có thể cho rằng độ nạn nghề 1 ngày đêm của lưới đăng với tính toán thực tế đủ chính xác, có thể biểu diễn theo công thức:

Ở đây, Pd – sản lượng khai thác của lưới đăng trên cùng một đơn vị lưới tương đương Vl.c.d – thể tích khối nước khai thác của lưới rê cố định; Pl.c.d – sản lượng khai thác của lưới rê cố định

Ngư cụ câu: Nhiều nước trên thế giới trên cùng một vùng biển cùng đánh bắt một loại đối tượng

bằng các nghề câu và lưới rê cố định hoặc rê trôi Ví dụ ở Việt Nam, cùng đánh cá thu, ngừ, người ta cùng

Trang 13

sử dụng cả nghề câu và nghề rê Ở nước ta chưa có những nghiên cứu về vấn đề này, nên sử dụng những

số liệu nước ngoài

Xem xét lưới rê cố định Na-Uy đánh bắt cá tuyết đầu to, có chiều dài lưới 28m, chiều cao rút gọn 5m

Độ mạnh nghề của lưới đó là:

Vc = , , = 0.41 m3

Bây giờ xác định độ mạnh nghề câu vàng đánh bắt cùng loại đối tượng như lưới rê cố định Ta giả thiết đầu tiên rằng khoảng cách giữa các lưỡi câu là không đổi và nó phụ thuộc vào hiệu quả đánh bắt Khi đó, mỗi lưỡi câu có thể coi là tâm của đường kính khối nước đánh bắt (khối nước tác dụng) của lưỡi câu đó, nghĩa là:

Chiều dài thẻo câu của câu vàng Na-Uy đánh bắt cá tuyết là R = 0,46m Đưa giá trị này vào công thức trên có thể xác định được khối nước đánh bắt của một lưỡi câu trong vàng câu là:

Sau khi chia trị số khối nước khai thác của lưới rê cố định cho 0,41, ta được:

, = 4488; nghĩa

là một vàng lưới rê tương đương gần đúng với vàng câu có 4500 lưỡi câu

Vàng câu cá tuyết Na-Uy có 16200 lưỡi câu và ngư dân khai thác là 5 người nghĩa là mỗi ngư dân làm việc trên 16200 : 5 = 3240 lưỡi câu Số lượng trung bình tấm lưới trên một như dân phải chịu bằng 7

Trong cùng thời gian, sản lượng cá mỗi ngư dân phải chiu của nghề lưới rê và câu vàng của

Na-Uy như sau: Nghề lưới rê, năm 1959 – 62,4 tạ; 1961 – 47,0 tạ; Còn nghề câu, năm 1959 – 53,6 tạ; 1961 – 64,2 tạ Như vậy, sản lượng trung bình trên một ngư dân phải chịu hai loại ngư cụ trên gần bằng nhau Điều đó có nghĩa là bán kính của khối nước hình cầu được khai thác bởi một lưỡi câu rõ ràng không bằng chiều dài thẻo câu, mà có thể lớn hơn nữa

Ta xác định bán kính này từ điều kiện cân bằng sản lượng cá khai thác và khối nước đánh bắt, tính theo số lượng ngư cụ trên một ngư dân phải chịu:

Từ đâ, ta có:

Hoặc là:

Đưa vào các giá trị bằng số, ta có:

Đưa giá trị vừa tính R vào công thức (1-10), ta nhân được một lưỡi câu trong vàng câu hoặc một tay câu cá tuyết có khối nước đánh bắt là:

Như vậy, xuất phát từ quan hệ sản lượng khai thác có thể tính được độ mạnh nghề câu vàng tính trên một đơn vị thời gian được tính bằng công thức:

Trang 14

V = * ∗

Ở đây, R – bán kính của khối nước đánh bắt hình cầu, xác định bằng phương pháp đã chỉ ở trên

n – số lượng lưỡi câu

Trong tính toán ở trên, chúng ta sử dụng sản lượng khai thác tính trên một ngư dân Rõ ràng là nhiệm vụ đã được giải quyết một vấn đề phức tạp bằng cách tính toán đơn giản, nếu như biết được các số liệu về sản lượng khai thác của lưới hoặc một vàng câu hay một lưỡi câu

Vì lưới rê rất phổ biến và dễ sử dụng, việc xác định độ mạnh nghề của bất cứ nghề lưới đóng ven biển bằng phương pháp so sánh sản lượng khai thác không còn là vấn đề khó khăn Việc xác định độ mạnh nghề của bất cứ dạng ngư cụ nào bằng chỉ tiêu duy nhất cho phép không chỉ xác định được cường lực nghề nói chung trong các nghề khai thác pha tạp mà còn phân biệt được chúng theo dạng đánh bắt

Như vậy, độ mạnh nghề là đơn vị chung cho tất cả ngư cụ, khi ngư cụ đó trong một đơn vị thời gian đánh bắt được với khối nước là 1.00.000m3 Đơn vị nghề được xác định như trên còn phục vụ cho việc tính toán khác

Lưới kéo hiện đại phổ biến nhất thường có độ mở ngang là 37,5m, độ mở đứng trung bình là 3,9m, tốc độ kéo lưới khoảng 4 hải lý/giờ (gần 2m/s) Thời gian kéo lưới llieen tục là 1 giờ (3600 giây)

Độ mạnh nghề giờ của lưới kéo sẽ là 37,5 3,9 2 3600 = 1.053.000 m3 Độ mạnh nghề của lưới kéo này tương đương với 1 đơn vị

Các giá trị cường lực nghề, hiệu quả nghề và cường độ khai thác của ngư cụ cũng vẫn được xác định như trước, song có khác là các chỉ số này có cùng một đơn vị trong tất cả các dạng khai thác

Cường lực nghề: có đơn vị đo được biểu diễn bằng tích giữa độ mạnh nghề với thời gian khai

thác là một ngày đêm Hiểu thời gian khai thác là thời gian ngư cụ tồn tại trong trạng thái khai thác tích cực

Đối với các ngư cụ khác nhau, thời gian kkhai thác được xác định bằng những cách khác nhau:

- Đối với lưới kéo: ố ờ ướ

- Đối với lưới vây: ờ ả đế ộ ∗ ố ẻ

- Đối với ngư cụ trôi:…

- Đối với máy hút cá và lưới vó mạn tàu kết hợp với tác nhân lôi cuốn cá và vùng khai thác:

- Đối với các ngư cụ khác:

Đơn vị hiệu quả nghề

Như phần trước đã xác định, hiệu quả nghề là lượng sản phẩm khai thác tính trên một đơn vị cường lực nghề trong chu kỳ khai thác Để thuận tiện trong việc sử dụng sau này, thứ nguyên của hiệu hiệu quả nghề là (tấn/106m3)

Trang 15

Nếu như sản lượng khai thác được biểu diễn là giá trị trung bình của khoảng thời gian đủ lớn, thì đơn vị đo hiệu quả nghề đối với một lớp hay một nhóm ngư cụ sẽ tích lũy tất cả đặc tính đánh bắt, trừ tập tính cá, tổ chức, kỹ thuật khai thác và chiến lược nghề Đơn vị mới của hiệu quả nghề không liên quan đến nguyên lý đánh bắt (sản lượng tính trên một đơn vị thời gian; sản lượng tính trên một đơn vị tải trọng tàu v.v…, được tính đồng thời cả hiệu quả đánh bắt và mức độ hoàn chỉnh ngư cụ Khi trình độ kỹ thuật khai thác thủy sản không đổi, độ mạnh nghề sẽ không thay đổi và hiệu quả nghề xác định trên cơ sở những số liệu thực tế của nghề sau một chu kỳ thời gian dài, nên nó chính xác hơn cá số liệu khác được xác định bằng phương pháp lý thuyết xuất phát từ các giả thuyết về trạng thái tập tính đối tượng khai thác

Khi thay đổi (cải tiến) cấu trúc ngư cụ hoặc công nghệ khai thác, nếu độ mạnh ngư cụ không thay đổi, thì có thể dựa vào hiệu quả trung bình sau khoảng thời gian đủ lớn để phán đoán hiệu quả của ngư cụ cải tiến

Xuất phát từ cường lực nghề và hiệu quả nghề, với độ chính xác đủ cho phép trong thực tế khai thác thủy sản có thể xác định được cường độ nghề (cường độ khai thác) Cho tới nay, khái niệm về thông

số cường độ khai thác là chưa rõ ràng Một quan điểm cho rằng nó là tỷ số giữa diện tích khai thác và diện tích thủy vực khai thác (cường độ khai thác hình học) Lại có quan điểm cho rằng cường độ khai thác

là số tàu, ngư cụ tham gia khai thác v.v… Sự không thống nhất cách thị cường độ khai thác làm khó khăn trong việc phân tích khả năng của nghề đến trữ lượng nguồn lợi và giải quyết nhiều vấn đề về điều khiển việc đánh bắt cá

Với hệ thống đơn vị đã trình bày trên, có thể hiểu cường độ khai thác là tỷ số giữa khối nước khai thác và khối nước chung trong phạm vi cho phép khai thác và có đối tượng khai thác Như thế, cường độ khai thác là đại lượng không thứ nguyên

Với một đối tượng nào đó, cường độ nghề có thể đạt tới giá trị đủ lớn, song phạm vi khai thác được giới hạn rõ ràng, cả hai đại lượng có thể so sánh với nhau Như thế, việc xác định cường độ khai thác không còn là khó khăn nữa Ở những chỗ nghề khai thác ít phát triển, phạm vi khai thác không rõ hoặc quá lớn thì phương pháp trên khó xác định cường độ khai thác thực Để có khái niệm gần đúng về cường độ khai thác trong những vùng đó, có thể sử dụng chỉ số là tích giữa cường lực nghề với hệ số hiệu quả đánh bắt Nếu như có hệ số hiệu quả đánh bắt chưa biết và không xác định được, thì cường độ khai thác có thể đặc trưng bằng tích giữa cường lực nghề với hiệu quả nghề, đó là những đại lượng có thể xác định được Dễ dàng có thể thấy rằng tích số này được biểu diễn theo đơn vị trọng lượng, nghĩa là không

có đại lượng nào khác ngoài sản lượng khai thác Để đặc trưng cho cường độ khai thác của một đối tượng nào đó sống phân tán trong thủy vực có thể áp dụng phương pháp so sánh sản lượng thực tế với sản lượng khai thác hợp lý (cho phép khai thác) của thủy vực, nếu như đại lượng này đã biết hoặc có thể xác định được Trong trường hợp này, cường độ khai thác là đại lượng không thứ nguyên

Trong tương lai, theo mức độ phát triển của nghề khai thác cá, phải hướng tới việc biểu thị cường

độ khai thác được xác định bằng chỉ một giá trị, là cường độ khai thác thực, là tỷ số giữa khối nước khai thác với khối nước chung của phạm vi có thể khai thác được

Khi chuyển từ chỉ số nghề (độ mạnh, cường lực, hiệu quả, cường độ) của từng ngư cụ riêng biệt sang chỉ số làm việc tổng cộng của các tàu khai thác và của hạm đội, đơn vị đo biểu diển như trên là quá nhỏ Vì vậy, xuất phát từ đơn vị đo độ mạnh nghề, bằng 106, đưa ra đơn vị đo tương ứng tăng lên gấp 10,

100, 1000 tàu lớn hơn Khi đó, hệ thống đo bằng chỉ số mới được biểu diễn trong bảng 4

Với cách lựa chọn đơn vị đo như bảng 4, việc đánh giá chung độ mạnh nghề trở lên đơn giản rất nhiều Có thể làm sáng tỏ nhận xét trên bằng ví dụ sau (bảng 5) Những số liệu trong bảng 5 là của hạm tàu lưới kéo “sevruba” Liên xô cũ khai thác cá trên vùng biển Baren, có cường lực nghề là 519,1 PU và sản lượng khai thác trong năm 1968 là 796580 T cá

Trang 16

Hiệu quả nghề, nghĩa là sản lượng khai thác trên một đơn vị cường lực nghề là: hay cứ mỗi kilomet khối nước của vùng biển Baren thu được 1557,6 T cá

Diện tích chung của biển Baren gần bằng 1408000 km2 Diện tích vùng khai thác theo kế hoạch là 155631,0 km2, trong đó vùng trung tâm là 208433,8 km2, vùng phía tây là 170147,9 km2, vùng ven bờ Na-Uy là 91705,3 km2, vùng đông bắc – 200468,5 km2 Diện tích vùng đánh bắt chính theo kế hoạch:

Nếu như đội tàu của một địa phương nào đó đánh bắt ở các biển khác nhau, có số liệu về cường

độ mạnh nghề, cường lực nghề chi phí cho các tàu khai thác tại các biển khác, thì cường độ khai thác chung của nghề sẽ bằng tổng cộng của tất cả các biển đó

Nếu như nghề không đồng loại thì việc đánh bắt chung và từng loại nghề riêng cần phải biết được

số liệu về độ mạnh nghề, số lượng ngư cụ, số lượng ngày đêm khai thác và sản lượng khai thác

Trong quản lý, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất, đề ra chiến lược phát triển nghề khai thác cá công nghiệp và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, cần thiết phải thiết lập hồ sơ nghề cá theo phương pháp đã chỉ ở trên (dành cho khai thác công nghiệp) hoặc có tên gọi trực tiếp Ví dụ, lưới đăng - 7.2MPM, được hiểu ngay là lưới đăng khai thác liên tục 1 ngày đêm được một khối nước là 7,2.106 m3

Đối với các ngư cụ dạng kéo, việc lấy số liệu dễ dàng trong 1 giờ kéo lưới, sau đó tính lại trong 1 ngày đêm Đối với cá loại lưới vây, rê trôi và cá loại ngư cụ sử dụng các tác nhân lôi cuốn cá vào vùng đánh bắt, cần phải tính thời gian ngư cụ tác động tích cực tính theo giờ, được ghi trong nhật ký sản xuất Khi tổng số giờ đánh bắt tới 24 giờ, thời gian khai thác được tính bằng ngày đêm

Để tính gần đúng thời gian khai thác của một ngư cụ nào đó, có thể sử dụng tích số giữa thời gian trung bình của tác động tích cực ngư cụ trong chu kỳ khai thác với số chu kỳ Trường hợp thứ nhất, chỉ cần lựa chọn đầy đủ thông tin về số giờ khai thác, còn trường hợp thứ hai – về thời gian trung bình đánh

Trang 17

bắt của chu kỳ khai thác trong 1 giờ và số chu kỳ Đối với ngư cụ cố định, cần phải tính toán số ngày đêm ngư cụ được đặt trong tình trạng làm việc, còn đối với các ngư cụ khác là thời gian hoạt động đánh bắt tích cực trong một ngày đêm

Đối với tất cả các ngư cụ, sản lượng khai thác phải được biểu diễn theo loại cá tính theo tấn trong thời gian và địa điểm khai thác tương ứng

Để giảm bớt khó khăn trong việc thu thập các số liệu cần thiết, trên tàu người ta lắp đặt các máy móc tự động ghi lại cá thông số sau: Số giờ kéo lưới, thời gian hoạt động tích cực của lưới vây, thời gian

và khoảng trôi lưới (tàu), thời gian tác động tích cực của các tác nhân lôi cuốn cá (ánh sáng, điện v.v…)

5 Lý thuyết cường độ khai thác hợp lý

Trong lý thuyết khai thác cá, cường độ nghề cho tới nay mới chỉ phân tích trên quan điểm thiết lập sự cân bằng giữa trữ lượng nguồn lợi và sản lượng khai thác, nghĩa là mới chỉ sơ thảo những vấn đề lý thuyết về sản lượng khai thác Cường độ khai thác trong lý thuyết chỉ chú trọng đến việc phân tích mức

độ khai thác trữ lượng nguồn lợi hoặc xác định số lượng bằng phương pháp gián tiếp Nói cách khác, người ta nghiên cứu không phải là cường độ chính bản thân nó, mà chỉ là ảnh hưởng của nó đến cường độ khai thác được

Thực chất việc nghiên cứu cường độ khai thác là làm sáng tỏ quan hệ tương hỗ số lượng và chất lượng hoạt động của ngư dân (bị mất 4 trang, từ trang 25 ÷28)

CHƯƠNG 2 TÍNH CHỌN LỌC TRONG KHAI THÁC THỦY SẢN

1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu chọn lọc trong khai thác thủy sản

Khai thác thủy sản là quá trình lựa chọn (chọn lọc), nghĩa là chỉ lấy một phần đã được xác định từ nguồn lợi thủy sản thiên nhiên Tính chọn lọc trong khai thác thủy sản được thể hiện như là việc tuyển chọn cá và một loại đặc thủy sản khác theo một dạng xác định trong nguồn lợi khai thác có nhiều dạng khác nhau Nó phụ thuộc vào hai yếu tố: Đặc trưng sinh học – nghề cá của đối tượng đánh bắt và khả năng chọn lọc của nghề Trong bất cứ nghề khai thác nào, tính chọn lọc khai thác thủy sản là kết quả tương hỗ của hai yếu tố trên

Liên quan đến đặc trưng sinh học – nghề phải kể đến vùng phân bố của đối tượng theo đàn cá khác nhau và chu kỳ sống của chúng; sự di cư; thời kỳ tạo đàn và thời kỳ tan đàn; mức độ tổn thất do quá trình đánh bắt; Phương thức hình thành phản ứng của đối tượng khai thác do tác động của tự nhiên và con người

Phương thức chọn lọc trong khai thác thủy sản được chia thành chọn lọc do đặc điểm nghề và chọn lọc do tác động chọn lọc của ngư cụ được sử dụng để khai thác

Đặc điểm nghề quyết định đến tính chọn lọc liên quan đến các dạng đánh bắt và phương thức áp dụng chúng; bố trí ngư cụ theo thời gian và không gian; mức độ sử dụng để tìm kiếm và tập trung cá Đặc trưng sinh học – nghề của đối tượng đánh bắt và đặc điểm nghề thuộc về chọn lọc “ngoại biên”, nhằm tuyển chọn những đặc điểm riêng biệt như hình dáng, nhóm và đàn để đánh bắt Sự tuyển chọn đó gọi là chọn lọc nghề hoặc là chọn lọc đánh bắt Nếu nói đúng thực chất, tính chọn lọc của ngư cụ khai thác cá cũng có thể đưa vào trong cùng một khái niệm chung với tính chọn lọc nghề Tuy nhiên, về thực chất, đó

là những quá trình khác nhau Nếu như tính chọn lọc biểu diễn tính quy luật của việc tuyển chọn đối

Trang 18

tượng đánh bắt, thì ta phải hiểu tính chọn lọc của ngư cụ là sự tuyển chọn đặc điểm có phân biệt từ trong

số các đặc điểm chung đã được bao trong ngư cụ khai thác Vì vậy, sự khác nhau của tính chọn lọc nghề với tính chọn lọc ngư cụ đôi khi người ta gọi là tính chọn lọc “nội biên” Hai dạng chọn lọc này khác nhau về nguyên tắc cả về phương pháp xác định lẫn cơ sở lý thuyết phản ánh bản chất hiện tượng

Tính chọn lọc của cùng một nghề được hình thành từ tính chọn lọc của các phương pháp khai thác được sử dụng

Hiểu biết chọn lọc khai thác đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhiều vấn đề khoa học

và thực tiễn vè quản lý nghề khai thác cá nói chung Mức độ và dạng chọn lọc nghề khai thác thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nguồn lợi và trong độc lực học số lượng đàn

Nếu như, ví dụ, một đối tượng khai thác nào đó được người đánh cá thích khai thác do chất lượng sản phẩm và giá thành cao v.v… thì họ sẽ tập trung quá mức cần thiết phương tiện nghề để khai thác, do

đó sẽ dẫn đến sự phá hoại nguồn lợi Nhưng khi người ta sử dụng một nghề nào đó mà chỉ khai thác một

cỡ cá thuộc thời kỳ trưởng thành già nhất thì có thể dẫn đến quần thể đàn non có mật độ cao đến nỗi làm cản trở sự tồn tại và phát triển của quần thể Khi sử dụng một nghề gây tổn thương ở mức độ cao cho đối tượng đánh bắt trong độ tuổi còn non hoặc trong một giai đoạn xác định nào đó của chu kỳ sống, cũng dẫn tới sự hủy diệt không tỷ lệ với thành phần tương ứng của đàn

Một nghề khai thác một bộ phận tiềm năng nguồn lợi với các yếu tố chọn lọc mong muốn sẽ tạo điều kiện cho việc sản sinh ra một bộ phận nguồn lợi khác có các yếu tố không mong muốn

Như vậy, hàng năm khi thực hiện khai thác tại một khu vực nào đó trong một thời gian nhất định, con người có thể thu được từ tiềm năng nguồn lợi một bộ phận (theo hình dạng, vùng khai thác, độ tuổi, v.v…) Khi phạm vi nghề đủ lớn, khả năng phục hồi nguồn lợi hàng năm sẽ tạo điều kiện cho việc sử dụng hợp lý hay không hợp lý nguồn lợi khai thác

Việc đánh giá ảnh hưởng của khai thác thủy sản đến tiềm năng nguồn lợi trong thời kỳ dài là chủ

đề của những cuộc cãi vã Sau này nhờ việc nghiên cứu tính chọn lọc trong khai thác thủy sản đã nhận được lời giải thích rõ ràng Nhờ những nghiên cứu này cho phép đưa ra và thực hiện những biện pháp cụ thể để điều hành hợp lý nghề, so sánh hiệu quả giữa các phương pháp khai thác và ngư cụ khác nhau Bằng những kết quả thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã có khả năng nhận thức được và kiểm tra mối quan hệ tương hỗ giữa tiềm năng nguồn lời và nghề khai thác thủy sản

Như vậy, tính chọn lọc trong khai thác thủy sản là nền tảng khoa học của ngành kinh tế nghề cá hợp lý, đảm bảo sự thay đổi cần thiết thành phần của đàn cá khai thác (về loài, kích cỡ, độ béo, vùng khai thác, độ tuổi…) và sản phẩm khai thác được có chất lượng tốt nhất

2 Tính chọn lọc trong khai thác thủy sản do đặc điểm sinh học – nghề của đối tượng đánh

bắt

Mỗi loài cá đều có tổ chức cơ thể, tập tính sống khác nhau phù hợp với điều kiện sống của môi trường bên ngoài Đặc điểm của đối tượng đánh bắt quyết định đặc điểm của nghề khai thác thủy sản, nghĩa là tạo thành tính chọn lọc của nghề Đến ngày nay, rất nhiều kinh nghiêm đánh bắt cá của ngư dân được kế thừa và phát triển vẫn chưa được các nhà nghiên cứu khai thác thủy sản và ngư loại tổng kết và nâng cao Trong số đó vẫn chưa thiết lập được sự ảnh hưởng các đặc tính sinh học – nghề của đối tượng đánh bắt

Những người đánh cá biết rất rõ rằng việc tập trung đánh bắt cá loài cá khác nhau, thậm chí chỉ một loài nhưng ở thời kỳ khác nhau của vòng đời sẽ có những khó khăn khác nhau

Marty, 1961 đã chỉ rằng, một số đặc tính sinh học của cá được hình thành như là một phương thức tự vệ trong cuộc đâu tranh để tồn tại trong thiên nhiên dưới sự tác độngngày càng mạnh của môi trường và hoạt động khai thác thủy sản Tuy nhiên, nhiều loài cũng vẫn bị giảm thiểu nghiêm trọng thậm

Trang 19

chí bị hủy diệt trước sức ép của sự tăng cường khai thác Bảng 4 chỉ cho biết những biểu hiện trực quán là những đặc tính sinh học – nghề của cá và ý nghĩa của chúng trong điều kiện sống của cá và hoạt động nghề

Liệt kê những đặc tính sinh học – nghề của cá có thể mở rộng thêm nữa và mỗi đặc tính của cá có thể mang ý nghĩa tích cực trong việc sống sót và trong việc khai thác chúng

Như trình bày trên, sự lựa chọn của nghề khai thác theo đặc tính của cá được xác định bởi các yếu

tố sau: cấu trúc và hình dạng của cơ thể cá, tập tính cá trong các điều kiện ngoại cảnh khác nhau và trong giai đoạn trong chu kỳ sống khác nhau, sự phân bố cá trong không gian và theo thời gian

Dạng chọn lọc trong khai thác thủy sản có liên quan chính đến yếu tố đàu tiên Nếu như do cấu tạo cơ thể và hình dạng làm tăng khả năng khai thác của ngư cụ, thì những loaijd như thế bị khai thác với mức độ lớn và thường không có số lượng nhiều trong thủy vực khai thác Ngược lại, những loài cá có cấu tạo cơ thể và hình dạng làm giảm khả năng khai thác của ngư cụ thì tính chọn lọc ngư cụ thấp Để khai thác những loài cá như thế phải tiến hành phương pháp khai thác đặc biệt, không phải dựa trên việc giữ cá

cơ học, mà lợi dụng những thói quen và những đặc điểm khác của cá để tạo ra những ngư cụ đánh bắt chúng

Tính chọn lọc nghề theo loài có thể tiến hành phân tích thành phần loài của sản phẩm khai thác của các loại ngư cụ đóng, lọc và những ngư cụ khác Ví dụ cụ thể, trong vùng khai thác Hạ - Azov và biển Caspien có một số nghề cùng khai thác Kết quả khỏa sát lượng đánh bắt đồng thời năm 1967 theo loài được biểu diễn trên bảng 5

Tỷ trọng các loài cá khai thác bằng các ngư cụ khác nhau của các năm sau đó cũng đạt áng chừng như thế Khi đó tỷ trọng loài cá khai thác của cùng một loại ngư cụ được xác định không chỉ vào trữ lượng nguồn lợi mà phụ thuộc rất lớn vào đặc điểm sinh học – khai thác của loài cá đó

Yếu tố thứ hai – Trạng thái cá, cũng ảnh hưởng lớn đến tính chọn lọc loài của ngư cụ, được thể hiện bằng khả năng chọn lọc kích cỡ cá của quá trình khai thác, cũng như việc chọn lọc cá khai thác theo vùng, thời kỳ vỗ béo, v.v…

Theo cơ chế sinh học, tập tính của cá là một trong những thích nghi đảm bảo tồn tại loài trong điều kiện xác định, nghĩa là giữ cho số lượng chủng quần loài ở mức độ nào đó

Trong khai thác cá hiện đại có hai phương thức sử dụng đặc tính loài trong lĩnh vực tập tính cá để khai thác Phương thức thứ nhất, lợi dụng phản xạ tập tính ba chiều của cá để không cản trở đến đàn cá khai thác nhất định theo xu thế thông thường tự nhiên của chúng Trường hợp hiếm, khi có cơ sở đầy đủ, người ta mới buộc cá đi ngược với thói quen thông thường của chúng Ngư cụ cần được chế tạo như thế nào để chuyển động ba chiều của cá đều có khả năng khai thác tốt nhất Muốn thế trước tiên phải hiểu rõ tập tính cá và những phản xạ tương ứng của chúng trong những điều kiện khác nhau Phương thức thứ hai ngược lại với phương thức thứ nhất Nó dựa trên việc sử dụng hiện tượng của tính tương đối thích nghi Như đã biết, mỗi sự thích nghi của cá chỉ được thực hiện trong một điều kiện nhất định Điều này có nghĩa là trong thời gian khai thác cá cần phải đặt trong những điều kiện, khi đó các phản ứng bảo vệ của

cá bị ngừng trệ hoặc buông lỏng để có thể dễ dàng phát hiện ra chúng

Tập tính cá là một trong những biểu hiện thích nghi ổn định nhất, nó cho phép mỗi loài cá tồn tại trong những điều kiện thay đổi nhanh của môi trường Đặc biệt, tính dễ thay đổi kích thước, hình dáng, cấu trúc cơ thể, tính linh động cao là một trong những đặc điểm cơ bản nhất của đàn cá Cá, đặc biệt là cá

di đàn, có thuộc tính dễ bắt chước Ví dụ, một bộ phận của cá phát hiện ra mối nguy hiểm và có phản ứng trước, khi đó các cá thể còn lại trong đàn sẽ bắt chước phản ứng theo Kết quả cả đàn cá có thể sẽ tránh được khả năng đánh bắt của ngư cụ, hoặc ngược lại tăng thêm khả năng đánh bắt chúng Người ta phát hiện ở đàn cá (quy mô đàn không quá nhỏ) bắt đầu chuyển động và thay đổi hướng chuyển động của

Trang 20

mình chỉ khi “đội quân tiên phong” đủ lớn về số lượng có hành động làm gương Số lượng đó lần lượt phụ thuộc vào ý nghĩa của tín hiệu hành động, phụ thuộc cơ bản vào cường độ chuyển động của cá đps hoặc thông tin truyền đi bằng cách nào đó Nói chung, các loài cá khác nhau sẽ có những phản ứng khác nhau trên tiếng động, ánh sáng, dòng điện và những tác nhân khác Điều đó có nghĩa cơ bản trong việc bảo tồn cuộc sống của cá và trong thực tế, con người lợi dụng chúng để đánh bắt cá chọn lọc theo loài mong muốn

Những đặc điểm quan trọng của tập tính cá đều liên quan đến hoạt động của hệ thần kinh cao cấp Theo những kết quả nghiên cứu (Radak và Tresev, 1964), với cá, các tế bào thị giác có khả năng tạo ra phản xạ tự vệ Những phản xạ như thế đủ lớn sẽ xuất hiện các tác nhân hưng phấn tác động trực tiếp lên

cá Các kết quả thí nghiệm của Nikolaev cho biết, cá tạo ra những phản xạ có điều kiện tương đối nhanh đối với nghề câu Ở những cá khác nhau, tốc độ tạo thành và độ bền vững những phản xạ có điều kiện sẽ khác nhau Vấn đề về phản xạ tự vệ của cá đối với ngư cụ là lưới phức tạp hơn, nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng, những phản xạ đó cũng có trên cá (Golentreko, 1955)

Hiện tượng mất hướng của cá khi đồng thời bị một số tác nhân kích thích có liên quan đến hệ thần kinh cấp cao của cá Khi đó cá rơi vào trạng thái ngây ngất làm cho người ta có thể đánh bắt chúng

dễ dàng Sự mất hướng và mất khả năng phản ứng trước nguy hiểm trong thực tế được lợi dụng rộng rãi

để đánh bắt các loài cá khác nhau (lưới kéo với dòng điện, lưới vây kết hợp ánh sáng)

Cuối cùng là người ta đã sử dụng rộng rãi trong nghề cá những tác nhân để lôi cuốn cá như mồi giả, mùi, âm thanh, ánh sáng, dòng điện, v.v… Sử dụng những loại tác nhân như thế sẽ có khả năng không hạn chế việc đánh bắt chọn lọc theo loài, độ tuổi của cá

Ngày nay, những kinh nghiệm tích lũy không ngừng của ngư dân và tri thức của các nhà khoa học

về việc lôi cuốn cá vào vùng tác dụng đánh bắt không phải lúc nào cũng được sử dụng hợp lí Tuy vậy, trong thực tế việc áp dụng các phương thức kích thích cá khác nhau sẽ cho khả năng đánh bắt chọn lọc theo khuynh hướng bất kỳ

Bằng những số liệu khảo sát đã chỉ rằng, phản ứng của cá sẽ khác nhau khi có một trong những tác nhân kích thích lên những đàn khác nhau và tính chọn lọc của nghề khi sử dụng những phương thứ đó cũng khác nhau Vì vậy nghiên cứu tính quy luật của tập tính cá, đặc biệt với tác động của cá tác nhân khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong nghề khai thác cá Tính chọn lọc trong khai thác phụ thuộc nhiều vào cảm quan của cá, nghĩa là phụ thuộc vào cái mà cá nhìn thấy, phân biệt được màu sắc, nghe thấy, cảm thụ được mùi, dòng chảy, áp lực và nói chung phụ thuộc vào ngưỡng nhạy cảm đối với loại tác nhân khác nhau của các đối tượng khai thác khác nhau theo từng thời điểm, theo chu kỳ khác nhau

Tính chọn lọc do đặc điểm cấu trúc cơ thể cá (hình dạng, cấu tạo) và tính chọn lọc do tập tính cá

có thể dặc trưng bằng số theo thành phần của sản lượng khai thác theo những thời gian khác nhau (loài, giống, cỡ tuổi)

Như là một ví dụ điển hình, ta phân tích tính chọn lọc theo loài của cá trích đánh bắt trên biển Caspien có kết hợp ánh sáng Trên hình 5 biểu diễn động học của sản phẩm khai thác khi tiến hành phản ứng dương của cá đối với ánh sáng đặt trong nước Nếu tính chọn lọc của nghề đặc trưng bằng tỷ lệ của mỗi loài trong sản lượng khai thác chung của nghề, thì như biểu diễn trên hình 5, tính chọn lọc nghề cá trích của vùng biển Caspien trong thời kỳ từ 1955 đến năm 1965 tăng lên hơn 3 lần Như vậy, có thể biểu diễn tính chọn lọc của nghề khai thác hiện đại dựa trên việc lợi dụng đặc điểm tập tính cá bằng cách biểu diễn trực tiếp từ số liệu sản lượng khai thác

Sự phân bố cá một cách liên tục có liên quan đến sự di cư của cá Nhưng sự di cư của cá là sự thích nghi quan trọng nhất để tồn tại và mở rộng vùng phân bố sống Tồn tại theo hai kiểu di cư cơ bản:

Di cư ngang và di cư thẳng đứng Ngày nay với các thiết bị thăm dò đàn cá hiện đại như các máy dò thủy

Trang 21

âm, vệ tinh thăm dò toàn cầu và các phương tiện khác đã cung cấp nhiều số liệu thực tế về sự phân bố và

di chuyển đàn cá khai thác theo những thời kỳ khác nhau Bằng cách tổng hợp các dự báo về nguồn lợi cũng như bằng phương pháp đánh dấu cá và phân tích kết quả hoạt động nghề có thể khẳng định rằng, phần lớn các trường hợp sự di cư của cá có đặc trưng điều hòa mặc dù những nguyên nhân và đặc điểm của các nhóm di truyền và sinh thái khác nhau sâu sắc

Hình thức di cư ngang của cá (vỗ béo, trú đông, đi đẻ) rất đa dạng, ở những loài cá đó rất khác nhau về sinh thái, khác nhau về phát triển cơ thể Tính đặc thù của các dạng di cư của cá được giải thích một cách lý thuyết bởi chức năng thích nghi khác nhau của cá có liên quan đến sự suy giảm và vượt trội của biển, do sự thay đổi các yếu tố khí hậu và nói chung sự thay đổi các điều kiện môi trường sống xảy ra trong quá trình hình thành lịch sử của chúng

Nghiên cứu nguyên nhân và quỹ đạo di cư của đàn cá cho phép hiểu được tính quy luật sự bố trí đàn theo không gian và thời gian, từ đó có thể phân bố lại cơ cấu nghề để khai thác có hiệu quả

Từ kết quả quan sát nhiều năm và các phương pháp khác để điều tra nguồn lợi có thể xây dựng được bản đồ nguồn lọi Ví dụ như bản đồ phân bố cá biểu diễn trên hình 6

Từ bản đồ phân bố cá (hình 6), có thể xây dựng quan hệ giữa phân bố cá theo các phương pháp khác nhau Muốn thế, trên mạng những đường thẳng dọc ngang và đặt tỷ lệ trên một trục là mật độ tập trung đàn, còn trục kia là khoảng cách, ta nhận được đồ thị phân bố cá theo không gian (hình 7) Có thể xây dựng đồ thị tương tự cho quan hệ phân bố đàn cá theo thời gian từ các số liệu sản lượng thep tháng và mùa, các số liệu này các tàu khai thác bắt buộc phải thực hiện theo mẫu quy định

Như vậy, có thể khẳng định rằng ảnh hưởng của những đặc điểm sinh học – nghề của các đến tính chọn lọc quá trình đánh bắt chúng là rất lớn Sự ảnh hưởng đó có thể sẽ lớn hơn nếu như những người đánh cá sử dụng hợp lí những đặc điểm đó để khai thác chọn lọc một cách khoa học

3 Chọn lọc khai thác thủy sản do đặc điểm nghề

Biết rằng, những loại nghề khác nhau được sử dụng để đánh bắt các đối tượng khác nhau.Một số người nghĩ rằng, những đặc điểm của các phương thức khai thác sẽ đảm bảo cho hoạt động chọn lọc các đối tượng đánh bắt Khi phân tích kỹ các vấn đề này lại thấy rằng, những đặc điểm của phương thức đánh bắt được xác định bởi hai yếu tố như: Cấu trúc ngư cụ và phương pháp sử dụng chúng

Cấu trúc ngư cụ ảnh hưởng chính đến đặc tính và trị số của chọn lọc (trong chương trình sau sẽ phân tích rõ vấn đề này) Tính chọn lọc trong đánh bắt (chọn lọc ngoài) liên quan trước tiên đến phương thức sử dụng ngư cụ Khi đó ảnh hưởng của cấu trúc chỉ có ý nghĩa thứ yếu Ví dụ như, một lưới kéo nào

đó hoạt động ở tầng mặt thì chỉ đánh bắt được đối tượng là cá nổi, nếu nó hoạt động ở tầng đáy, thì đối tượng lại là cá đáy

Như vậy, tính chọn lọc của phương pháp khác nhau cần được xác định theo mức độ linh hoạt (tính tích cực) của phương thức khai thác đại diện cho nghề đó để khai thác một đối tượng nhất định Người ta chia phương thức đánh bắt thành hai loại: đánh bắt chủ động và đánh bắt bị động

Những loại nghề đánh bắt chủ động phải kể đến lưới kéo, lưới vây, lưới rê và các loại hình đánh bắt khác, khi thực hiện đánh bắt phải dựa trên tàu khai thác Những loại nghề đánh bắt bị động như lưới đăng, rê cố định, lưới đáy, câu tay và các nghề khác đặt cố định trên đường đi của cá

Khi phân chia các phương thức đánh bắt như thế, tính chọn lọc của một phương thức nào đó trong nhóm chủ động được quyết định theo khả năng di chuyển của chúng theo không gian và thời gian Tính chọn lọc của phương thức khai thác chủ động phụ thuộc rất ít vào sự di chuyển của cá Trái ngược với phương thức khai thác chủ động, tính chọn lọc của phương thức khai thác bị động quyết định chủ yếu vào

sự di chuyển của cá là đối tượng khai thác Trong nhiều trường hợp, phương thức đánh bắt bị động dựa trên nguyên tắc cá tiến đến gần vùng tác dụng đánh bắt lại trở thành loại đánh bắt chủ động, nếu như vùng

Trang 22

tác dụng của ngư cụ có tác nhân lôi cuốn cá hoặc là khu vực đó là khu vực thích lưu trú của cá Ngoài ra,

ở các ngư cụ cố định sử dụng kỹ thuật thích ứng nào đó, có thể di chuyển tới chỗ tập trung cao nhất của

cá (ví dụ như lưới rê – vây kết hợp ánh sáng) Như vậy, việc phân chia ra phương thức đánh bắt chủ động

và bị động chỉ là sự phân chia có điều kiện Chúng ta chỉ lợi dụng sự phân chia trên để thấy rõ sự khác biệt trong nguyên tắc chọn lọc do nghề tạo ra

Trong nghề khai thác cá có chọn lọc, đặc biệt nếu nó được xây dựng trên cơ sở khoa học, cần sử dụng một cách không khéo cả khả năng di chuyển ngư cụ lẫn kiến thức về sự di chuyển của cá là đối tượng đánh bắt Khi đó, sự phân bố cá là yếu tố hàng đầu, còn sự di chuyển ngư cụ là thứ yếu Vì thế việc lựa chọn phương thức đánh bắt nào đó sẽ định ra tính chọn lọc của nghề tương lai Việc lựa chọn phương thức khai thác có chọn lọc trước tiên là do tính kinh tế Khi lựa chọn phương thức đánh bắt (loại nghề) nào đó, cần phải sử dụng khả năng chọn lọc của nghề để làm thay đổi có mục đích thành phần loài và độ tuổi của cá khai thác trong trong khu hệ cá của thủy vực khai thác Từ thực tế đánh bắt cá bằng các phương thức khác nhau chỉ ra rằng, nhiều thủy vực, đặc biệt trong vùng nội thủy, người ta đã khai thác nhiều loài cá hàng hóa là cá nhỏ Trong sự vươn tới để khai thác các loài cá có giá trị lớn hơn, người đánh

cá đôi khi quên đi thủy vực trong tương lai những loại cá có giá trị bị hủy diệt do khai thác quá mức Việc khai thác chọn lọc quá mức một loài cá kinh tế nào đó sẽ tạo ra sự phát triển thuận lợi của các loài cá phi kinh tế khác trong thủy vực đó Vì thế, để đạt được khả năng khai thác tối đa trong thủy vực, cần phải sử dụng nghề hợp lý, đảm bảo khai thác chủng quần trong thủy vực đó theo một tỷ lệ khoa học Khi chọn một nghề phù hợp để khai thác không chỉ chú trọng đến tính hiệu quả việc khai thác đối tượng kinh tế mà cần phải hiểu sâu sắc phương pháp hạn chế phát triển các đối tượng phi kinh tế trong thủy vực đó Với mục đích duy trì tỷ lệ tự nhiên hợp lý giữa các loài cá khai thác kinh tế và những loài cá không kinh tế Với mục đích này, cần phải định ra được sản lượng khai thác có tỷ lệ hợp lý giữa đối tượng cá khai thác

và phi khai thác Đó là cách khai thác có chọn lọc tích cực nhất

Hiện nay, người ta chú trọng đến tính chọn lọc trong khai thác theo độ tuổi cá khai thác Đây là việc làm có ý nghĩa to lớn để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Chọn lọc theo độ tuổi cá khai thác được tiến hành với mọi đối tượng khai thác và trên mọi vùng khai thác

Tính chọn lọc trong khai thác và chọn lọc do ngư cụ sẽ đóng vai trò quan trọng và chiếm sự chú ý lớn trong tổ chức khai thác thủy sản có trách nhiệm hiện nay

Trong tự nhiên, người ta nhận thấy rằng, cần có một tỷ lệ xác định nào đó theo giống trong quần thể cá khai thác để có thể tạo ra được số giống dư thừa Trong trường hợp đó, người ta lợi dụng sự phân hóa, tập tính, hình thái của giống cá khác nhau để đánh bắt một giống cá nào đó với cường độ lớn Nếu sự khai thác trên là không điều khiển được, sẽ tạo ra một số lượng cá khai thác không cân bằng theo giống, cũng gây ra sự nhân giống không bình thường Trong trường hợp này, có thể sửa chữa lại sai lầm trên bằng cách thay đổi kịp thời cách chọn lọc trong khai thác và ngư cụ Lấy ví dụ điển hình về vấn đề này là quá trình khai thác cá hồi vùng Alasca Khi đó ở vùng này với loài cá hồi đang thừa cá cái trong tỷ lệ nhân giống hợp lý, cần khai thác nhiều hơn đối tượng cá hồi trong quần thể Sau khi nghiên cứu đặc điểm

về hình thể cá cái trong đàn cá hồi đang khai thác, người ta tìm được kích thước cần điều chỉnh của mắt lưới rê đang đánh bắt chúng và kết quả thu được như mong muốn, tỷ lệ cá cái, đực trong quần thể đàn cá khai thác trở thành hợp lý Như vậy, đối tượng và phương thức đánh bắt có quan hệ tương hỗ với nhau

Để đánh bắt một đối tượng nào đó, ngư dân được quyền chọn nghề và phương thức khai thác thích hợp Khi đó, cần chú ý đến đặc điểm sinh học – nghề của đối tượng để xác định thời gian và địa điểm khai thác

Để hiểu rõ mối quan hệ giữa tính chọn lọc trong khai thác và phân bố cá theo không gian và thời gian, ta thực hiện ví dụ sau: Giả sử rằng đường cong trên hình 7 là quan hệ giữa phân bố mật độ tập trung

Trang 23

cá theo thời gian của vùng biển sẽ tiến hành lập kế hoạch khai thác Để thu được lượng cá lớn nhất với chi phí nhỏ nhất cần phải phân bố độ mạnh nghề tương ứng với phân bố cá trong vùng khai thác Sự phân bố nghề theo đường cong phân bố cá biểu diễn trong hình 3

Nếu như từ tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo khai thác, trên cơ sở đường cong phân bố đàn cá khai thác theo không gian và thời gian của những loài cá, độ tuổi, độ béo v.v… xây dựng được giản đồ phân

bố nghề tương ứng với đường cong phân bố cá phù hợp với các yếu tố của cá đánh bắt thì quá trình khai thác như thế có hướng chọn lọc tùy thuộc vào mục đích tuyển chọn ban đầu Nếu như không quan tâm đến sự phân bố chọn lọc của nghề, mà chỉ theo trữ lượng nguồn lợi nói chung thì quá trình khai thác cũng vẫn xảy ra quá trình chọn lọc, nhưng tính chọn lọc không hệ thống và dễ dẫn đến sai lệch trong kết quả khai thác nguồn lợi theo quan điểm khoa học

Từ đây thấy rằng, một trong những đặc tính quan trọng nghề có độ chọn lọc có độ chọn lọc cần thiết là sự phân bố nghề theo không gian (chọn lọc theo vùng lãnh thổ)

Tính chọn lọc theo vùng lãnh thổ của nghề có thể diễn giải theo ví dụ về quá trình đánh cá tuyết đầu to tại các khu vực I; IIa; IIb của vùng biển Đông Bắc Đại Tây Dương Trên hình 9 chỉ rõ số lượng trung bình của các nhóm cá khai thác có độ tuổi khác nhau, tính trên một đơn vị cường lực nghề trong năm khác nhau Từ các đồ thị trên hình 9 nhận thấy, từ năm 1932, tại vùng I và vùng IIb được thể hiện có

tính quy luật nhóm cá non có độ tuổi 5+, có sản lượng khai thác trội hơn, còn vùng IIa cá khai thác ở độ tuổi 9÷10+ trội hơn Như vậy, nghề được tập trung tại hai vùng đầu I và IIb sẽ tuyển chọn được một loại

cá, còn vùng còn lại thì hoàn toàn khác Từ đây thấy rằng, nghề khai thác được bố trí ở một vùng nước phụ thuộc không chỉ vào mức độ tác động có tính chọn lọc của nghề, mà còn phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của chính nghề đó Vì vậy, nghiên cứu tính chọn lọc của nghề theo vùng lãnh thổ có ý nghĩa thực tiễn

và khoa học rất lớn Tính chọn lọc nghề theo vùng lãnh thổ gây ra trước tiên do đặc điểm địa lý của phân

bố cá theo loài và độ tuổi khác nhau và sự phân bố như thế (hình 9) có thể là đủ ổn định để lập kế hoạch phân bố nghề hợp lý theo vùng lãnh thổ và theo thời gian

Nghiên cứu và sử dụng kiến thức phân bố cá theo vùng lãnh thổ cho phép điều chỉnh sản lượng khai thác và cường lực nghề theo mỗi vùng và xác định được độ chọn lọc cần thiết của nghề đó

Đặc điểm thứ hai của nghề có ảnh hưởng lớn đến tính chọn lọc trong khai thác là thời gian thực hiện đánh bắt Tại các thời kỳ khác nhau trong chu kỳ sống của cá, các loài cá khác nhau trong thời gian một ngày đêm cũng có tập tính khác nhau Vì thế kết quả đánh bắt cá nói chung và việc đánh bắt chọn lọc các thành phần riêng biệt trong đàn cá khai thác phụ thuộc chính vào quá trình khai thác của nghề Nếu nghề khai thác không quanh năm, còn đối tượng khai thác có khả năng tạo đàn đi đẻ, trú đông, và các cách tạo đàn khác, thì nghề đó sẽ có thể khai thác được từ trữ lượng

Tập tính của cá thay đổi theo chu kỳ Trong thời gian trú đông và trước lúc đẻ trứng, cá thường ít vận động hơn là thời kỳ vỗ béo, khi này cá dễ bị đánh bắt bằng các nghề phù hợp Sử dụng đặc tính này của cá, ngư dân có thể thực hiện được việc khai thác có chọn lọc

Tập tính của cá phụ thuộc theo thời gian Người ta chia chọn lọc trong khai thác thành chọn lọc theo chu kỳ, chọn lọc mùa, chọn lọc ngày đêm

Tính chọn lọc theo chu kỳ trong khai thác cá dựa trên việc lợi dụng tập tính của đối tượng đánh bắt theo các giai đoạn khác nhau của chu kỳ sống Trong khai thác tiềm năng nguồn lợi thủy sản, từ lâu con người đã biết sử dụng thành tựu trong nghiên cứu và sản xuất trong việc lợi dụng sự tạo đàn của cá theo chu kỳ do chức năng sống tự nhiên của chúng Ví dụ như phần lớn cá có tập tính tạo đàn trước khi đẻ trứng với mật độ cao Lợi dụng hiểu biết này, đây là thời điểm cá dễ bị khai thác nhất, người ta thường tập trung khai thác bằng những nghề phù hợp và cho năng suất rất cao Ngoài ra, một số loài cá còn có tập tính di cư vào những giai đoạn nhất định của vòng đời chúng, ví dụ như cá tầm, cá mòi thường từ biển

Trang 24

ngược sông vào vùng thượng lưu để đẻ Trường hợp này, tính chọn lọc trong đánh bắt được phân biệt do nguyên nhân di chuyển của cá

Cũng cần phải nhớ rằng, việc tạo đàn trước khi đẻ trứng thường liên quan đến sự phân hóa theo giống và tuổi trước khi đẻ Cấu trúc đàn trước khi đẻ bao gồm nhiều cỡ tuổi, sẽ được phân hóa thành dàn

đã thành thục và chưa thành thục Tỷ lệ giống đực cái trong đàn cũng thay đổi Cá đực thường trội hơn trong các nhóm cá nhỏ tuổi Điều đó có liên quan đến tuyến sinh dục của cá đực chín sớm hơn cá cái Ví

dụ như cá bơn Platessa (L) tại biển Bắc, theo số liệu của Khefort, trong giai đoạn tạo đàn trước khi đẻ, cá cái trội hơn (số liệu trích dẫn của Nikonski, 1965), còn trong cá đực, số lượng cá hai tuổi chiếm tới 63%, sau đó tỷ lệ trên giảm đi ở đàn cá 5÷6 tuổi giảm xuống còn 50÷51%, còn độ tuổi 9+ tỷ lệ trên chỉ còn 13%

Driagin (1934) cho biết, kích thước phần lớn cá trong thời kỳ chín sinh dục nhỏ hơn chừng hai lần kích thước lớn nhất của loài Mức tăng trưởng theo kích thước thẳng và trọng lượng (khối lượng) mỗi loài sẽ thay đổi tương ứng theo sự thay đổi của điều kiện sống Cá tăng trưởng nhanh sẽ chín sinh dục nhanh hơn, như vậy sẽ sớm bước vào thời kỳ khai thác của nghề Sự phân hóa tự nhiên của cá theo giống

và theo tuổi xảy ra theo chu kỳ vòng đời của chúng, sẽ tạo điều kiện cho sự chọn lọc trong khai thác cá

Mật độ tập trung của đối tượng khai thác trong năm cũng thay đổi rất lớn Nhiều tác giả (Beđintrevski, Maslov với cá tuyết, Marti với cá trích v.v…) đã quan sát và cho thấy rằng, mật độ đàn cá khai thác sẽ thay đổi theo các mùa hè, xuân, đông Kết quả của những nghiên cứu trên được sử dụng rộng rãi trong nghề cá hiện nay, và gọi là đặc trưng chọn lọc theo mùa Khi đó người ta sử dụng cả các số liệu quan sát nhiều năm theo phân bố sản lượng khai thác và cả những số liệu từ các thiết bị quan sát mật độ đàn cá Từ những kết quả sau khi xử lý sẽ thành lập được bản đồ phân bố đàn cá, từ đó có thể xây dựng các đồ thị về phân bố cá và phân bố nghề và thực hiện được việc khai thác cá có chọn lọc Chúng ta có thể xem xét ví dụ được biểu diễn trên hình 10 là một dạng bản đồ phân bố cá trích trên vùng biển Bắc Đại Tây Dương, được công bố trong tháng 12 – 1961

Tính chọn lọc ngày đêm trong khai thác cá cũng là đặc trưng rất quan trọng Các kết quả quan sát cho biết, nhiều loài các có tập tính di cư ngày đêm theo chiều thẳng đứng Đặc tính này của cá được ngư dân lợi dụng triệt để trong việc tổ chức khai thác Phần lớn các loại lưới đóng đánh bắt có kết quả đều tiến hành thả lưới vào cuối buổi chiều và thu lưới vào rạng sáng hôm sau Những loại ngư cụ có đánh bắt các đối tượng di chuyển vào ban đêm Cũng biết thêm rằng, trong thời gian đêm, lượng cá đáy giảm đi nhiều

so với ban ngày Ví dụ, theo như số liệu quan sát của Konstantinov, 1958 trong 13 ngày mẻ lưới của hạm tàu lưới kéo trên vùng biển Murman (Liên Xô cũ), nhận thấy sản lượng cá ban ngày vượt hơn 40% so với sản lượng ban đêm Thực tế cũng cho thấy rằng, các loại lưới kéo đáy vào ban đêm thường được tổ chức đánh bắt gần đáy với loài cá lớn hơn (già theo độ tuổi) Sản lượng khai thác cá nổi, như cá trích, cũng thay đổi rất lớn phụ thuộc vào thời gian trong ngày Vì vậy ngày nay người ta sử dụng rộng rãi lưới kéo tầng giữa và tầng mặt đánh cá trích

Tính chọn lọc ngày đêm của nghề khai thác cũng được thể hiện rất tinh vi trong nước ngọt để đánh bắt các loài cá nước ngọt như cá mè, cá đầu, cá thiểu, cá trắm đen v.v… lại tiến hành đánh bắt vào buổi sáng Tính bình quân sản lượng cá nước ngọt khai thác vào ban ngày đều bị giảm so với khai thác vào ban đêm

Một trong những đặc trưng của ngư cụ có ý nghĩa quan trọng là khả năng nhìn thấy trong nước của nó

Phản ứng của cá đối với ngư cụ phụ thuộc vào trạng thái sinh học của chúng như màu sắc ngư cụ,

độ chiếu sáng và độ trong của nước Vì vậy, trong nhiều vùng nước người ta sử dụng các ngư cụ cố định hoặc ít di chuyển, độ nhìn thấy nhỏ, đôi khi dùng cả mồi để đánh bắt những loài cá hay thận trọng hoặc

Trang 25

nhút nhát (như lưới vó, rùng, rê, câu v.v…) Những loài cá nhút nhát và những loài cá có phản ứng chậm hơn trong thời kỳ cá vỗ béo, đẻ trứng, trú đông v.v… phải được đánh bắt bằng những ngư cụ linh động như lưới kéo, lưới vây, lưới rùng v.v…

Mức độ sử dụng trong mỗi phương pháp tìm cá là những đặc trưng riêng của phương pháp đánh bắt, được phản ảnh trong tính chọn lọc đánh bắt cá Những phương thức đánh bắt bằng ngư cụ cố định thường ít liên quan đến những khâu tìm đàn cá kèm theo Ngược lại, trong khi tiến hành khai thác các ngư

cụ linh động, đặc biệt nghề khai thác cá biển hiện đại không thể không kèm theo những khâu phát hiện cá phục vụ cho việc khai thác Ngày nay, việc khám phá và định vị các đàn cá tầng giữa và gần đáy là biện pháp hữu hiệu để khai thác có hiệu quả và có độ chọn lọc cao Vì vậy, theo mức độ sử dụng các thiết bị hiện đại để tìm cá phải kể lần lượt vị trí các nghề như sau: Vị trí đầu tiên là nghề lưới vây, lưới kéo tần giữa, lưới rê trôi, nghề bơm hút cá và lưới vó mạn tàu kết hợp ánh sáng Vị trí thứ hai – nghề lưới kéo đáy Vị trí thứ ba – là những nghề còn lại, trừ những nghề cố định

Những công cụ tìm kiếm cá hiện đại (thủy âm và vệ tinh tìm kiếm) cho phép xác định những thông số cơ bản như kích thước, mật độ đàn cá Vì vậy tính chọn lọc trong khai thác trong tình trạng sử dụng rộng rãi các phương tiện và thiết bị hiện đại để tìm kiếm đàn cá thì các thành phần loài cá có kích thước lớn và mật độ cao bị khai thác với cường độ cao Tuy nhiên, trong các thiết bị tìm kiếm đàn hiện nay có thể xác định được loài và kích thước đường thẳng của cá thể trong đàn, điều đó cho phép định trước được độ chọn lọc trong khai thác theo loài và theo kích thước cá trong các phương thức đánh bắt tương tự

4 Lý thuyết chọn lọc trong khai thác thác cá

Giả sử, ta đã biết được đầy đủ các số liệu về số lượng và thành phần tuổi theo kích thước của một đối tượng đánh bắt nào đó Ta xây dựng đồ thị, trục hoành biểu thị tuổi theo chiều dài cá, còn trục tung biểu diễn số lượng của đối tượng đó Đồ thị nhận được từ các số liệu đã biết, có hình dạng biểu diễn trên hình 11, gọi là đường cong quần đoàn (Baranov, 1918) Đồ thị trên chỉ ra rằng, khi tăng tuổi và kích thước cá thì số lượng cá trong thủy vực giảm dần Ta giả sử tiếp, đối tượng đó bị đánh bắt bởi một nghề nào đó Nghề đó, với sự phụ thuộc vào tính chọn lọc của nó, sẽ có ảnh hưởng nào đó đến thành phần và

số lượng của đối tượng khai thác

Nếu như nghề được phân bố đại diện trong thủy vực khai thác theo sự phân bố đối tượng đánh bắt, thì đồ thị sản lượng khai thác được xây dựng trên cùng một hệ tọa độ của đồ thị quần đoàn, sẽ chia thành hai phần Phần đầu, tương ứng với kích thước cá bị giữ lại trong ngư cụ trong quá trình đánh bắt, sẽ trùng với đường cong quần đoàn Trong mối tương quan của thành phần cá theo kích thước như trên, ảnh hưởng của nghề đến trữ lượng nguồn lợi sẽ tỷ lệ thuận với cường độ khai thác Phần này của đồ thị lượng

cá đánh bắt có thể đặc trưng thành phần nguồn lợi, nhưng không cho biết biểu tượng về tính chọn lọc của nghề

Sự lựa chọn cá từ trữ lượng nguồn lợi được đặc trưng phần trái của đồ thị sản lượng (trên hình 11 biểu diễn bằng nét gạch) Phần này cho thấy, thành phần nào của trữ lượng nguồn lợi được chọn lựa khai

thác và gọ là đường cong chọn lọc Hình dáng của đường cong này, nói chung có thể khác nhau, phụ

thuộc vào thành phần nào của trữ lượng mà nghề có ưu thế tập trung khai thác Tuy nhiên, trong phần lớn nghề hiện đại, cường độ tuyển chọn tăng lên theo sự gia tăng của kích thước cá (điều đó tương ứng với việc sử dụng hợp lý nguồn lợi), sau đó đạt được tối ưu nào đó tại điểm uốn, thì cường độ tuyển chọn bắt đầu giảm xuống Vì vậy, đường cong chọn lọc thường có dạng hình chữ S

Ta phân tích trường hợp lý thuyết, khi mỗi một cá thể có xác suất như nhau trong vùng đánh bắt

và khả năng bắt được Thực ra, trong nghề khai thác cá hiện đại, khả năngđánh bắt được các loài cá khác nhau và ngay cùng một loài ở các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của cá cũng khác nhau Ngoài

Trang 26

ra, sự phân bố nghề tiêu biểu nhiều hay ít theo sự phân bố cá trong vùng nước khai thác, ngày nay mới chỉ thực hiện được trong thực tế đối với quần thể được nghiên cứu kỹ và ít biến động nhất Trong thực tế không có khả năng tuân thủ thường xuyên và khắp nơi tính đại diện của việc phân bố nghề và đối tượng khai thác Vì vậy, đường cong sản lượng khai thác thực tế khác nhau cơ bản với đường cong chủng quần, không chỉ ở phần bên trái mà cả ở phần bên phải (hình 12) Từ đây, nếu như thành phần của lượng cá khai thác trong các thời điểm khác nhau là khác nhau, thì khi đó phải hiểu là trữ lượng nguồn lợi đã thay đổi Điều đó có thể chứng tỏ một cách chắc chắn rằng, hoặc là đàn cá khai thác có thành phần không đều nhau, hoặc là nghề có độ chọn lọc khác nhau, hoặc là cả hai yếu tố đồng thời

Như vậy, ta có thể đi tới một kết luận, nhánh phải của đường cong sản lượng thực khi nghề được phân bố không đại diện, đặc trưng cho tính chọn lọc trong đánh bắt, là sự thể hiện tổng hợp của hai phân

bố theo không gian và thời gian: Phân bố đối tượng khai thác và phân bố nghề, chứ không phải là thành phần của trữ lượng nguồn lợi (chủng quần) như đã xác định trước đó Vì vậy, nhánh đường cong sản lượng, bắt đầu từ kích thước phù hợp tại đỉnh của đường cong và phía phải, có thể nhận được thành phần kích thước chỉ của đàn cá khai thác chứu không phải tất cả trữ lượng nguồn lợi

Phần bên trái của đường cong sản lượng chỉ đặc trưng cho việc tuyển chọn cá trong số bị bao vây trong ngư cụ, chính là độ chọn lọc của ngư cụ Trên đoạn từ đỉnh của đường cong sản lượng sang bên trái khác với thành phần kích thước của đàn cá khai thác tại giá trị của diện tích phần gạch chéo (xem hình 11) Để đánh giá tính chọn lọc trong khai thác cá tại đoạn đường cong sản lượng phần trái từ đỉnh của nó, cần phải biết hình dáng giới hạn trên của diện tích phần gạch chéo Nhưng trước khi xác định diện tích trên, chúng ta phân tích các yếu tố chung, xác định thành phần lượng cá khai thác Nhận thấy rằng, chỉ trong trường hợp chung nhất của nghề khai thác, khi phân bố cá trong vùng nước bất kỳ và quá trình khai thác cá không được hệ thống và không được tổ chức gì cả, theo lý thuyết có thể cho rằng, mỗi cá thể cá có xác suất như nhau trong vùng khai thác

Trong các điều kiện thực tế của khai thác cá hiện nay, với mỗi một cá thể riêng có tính xác suất bị đánh bắt khác nhau Xác suất của cá thể cụ thể bị đánh bắt phụ thuộc vào sự phân bố cá, phân bố nghề và

sự lựa chọn của ngư cụ Tất cả các yếu tố đó không phụ thuộc vào hàm số với nhau Nói chung, khai thác thủy sản là một quá trình (thiếu trang 46)

CHƯƠNG 3

TÍNH CHỌN LỌC CỦA NGƯ CỤ

1 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính chọn lọc của ngư cụ

Nếu như ở chọn lọc trong khai thác, khả năng bao cá được xác định bởi xác suất ngư cụ gặp cá và

sự thay đổi các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đó, thì trong chọn lọc của ngư cụ khả năng lọc và giữ cá

từ khối nước bao xác định phụ thuộc vào xác suất gặp mắt lưới của cá, khi chúng có ý định vượt qua lưới Khả năng chọn lựa cá là sự kết hợp của nhiều nguyên nhân, mỗi nguyên nhân đều có xác suất như nhau

và đều có thể có xác suất dương hoặc âm và không có nguyên nhân nào trội hơn

Những yếu tố có liên quan đến quá trình chọn lọc cá khai thác do lưới là kích thước mắt lưới, kích thước (đường bao thân) của cá, độ tích cực của cá, mực độ phong tỏa cá đánh bắt bằng mắt lưới, thời gian lưu lại của cá trong ngư cụ, thành phần theo kích thước của đàn cá khai thác

Trong phương pháp khai thác cá không lưới, tính đa dạng tương tự của các nhân tố sẽ được thể hiện trong tác động tương hỗ giữa đối tượng khai thác và các tác nhân lôi cuốn cá vào vùng tác dụng đánh bắt

Các yếu tố sẽ được phân tích như trên có ý nghĩa chung đối với mọi ngư cụ Khi đánh giá thực tế, tính chọn lọc của ngư cụ sẽ xảy ra rất nhiều yếu tố khác nhau đặc trưng cho mức độ cá biệt, nghĩa là các

Trang 27

yếu tố cốn có do cấu trúc cụ thể của ngư cụ, có liên quan đến vật liệu chế tạo ngư cụ, hệ số rút gọn và phương pháp gia công vật liệu; phương pháp sử dụng ngư cụ

1.1 Kích thước mắt lưới và cá

Các yếu tố xác định quá trình chọn lựa cá do ngư cụ bằng lưới đánh bắt được xác định bởi mối quan hệ giữa kích thước (mặt cắt thân) cá và chu vi (kích thước bên trong) của mắt lưới mà cá muốn đi qua nó

Khi cá với mặt cắt thân xác định lao vào mắt lưới sẽ xảy ra hai tình thế sau: Cá có thể chui qua mắt lưới nếu chu mắt lưới bằng hoặc lớn hơn đường bao mặt cắt thân cá, hoặc là giữ lại trong mắt lưới nếu chu vi mắt lưới nhỏ hơn với mức độ nào đó so với đường bao mặt cắt lớn nhất thân cá

Nếu giả thiết rằng, đánh bắt được 100 con cá, trong đó có 50 con với kích thước mặt cắt thân cá

có thể lọt qua được mắt lưới xác định Điều đó không có nghĩa là mắt lưới lựa chọn hoàn toàn đúng cỡ cá Trong thực tế đánh bắt cá, kích thước và hình dáng của mắt lưới bị sai lệch do ảnh hưởng của sản lượng

cá đánh bắt được, sự va chạm với đáy, sự căng do phao, chì, phụ tùng lưới và quá trình thu, thả lưới v.v… Ngoài ra, cá muốn chui qua ngư cụ, phải va chạm lẫn nhau, vì thế xác suất để có kích thước bất kỳ chui qua lưới sẽ không bằng một hoặc bằng không, nó sẽ phụ thuộc vào thời cơ gặp mắt lưới có kích thước xác định lớn hơn kích thước của chúng

Như vậy, nếu như phân bố kích thước mắt lưới trong ngư cụ là ngẫu nhiên (trong thực tế lưới chỉ bị biến hình trong quá trình đánh bắt), thì xác suất đối với mỗi con cá cụ thể cho chu vi mặt cắt lớn nhất của thân cá (đường bao thân) cần phải xác định bằng lý thuyết xác suất

Jones, 1957 đã chỉ ra rằng, trên cơ sở của giả thiết như trên về sự tương ứng giữa sự thay đổi kích thước mắt lưới trong ngư cụ và đường bao thân cá, đường cong của tính chọn lọc kích thước có thể biểu diễn với mức độ đủ chính xác như làm một hàm phân bố chuẩn Ví dụ như, nếu có kích thước mắt lưới thực (hiệu quả) là a (có thể là chu vi mắt lưới hoặc kích thước cạnh mắt lưới) được xác định một cách chuẩn với độ kỳ vọng toán của kích thước mắt lười là ā và phương sai δ2a thì có thể viết được:

Đối với cá bất kỳ có đường bao θ, có kích thước mắt lưới tới hạn tương ứng, độ chọn lọc của mắt lưới là đại lượng ngẫu nhiên Nếu kích thước mắt lưới thấp hơn mắt lưới tới hạn thì chọn lọc không

có thể được Giả thiết rằng, kích thước tới hạn đó của mắt lưới tỷ lệ với đường bao mặt cắt thân cá, nghĩa là:

Khi đó xác suất chọn lọc cá có đường bao θ, có thể biểu diễn đơn giản như là xác suất gặp mắt lưới vói kích thước mắt lười a = θ/µ và lớn hơn nghĩa là:

Trong thực tế, người ta thường biểu diễn xác suất chọn lựa cá theo sự phụ thuộc vào chiều dài của nó, không phải là đường bao thân cá Bởi vì chiều dài thân cá là giá trị thông dụng hơn và dễ đo hơn

Để chuyển từ đường bao thân cá thành chiều dài và ngược lại đối với mỗi loài cá bằng số đo sinh học đủ lớn người ta thiết lập mối quan hệ đặc biệt Kinh nghiệm đã chỉ ra rằng, giữa các đại lượng trình bày trên

với các loài cá tồn tại quan hệ phụ thuộc tuyến tính dạng θ = α – β.l nhưng giữa đường bao thân cá và

chiều dài của nó phải có độ chênh lệch tự nhiên theo chu kỳ như nhau Bởi vì những độ lệch đó do nhiều nguyên nhân và có trị số khác nhau Có thể cho rằng chúng cũng được phân bố chuẩn với kỳ vọng toán của đường bao thân cá θ và phương sai δ2, khi đó chúng ta nhận được:

Từ đây (theo Jones, 1963), xác suất thoát của cá khỏi ngư cụ được xác định bằng tổng các xác suất thoát ra của chiều dài đó, nhưng có đường bao thân cs khác nhau,

Biểu thức (22) đơn giản hơn, nếu như tích phân theo a; Khi đó có thể viết dưới dạng:

Khi đưa biểu thức θ = α – β.l, ta sẽ có biểu thức dạng chung hơn, dưới dạng:

1.2 Tính tích cực của cá

Trang 28

Cá cũng như các động vật khác, rơi vào trong điều kiện chật chội và có phản ứng sợ hãi, chạy trốn khỏi khu vực giữ chúng Tuy nhiên thoát khỏi ngư cụ chỉ là một số cá linh hoạt, có kích thước đủ nhỏ

để chui qua khỏi mắt lưới Như vậy, tính tích cực của cá hướng tới giải thoát khỏi không gian bao bởi ngưu cụ đóng vai trò cơ bản trong quá trình chọn lọc cá, và ảnh hưởng đến việc đánh giá tính chọn lọc của ngư cụ Tính tích cực của cá có liên quan đến những nguyên nhân sinh học rất khác nhau Cần phải biết được về mặt số lượng các hiện tượng đó Nếu như không chú ý các giá trị số của cường lực gây ra do

cá thoát khỏi mắt lưới thì tính tích cực của cá hoàn toàn có thể đánh giá bằng số ý định không chui qua mắt lưới trốn Để làm việc đó, chúng ta cần tìm trong lý thuyết xác suất

Xác suất chọn lựa cá có đường bao thân cá θ được biểu diễn trong phương trình (21) Phương trình đó được xây dựng trên giả thiết rằng, mỗi con cá trong chu kỳ đi vào ngư cụ chỉ có một lần có ý định thoát ra khỏi lưới

Nếu giả thiết rằng, có bao nhiêu ý định thoát lưới độc lâp, nghĩa là cá đi tới mắt lưới, thì thời cơ

đi khỏi ngư cụ của cá sẽ tăng lên tương ứng

Nếu chọn F(θ) là xác suất chọn lựa cá có đường bao của thân θ không thoát được sau một ý định không thành, khi đó phương trình (21) có dạng:

Xác suất không thoát khỏi lưới của cá sau n ý định sẽ được xác định bằng biểu thức {F(θ)}n, còn xác suất ra khỏi lưới sau n ý định trốn thoát là biểu thức 1 - {F(θ)}n Điều rút ra từ lý thuyết này có thể dẫn tới kết luận về sự cần thiết trong tương lai phải chế tạo được thiết bị đặc biệt cho phép ghi lại được số lượng ý định của cá muốn đi qua mắt lưới Nếu thiết bị đó cho biết số ý định, thì sau khi biết số lượng cá đánh bắt được, dễ dàng biết được số lần trung bình có ý định thoát ra của một con cá sau thời gian đánh bắt Phương pháp này cho phép trong thực tế đánh giá và tính toán tính tích cực của cá khi phân tích tính chọn lọc của ngư cụ

1.3 Mức độ phong tỏa cá đánh bắt được do mắt lưới

Apriori cho rằng, cá đóng vào mắt lưới làm khó khăn cho việc ngư cụ lựa chọn cá Có rất nhiều

số liệu khoa học về vấn đề này, nhưng còn nhiều mâu thuẫn

Ví như, Beverton, 1959 khi tiến hành nghiên cứu tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương, đã quan sát thấy rằng, khi lượng cá tuyết đánh bắt được từ 10÷100 giỏ (1 giỏ bằng 43kG) sau một lần kéo lưới, hệ số chọn lọc của lưới kéo tăng hoặc giảm theo quy luật Sự giảm chừng khoảng 0,1 trên 30 giỏ cá đánh bắt được (hình 13)

Theo số liệu quan sát (Tresev, 1957, 1959, 1962), sự giao động hệ số chọn lọc của lưới kéo với

cá tuyết không phải lúc nào cũng bị giàng buộc bởi sản lượng khai thác Trong nhiều trường hợp, cùng một đụt lưới, hệ số chọn lọc khi sản lượng cao có thể bằng hoặc lớn hơn, so với khi sản lượng thấp Nếu như đánh giá tất cả các số liệu thu được, thì hệ số chọn lọc đối với cá tuyết khi sản lượng cao luôn nhỏ hơn một ít so với hệ số chọn lọc của lưới đó khi có sản lượng thấp Giá trị của độ lệch có thể nằm trong giới hạn của san số thực nghiệm trên một số loạt thực nghiệm Số liệu cho gần đúng như thế đối với việc đánh bắt cá đỉnh (pikos) Ngay cả cá sáu sọc Alaska, đánh bằng lưới rê là phương thức đánh bắt có hiệu quả cáo, mức độ đóng lưới của cá có ảnh hưởng tới tính chọn lọc của ngư cụ là không đổi

Theo số liệu (Clark, 1963) cho biết, mối quan hệ giữa sản lượng khai thác và tính chọn lọc ngư

cụ không thể quan sát được một cách tổng quát Hệ số chọn lọc đối với sản lường từ 200÷400 con cá cũng giống như khi sản lượng đến 2000 con, thậm chí tới 9800 con

Mặt khác, Bolt và Brandt, 1967 đã khám phá ra mối liên hệ âm rất rõ giữa giá trị sản lượng và tính chọn lọc của ngư cụ Theo những số liệu, việc giảm hệ số chọn lọc khi tăng sản lượng khai thác rõ ràng đến mức, người ta chỉ nghi ngờ ngay cả việc điều chỉnh nghề bằng cách thay đổi kích thước mắt lưới

sẽ để đánh bắt cá sáu sọc sẽ đem lại hiệu quả

Trang 29

Tổng kết các kiến thức đương đại về tác động của sản lượng khai thác lên hệ số chọn lọc, có thể rút ra (trên cơ sở các số liệu nghề lưới kéo) rằng, trong các trường hợp riêng, ví như đánh bắt cá có độ tập trung đặc biệt cao, độ vướng mắc rong tảo và sứa v.v… trong ngư cụ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính chọn lọc của ngư cụ Mức độ ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào mức độ làm đầy túi lưới do cá, rong tảo v.v… Nếu như mắt lưới bị đóng kín toàn bộ từ đầu chu kỳ đánh bắt, thì hệ số chọn lọc bị giảm mạnh Nếu như mức độ đóng kín mắt lưới từ từ, hoặc vào cuối chu kỳ khai thác, tính chọn lọc sẽ giảm ít hoặc nói chung không giảm

Trong tuyệt đại các trường hợp, nghĩa là khi độ đầy của ngư cụ xảy ra ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn thì cá bên trong ngư cụ trong quá trình đánh bắt đặt ở trong trạng thái tích cực, sản lượng khai thác thực tế ảnh hưởng ít đến tính chọn lọc của ngư cụ

Khi xử lý các số liệu thực nghiệm cũng thấy rõ ràng, khi tăng số lần đánh bắt (mẻ lưới), sự khác biệt về giá trị các chỉ số chọn lọc tính trên một đơn vị sản lượng sẽ giảm Chỉ số trung bình đó hầu như không phụ thộc vào sản lượng khai thác Trên hình 14 đã biểu thị quan hệ tương hỗ của hệ số chọn lọc của lưới kéo đáy với sản lượng khai thác theo kết quả của tám loạt (lần) thí nghiệm (đường chấm chấm) Trong trường hợp sau là kết quả của một vài chục lần keoes lưới khác cả về địa điểm thời gian kéo lưới thì mỗi điểm trên đồ thị tương ứng với trị số cân bằng trung bình của hệ số chọn lọc (đường liền)

Những số liệu được trình bày như trên chứng tỏ rằng, ảnh hưởng của việc đóng kín mắt lưới do

cá đánh bắt được đến tính chọn lọc của ngư cụ không lớn Trong tất cả các trường hợp nghiên cứu đều đã khẳng định là sự đóng kín mắt lưới là yếu tố ảnh hưởng đến tính chọn lọc và có thể xác định mối quan hệ trên bằng phương pháp thực nghiệm Khi tích lũy đầy đủ các số liệu thực nghiệm, ảnh hưởng của độ đóng kín mắt lưới có thể tính được bằng hệ số phụ trợ có dạng tích số với về phải của phương trình (25), đặc trưng cho xác suất trốn thoát của cá có chiều dài xác định qua mắt lưới

1.4 Thời gian lưu trữ cá trong ngư cụ

Yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến quá trình chọn lọc Các quan sát thực tế trên các ngư cụ lọc, đóng mắc và đặc biệt là ngư cụ bẫy đã chỉ ra rằng, cá bị giữ trong ngư cụ càng lâu, số phần trăm bị lọc ra càng lớn Vấn đề trên, trước tiến được giải thích rằng, mỗi một con cá, khi tăng thời gian bị lưu trữ trong ngư cụ, khả năng (xác suất) gặp mắt lưới cần thiết càng lớn Như vậy, trong những điều kiện bất kỳ của quá trình đánh bắt, sẽ tồn tại một khoảng thời gian nào đó để các loại cá có kích thước nhỏ hơn kích thước mắt lưới tương ứng sẽ được lọc khỏi lưới

Như vậy, có đầy đủ lý do cho rằng, số lượng ý định trốn khỏi ngư cụ sẽ tỷ lệ với thời gian lưu trữ trong lưới Nếu cho rằng, con cá đầu tiên có n ý định trốn khỏi ngư cụ thì con tiếp theo, sau một chu

1.5 Thành phần theo kích thước của đàn cá đánh bắt

Tính chọn lọc của các ngư cụ khác nhau chỉ có thể đánh giá được đầy đủ nếu như mỗi ngư cụ được tiến hành thử nghiệm trên mỗi thành phần của đàn cá đánh bắt Trong các điều kiện tự nhiên, đàn cá khai thác bị ngư cụ đánh bắt trong những thời gian khác nhau và tại những chỗ khác nhau, chúng sẽ khác nhau về thành phần độ tuổi theo kích thước Hiển nhiên, độ chọn lựa cá của bất cứ ngư cụ nào cũng phụ thuộc vào đặc tính chọn lọc của mỗi ngư cụ

Trang 30

Trong thực tế không có phương pháp thử nghiệm ngư cụ nào cho phép khai thác một thành phần đồng nhất theo kích thước của đàn cá khai thác Cách duy nhất là phải tìm giải pháp tạo được các số liệu so sánh, để các kết quả nghiên cứu được tiến hành trên các đàn cá theo thành phần kích thước gần nhau

1.6 Vật liệu để chế tạo ngư cụ

Người ta đã tiến hành nhiều thí nghiệm để xác định ảnh hưởng của vật liệu để chế tạo ngư cụ đến tính chọn lọc của ngư cụ đó Tính dãn khác nhau của các vật liệu dưới ảnh hưởng của tải trọng phát sinh trong quá trình đánh bắt là nguyên nhân cơ bản sự dị biệt tính chọn lọc của ngư cụ được chế tạo bằng những vật liệu khác nhau

Nhiều quan sát và nghiên cứu chứng tỏ rằng, tính dãn của chỉ lưới đánh cá có đường kính như nhau sẽ bị thay đổi phụ thuộc vào đặc tính ban đầu của nguyên liệu Việc gia công (bện hay xoắn) và kiểu

xơ (xơ dài hay ngắn), khi các điều kiện khác như nhau, sẽ ảnh hưởng không lớn đến tính dãn dài của chỉ, như thế cũng đối với tính chọn lọc của ngư cụ

Tính dãn (dài) liên quan đến số vòng xoắn trong chỉ tính trên một đơn vị chiều dài Vì thế, nếu như vật liệu đặt trong nước bị co ngót hoặc dãn dài, khi đó số vòng xoắn tính trên một đơn vị chiều dài sẽ thay đổi Những vật liệu như thế sẽ có phương thức dài ra hay ngắn lại khi chịu lực tác dụng của tải trọng kéo

Độ dãn dài của một số vật liệu được sử dụng để chế tạo ngư cụ biểu diễn trên hình 15 Trên đồ thị nhận thấy, với xơ như nhau được chế tạo thành những loại vật liệu khác nhau, chúng sẽ có tính dãn dài khác nhau Lưới đánh cá được chế tạo bằng xơ malina có độ dãn dài nhỏ nhất, còn kapron – là lớn nhất Ngay cả vật liệu cùng nhóm Poliamit như perlon và kapron cũng có tính dãn dài khác nhau Kết quả nghiên cứu cho biết, độ dãn dào của chúng dao động từ 8 – 47% Từ đây khi đánh giá tính chọn lọc của ngư cụ được chế tạo từ xơ poliamit phụ thuộc vào độ dãn dài, người ta chia thành hai nhóm: Nhóm A – lưới chế tạo từ chỉ lưới có độ dãn dài tương đối trên 25%, còn nhóm B – có độ dãn dài dưới 25% Nhóm

A bao gồm các vật liệu nilon và kapron, còn nhóm B gồm perlon, stilon v.v…

Ảnh hưởng đến tính chọn lọc của ngư cụ không chỉ có loại xơ và tính chất của xơ, mà còn là chất lượng của chỉ lưới sau khi chế tạo Độ thô (đường kính) và công nghệ chế tạo (công nghệ định hình) chỉ và lưới đóng vai trò đặc biệt

Hiện nay người ta còn cho rằng, màu sắc, độ cứng, độ nhám bề mặt chỉ lưới không ảnh hưởng đến tính chọn lọc của ngư cụ Tuy nhiên cũng có quan điểm ngược lại, ví dụ như Jensen, 1949 cho rằng tính chọn lọc của ngư cụ phụ thuộc vào độ cứng của chỉ lưới Chỉ lưới có độ cứng hơn, sẽ giữ cá có kích thước lớn hơn trong ngư cụ so với chỉ lưới mềm hơn Các công trình sau này, các tác giả khác còn chỉ ra được mức độ khác nhau của độ mềm chỉ lưới có ảnh hưởng đến độ chọn lọc khác nhau của ngư cụ (Grenkhem, 1954; Brandt, 1954; Mergetts, 1957; Klark, 1957; Mak – kreken, 1957) Với việc tăng độ mềm của vật liệu lưới, các mắt lưới có hình dáng cần thiết dễ dàng hơn trong quá trình lựa chọn Các mắt lưới của vật liệu nhẹ và mềm hơn thường cho khả năng chọn lọc cao hơn so với vật liệu nặng và cứng (Klark, 1958)

Các thí nghiệm xác định chọn lựa của ngư cụ chế tạo từ vật liệu cực cứng cho thấy rằng, độ tuyển chọn cá qua mắt lưới nhỏ hơn rất nhiều so với lưới làm bằng xơ malina

Màu sắc chỉ lưới và độ nhám bề mặt có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đánh bắt và tính chọn lọc của ngư cụ đóng

1.7 Cấu trúc ngư cụ

Trang 31

Ngư cụ có cấu trúc là lưới được chế tạo bằng các phương pháp khác nhau sẽ có hình dạng và tính chất khác nhau Trong những lưới đánh cá truyền thống đều được chế tạo bằng cách đan theo gút

Những năm sau này, lưới đánh cá có sử dụng nhiều loại lưới không gút là loại lưới có nhiều ưu điểm nổi bật Lưới có gút và lưới không gút có cấu trúc khác nhau Các thí nghiệm quốc tế được tiến hành

từ năm 1959 để nghiên cứu tính chọn lọc đã chỉ ra rằng: Tính chọn lọc của ngư cụ được chế tạo bằng lưới không gút thấp hơn so với ngư cụ tương tự làm bằng lưới có gút

Thông thường lưới được chế tạo với mắt lưới hình thoi Người ta cũng chỉ ra bằng các kết quả thí nghiệm rằng, đối với các ngư cụ lọc và bẫy có mắt lưới hình thoi, không đảm bảo độ chọn lọc cao nhất đối với các loài cá có hình dáng thân khác nhau (Đeniov, 1996) Trong nghề cá nước ngọt, ví dụ khi người ta tạo ra các điều kiện thuận lợi để lụa chọn cá mè, thì lại lựa chọn rất kém đối với cá măng Điều kiện quan trọng để cá đi qua mắt lưới là hình dáng, diện tích mắt lưới, hình dáng và diện tích tương ứng của mặt cắt thân cá tại đường bao thân lớn nhất Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào sự phân bố mắt lưới (độ rút gọn tấm lưới) và tải trọng tác dụng lên lưới (độ chùng của lưới) Theo Đenissov, 1966 khi hình dáng mắt lưới là hình thoi thông thường, độ lựa chọn lớn nhất cá mè kích thước nhỏ của lưới rùng, lưới kéo và lưới đăng khi hệ số rút gọn là 0,66 và của cá măng là 0,33

Tính chọn lọc của mắt lưới theo cá với các chỉ số ngoại hình khác nhau có thể coi là gần bằng nhau, nếu như mắt lưới có hình sáu cạnh hoặc hình chữ nhật với tỷ lệ theo các đường chéo là 1:2

Với mục đích xác định tính chọn lọc và khả năng giữ cá của mắt lưới có hình dáng khác nhau, Đenisov, 1963 và 1965 đã tiến hành thí nghiệm bằng phương pháp đặc biệt (hình 16) Thí nghiệm được tiến hành trên bốn kiểu mắt lưới: hình vuông, hình thoi, hình sáu cạnh, hình chữ nhật với quan hệ các đường chéo là 1:2 Độ rút gọn của lưới là 0,5 Các hình vuông và hình chữ nhật được trải căng Chu vi các mắt lưới như nhau đều bằng 120mm

Kết quả thí nghiệm cho thấy, chiều dài cá mè khi 50% cho lọt qua mắt lưới hình thoi là 12cm, còn cho qua mắt lưới sáu cạnh là 14cm

Kết quả nghiên cứu của Đenisov chẳng những cho biết tính chọn lọc không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc của ngư cụ mà còn chỉ ra khả năng điều chỉnh nó bằng cách thay đổi hình dạng mắt lưới

Lưới kéo khác nhau không chỉ do hình dáng được xác định bằng chu kỳ cắt và kích thước, mà còn vào trang bị của nó Đối với lưới kéo, khi bố trí trang bị như nhau, phân bố vật liệu cũng khác nhau, lưới kéo có dạng thuôn dài càng có khả năng chọn lọc tốt hơn Có thể giải thích khả năng này như sau: Lưới kéo càng thuôn dài diện tích thành lưới càng lớn, do đó cá càng có khả năng chui qua mắt lưới Với lưới kéo ngắn, đặc biệt với lưới kéo có đụt ngắn, thì lưới có tính chọn lọc nhỏ Như vậy có thể khẳng định rằng, hình dáng của ngư cụ có thể trong trường hợp này có tính chọn lọc cao, nhưng trong trường hợp kia lại có tính chọn lọc thấp

Trang bị lưới và dây giềng của lưới kéo có ảnh hưởng đến tính chọn lọc của nó Nếu lưới kéo

có trang bị thông thường, nhưng nếu lắp thêm một sợi dây thắt đụt từ đầu cánh đến đầu túi thì tính chọn lọc của lưới kéo đó tăng lên Hiện tượng trên được giải thích liên quan đến lực thủy động được tăng thêm trong quá trình chuyển động và tốc độ kéo lưới giảm đi, khả năng trốn chạy của cá trong ngư cụ tăng lên Người ta cũng nhận thấy rằng, tính chọn lọc của lưới kéo là tốt nhât, khi độ mở mắt lưới là tốt nhất Kết quả thí nghiệm của các nhà nghiên cứu cũng cho kết luận tương tự là nếu vật liệt làm lưới có khả năng giảm đi lực thủy động ở các mức độ khác nhau thì tính chọn lọc của lưới cũng cải thiện tương ứng Năm

1960, Bohl đã tiến hành nghiên cứu sự ảnh hưởng của vật liệu lưới có khả năng làm giảm lực cản thủy động, nhận thấy tính chọn lọc của ngư cụ có sự khác biệt đáng kể khi các lưới sử dụng vật liệu khác nhau (hình 17 và 18)

Trang 32

Năm 1961, Vinogradov đã tiến hành thí nghiệm trên biển Bantic và trong thủy vực nội địa Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc của ngư cụ lọc, đặc biệt là phần đụt lưới chứa cá khai thác, có ảnh hưởng lớn đến tính chọn lọc Người ta tiến hành thí nghiệm các mẫu đụt lưới vó cấu trúc khác nhau trong

bể thí nghiệm thủy động Sau đó, người ta đặt đụt lưới đó vào trong túi bằng lưới khác có đai với kích thước mắt lưới nhỏ (hình 19) Mặc dầu không cho ra được kết quả ảnh hưởng bằng số của cấu trúc đến tính chọn lọc ngư cụ, nhưng cũng khẳng định về mặt định tính của nó

Quan hệ giữa tính chọn lọc với cấu trúc của lưới rê được nhiều người nghiên cứu Nhận thấy rằng, các loại lưới rê hai lớp, ba lớp, lưới rê khung có tính chọn lọc nhỏ hơn lưới rê một lớp Lưới rê khung đánh bắt trong thực tế được nhiều cỡ cá trên cùng một kích thước mắt lưới

Năm 1970, Sevtrenco nghiên cứu hình dạng làm việc của mắt lưới kéo trên mô hình và trong điều kiện đánh bắt Hệ số rút gọn trong quá trình đánh bắt trên những phần lưới kéo khác nhau sẽ có trị số thay đổi tùy thuộc vào tải trọng do lực thủy động tác dụng lên từng phần lưới, nghĩa là phụ thuộc vào tốc

độ kéo lưới Sự thay đổi đó sẽ khác nhau trên chiều của lưới kéo

Trên hình 20 chỉ rõ sự thay đổi hệ số rút gọn u1 phụ thuộc vào tốc độ kéo lưới Hệ số làm việc u’2 trong các phần lưới không tương ứng với các giá trị đầu tiên của nó Trong các phần cánh, hàm và các phần trung tâm của lưới luôn có u’2 < u2 Tại phần trước đụt và đụt lưới u’2 < u2

Theo số liệu thí nghiệm thấy rõ mối quan hệ giữa sản lượng khai thác với mức độ thay đổi hệ

số rút gọn của các phần lưới kéo (hình 21)

1.8 Phương thức sử dụng ngư cụ (công nghệ khai thác ngư cụ)

Chế độ khai thác các ngư cụ khác nhau được đặc trưng bằng chu kỳ đánh bắt liên tục và công đoạn thao lưới Trường hợp sử dụng ngư cụ chuyển động, trị số tốc độ chuyển dịch của chúng có ý nghĩa quan trọng

Thời gian đánh bắt trực tiếp có ảnh hưởng đến tính chọn lọc, vì sự liên quan đến khả năng cá tiếp xúc với lưới Sự tiếp xúc càng lâu, khả năng thoát khỏi lưới càng lớn và ngược lại

Điều kiện thoát lưới của cá phụ thuộc vào thời gian thực hiện của mỗi khâu riêng biệt trong quá trình đánh bắt Ví dụ như, nếu tăng thời gian thu ngư cụ, đặc biệt nếu việc thu được tiến hành trong khi dừng chuyển động ngư cụ, thì điều kiện chọn lựa cá qua mắt sẽ tốt hơn và tính chọn lọc của ngư cụ sẽ cao hơn Nếu như thời gian thu lưới ngắn, điều kiện thoát lưới của cá kém, tính chọn lọc của ngư cụ giảm đi

Một cách lý thuyết, sự ảnh hưởng của thời gian tồn tại cá trong ngư cụ đến quá trình chọn lọc

có thể tính theo công thức tích phân (27)

Trong trường hợp sử dụng ngư cụ dịch chuyển trong nước, mức độ mở (miệng lưới, mắt lưới) phụ thuộc vào tốc độ di chuyển của ngư cụ Sự thay đổi độ mở đứng và độ mở ngang của ngư cụ dẫn đến

sự thay đổi hình dáng mắt lưới trong quá trình đánh bắt Như vậy, ảnh hưởng của tốc độ chuyển dịch như làm một thông số đặc trưng cho chế độ khai thác ngư cụ, đồng nhất với việc phân tích một cách lý thuyết trước đây về ảnh hưởng đến tính chọn lọc của hình dạng mắt lưới

2 Các phương pháp xác định tính chọn lọc của ngư cụ các lớp khác nhau

Nikonorov và Lukesutkin đã có ý định tiến hành nâng cao tính chọn lọc của máy bơm cá trích Caspien bằng cách lựa chọn chỗ đánh bắt tương ứng Kết quả thu được khá, tuy nhiên không thể sử dụng

Trang 33

phương pháp này được vì không biết trước thành phần cá đánh bắt Nếu như cho rằng, trong quá trình đánh bắt của ngư cụ lớp I này, cá được thu lên từ nước, thì việc áp dụng các phương pháp chọn lọc để tập trung cá đánh bắt sẽ là phương pháp có thể chấp nhận được nhất Khi đó đánh giá tính chọn lọc của ngư

cụ theo những thông số kích thích của tác nhân lôi cuốn cá và kiểm tra trực tiếp kết quả đánh bắt

2.2 Ngư cụ lớp II (lưới kéo)

Hiện nay, người ta đã biết được năm phương pháp có thể nghiên cứu tính chọn lọc của lưới kéo là: Kéo lưới tuần tự, kéo lưới song song đồng thời, sử dụng lưới kéo hai đụt, sử dụng bao lưới với mắt lưới nhỏ, quan sát dưới nước

Tính hiệu quả của các phương pháp đó khác nhau, vì vậy trong những nghiên cứu đã qua người

ta sử dụng đồng thời cùng một lúc một số phương pháp khác nhau Từ kinh nghiệm nghiên cứu nhiều năm, người ta có thể đánh giá ưu và khuyết điểm của từng phương pháp này

i Phương pháp kéo lưới tuần tự Phương pháp này lâu đời nhất Người đầu tiên nghiên

cứu tính chọn lọc của lưới kéo bằng phương pháp này là Jonston vào năm 1910

Thực chất của phương pháp này là trên một tàu cố định nào đó, đánh bắt bằng lưới kéo trên cùng một vùng biển với những lưới kéo có kích thước mắt lưới khác nhau (hình 22) Phân tích kỹ lượng

cá đánh bắt được từ mỗi loại lưới kéo trên theo loài, kích thước và độ tuổi Sau đó bằng cách so sánh thành phần độ tuổi theo kích thước của lượng cá cá lần khai thác, đánh giá được tính chọn lọc của lưới kéo Theo phương pháp này, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành có kết quả khác nhau (Borley và Russel, 1923; Buchanan, 1927; Borovik, 1930; Herrington, 1935; Clark, 1936)

Như vậy, phương pháp kéo lưới tuần tự có thể khám phá ra sự khác nhau trong tính chọn lọc của lưới kéo và ngay cả một phần riêng biệt của nó Tuy nhiên, những số liệu so sánh của các lưới kéo khác nhau, khi xác định bằng phương pháp này là chưa rõ ràng

Sau này, một số nhà nghiên cứu còn sử dụng phương pháp trên (Djensen, 1949; Klark, 1952; Grehem, 1954; Lukas, 1957; Brandt, 1958)

ii Phương pháp kéo lưới đồng thời song song Phương pháp này có nhiều giống nhau so

với phương pháp kéo tuần tự Sự khác nhau chỉ là, việc nghiên cứu cần phải nhất thiết được tiến hành đồng thời của hai tàu lưới kéo lưới cùng kiểu, được trang bị hai lưới kéo để so sánh Vào vùng đánh bắt, hai tàu cùng thả lưới, lưới kéo theo phương song song với khoảng cách theo sự chỉ huy của một tàu và thu lưới đồng thời Lượng cá khai thác của hai tàu được phân tích theo loài và kích thước, sau đó so sánh Sau hàng chục lần kéo lưới song song trong vùng biển, thu được sự chênh lệnh nào đó trong thành phần cá đánh bắt đồng loại, đôi khi sẽ là đầy đủ trong nhận xét sự sai biệt của tính chọn lọc của hai lưới kéo so

sánh

Trong thực tế việc sử dụng phương pháp kéo lưới song song gặp nhiều khó khăn do việc lựa chọn hai tàu như nhau và đảm bảo chế độ làm việc cũng như nhau Có thể sử dụng hai tàu không như nhau để tiến hành kéo lưới song song, nhưng sau mỗi loạt thí nghiệm lại đổi lưới cho nhau, khi đó trở thành thực hiện được điều kiện hai tàu như nhau trong đánh bắt

iii Phương pháp khai thác bằng lưới kéo hai đụt Thực chất của phương pháp này là

người ta gắn vào một thân lưới kéo hai đụt lưới, có kích thước mắt lưới khác nhau (hình 23) Đánh bắt bằng lưới kéo hai đụt được tiến hành như quy trình khai thác một đụt Phương pháp nghiên cứu tính chọn

lọc bằng lưới kéo hai đụt lần đầu tiên do Russel và Edser, 1926

Vì lượng cá tại hai túi đều vào từ một miệng lưới nên phương pháp này giảm đi sự dị biệt của phương pháp đánh bắt trong thành phần so sánh, vì thế kết quả nghiên cứu tin tưởng hơn Tuy nhiên, Devis lặp lại thí nghiệm này năm 1934 đã chỉ ra rằng, trong quá trình kéo lưới trong những hoàn cảnh khác nhau đôi khi không đánh bắt một cách đồng nhất Nguyên nhân của hiện tượng trên, theo Herinton

Trang 34

và Denisov cho rằng do sự biến hình cửa vào hai đụt khác nhau, kết quả của lực cản không như nhau của hai đụt lưới đó

Để khắc phục tình trạng trên, người ta làm lưới hai đụt với vách ngăn thẳng đứng bằng lưới

iv Phương pháp dùng túi bao lưới có mắt lưới nhỏ

Lưới kéo được nghiên cứu hoặc một phần của nó được phủ phía ngoài bằng một lưới có mắt lưới nhỏ, để cá thoát ra khỏi phần lưới kéo bị giữ lại trong phần lưới bao, như một túi lưới bọc ngoài đụt lưới kéo (hình 25) Khi kết thúc mỗi lần kéo, người ta thu riêng sản phẩm đánh bắt trong đụt lưới kéo và phần túi bao lưới, so sánh các chỉ tiêu sản phẩm theo loài, kích thước và nhận xét tính chọn lọc của lưới theo từng đối tượng đánh bắt Phương pháp này lần đầu tiên được thực hiện do Fulton năm 1893

Năm 1929, Devis đã nghiên cứu, cá có thoát khỏi lưới trong khi kéo lưới hoặc khi thu lưới và khi tàu chạy chậm, lực cản gây ra tải trọng căng chỉ lưới có giảm không Từ việc giải quyết vấn đề này có thể làm sáng tỏ hiệu quả của việc điều chỉnh kích thước mắt lưới của lưới kéo Để giải quyết vấn đề này, Devis đã bao ngoài đụt lưới kéo nghiên cứu bằng túi bao lưới có mắt lưới nhỏ cho phép tách riêng cá được chọn lựa trong khi kéo (hình 25) Để thu gọn phần cá ra khỏi lưới, phần sau của đụt lưới và túi bao ngoài, người ta gắn thêm hệ thống khóa có dây kéo (hình 26)

Một cách lý thuyết, bất kỳ một cấu trúc phủ bọc nào cũng sẽ xảy ra “hiệu ứng ngụy trang” Điều này nghĩa là, một số cá nào đó trong điều kiện bình thường (chưa có lưới bao ngoài) đều chui qua lưới thoát (lựa chọn của mắt lưới) Nhưng nếu có lưới phủ ngoài, cũng vẫn những cá đó chưa chắc sẽ chui qua Nếu giả thiết rằng, hiệu ứng trên là đánh kể, thì kết quả nghiên cứu không có thể cho một kết quả đúng về khái niệm lựa chọn Giải thích hiệu ứng trên bắt nguồn từ hiện tượng gây sợ hãi từ tấm lưới che phủ, hoặc trạng thái dòng qua mắt lưới không còn mạnh như lúc không có vật phủ ngoài, gây cá chuyển động cưỡng bức qua mắt lưới, hoặc cả hai nguyên nhân

Một vấn đề gây tranh cãi là có hay không có cá ra khỏi các phần lưới kéo từ cách đến đụt và chúng thoát ra nhều, ít; ở đâu nhiều, ở đâu ít Về vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu đã làm sáng tỏ bằng kết quả thí nghiệm của mình (Todd, 1911; Clark, 1957; Ciegliwicz và Strzyewski, 1959; Magetts, 1958; Brwsev, 1937; Lestev, 1947; Dennisov, 1960) Các kết quả nghiên cứu được đồ thị hóa cho thấy mức độ chọn lọc của các phần lưới kéo, được biểu diễn trên hình 28

Nghiên cứu vấn đề về tính chọn lọc trên các phần khác nhau của chiều dài đụt, các nhà nghiên cứu Ba Lan đã chế tạo đụt lưới với túi lưới được ngăn bằng vách lưới ngang, chia thành phần bao đụt thành hai phần trên dưới (hình 29) Qua kết quả nghiên cứu, các tác giả nhận xét rằng: Sự chọn lọc tính theo phần trăm của nửa trên và nửa dưới đụt lưới phụ thuộc vào cấu trúc và vật liệu của đụt lưới kéo, ngoài ra còn phụ thuộc vào vị trí của đụt lưới tương đối với đáy trong thời gian kéo lưới Đụt luwois kéo đáy kiểu Bắc Ban-tích chế tạo từ sợi bông và malina, các tác giả cho biết, có tính chọn lọc tại nửa trên đụt bằng 80% tổng số cá được chọn lọc qua mắt lưới đụt

Các nhà nghiên cứu Ba Lan cũng đã chú ý đến tính chọn lọc các phần khác nhau trên chiều dài đụt lưới Bằng mẫu đụt lưới với túi bao đụt được phân chia thành ba đoạn bằng vách ngăn biệt lập (hình 30) Kết quả phân tích cá được chọn lọc qua mắt lưới đụt tính theo phần trăm tổng số cá thoát qua đụt như sau:

v Quan sát dưới nước

Những năm sau này người ta đã tiến hành nghiên cứu tính chọn lọc của lưới kéo bằng thiết bị quan sát và chụp ảnh dưới nước Đây là phương pháp khá thuyết phục Phương pháp này không chỉ cho các kết quả về phía nghiên cứu mà còn cho biết cả về phương diện lưới kéo Việc tạo ra những thiết bị kỹ thuật hiện đại để nghiên cứu dưới nước (buồng chụp ảnh dưới nước sâu, máy quay truyền hình, quả cầu

Trang 35

đo sâu, tàu lặn v.v…) cho phép nghiên cứu toàn diện sự tương hỗ giữa lưới kéo và trong quá trình kéo lưới

Các quan sát và quay phim theo hướng nghiên cứu tác động của lưới kéo lên sản phẩm khai thác, hiện nay có chưa nhiều

Người ta tiến hành thành công việc quan sát nghiên cứu quá trình trốn thoát của cá qua giềng trên, giềng dưới và đi qua mắt lưới phần đụt lưới kéo Qua hình ảnh chụp đã chỉ ra rằng, một cố cá nhỏ qua mắt lưới tại phần đụt lưới trong thời gian kéo lưới Những người quan sát trực tiếp đã khẳng định rằng, các mắt lưới của lưới kéo thông thường, khi kéo lưới với tốc độ 3÷4 hải lý/giờ, sẽ mở rộng mắt lưới

để cá nhỏ chui tự do qua mắt lưới đụt Các tư liệu vidio cũng cho biết: Tất cả cá rơi vòa lưới kéo đều tìm cách thoát ra khỏi lưới, loại trừ trường hợp được ghi nhận việc giảm thiểu tính chọn lọc của đụt lưới bằng

sử dụng túi bao lưới với mắt lưới nhỏ Tất cả các kết quả trên chứng tỏ phương pháp quan sát dưới nước rất đáng quan tâm để nghiên cứu tính chọn lọc của ngư cụ Nó chứng tỏ tính ưu việt trong nghiên cứu so với các phương pháp nghiên cứu khác, đồng thời cũng có những nhược điểm Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là không cho biết được số lượng của tính chọn lọc ngư cụ Vì vậy phương pháp này chỉ

có ý nghĩa khi cần dẫn chứng để kiểm tra và khẳng định kết quả quan sát nhận được từ các phương pháp khác

3 Ngư cụ lớp II (lưới vây và lưới rê)

Các phương pháp đã trình bày trên để xác định tính chọn lọc của lưới kéo, có thể áp dụng đối với các ngư cụ tất cả các nhóm và các kiểu của lớp đã cho Ví như phương pháp đồng thời và tuần tự đánh bắt, bao lưới với mắt lưới nhỏ và quan sát dưới nước có thể sử dụng khi đánh giá tính chọn lọc của lưới vây và lưới rùng trong quá trình vây cá, nguyên tắc của phương pháp hai túi lưới được áp dụng đối với tất

cả các ngư cụ loại này bằng phương pháp nào đó cần phải tính toán thời gian mà trong khoảng thời gian

đó các ngư cụ lọc này có khả năng chọn lọc cá Ví dụ như, các ngư cụ lưới kéo và lưới rùng, khả năng cá được chọn lọc mạnh hơn so với các ngư cụ vây, vó v.v… Khoảng thời gian mà cá có thể được chọn lựa của lưới vây, ví dụ ít nhất hơn 15 lần so với khoảng thời gian được lựa chọn của lưới kéo Do đó, năm nhóm còn lại của lớp ngư cụ lọc có khả năng chọn lọc kém hơn, bởi vì thời gian không đủ để cá thoát lưới trong quá trình đánh bắt

Ngoài thời gian, một số thông số có ý nghĩa lớn đến tính chọn lọc của ngư cụ là diện tích lưới phải chịu tính trên một con cá trong quá trình đánh bắt Tính chi ly cho thấy rằng, trong nghề lưới vây cá trích, số mắt lưới vây trung bình phải chịu tính trên trung bình một con cá sẽ lớn hơn 30 lần so với lưới kéo Vì vậy, chưa chắc lưới vây đã là loại ngư cụ không chọn lọc bằng cách tăng thời gian thu lưới, khi người ta mong muốn nâng cao tính chọn lọc của lưới đối với cá nhỏ

4 Ngư cụ nhóm III (ngư cụ bẫy – lưới đăng)

Nghiên cứu tính chọn lọc của tất cả các kiểu lưới đăng đều dẫn đến việc xác định thành phần theo kích thước và số lượng cá được lọc qua mắt lưới trong thời gian từ lần thu chuồng này đến lần thu chuồng khác

Bởi vì lưới đăng là lưới cố định và lưới lọc cá trong quá trình đánh bắt, nên dễ nhất là thực hiện việc tính toán một cách trực tiếp Để làm được việc đó, trong chuồng lưới đăng người ta lắp đạt chuồng nhỏ trong chuồng lớn, chuồng nhỏ có mắt lưới cần nghiên cứu, còn chuồng lớn có mắt lưới bé hơn nhằm giữ lượng cá thoát ra từ chuồng nhỏ Việc tính toán số lượng cá mỗi loại chuồng này đến chuồng khác, sẽ cho biết mức độ chọn lọc của chuồng lưới và ảnh hưởng của các yếu tố tác động giữa ngư cụ và đối tượng đánh bắt

Nghiên cứu tính chọn lọc của lưới đăng cũng có thể sử dụng phương pháp so sánh sản lượng khai thác Trường hợp này, người ta tiến hành khai thác so sánh trên cùng một vùng biển với chuồng lưới

Ngày đăng: 10/02/2015, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm