1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

chất lượng và an toàn trong chuỗi tiếp thị các sản phầm trồng trọt truyền thống của châu á

65 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hy vọng tài liệu này cũng sẽ nhận được sự quan tâm của những người công tác tại các cơ quan quản lý, các thương gia và ban quản trị các chợ bán buôn, những người rõ ràng cần phải cải thi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG KHOA CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SAU THU HOẠCH

Nhóm biên dịch : TS Đỗ Lê Hữu Nam (chủ biên)

TS Nguyễn Thị Mỹ Hương ThS Bùi Trần Nữ Thanh Việt ThS Nguyễn Hồng Ngân ThS Phạm Hồng Ngọc Thùy

CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN TRONG CHUỖI TIẾP THỊ CÁC SẢN PHẦM

TRỒNG TRỌT TRUYỀN THỐNG CỦA CHÂU Á

Nha Trang, 03/ 2014

Trang 2

CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN TRONG CHUỖI TIẾP THỊ CÁC SẢN PHẦM

TRỒNG TRỌT TRUYỀN THỐNG CỦA CHÂU Á

Andrew W.Shepherd Ban quản lý nông nghiệp, tiếp thị và tài chính Đơn vị hệ thống hỗ trợ nông nghiệp của FAO

QUẢN LÝ NÔNG NGHIỆP, TIẾP THỊ VÀ TÀI CHÍNH, TÀI LIỆU THƯỜNG KỲ

11

Trang 3

TỔ CHỨC NÔNG LƯƠNG LIÊN HỢP QUỐC, Rome, 2006

Tên gọi và hình thức trình bày các dữ liệu trong sản phẩm thông tin này không bao hàm bất kỳ quan điểm nào của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc về mặt pháp lý hoặc tình trạng phát triển của bất kỳ quốc gia, vùng lãnh thổ, thành phố hay khu vực hoặc về bất kỳ giới cầm quyền nào tại khu vực đó, cũng không có liên quan đến việc phân định biên giới hoặc ranh giới lãnh thổ nào

Tài liệu được bảo vệ quyền tác giả Hoàn toàn được phép nhân bản và phổ biến nội dung của của ấn phẩm này để phục vụ cho các mục đích giáo dục hoặc phi thương mại khác mà không cần sự cho phép trước bằng văn bản của chủ sở hữu quyền tác giả, nơi cung cấp nguồn tài liệu Nghiêm cấm nhân bản các nội dung trong sản phẩm thông tin này để bán lại hoặc nhằm các mục đích thương mại khác mà không có sự cho phép bằng văn bản của chủ sở hữu quyền tác giả Đơn xin cấp phép phải được gửi đến các Trưởng Chi nhánh Hỗ trợ và Chính sách xuất bản điện tử, Đơn vị Thông tin, FAO, Viale delle Terme di Caracalla, 00100 Rome, Ý hoặc qua e-mail đến copyright@fao.org

© FAO, 2006

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI TỰA v

TỪ VIẾT TẮT vi

LỜI CẢM ƠN vii

GIỚI THIỆU 1

CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN CÁC SẢN PHẨM TRỒNG TRỌT 4

Các yếu tố trong quá trình sản xuất 5

Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch 7

Đóng gói, vận chuyển và bảo quản 9

Giấm chín và sơ chế sản phẩm 11

Hoạt động tiếp thị ở cấp độ bán buôn và bán lẻ 12

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ KÌM HÃM NGƯỜI NÔNG DÂN CUNG CẤP RAU QUẢ CÓ CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN 14

1 Các yếu tố liên quan đến thị trường 14

2 Yếu tố kinh tế , tài chính và xã hội 18

3 Thông tin và nhận thức 20

CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ HẠN CHẾ KHIẾN THƯƠNG NHÂN KHÔNG CÓ KHẢ NĂNG CUNG CẤP CÁC LOẠI RAU QUẢ CHẤT LƯỢNG CAO VÀ AN TOÀN 23

CHƯƠNG 4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC MUA RAU QUẢ CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 27

CHƯƠNG 5 CÁC TIÊU CHUẨN, QUY ĐỊNH VÀ CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA ĐỂ THÚC ĐẨY CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN 31

Các tiêu chuẩn, các quy định và tác động của chúng 31

Các chương trình quốc gia về chất lượng và an toàn 36

CHƯƠNG 6 TÓM TẮT, THẢO LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 40

Tóm tắt 40

Thảo luận 42

Khuyến nghị 50

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ ĐỌC THÊM 55

Trang 5

LỜI TỰA

Tài liệu này đã được biên soạn dưới sự bảo trợ của chương trình của FAO về

“Nâng cao Chất lượng và An toàn Thực phẩm bằng cách Tăng cường Xử lý, Chế biến và Tiếp thị trong Chuỗi Thực phẩm” Tài liệu được lập trên cơ sở của tám nghiên cứu thực tế điển hình do FAO ủy quyền thực hiện trong năm 2004 Tài liệu tập trung vào vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng và an toàn trong hệ thống tiếp thị truyền thống cho các sản phẩm trồng trọt dạng tươi Một tài liệu khác cùng nằm trong Chương trình này của FAO

đề cập tới các vấn đề liên quan đến chế biến rau quả

Các chương trình khác của FAO chuyên tâm đến các vấn đề chất lượng và an toàn

từ quan điểm thiết lập tiêu chuẩn, phát triển thể chế, cải tiến sau thu hoạch, kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thực hành nông nghiệp tốt và đào tạo Tài liệu này là một

nỗ lực nhằm xem xét phân tích những gì thực sự xảy ra trong chuỗi cung ứng trồng trọt có thể ảnh hưởng đến an toàn, chất lượng, cũng như phân tích xem đâu là những hạn chế cần đối mặt trong chuỗi cung ứng trên, và chúng có tác động bất lợi đến khả năng thực hiện cải tiến như thế nào Các biện pháp khuyến khích, nếu có, mà các hệ thống truyền thống

có thể cung cấp cho nông dân để họ thực hiện cải tiến kỹ thuật cũng được quan tâm lưu ý đặc biệt Nếu không có những khuyến khích này thì các hoạt động liên quan bao gồm đào tạo, thiết lập tiêu chuẩn, vv… có lẽ chỉ có thể tạo ra tác động không đáng kể

Tài liệu này hướng đến các chuyên viên của Bộ nông nghiệp, bao gồm cả cán bộ tư vấn khuyến nông, những người đang làm việc để mở rộng hoạt động cải thiện an toàn và chất lượng trong lĩnh vực trồng trọt Hy vọng tài liệu này cũng sẽ nhận được sự quan tâm của những người công tác tại các cơ quan quản lý, các thương gia và ban quản trị các chợ bán buôn, những người rõ ràng cần phải cải thiện chất lượng và an toàn nếu muốn cạnh tranh với các chuỗi cung ứng mới đang được các siêu thị phát triển; cũng như hướng tới các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ (NGO) đang hoạt động nhằm cải thiện quá trình tiếp thị sản phẩm trồng trọt cũng như để thúc đẩy hoạt động thực hành nông nghiệp tốt

Trang 6

TỪ VIẾT TẮT

AFMA HIỆP HỘI CÁC TỔ CHỨC MARKETING CHO THỰC PHẨM VÀ

NÔNG NGHIỆP Ở CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG

AGMARK CHIẾN DỊCH HÀNH ĐỘNG NHẰM XẾP LOẠI VÀ MARKETING

CHO SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP (ẤN ĐỘ)

ASEAN HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

EUREPGAP THỰC HÀNH NÔNG NGHIỆP TỐT THEO QUY ĐỊNH CỦA NHÓM

CÁC NHÀ BÁN LẺ SẢN PHẨM TẠI CHÂU ÂU

SARS

BVTV

HỘI CHỨNG SUY HÔ HẤP CẤP NGHIÊM TRỌNG BẢO VỆ THỰC VẬT

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Những khảo sát thực tế phục vụ cho nghiên cứu này được thực hiện ở Ấn Độ bởi G.H Dhankar; ở Myanmar bởi Kyaw Myint; tại Nepal bởi Rajendra Pratap Singh; tại Pakistan bởi Mohammed Iqbal; tại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bởi Wei Longbao; ở Philippines bởi Flordeliza Lantican và Elda Esguerra, tại Thái Lan bởi Christopher Oates và ở Việt Nam bởi Phan Thị Giác Tâm Xin phép bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc cho những ý kiến đóng góp cho dự thảo của tài liệu này từ các tác giả đã tiến hành những nghiên cứu thực tế điển hình, cũng như từ Doyle Baker, Jean-Joseph Cadilhon, Siobhan Casey, Roberto Cuevas, Carlos da Silva, Eva Galvez Nogales, Maya Pineiro, Edward Seidler, và Harry van der Wulp

Một bản dự thảo ban đầu đã được thảo luận tại Hội thảo của FAO / AFMA về Chất lượng và An toàn trong Chuỗi tiếp thị các sản phẩm trồng trọt truyền thống của châu Á, diễn ra tại Bangkok, từ ngày 7-10 tháng 11 năm 2005 và cuốn sách này cũng phản ánh những thảo luận tại Hội thảo đó

AWS

Trang 8

GIỚI THIỆU

Nghiên cứu này cố gắng hướng đến các chủ đề về an toàn và chất lượng thực phẩm trong đó các loại rau quả được sản xuất nhằm cung cấp cho thị trường và phải trải qua nhiều bước xử lý trong chuỗi tiếp thị1 Nghiên cứu xuất phát từ giả thuyết theo đó cách thức tiếp cận truyền thống đối với vấn đề này tỏ ra không quá hiệu quả Ví dụ, những nghiên cứu và tài liệu hướng dẫn xử lý sau thu hoạch cho các sản phẩm trồng trọt đã không mang lại cải thiện đáng kể cho việc áp dụng các kỹ thuật sau thu hoạch vào thị trường nội địa ở các nước đang phát triển Mặc dù FAO cũng như nhiều tổ chức khác ở châu Á đã có nhiều can thiệp nhằm cung cấp các khóa tập huấn liên quan đến việc xử lý sau thu hoạch, song mức độ áp dụng thực tế trong nhiều hệ thống tiếp thị truyền thống vẫn hết sức nghèo nàn Có thể ghi nhận một luận điểm tương tự cho trường hợp kiểm soát

an toàn thực phẩm, bao gồm các quy định về việc sử dụng thuốc BVTV và mức dư lượng tối đa cho phép Nông dân vẫn tiếp tục thực hành sử dụng thuốc BVTV không an toàn, các loại thuốc BVTV bất hợp pháp vẫn tiếp tục được sử dụng, và thực phẩm có mức tồn

dư cao vẫn tiếp tục được bán ra Hơn nữa, mặc dù đã nắm được những kiến thức cho thấy

sự nguy hiểm của ô nhiễm vi sinh vật, những thực hành không hợp vệ sinh vẫn còn trên diện rộng, và các chính quyền địa phương lẫn trung ương vẫn tiếp tục cho phép các khu chợ có cơ sở vật chất thiếu vệ sinh được tiếp tục hoạt động

Trước khi thúc đẩy việc cải thiện mức độ an toàn và chất lượng thực phẩm, cần phải xem xét các mặt hạn chế mà nông dân và thương nhân thường gặp phải trong khi tiến hành những cải tiến này Việc thiếu kiến thức cũng là một trong những hạn chế nhưng, như sẽ được thảo luận về sau, có khi nông dân và thương nhân biết rõ những gì họ làm là không đúng, hoặc thậm chí bất hợp pháp, song họ vẫn có thể tiếp tục làm như vậy Tài liệu này kết luận rằng hệ thống tiếp thị truyền thống hiện nay làm nông dân có rất ít động lực hoặc ít khuyến khích trong việc cải thiện chất lượng và an toàn Nếu không nhận được bất cứ hỗ trợ nào, nông dân nghèo có rất ít cơ hội để tiến hành việc cải tiến Quy định pháp lý dường như cũng không phải một giải pháp thỏa đáng cho vấn đề an toàn của sản phẩm rau quả do nhà nước cấm thu phí giám sát mức độ tuân thủ các quy định trên

Tài liệu này chủ yếu dựa vào tám nghiên cứu thực tế điển hình chưa được công bố được thực hiện bởi FAO trong giai đoạn từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005 Các tài liệu tham khảo tương ứng với tình huống cụ thể của mỗi quốc gia được lấy từ chính các nghiên cứu trên, trừ khi có nhắc tới những tài liệu khác Các tác giả được yêu cầu cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn tại quốc gia do

họ phụ trách, cũng như về các quy tắc và luật lệ liên quan đến vấn đề này và các cơ quan thực thi các quy định nêu trên Họ cũng được yêu cầu thực hiện nghiên cứu trên hai chuỗi hoạt động trồng trọt cụ thể Tại Ấn Độ, nghiên cứu được tiến hành trên xoài và cà chua,

1 Tất nhiên chất lượng và an toàn cũng chịu ảnh hưởng nhiều từ người tiêu dùng và các công đoạn xử lý, bảo quản

và thực hành chế biến trong công nghiệp thực phẩm, nhưng những vấn đề này phần lớn nằm ngoài phạm vi của tài liệu này Để biết thêm thông tin về chủ đề này, xem Cuevas , R 2004

Trang 9

trong khi nghiên cứu tại Myanmar lại thực hiện trên cà chua và nho Nghiên cứu ở Nepal xem xét các chuỗi cho cà chua và chuối; tại Pakistan là nghiên cứu trên chuỗi quýt và xoài, và với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa là chuỗi đào và đọt lúa hoang Nghiên cứu tại Philippines xem xét cho xoài và rau diếp trong khi các trường hợp nghiên cứu của Thái Lan lại thực hiện trên quýt và bắp non / ngô bào tử Cuối cùng, nghiên cứu ở Việt Nam tiến hành xem xét cho chuỗi cho bắp cải và thanh long

Chương 1 liệt kê ngắn gọn các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn, bao gồm các yếu tố ở cấp độ trang trại cũng như yếu tố xuất hiện xuyên suốt chuỗi tiếp thị Tiếp theo, trong Chương 2 sẽ đề cập đến những yếu tố hạn chế khả năng cung cấp sản phẩm trồng trọt có chất lượng cao và an toàn của người nông dân, trong khi Chương 3 xem xét các vấn đề các thương nhân thường gặp phải Sau đó, Chương 4 sẽ xem xét vấn

đề trên quan điểm của người tiêu dùng Chương 5 xem xét tác động của các tiêu chuẩn và quy định hiện hành cũng như của các cơ quan thực thi chúng Chương này cũng đồng thời

đề cập đến các chương trình nhằm xúc tiến hoạt động cải thiện chất lượng và an toàn đã được thực hiện tại một số nước Chương cuối cùng có nội dung tóm tắt ngắn gọn các vấn

đề chính, thảo luận những cách thức có khả năng giúp cải thiện chất lượng và an toàn của sản phẩm trong chuỗi tiếp thị truyền thống, đồng thời cũng đưa ra một số khuyến nghị

Tài liệu đưa ra kết luận theo đó muốn cải thiện chất lượng và an toàn cần phải thừa nhận, đầu tiên, nông dân và thương nhân cần phải được thúc đẩy để thay đổi Động lực đó chủ yếu được tạo ra bằng cách gia tăng ưu đãi và giảm thiểu nguy cơ Thứ hai, cần thiết phải có sẵn thông tin và các nguồn lực để tạo điều kiện cho các bên liên quan thực hiện những những thay đổi nêu trên Ưu đãi có thể đến từ kết quả của những thay đổi trong nhu cầu tiêu dùng Ở châu Á, các chương trình không chỉ nhằm thúc đẩy tiêu thụ rau quả

mà còn nhằm mang đến lời khuyên cho người tiêu dùng về các khía cạnh chất lượng Không rõ liệu các kênh tiếp thị truyền thống có thể điều chỉnh để cung cấp các sản phẩm

có chất lượng tốt hơn hay điều này sẽ chỉ có thể được thực hiện thông qua các kênh tiếp thị mới, chẳng hạn như các siêu thị, vốn vượt trội hơn các kênh hiện có về mặt này

Tài liệu cũng đề xuất các chính phủ cần phải nhìn nhận các khu chợ không đơn thuần chỉ như nguồn thu, đặc biệt nếu họ muốn các kênh tiếp thị truyền thống này có thể tiếp tục tồn tại khi phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các siêu thị Thông qua việc cải tiến phương thức quản lý có thể tạo ra tiến bộ đáng kể tại các chợ Chính quyền địa phương nên dùng các khoản phí thu từ chợ để tiến hành tái đầu tư vào chính các khu chợ này và, khi có thể, nên khuyến khích nguồn vốn tư nhân đầu tư vào các chợ Các chợ bán buôn / bán sỉ cũng cần tiến hành khảo sát tính khả thi của việc xây dựng các khu vực riêng biệt chuyên kinh doanh rau quả đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng sản phẩm Nên tiếp tục đẩy mạnh các cách thức để nông dân liên kết với người bán lẻ thông qua các kênh truyền thống, bao gồm cả thông qua tổ chức thành các nhóm, các cụm, các hiệp hội, hợp tác xã, vv Chính phủ cũng nên xem xét cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho các loại rau quả đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất quy định và cũng nên khảo sát tiềm năng sử dụng các thương hiệu hoặc tên gọi đã đăng ký khác

Trang 10

Các quốc gia nên xây dựng các chương trình đào tạo cho các thương nhân và cho các đại lý thuốc BVTV Đối với nông dân, chúng tôi khuyến khích sử dụng các tờ rơi giới thiệu bằng tiếng địa phương nhằm cung cấp những khuyến nghị về phương pháp trồng trọt, xử lý và tiếp thị cho các loại cây trồng khác nhau tuân thủ kỹ thuật Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) cũng như các kỹ thuật cải tiến khác cho từng loại cây trồng cụ thể Có thể

sử dụng các chương trình phát thanh và truyền hình và chúng đặc biệt hữu ích ở nơi có số lượng người mù chữ cao Giáo dục và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng cũng trở nên quan trọng một khi quá trình sản xuất các sản phẩm an toàn hơn và có chất lượng cao hơn được thúc đẩy

Cuối cùng, tài liệu kết luận rằng các chính phủ nên chú ý hơn đến vấn đề ô nhiễm

vi sinh vật Trong khi các nguồn lực được dành cho việc kiểm soát thuốc BVTV và giám sát mức dư lượng tối đa, thì các dạng ô nhiễm khác lại ít được quan tâm đến Cần phải xác định các biện pháp nhằm giảm thiểu các dạng ô nhiễm này, đồng thời cũng cần phổ biến rộng rãi các thông tin liên quan cho nông dân và thương nhân Nên có nghiên cứu kỹ hơn

về các nguyên nhân gây ô nhiễm trong quá trình sản xuất và tiếp thị

Trang 11

CHƯƠNG 1 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN

CÁC SẢN PHẨM TRỒNG TRỌT

Các vấn đề chính về chất lượng và an toàn sẽ được thảo luận dưới đây,2 và nội dung tiếp theo sẽ trình bày những vấn đề này có thể phát sinh như thế nào trong chuỗi từ sản xuất đến tiếp thị sản phẩm ở châu Á

cụ làm vườn, bởi móng tay của người thu hái và phân loại, bởi cuống của những quả khác, do góc cạnh nhám của bao bì đóng gói, vv Sự cố tại kho bảo quản có thể khiến cho trái cây bị chín quá, sản phẩm trở nên quá mềm và không còn đáp ứng yêu cầu về độ chín tới và hình thức của người tiêu dùng Hiện tượng thối rữa sinh ra do ô nhiễm vi sinh vật

có thể trở nên đặc biệt nghiêm trọng trong điều kiện khí hậu ấm nóng và độ ẩm tương đối cao Sản phẩm bị hư thối khi bảo quản lại làm ô nhiễm các sản phẩm còn lại và đẩy nhanh tốc độ làm hư hỏng sản phẩm Khi bảo quản những sản phẩm sinh ra khí ethylene cùng một chỗ với những sản phẩm nhạy cảm với ethylene sẽ làm xuất hiện những phản ứng không mong muốn, trong đó có hiện tượng rau quả mất màu hay úa vàng Đối với khoai tây, khí này lại kích thích quá trình nảy mầm

Trong khi người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận ra một số khiếm khuyết chất lượng, chẳng hạn như vết bầm dập và hư thối, ngay tại các điểm bán hàng, thì họ lại không có cách nào để phát hiện sự hiện diện của các chất nguy hiểm Nhiều tác nhân gây bệnh có thể có mặt trên sản phẩm tươi sống Các loại virus, vi khuẩn và ký sinh trùng đều có thể hiện diện trên cùng một sản phẩm, song vi khuẩn là nguyên nhân chính gây ra các bệnh liên quan đến việc tiêu thụ rau quả Các nguồn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm chính bao gồm việc sử dụng phân động vật chưa qua xử lý làm phân bón, sử dụng nước ô nhiễm để tưới tiêu hoặc rửa rau quả và do mất vệ sinh cá nhân hay do nông dân và công nhân thiếu tuân thủ yêu cầu về thực hành vệ sinh Trong khi việc nhiễm vi sinh vật là một mối đe dọa tiềm

ẩn hết sức nghiêm trọng đối với sức khỏe, thì cho đến nay người tiêu dùng quan tâm chủ yếu đến dư lượng thuốc BVTV Hóa chất nông nghiệp được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như thuốc diệt cỏ, thuốc diệt côn trùng, thuốc diệt nấm, thuốc xông hơi, thuốc diệt chuột, các chất tác động đến quá trình sinh trưởng, những chất tạo rào cản như các loại

2

Nhằm bổ sung cho các nghiên cứu thực tế, phần này căn cứ nhiều vào tài liệu của FAO, 2004 ( Xem phần Tài liệu tham khảo và đọc thêm)

Trang 12

sáp, và chất khử trùng Việc sử dụng những hóa chất này gây ra mối quan ngại cho người tiêu dùng ngay cả khi chúng được sử dụng đúng theo khuyến nghị của nhà sản xuất Ở châu Á việc sử dụng hóa chất nông nghiệp thường không tuân thủ các thao tác thực hành được khuyến cáo như sẽ được thảo luận dưới đây

Để tiện trình bày thảo luận, các giai đoạn trong sản xuất và chuỗi tiếp thị sản phẩm trồng trọt mà tại đó yếu tố chất lượng và an toàn có thể bị ảnh hưởng được tập hợp thành các nhóm sau đây:

- sản xuất;

- thu hoạch và xử lý ngay lập tức sau thu hoạch;

- đóng gói, vận chuyển và bảo quản ;

- giấm chín và chế biến sản phẩm; và

- tiếp thị bán buôn cùng bán lẻ

Các yếu tố trong quá trình sản xuất

Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn trong quá trình sản xuất bao gồm:

 Giống cây trồng Sự lựa chọn giống cây trồng có thể tác động lớn đến chất lượng sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng, và các nhà lai tạo giống hiện đang tăng cường phát triển những giống có vòng đời thích hợp Ví dụ, tại Myanmar, quả của các giống cà chua lai phù hợp để vận chuyển đường dài hơn so với quả của các giống bản địa, do chúng có vỏ dày hơn

 Đất Đất có hàm lượng nitrate cao có thể làm nảy sinh một số vấn đề sức khỏe, đặc biệt đối với các loại rau ăn lá Một số loại đất lại chứa quá nhiều kim loại nặng, chẳng hạn như thủy ngân, cadimi, crom, asen và chì, trong quá trình sinh trưởng cây trồng có thể hấp thụ những kim loại này

 Tưới tiêu Quá nhiều nước có thể khiến cho sản phẩm dễ bị hỏng Quá ít nước có thể khiến sản phẩm trở nên nhỏ, còi cọc, và khiến cho quả có ít nước hay bị khô Đối với những sản phẩm không được tưới nước, sau khi trải qua một đợt khô hạn, nếu tiếp đó lại gặp phải thời tiết ẩm ướt có thể khiến cho vỏ quả bị rạn nứt Quá trình tưới cây thường sử dụng nước mặt Chất lượng nước mặt có thể là một vấn đề lớn đối với hoạt động trồng trọt trong khu vực thành thị hoặc vùng phụ cận, do nước thải đô thị thường được xả thẳng vào các sông suối ở đó, tuy nhiên nguy cơ này có thể xuất hiện cho mọi khu vực Việc xả thải ở thượng nguồn các con sông hay nước thải công nghiệp có tác động đáng kể tới chất lượng nước Nguy cơ hình thành từ thói quen tưới nước bằng cách phun lên toàn bộ cây chứ không chỉ tưới vào phần rễ cây, vấn đề càng thêm nghiêm trọng với những sản phẩm ăn sống Những nghiên cứu cho trường hợp điển hình cho thấy hiếm khi chất lượng nước tưới được kiểm tra

 Vị trí Nhiễm bẩn từ không khí có thể xảy ra khi các trang trại nằm gần đường giao thông, nhà máy, vv

 Các chất ô nhiễm hình thành tự nhiên Những chất này có thể bắt gặp trên cả trái cây lẫn rau quả Một số loài thực vật có thể sản sinh độc tố, ví dụ như hợp chất

Trang 13

phytohaemagglutinin trong đậu đỏ, hợp chất solanine trong cà chua và khoai tây,

và hợp chất oxalate có trong rau chân vịt.3

 Sử dụng phân động vật chưa được xử lý Việc sử dụng phân động vật chưa được

xử lý làm phân bón làm tăng khả năng lây nhiễm E coli cũng như các tác nhân gây

bệnh khác Ở miền bắc Philippines, một mối quan ngại được ghi nhận chính là hiện tượng bón quá nhiều phân gà cho rau diếp Ở Thái Lan và các nơi khác, phân động vật không được xử lý trước khi dùng để bón cây và sau khi bón, cây trồng cũng không trải qua thời gian đủ cho phân tươi phân hủy và ngấm hết vào đất

 Dịch bệnh, sâu hại và các tác nhân gây hại khác Các nghiên cứu trên một số trường hợp điển hình đã ghi nhận hiện tượng một số người tiêu dùng ưa thích mua rau quả rõ ràng đã bị sâu bệnh tấn công với lý do những sản phẩm đó có khả năng không bị phun thuốc BVTV Tuy nhiên, nói chung, các nghiên cứu trên cũng ghi nhận thực tế người tiêu dùng có xu hướng mua hàng căn cứ vào vẻ ngoài của sản phẩm Yêu cầu trái cây không có tì vết rất quan trọng, đó là lý do tại sao nông dân thường buộc phải sử dụng hóa chất nông nghiệp dưới áp lực từ chuỗi tiếp thị Những rủi ro mà người nông dân phải đối mặt trong sản xuất rất đáng kể Ví dụ, có khoảng 500 loài côn trùng có thể tấn công cây xoài, và nông dân ở Ấn Độ phải đối mặt với 45 phần trăm trong số chúng

 Sử dụng thuốc BVTV Ở các nước được nghiên cứu, có bằng chứng rõ ràng về lạm dụng thuốc BVTV Kiến thức về phương pháp tiếp cận Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) không được phổ biến rộng rãi và việc sử dụng thuốc BVTV có xu hướng tuân theo một lịch trình chứ không phải dựa trên phương thức tiếp cận theo nhu cầu Ví dụ, trong mùa mưa, thuốc BVTV có thể được phun tới mười ba lần trên cây xoài ở Mindanao thuộc Philippines Ở những địa phương có tiến hành bao4 trái xoài, không cần thiết phải tiến hành phun thuốc khi đã ngoài bảy mươi ngày tính từ khi cây ra hoa, nhưng ở những địa phương không áp dụng kỹ thuật này, điều này khá phổ biến ở Philippines, việc phun thuốc (thường phun hỗn hợp vài loại thuốc BVTV cùng một lúc) có thể vẫn tiếp tục cho tới chỉ một vài ngày trước khi thu hoạch Người nông dân thường phun thuốc quá mức cần thiết nhằm đạt mục đích sao cho trái cây của họ phát triển không có khiếm khuyết và đáp ứng được yêu cầu chất lượng theo quan điểm của kênh tiếp thị Tính toán cho thấy chi phí cho lượng thuốc BVTV và việc sử dụng chúng chiếm đến 34 phần trăm giá thành sản xuất cà chua ở vùng Cao nguyên Myanmar Hầu hết các nghiên cứu trên các trường hợp điển hình đều chỉ ra thực tế nông dân chú trọng vào việc tối đa hóa sản lượng hơn việc giảm thiểu mức dư lượng thuốc BVTV Điều này vẫn tồn tại bất chấp thực tế nhiều người nhận thức rõ về những nguy hiểm vốn có trong hoạt động sản xuất của họ Ví dụ, nông dân ở Nepal nói rằng họ không dám cho vật nuôi của nhà ăn các phần phụ phẩm rau màu, vì họ không muốn giết chúng (bởi dư lượng thuốc BVTV có trong đó)! Nông dân ở một vài quốc gia được khảo sát đại

3 Moy, 2005

Trang 14

diện đã phát biểu rằng họ không dám ăn những gì chính mình làm ra Ở Việt Nam, chỉ tính trong năm 1995 đã có 200 loại thuốc diệt côn trùng, 83 loại thuốc diệt nấm

và 52 loại thuốc diệt cỏ được sử dụng, đã có nhiều báo cáo về các ca tử vong do ngộ độc có khả năng do ăn phải rau quả nhiễm độc

Nghiên cứu trường hợp điển hình tại Thái Lan ghi nhận trong mỗi vụ quýt, thuốc BVTV được sử dụng từ 9 đến 72 lần mỗi năm, và trung bình 32 lượt áp dụng mỗi năm Hơn nữa, được biết nông dân còn sử dụng liều lượng cao hơn nồng độ khuyến cáo trên nhãn Đã có một số báo cáo ghi nhận trường hợp ngộ độc thuốc BVTV trong những người sống gần các trang trại trồng quýt Một vài trong số những nghiên cứu điển hình đơn lẻ cũng ghi nhận hiện tượng nhiều hóa chất BVTV bị cấm vẫn tiếp tục được sử dụng; những chất này có lẽ đã được nhập lậu từ quốc gia láng giềng và được nông dân sử dụng do chúng có giá rẻ hơn và bởi bản thân người nông dân không biết những chất này đã bị cấm Năm mươi phần trăm nông dân trồng cà chua và tất cả nông dân trồng nho được khảo sát tại Myanmar vẫn sử dụng monocrotophos, vốn bị cấm trong nước Nông dân trồng xoài ở Ấn Độ

sử dụng chất cấm methyl parathion để chống lại loài bọ nhảy trên xoài Nghiên cứu cho trường hợp điển hình tại Ấn Độ đã báo cáo về 23 loại thuốc BVTV bị cấm vẫn tiếp tục sẵn có không bị quản lý trong nước Tại Pakistan, thuốc BVTV được chỉ định cho cây công nghiệp, chẳng hạn như bông, cũng thường bị sử dụng sai mục đích cho các loại rau Đôi khi, lượng sử dụng trên rau còn vượt quá mức khuyến nghị dùng cho bông Việc thất thoát thuốc BVTV diễn ra khá thường xuyên và các bình chứa rỗng thường không được xử lý đúng cách và trở thành một nguồn gây ô nhiễm

Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch

Các vấn đề liên quan đến thu hoạch bao gồm:

 Thuốc BVTV và thời gian thu hoạch Thời gian khuyến cáo tính từ lần phun thuốc cuối cùng đến thời điểm thu hoạch đôi khi không được tuân thủ, do nông dân không biết đến các yêu cầu này, hoặc bởi vì họ hay thương lái muốn tận dụng thời điểm giá cao hoặc do họ đang cần tiền mặt gấp Tiến hành một số lần phun thuốc đúng cách trước khi thu hoạch vừa có thể trì hoãn thời gian trái chín đồng thời cũng kéo dài thời gian bảo quản Tuy nhiên, ở Việt Nam, một số nông dân phun dưa hấu bằng một loại dung dịch hóa chất dường như chỉ nhằm mục đích khiến cho vỏ quả dưa sáng bóng hơn, trông hấp dẫn hơn để dễ bán

 Thu hoạch sớm Thời điểm thu hoạch tối ưu rất dễ nhận biết Tuy nhiên, các nghiên cứu trường hợp điển hình cho rằng sản phẩm rau quả thường xuyên bị thu hoạch quá sớm so với giai đoạn có thể cung cấp cho người tiêu dùng chất lượng tuyệt hảo Lý do để tiến hành thu hoạch sớm có thể bởi khu vực sản xuất nằm cách

xa chợ, hay do phương thức tiến hành thu hoạch đồng loạt trên cả cánh đồng hoặc

cả cây, chẳng hạn như khi nhà thầu tiến hành thu hoạch hoặc do tiến hành thu

Trang 15

hoạch bằng máy móc cơ khí, hay khi có cùng lý do như khi nông dân bỏ qua những khuyến nghị về khoảng cách thời gian từ lần phun thuốc cuối đến khi thu hoạch Việc thu hái sớm khiến cho sản phẩm dễ gặp phải những rối loạn về mặt sinh lý Phần lá thu hoạch trước khi đủ trưởng thành thường héo nhanh chóng và trở nên khó bán

 Thu hoạch muộn Một số nông dân sử dụng thuốc BVTV để trì hoãn thời điểm thu hoạch, kỹ thuật này đôi khi được các nhà sản xuất rượu vang nho trên thế giới

sử dụng Theo tường trình, nông dân trồng thanh long ở Việt Nam cũng thực hiện điều này để trì hoãn thời điểm thu hoạch sản phẩm cho đến khi giá cả tăng lên

 Kỹ thuật và trang bị dùng để thu hoạch Kỹ thuật thu hoạch kém có thể khiến cho rau quả nứt, vỡ, bẹp, bầm dập, do đó thúc đẩy quá trình hư hỏng về mặt sinh lý cũng như nhiễm bệnh Kéo xén, dao, túi thu hoạch và thùng bẩn cũng có thể gây nhiễm bẩn, chẳng hạn như khi các sản phẩm thu hoạch được đặt trên mặt đất và xếp lẫn lộn các sản phẩm sạch và bẩn với nhau Các nghiên cứu trường hợp điển hình cũng cho thấy các thùng chứa thường không được vệ sinh sạch sẽ

 Thời gian thu hoạch trong ngày Thời điểm nhiệt độ trong ngày mát nhất là lúc thích hợp nhất để thu hoạch sản phẩm Tuy nhiên, cần phải cân đối giữa thời điểm thu hoạch và thời gian vận chuyển Nếu các kênh tiếp thị không cho phép gom hàng sớm ngay sau khi thu hoạch thì lợi ích của việc thu hoạch vào lúc mát nhất trong ngày cũng mất đi do sản phẩm phải nằm chờ ở trang trại dưới nắng nóng Dưới tác động của ánh nắng mặt trời, lượng nước mất đi có thể nhiều hơn gấp bốn lần Có thể sử dụng một vài biện pháp bảo vệ chống mất nước như bảo quản sản phẩm dưới bóng râm và phủ kín bằng lớp vải đẫm ướt, song biện pháp này hiếm khi được thực hiện

 Nông dân có thể sơ chế rau quả trước khi bán đi Hoạt động sơ chế có thể bao gồm việc phân loại, cắt tỉa, rửa, lau, chà, làm sạch nhựa / mủ và kiểm soát dịch bệnh sau thu hoạch, ví dụ như phòng ngừa bắp cải bị thối mềm Ở hầu hết các nước, chỉ những người trồng quy mô lớn mới tiến hành phân loại sản phẩm theo kích thước và độ chín tại xưởng đóng gói của họ Ngay cả ở những nơi xưởng đóng gói được sử dụng rộng rãi thì những xưởng này cũng thường nằm cách xa trang trại Việc trì hoãn hoặc không tiến hành xử lý nhằm kiểm soát mức độ sinh trưởng của vi sinh vật, đặc biệt ở những nơi có nhiệt độ và độ ẩm tương đối cao, có thể làm gia tăng mức độ hư hỏng và tốc độ lan truyền của các tác nhân gây bệnh trong thực phẩm Các phần rễ, rễ củ và các cây trồng khác thường được rửa trước khi đem bán Các loại rau khác, đặc biệt với rau ăn lá, thường được nông dân tưới nước lên để làm cho chúng trông tươi hơn (và cũng làm tăng trọng lượng của rau!) Chất lượng nước được sử dụng để rửa như là thường có vấn đề và nông dân ít có kiến thức về ô nhiễm do nước gây ra Sản phẩm phải được để ráo hoàn toàn trước khi bán; thông thường những vật dụng dùng để làm ráo nước cũng trở thành một nguồn gây ô nhiễm

Những người lao động tại nông trại bao gồm các thành viên trong gia đình có thể

là nguồn gây ô nhiễm sinh học và vật lý trong quá trình xử lý các loại rau quả Sản phẩm có thể bị ô nhiễm do tay bẩn, do hắt hơi, ho, và nhổ nước bọt Các nguồn gây

Trang 16

lá và xử lý thức ăn thừa và rác thải Sản phẩm trong lúc chờ được mua hoặc chờ thương lái thu gom thường được giữ ở nhiệt độ môi trường và bày bán bên cạnh đường cái Động vật có thể đi lại một cách tự do gần các loại rau quả và hiếm khi rau quả được che đậy tránh bụi hoặc các chất ô nhiễm khác

Đóng gói, vận chuyển và bảo quản

Sản phẩm rời khỏi tay nông dân trong tình trạng hoàn hảo vẫn có thể đến tay người tiêu dùng trong tình trạng rất xấu Những yếu tố góp phần gây ra hiện tượng này bao gồm :

 Chất lượng bao bì Thùng chứa thường được làm từ nguyên liệu sẵn có tại địa phương Những nguyên liệu này có giá thành rẻ nhưng cũng nhiều nhược điểm Độ cứng kém, cùng với phương thức thực hiện vận chuyển kém, có thể dẫn đến sản phẩm bị bẹp và dập nát Cạnh sắc có thể gây trầy xước hoặc đâm xuyên qua sản phẩm Ngay cả khi sử dụng thùng chứa được làm từ vật liệu có chất lượng tốt thì chúng cũng có xu hướng bị nhồi nhét đầy tràn, dẫn đến những hư hại cho sản phẩm Điều này đặc biệt hay xảy ra khi quá trình vận chuyển được tính trên cơ sở

"mỗi phần" Các khay hay thùng chứa hiếm khi được lót đệm để bảo vệ trái cây tránh tiếp xúc với bao bì cũng như tránh thiệt hại trong thời gian chờ chuyển tiếp; nếu thùng chứa có được lót thì cũng thường chỉ được lót bằng giấy báo cũ Hư hỏng thường xảy ra khi nắp được đóng đinh bên trên Sản phẩm đôi khi được đóng gói trong túi nhựa hoặc túi lưới, dạng bao bì này chỉ mang lại rất ít hoặc không có tác dụng bảo vệ

 Vật liệu đóng gói bẩn Các thùng chứa thường được tái sử dụng Việc vệ sinh thùng chứa, nếu có được tiến hành thì cũng thường rất qua loa Hầu như không thể làm sạch hoặc khử trùng các loại vật liệu truyền thống, và khi đó vật liệu bao gói cũng trở thành nguồn gây ô nhiễm khi được sử dụng lại

 Phương tiện vận chuyển bẩn Trong trang trại, cùng một phương tiện vận chuyển

có thể được sử dụng để vận chuyển phân chuồng, súc vật sống, các hóa chất nông nghiệp và phân bón cũng được sử dụng để chuyên chở sản phẩm tươi sống ra chợ Các loại xe do súc vật kéo hoặc rơ-moóc máy kéo không thường xuyên được làm sạch hiệu quả, các sản phẩm để bán lại thường xuyên được vận chuyển với số lượng lớn, do đó chúng sẽ thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với các chất ô nhiễm trong xe Có thể nhận thấy nhiều vấn đề tương tự trong suốt chuỗi tiếp thị, chẳng hạn như xe tải thường được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ trường hợp của một vài loại cây trồng như dưa hấu và bắp cải, thông thường ít nhất sản phẩm cũng được đóng gói trong dạng bao bì cơ bản khi cần vận chuyển Ngay

cả khi xe tải chuyên dụng để chở rau quả, nếu xe không được vệ sinh sạch sẽ thì những phần rau quả thối còn sót lại trên xe sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm

 Thực hành trong vận chuyển Sản phẩm thường bị hư hại khi người ta cố gắng nhồi nhét càng nhiều thùng hàng càng tốt lên xe nhằm tận dụng tối đa tải trọng của

xe Điều này đã làm lãng phí đáng kể công chăm sóc được thực hiện tại thời điểm

Trang 17

đóng gói Sản phẩm còn có thể bị hỏng do chạy xe trên những đoạn đường xấu, xe chạy quá tốc độ trên những con đường xấu, do vận chuyển trong cái nóng của ban ngày và do hạn chế lưu thông không khí trong xe khi các thùng hàng bị xếp sát vào nhau Các thùng hàng đặt phía dưới cùng trong xe tải có thể bị bẹp khi vận chuyển đường dài Xe chở hàng cũng thường có thể gặp sự cố hỏng hóc, việc này có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm khi cuối cùng chúng cũng đến được chợ Kết hợp vận chuyển nhiều loại sản phẩm có các yêu cầu khi chuyên chở khác nhau trong cùng một xe cũng có thể làm phát sinh nhiều vấn đề Trái cây có thể sản sinh

ra khí ethylene đôi khi lại được vận chuyển lẫn với những sản phẩm nhạy cảm với ethylene

 Xử lý Sản phẩm có thể trải qua nhiều lượt xử lý trên đường đến tay người tiêu dùng cuối cùng Chủ thể tiến hành công việc xử lý, thường là lao động phổ thông,

ít nhận được những khích lệ để họ thao tác nhẹ nhàng cẩn thận khi xử lý các loại rau quả và cũng thường xuyên chịu áp lực buộc phải nhanh chóng thực hiện công việc của họ Thao tác thô bạo trong khi xử lý gây ra những vết bầm dập cũng như các hư hại khác

 Thực hành bảo quản Hầu hết các sản phẩm trồng trọt không thích hợp để bảo quản dài hạn Một số loại rễ và rễ củ, hành tây và tỏi, táo, lê và cam quýt là trường hợp ngoại lệ Cần tách riêng những trái cây đã chín, đang nhả ra khí ethylene khỏi những trái cây chưa chín trước khi mang đi bảo quản, song điều này không phải lúc nào cũng được tiến hành Mỗi loại cây trồng lại có nhiệt độ và độ ẩm tương đối kết hợp tối ưu để bảo quản Trong nhiều trường hợp có sự khác biệt giữa các giống rau quả khác nhau Vì vậy, theo lệ thường, nên bảo quản các sản phẩm khác nhau trong các kho khác nhau, nhưng không gian trong kho chỉ có hạn nên điều này cũng hiếm khi thực hiện được Nhà kho thường khá bẩn và được dùng để nhập hàng bao gồm nhiều sản phẩm khác cũng như sản phẩm tươi sống Thuốc BVTV cũng được sử dụng cho mục đích bảo quản rau quả Tại Việt Nam, chất cấm DDT vẫn được sử dụng để bảo quản hành tía

Bảo quản lạnh cũng thường được sử dụng để kéo dài tuổi thọ cho rau quả sau thu hoạch, mặc dù điều này không phổ biến trong chuỗi tiếp thị truyền thống tại châu

Á Khi làm lạnh cần chú ý để tránh gây ra thương tổn do đông lạnh do nhiệt độ thấp cũng có thể gây tổn hại cho mô thực vật Ví dụ, nếu đặt nhầm mức nhiệt độ quá thấp, hiện tượng đông lạnh có thể khiến cho các tinh thể nước đá hình thành bên trong các mô, dẫn đến hiện tượng phá vỡ toàn bộ các mô khi rã đông Vỏ chuối ngả sang màu đen có thể là dấu hiệu sản phẩm bị đông lạnh, biểu hiện của cà chua, cà tím và ớt chuông là quả trở nên mềm nhũn, xuất hiện các phần nhăn nheo Các sản phẩm yêu cầu nhiệt độ bảo quản khác nhau thường được trộn lẫn với nhau trong quá trình vận chuyển và lưu trữ

Trang 18

Giấm chín và sơ chế sản phẩm

Trong chuỗi tiếp thị, chuối và xoài thường được giấm chín bằng cách sử dụng hóa chất Thương lái cũng có thể tiến hành sơ chế sản phẩm bằng cách khác như xếp hạng, phân loại, rửa và làm sạch, phủ sáp, xử lý chống nấm mốc và sâu bệnh, nhuộm màu và tưới nước để giữ cho quả tươi Hầu hết các hoạt động như trên đều có ý nghĩa về cả chất lượng

và an toàn

 Rửa Rửa bề mặt sản phẩm có thể làm giảm nguy cơ tổng thể của việc ô nhiễm vi sinh vật Tuy nhiên, điều quan trọng là phải sử dụng nước sạch và cần thay nước thường xuyên, nhưng điều này không phải lúc nào cũng thực hiện được

 Sử dụng thuốc chống nấm và thuốc diệt côn trùng Một số sản phẩm được xử lý bằng thuốc diệt côn trùng để bảo vệ chúng trước các loại sinh vật gây hại, chẳng hạn như sâu bướm đêm (army worm) Thuốc chống nấm được sử dụng để khử trùng bề mặt cho các loại cam chanh và xoài Nghiên cứu trường hợp điển hình cho thấy liều lượng sử dụng loại hóa chất trên tương đối cao, do người ta tin rằng điều này sẽ giúp quá trình xử lý đạt hiệu quả hơn Ở Mindanao, Philippines một số thương lái sử dụng benomyl để xử lý sau thu hoạch nhằm giúp chuối không bị thối nhũn, mặc dù loại thuốc chống nấm này đã bị thu hồi Đôi khi thuốc được phun trước khi thu hoạch nhằm mục đích xử lý sản phẩm sau thu hoạch, mặc dù thực tế yêu cầu việc phun thuốc như vậy phải được áp dụng muộn nhất bảy ngày trước khi thu hoạch Nông dân và thương lái đôi khi phun trực tiếp thuốc diệt côn trùng lên rau quả để côn trùng phải tránh xa sản phẩm.5

 Giấm chín Có một vài cách khác nhau để làm chín chuối và xoài Ở Ấn Độ, Pakistan, Philippines và Thái Lan, người ta vẫn sử dụng đất đèn, mặc dù về mặt kỹ thuật, ở Ấn Độ chất này đã bị cấm vì nó có chứa nhiều tạp chất, trong đó có asen hydrua (= arsenic hydride AsH3).6 Liều lượng sử dụng được khuyến nghị thường không được tuân thủ Một hóa chất được sử dụng ở Ấn Độ để làm chín chuối và giúp cho quả có màu vàng bóng được bán dưới dạng một chất điều tiết tăng trưởng, chứ không phải là một tác nhân làm chín Loại quả bị giấm chín ép thường có hương vị hoặc mùi thơm không đạt yêu cầu do chưa đạt đủ độ chín trước khi thu hoạch Mặc dù xét từ góc độ thương mại việc làm này có lẽ cần thiết, song quá trình giấm chín trái cây ở nhiều nước châu Á lại tác động không tốt đến cả chất lượng lẫn độ an toàn sản phẩm

Bởi vì các thương lái ở Myanmar thường mua một số lượng lớn cà chua từ khi còn xanh, nên cần tiến hành giấm chín chúng Điều này vẫn được thực hiện bất chấp thực tế khi mà những người bán buôn tại Yangon nhận thấy quá trình này tạo ra

5

R Cuevas , FAO Thông tin liên lạc cá nhân 2005.

6 Ấn Độ đã hủy 8,5 tấn trái cây chín với đất đèn The Hindu Business Line Internet Edition, 16 tháng 5 năm 2005

Trang 19

những sản phẩm kém chất lượng với thời hạn sử dụng rất ngắn, do cà chua trở nên mềm nhũn trong khi vận chuyển

 Tưới nước Các loại rau ăn lá thường xuyên được tưới nước để giữ độ tươi trong quá trình vận chuyển cũng như tại các chợ Một lần nữa, chất lượng nước được sử dụng có thể không phù hợp cho hoạt động này

 Phủ sáp, nhuộm màu và các phương pháp xử lý khác Quá trình phủ sáp được thực hiện nhằm giảm độ mất nước, để gắn kín những chỗ bị trầy nhẹ và để thay thế cho các lớp sáp tự nhiên đã mất đi trong khi rửa quả Cũng có thể sử dụng nhiều loại sáp với công dụng tương tự như một số loại thuốc chống nấm Hiển nhiên, quan trọng là các loại sáp cũng như những phương pháp xử lý khác phải được cho phép sử dụng cho tiêu dùng của con người, mà điều này không phải luôn luôn đúng như vậy Ở Ấn Độ, một số loại trái cây được thương lái làm bóng bằng cách

sử dụng dầu bôi trơn, dầu này lại bị nghi ngờ có khả năng gây ung thư Cũng đã ghi nhận trường hợp nhiều người bán hàng sử dụng Furadan, một loại thuốc diệt côn trùng, để tạo cho cà tím có độ bóng và màu tím đậm Cũng tại Ấn Độ, thuốc nhuộm màu xanh lá cây được dùng để nhuộm màu cho ớt, đậu bắp và dưa chuột

Hoạt động tiếp thị ở cấp độ bán buôn và bán lẻ

Nhiều chính quyền đô thị, nhưng không phải tất cả, tại các nước châu Á có xu hướng coi các chợ như nguồn thu chứ không phải với tư cách những tổ chức cần thiết nhằm cung cấp thực phẩm có chất lượng và an toàn cho người tiêu dùng một cách hiệu quả Tiêu chuẩn áp dụng tại các chợ cũng như trong nhiều hoạt động tiếp thị thực tiễn hết sức nghèo nàn Những vấn đề tại các khu chợ bao gồm:

 Điều kiện vệ sinh thiếu thốn Việc sắp xếp xử lý / thu gom rác / chất thải thường không thỏa đáng Sản phẩm thường được phân loại tại các chợ bán buôn và phần rau quả không bán được thường bị bỏ lại vương vãi thành đống Các loại rau ăn lá thường được cắt trước khi bán, phần bị cắt bỏ thường bị vứt đi mà không hề có biện pháp sắp xếp xử lý thích đáng nào

 Sản phẩm tiếp xúc với điều kiện môi trường xung quanh Chợ ở nhiều nước thường không có mái che và sản phẩm phải tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng mặt trời

và nước mưa, và điều này khiến cho chất lượng sản phẩm giảm đi nhanh chóng

 Vật liệu đóng gói và thực hành đóng gói kém Sản phẩm thường được vận chuyển giữa các chợ trong các bao bì tái sử dụng Ví dụ, nghiên cứu trường hợp điển hình ở Pakistan đã báo cáo rằng bao đựng phân bón và xi măng được sử dụng

Trang 20

tỉa thường được tiến hành trên mặt đất, dưới ánh nắng mặt trời và thường tiếp xúc trực tiếp với mặt đất

 Sản phẩm bán lẻ được bày ngay trên mặt đất Nhiều khu chợ có cơ sở vật chất hạn chế và không có những quầy hàng phù hợp Ngay cả trong những chợ có cơ sở vật chất tốt, đôi khi những người bán lẻ vẫn thích bày bán sản phẩm của họ ngay trên mặt đất, tại những khu vực mà họ tin tưởng có thể thu hút được nhiều khách hàng nhất Điều này dẫn đến chất lượng sản phẩm giảm sút, và thậm chí có thể làm nhiễm bẩn sản phẩm Khả năng quản lý kém tại các chợ khiến cho những tình huống kiểu này phát sinh, dẫn đến ngày càng có nhiều người bán hàng rời khỏi khu vực bán hàng chính thức để gia nhập với các đối thủ cạnh tranh và bày bán ở những khu vực không hợp vệ sinh Vấn đề thường gặp phải ở các chợ bán lẻ là khu vực xây dựng có mái che, được thiết kế có mục đích phục vụ cho những người bán rau quả, lại do những người bán mặt hàng quần áo và đồ khô thuê dùng

 Công đoạn sơ chế do người bán lẻ và người tiêu dùng thực hiện Nhiều khu chợ bán lẻ thiếu nhà vệ sinh hoặc các thiết bị rửa phù hợp, khiến cho người bán hàng

có điều kiện vệ sinh kém Sản phẩm bày bán thường được người tiêu dùng lật qua lật lại từng món để lựa chọn Điều này có thể khiến cho sản phẩm bị bầm dập và bị nhiễm bẩn

Trang 21

CHƯƠNG 2 CÁC YẾU TỐ KÌM HÃM NGƯỜI NÔNG DÂN CUNG CẤP RAU

QUẢ CÓ CHẤT LƯỢNG VÀ AN TOÀN

Chương 1 đã xem xét cân nhắc những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn của các loại rau quả trong chuỗi tiếp thị ở châu Á Đã có những kiến thức tổng quát bao gồm các lý do kỹ thuật nhằm giải thích vì sao rau quả có chất lượng kém cũng như các kỹ thuật

để cải thiện hay bảo toàn chất lượng sản phẩm được các nhà nghiên cứu và các chuyên gia hiểu rõ Cũng đã có sẵn các tài liệu đào tạo hướng dẫn cách tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt, cách thức phòng tránh lây nhiễm vi sinh vật, và hướng dẫn cải thiện phương pháp sơ chế sau thu hoạch Tương tự như vậy, một lượng lớn kiến thức về phương pháp canh tác ít sử dụng thuốc BVTV, chẳng hạn như thông qua phương pháp tiếp cận Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), và các chương trình tập huấn IPM đã được thực hiện ở nhiều nước Khi mà kiến thức đã được phổ biến rộng rãi, thì lúc này cần đặt câu hỏi tại sao những vấn đề liên quan đến chất lượng và độ an toàn vẫn tiếp tục là mối quan ngại lớn trong hệ thống tiếp thị các loại rau quả truyền thống ở Châu Á Vậy tại sao những người nông dân lại không áp dụng những kiến thức này?

Từ các nghiên cứu tiến hành trên trường hợp điển hình, có thể đề xuất ba nhóm lý

do giải thích vì sao các hoạt động cải tiến không được làm theo cũng như các kỹ thuật đã biết không được chấp nhận sử dụng: nhóm yếu tố thị trường, nhóm yếu tố kinh tế xã hội bao gồm những hạn chế về mặt tài chính, và nhóm yếu tố về thông tin và nhận thức Các yếu tố trên sẽ được thảo luận cụ thể dưới đây Cách phân loại theo nhóm nhằm tạo điều kiện thảo luận dễ dàng hơn, song hiển nhiên sẽ có điểm chồng chéo giữa các nhóm

1 Các yếu tố liên quan đến thị trường

Các yếu tố liên quan đến thị trường bao gồm nhu cầu thị trường đối với sản phẩm có chất lượng cao và an toàn, các hoạt động tiếp thị áp dụng tại trang trại và các yêu cầu về chất lượng do thương lái áp đặt cho nông dân

Nhu cầu thị trường: nhiều nghiên cứu khảo sát thị trường ở nhiều quốc gia khác

nhau tiến hành trong khuôn khổ các nghiên cứu trường hợp điển hình cho thấy yếu tố chất lượng và an toàn có vị trí tương đối thấp trong danh sách mức độ ưu tiên của người tiêu dùng Nhìn chung, giá cả và địa điểm bán lẻ có vẻ quan trọng hơn, ngoại trừ trường hợp những người có điều kiện sống dư dả hơn Vì vậy, ngay cả khi thương nhân có nguyện vọng bán ra thị trường những sản phẩm có chất lượng cao hơn thì họ lại gặp trở ngại trong buôn bán nếu giá cả cũng tăng theo chất lượng Với những nơi áp dụng các sáng kiến để sản xuất sản phẩm có chất lượng cao hơn thì nhu cầu, số lượng các địa điểm mua bán sản phẩm đó lại hạn chế, từ đó đẩy các chương trình xúc tiến này ở một vài quốc gia vào tình trạng xấu Ở Việt Nam, những người trồng rau "an toàn" gần thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy họ chỉ có thể bán được ba mươi phần trăm sản phẩm của mình với giá cao hơn

Trang 22

thông qua các mối đầu ra chuyên biệt Phần còn lại phải đem bán tại chợ đồ tươi7 với giá phổ biến trên thị trường Một Hội Nông dân trồng rau an toàn tại Việt Nam có thể cung ứng sản lượng rau khoảng 30 tấn một ngày, nhưng chỉ bán được 700 kg mỗi ngày cho một chuỗi siêu thị Như vậy có rủi ro đáng kể khi cố gắng cung cấp những sản phẩm trong khi nhu cầu thị trường đối với các sản phẩm này còn hạn chế Rủi ro này càng trầm trọng hơn

do việc thực hành sản xuất rau "an toàn" thường cho ra sản phẩm có bề ngoài không đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường lớn Nông dân không thể thay đổi phương thức sản xuất chỉ dựa trên cánh đồng riêng lẻ trong khi yêu cầu của thị trường ngày càng gia tăng Nếu dự định tuân thủ các thực hành “an toàn” thì họ sẽ phải áp dụng chúng trên quy mô toàn trang trại, đồng thời cũng sẽ gặp rủi ro về thị trường tiêu thụ

Khi các nền kinh tế ở châu Á phát triển, khiến sức mua tăng trưởng và không khỏi kéo theo nhu cầu đối với các loại rau quả cũng tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, người nông dân, thường chỉ có diện tích đất hạn chế, buộc phải tìm cách tăng năng suất Các nghiên cứu ở Nepal đã chỉ ra chính quá trình sản xuất thâm canh là nguyên nhân chính khiến dư lượng thuốc BVTV tăng lên Một vấn đề liên quan mà FAO và một số tổ chức khác đã nỗ lực trong thời gian dài nhằm khuyến khích nông dân giải quyết vấn đề sản phẩm trúng mùa thì rớt giá bằng cách mở rộng sản xuất rau màu trái vụ Trong khi chính sách đề ra như vậy có vẻ hợp lý về mặt kinh tế đối với nông dân và có thể tạo ra thu nhập cao hơn, thực tế cũng cần thừa nhận nói chung sản xuất rau màu trái vụ sẽ phải chấp nhận khả năng thiếu hụt nguồn nước tưới thích hợp cũng như gặp phải nhiều loại sâu bệnh hơn

Do vậy, rau quả trái vụ thường cần sử dụng nhiều hóa chất nông nghiệp hơn Ví dụ, ở Nepal, người ta nhận thấy dư lượng thuốc BVTV trên rau trồng vào mùa hè cao hơn rau trồng vào mùa đông Ở Trung Quốc, trong giai đoạn 2003-2004, 19% mẫu rau trồng vào mùa hè có dư lượng thuốc BVTV vượt ngưỡng cho phép, nhưng chỉ có 4% mẫu rau sản xuất trong mùa lạnh vượt ngưỡng này8 Hệ thống tiếp thị truyền thống đã quá quen thuộc với những thay đổi bất thường của sản xuất theo mùa vụ Tuy nhiên, hiện nay các siêu thị

ở châu Á cũng học theo cách làm của các chuỗi siêu thị phương Tây và cố gắng để cung cấp sẵn có quanh năm cho hầu hết các loại rau quả Do đó, nông dân cần phải đối diện với vấn đề làm sao để cung cấp sản phẩm liên tục mà không được sử dụng quá nhiều hóa chất nông nghiệp

Thực hành tiếp thị tại trang trại: Vấn đề chủ yếu mà những nông dân có mong

muốn áp dụng các kỹ thuật và phương pháp mới để nâng cao chất lượng sản phẩm phải đối mặt chính là để làm được như vậy họ sẽ phải phát triển các kênh tiếp thị hoàn toàn mới (xem Chương 6) Đại đa số thương nhân truyền thống không sẵn sàng để mua sản phẩm có nhiều hơn một mức chất lượng, đại loại có thể mô tả mức đó như “mức chất

Trang 23

lượng trung bình” và họ cũng không được trang bị kiến thức để đưa ra các hướng dẫn đáng kể nào nhằm cải thiện chất lượng Bất kỳ hoạt động xếp loại nào cũng thường được thực hiện tại các giai đoạn sau của chuỗi tiếp thị, chứ không phải ở trang trại Như vậy, mặc dù các thương nhân cũng có thể từ chối mua sản phẩm nếu như nó không đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu nhưng nông dân cũng không được trợ giá để sản xuất những sản phẩm

có chất lượng cao hơn tiêu chuẩn nêu trên Với trường hợp dư lượng thuốc BVTV, thực tế

có thể gây nản lòng những người muốn làm ra sản phẩm an toàn hơn, bởi nếu làm như vậy, rau quả do nông dân sản xuất ra sẽ có vẻ ngoài kém hấp dẫn hơn, thậm chí có nguy

cơ không đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu của kênh tiếp thị

Khi nông dân phải đối mặt với dịch vụ tiếp thị không đáng tin cậy và rủi ro đáng

kể về mặt giá cả (ví dụ: đối với những sản phẩm dễ ế thừa) thường có rất ít khuyến khích

hỗ trợ để làm nhiều hơn số lượng tối thiểu cần thiết để bán buôn Ví dụ, trong nghiên cứu thực tế điển hình ở Thái Lan cho thấy một số nông dân trồng bắp non miễn cưỡng thay đổi tập quán canh tác của họ để theo kịp cách thức mua bán “thất thường” của thương lái Những thương lái trực tiếp thu mua sản phẩm của nông dân thường là khâu đầu tiên trong một chuỗi buôn bán khá dài, gồm nhiều phân đoạn rời rạc Trong chuỗi kinh doanh cà chua ở Myanmar, các đại lý mua cà chua từ nông dân và sau đó bán lại cho những người bán buôn / sỉ ở địa phương Sau đó, những người bán sỉ này lại cung cấp cho những người bán sỉ ở các thành phố lớn, đến lượt họ sẽ bán lại cho những người bán lẻ Việc mua bán như vậy khiến cho người nông dân khó tiếp cận được với những dấu hiệu có ý nghĩa biểu thị chất lượng Hơn nữa, các đại lý thu mua sản phẩm từ những người nông dân không căn cứ vào loại sản phẩm mà chủ yếu dựa trên tiền hoa hồng Vì lợi nhuận họ có thể thu mua số lượng nhiều nhất có thể ngay cả khi nông dân bán cho họ cà chua chưa đạt được

độ chín thu hoạch

Đôi khi thương lái cũng có khả năng giới thiệu phương pháp trồng trọt mới cho nông dân, mặc dù phải thông qua chuỗi cung ứng dài Ví dụ, ở Việt Nam, khi nông dân bắt đầu sử dụng một giống cà chua mới cho quả mềm hơn cũng như có vòng đời ngắn hơn

so với các giống đã có từ trước Thông tin này được phản hồi trở lại cho nông dân, và họ

đã không trồng giống cà chua này trong năm tiếp theo nữa Việc truyền tải thông tin về giống cây trồng có lẽ dễ dàng hơn nhiều so với việc đưa ra các chỉ tiêu chất lượng như độ chín, tình trạng bên ngoài, vv song xem ra các thương lái có thể trở thành đầu mối đầy tiềm năng và quan trọng trong việc tuyên truyền thông tin về các hoạt động thực hành sản xuất an toàn cũng như không an toàn

Có một thực tế phổ biến ở châu Á là các thương lái có thể giúp đỡ tài chính cho nông dân bằng cách tạm ứng một phần tiền để cho phép họ mua nguyên liệu đầu vào và chi trả cho lao động nông nghiệp, và trong một số trường hợp còn giúp nông dân trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày.9 Ví dụ, hàng năm người trồng xoài ở miền bắc Ấn Độ

Trang 24

được các thương nhân ở Delhi hỗ trợ nguồn vốn ước tính khoảng 300 triệu Rupee10 Với cách thu xếp như vậy, ít nhất trong ngắn hạn, giới thương nhân trở thành một thị trường hấp dẫn đối với nông dân Thương nhân cũng không thể từ chối mua các sản phẩm do khoản vay được hoàn trả căn cứ trên doanh số bán hàng Điều này có thể làm cho một bộ phận nông dân không có động lực để cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt, nhất là khi thương nhân sẽ không trả giá cao hơn cho sản phẩm có chất lượng tốt hơn hay đạt mức tiêu chuẩn quy định tối thiểu

Một thực tế phổ biến khác là thương nhân thường “mua nguyên đồng” hoặc "mua nguyên vườn" Điều này có nghĩa là thương nhân (thường được biết đến như một nhà thầu) sẽ thanh toán toàn bộ một lần cho người nông dân để mua toàn bộ sản phẩm thu hoạch từ nguyên cánh đồng rau hoặc vườn cây ăn quả Thỏa thuận mua bán có thể thay đổi tùy trường hợp: trong một số trường hợp, nhà thầu có thể thu hoạch ngay sau khi hai bên đạt được thỏa thuận; trong những trường hợp khác, hai bên sẽ thỏa thuận với nhau trước khi thu hoạch một thời gian Trong trường hợp sau, thương lái có thể tiếp nhận tất

cả công việc chăm sóc cây trồng cho đến giai đoạn thu hoạch hoặc trong hợp đồng thương lái có thể yêu cầu nông dân thực hiện công việc này Trong cả hai trường hợp, người nông dân dường như không cần quá quan tâm đến vấn đề chất lượng một khi họ đã đạt được thỏa thuận với nhà thầu Tại Philippines , nông dân trồng xoài thương mại thường là các chuyên viên hay chủ doanh nghiệp sống ở khu vực thành thị Họ thường giao toàn bộ hoạt động sản xuất và các hoạt động sau thu hoạch cho người phun thuốc thuê kiêm nhà thầu, người này sẽ chịu mọi chi phí sản xuất Nhà thầu được thanh toán bằng hình thức chia sẻ doanh thu

Chỉ tiêu chất lượng do các thương nhân áp đặt Ở Nepal, nông dân chỉ ra chính

các thương nhân đã đặc biệt nhấn mạnh đến vẻ bên ngoài của sản phẩm lên trên tất cả các tiêu chí khác Đây là một thực tế mà bản thân thương lái cũng xác nhận và họ chỉ đang đáp ứng yêu cầu của các nhà bán lẻ sao cho sản phẩm phải trông thật hấp dẫn trên quầy bán Trái lại, những người bán lẻ cho rằng họ chỉ bán lại những sản phẩm do người bán sỉ cung cấp, mặc dù họ cũng xác nhận vẻ ngoài của sản phẩm cũng là tiêu chí quan trọng nhất đối với họ, điều này cũng phản ánh nhu cầu người tiêu dùng Những nông dân được liên hệ cho biết họ buộc phải sử dụng thuốc BVTV để có được sản phẩm với bề ngoài hấp dẫn Cho dù nhiều người cũng nhận thức được mối nguy hiểm có thể gặp phải khi sử dụng thuốc BVTV, nhưng họ cũng không được chuẩn bị trước nguy cơ sản phẩm làm ra

bị thị trường từ chối hoặc có thể mất mùa nếu không sử dụng chúng Mong muốn sản xuất

ra trái cây không có khiếm khuyết để thỏa mãn yêu cầu của thương lái được xem như lý

do tại sao nông dân trồng xoài ở Mindanao, Philippines đôi khi phun thuốc tới mười ba lần mỗi năm trong suốt mùa mưa

10 1 US$ = 43,5 Rupee vào tháng 7, năm 2005

Trang 25

2 Yếu tố kinh tế , tài chính và xã hội

Nông dân thường tin rằng nếu không sử dụng thuốc BVTV thì sản lượng thu được sẽ giảm sút và có thể khiến sản phẩm của họ không bán được Tại Thái Lan, lợi ích kinh tế

rõ rệt của việc sử dụng thuốc BVTV càng được củng cố bởi trên thực tế, thuốc BVTV được miễn thuế nhập khẩu và các loại thuế khác Khi có sâu bệnh bùng phát, hóa chất nông nghiệp được cung cấp miễn phí cho nông dân Ở Nepal, một số loại thuốc BVTV cũng miễn thuế bán hàng / thuế tiêu dùng (sale tax = loại thuế đánh vào người tiêu dùng)

để đối phó với việc nhập khẩu trái phép từ Ấn Độ, trong khi ở Việt Nam thuế hải quan và các loại thuế nhập khẩu ở mức thấp, kết hợp với tăng trưởng sản xuất trong nước đã khiến gia tăng đáng kể việc sử dụng thuốc BVTV trong thập kỷ qua Ở một vài nước khác, chương trình tín dụng cung cấp thuốc BVTV như một phần cố định trong khoản cho vay bằng hiện vật cũng góp phần gia tăng sử dụng thuốc BVTV

Những kết quả khả quan trong việc thử nghiệm chương trình IPM cho thấy áp dụng IPM có thể mang lại nhiều lợi ích hơn so với tập quán canh tác phổ biến hiện hành, nhưng kết quả ấy không đến tay đại đa số nông dân Những người nông dân sợ rủi ro khó

có thể chấp nhận kết quả thử nghiệm này nếu họ không được tận mắt nhìn thấy bằng chứng về những cải tiến đó Tuy nhiên khả năng mở rộng các mô hình thí điểm để chứng minh những thay đổi do áp dụng IPM cho những người trồng rau nói chung cũng có giới hạn

Nghiên cứu thực tế điển hình ở Ấn Độ báo cáo lại rằng nông dân ước tính khi lượng thuốc BVTV sử dụng giảm đi đáng kể thì sản lượng giảm khoảng 30% và chất lượng sản phẩm cũng giảm đi Theo nghiên cứu trường hợp điển hình ở Thái Lan, nông dân trồng quýt ước tính khoảng 25% mùa màng bị thiệt hại do sâu bệnh, ngay cả khi phun nhiều thuốc BVTV Họ tin rằng tổn thất sẽ lên tới 80% nếu không phun thuốc 70% số người được hỏi cho rằng dù cho giá thuốc BVTV có cao hơn thì cũng không đủ thuyết phục họ thay đổi mật độ phun thuốc Tại Myanmar, nông dân tăng tỷ lệ phun thuốc BVTV sau khi họ đã bán được vụ thu hoạch đầu tiên, lúc này họ có nhiều tiền hơn để mua các loại hóa chất Do vậy, các chương trình xúc tiến cải tiến thực hành cần chú trọng giải quyết mối quan tâm của những nông dân nghèo, có ít tài nguyên để giảm thiểu rủi ro trong sản xuất cho họ

Một số nghiên cứu từ thực tiễn báo cáo rằng nhiều loại thuốc BVTV đã bị cấm vẫn tiếp tục được sử dụng, những hóa chất này có lẽ đã được nhập lậu từ các nước láng giềng Một khảo sát trên các nông dân ở tỉnh Phú Yên, Việt Nam cho thấy 84 % trong số họ đã từng sử dụng hóa chất nông nghiệp bị cấm, và họ thường không hề biết các chất này đã bị

cấm Tại Myanmar, loại thuốc BVTV monocrotophos vẫn được khoảng một nửa số nông

Trang 26

thức được làm vậy là bất hợp pháp Điều này được quy cho lý do thực tế là chất này rẻ hơn nhiều so với các loại hóa chất hợp pháp

Tại Thái Lan, các vấn đề về quyền sở hữu đất, quyền sử dụng đất và việc ngày càng phổ biến hình thức hợp đồng thuê đất canh tác ngắn hạn không khuyến khích người nông dân đầu tư cải tạo mới, chẳng hạn như xây dựng nhà kho đóng gói hoặc xây dựng nhà vệ sinh, hay nhà tắm cho người người làm công (theo như yêu cầu của GAP) Hạn chế quyền sở hữu đất đai chính thức ở Ấn Độ và tình trạng thiếu đất canh tác ở các nước khác càng khuyến khích gia tăng sản xuất thâm canh cây trồng, hay tình trạng thiếu lao động ở Thái Lan đã dẫn đến tình trạng tăng cường sử dụng các chất diệt cỏ Do chịu giới hạn về nguồn lực sẵn có nên thật khó để nông dân thực hiện chuyển đổi đòi hỏi đầu tư lớn

Nông dân thường quan tâm nhiều hơn đến số tiền họ sẽ nhận được, chứ không phải vấn đề chất lượng hay an toàn Chỉ quan tâm đến việc tối đa hóa thu nhập thúc đẩy nông dân bán hàng khi giá đạt mức cao bất chấp chất lượng và an toàn có đạt hay không Điều này đã được ghi nhận trong trường hợp một số nông dân Myanmar bán cà chua xanh, và ở tất cả các nước đôi khi nông dân còn bán cả rau quả sau khi chúng mới được phun thuốc một thời gian ngắn, nếu bán được giá Hai phần ba nông dân trồng cà chua của Myanmar được phỏng vấn thừa nhận họ đã bán cà chua gần như ngay lập tức sau khi phun thuốc, tức là đã bỏ qua khoảng thời gian trước khi thu hoạch được quy định để tránh dư lượng thuốc BVTV trên cây trồng Nông dân tham gia tập huấn chương trình IPM tại Việt Nam thừa nhận rằng trước khi được đào tạo họ đã tiến hành phun thuốc chỉ là một hoặc hai ngày trước khi thu hoạch

Với những người nông dân có quy mô sản xuất nhỏ thì chi phí và các khó khăn của việc phát triển mối liên kết với đầu ra mới có yêu cầu cải thiện chất lượng và an toàn cho sản phẩm có thể vượt quá mức lợi nhuận thu về Vậy một điều cần thiết đầu tiên là họ cần liên kết thành các nhóm hoặc tìm kiếm hợp đồng thỏa thuận với các đầu mối trung gian để

có thể cung cấp đủ số lượng theo yêu cầu của siêu thị.11 Tuy nhiên, các dấu hiệu cho thấy chỉ làm như vậy có thể vẫn chưa đủ, và những nông dân có quy mô sản xuất lớn hơn sẽ tiến tới chiếm lĩnh thị trường buôn bán với siêu thị Nơi mà nông dân đã tìm cách cải thiện tập quán canh tác và phát triển mối quan hệ đặc biệt với các siêu thị và các nguồn tiêu thụ khác thì lợi nhuận cao ban đầu có thể cũng không duy trì lâu dài được Năm

1994, tại Thái Lan, lợi nhuận khi bán rau “hợp vệ sinh” đạt 200% Đến 2004, khoản thu này giảm xuống còn 40% Không rõ mức giảm lợi nhuận này là kết quả việc ép giá từ phía người mua hay do mặt bằng chất lượng của tất cả các sản phẩm đều tăng lên Hơn nữa, nông dân bán sản phẩm cho thương lái tại địa phương thường có thể có được thanh toán ngay lập tức; trong khi đó nông dân bán sản phẩm cho các siêu thị có thể phải chờ

11 Dành cho thảo luận về các kênh thu mua của siêu thị Châu Á và ảnh hưởng của chúng đến nông dân sản xuất nhỏ, xem Chen và cộng sự, 2005

Trang 27

lên đến 90 ngày mới được thanh toán Khoản tiền được trả thêm có thể không đủ để nông dân bù đắp lại chi phí sản xuất cao hơn Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy rau an toàn có sản lượng thấp hơn từ 10 đến 15% so với khi thực hành sản xuất theo phương pháp truyền thống, trong khi chi phí sản xuất lại cao hơn từ 25 đến 30% nếu sử dụng nhà kính Phương pháp sản xuất cải tiến thường yêu cầu bổ sung lao động để làm cỏ, bắt côn trùng, vv… điều này có thể là một trở ngại lớn những khi thiếu hụt lao động Mặt khác, các nghiên cứu về phương pháp sản xuất cải tiến sử dụng công cụ trợ giúp ra quyết định áp dụng IPM (IDT ) trên cây xoài ở Philippines cho thấy mặc dù sản lượng thu được có hơi thấp hơn so với phương pháp sản xuất thông thường, nhưng việc giảm chi phí cho thuốc BVTV vẫn thừa để bù đắp cho phần sản lượng hao hụt này

Một số nông dân cảm thấy có yếu tố áp lực xã hội buộc họ phải cố gắng tuân thủ việc thực hiện phun thuốc BVTV theo mẫu Họ tin rằng nếu họ ngừng phun thuốc thì trang trại láng giềng có thể cũng phải gánh chịu thiệt hại như chính mình Vấn đề này đã được nhấn mạnh trong các nghiên cứu trường hợp điển hình tiến hành ở cả hai nước Thái Lan và Nepal, đây có thể là một rào cản quan trọng đối với việc chấp nhận các phương pháp sản xuất cải tiến, trừ khi có thể thuyết phục tất cả nông dân trong một khu vực cùng

áp dụng phương pháp thực hiện IPM cùng một lúc

Trong một số trường hợp mù chữ, hay nói cách khác là nông dân không có khả năng đọc các nhãn trên chai lọ đựng thuốc BVTV Các nhãn thường không in bằng ngôn ngữ địa phương và một số hóa chất bán ra đựng trong bao bì không có nhãn mác Các nguồn thông tin chính cho nông dân ở hầu hết các nước trong khu vực là những người bán

lẻ hoá chất nông nghiệp ở địa phương, hiển nhiên những người này chỉ quan tâm đến việc bán được càng nhiều hàng càng tốt Ở nhiều nước, các công ty nhập khẩu thuốc BVTV tích cực đưa ra các chiến dịch rầm rộ nhằm quảng bá sản phẩm của họ Vì thiếu nguồn

Trang 28

thông tin về các giải pháp thay thế, nên hết sức tự nhiên khi nông dân lo ngại sản lượng thu về có thể bị ảnh hưởng nếu họ thay đổi phương thức sản xuất hiện tại Mặc dù các chương trình IPM đã được giới thiệu đến hầu hết các nước nhưng chúng chưa được phổ

biến rộng rãi Không được đào tạo về kỹ thuật IPM, nông dân trồng cây ăn quả luôn tiến

hành phun theo lịch trình13, còn nông dân trồng rau có xu hướng phun thuốc ngay lập tức khi thấy có dấu hiệu của sâu hại Trong khi những nông dân đã được đào tạo về IPM tại Việt Nam đã tuân thủ theo vài phương thức sản xuất tiên tiến, vẫn có một tỷ lệ khá lớn những nông dân đã được đào tạo tiếp tục vứt bỏ những phần rau quả loại ra xuống mương nước và coi đó như một phương pháp xử lý chất thải, và như vậy họ đã làm ô nhiễm nguồn nước

Trong những năm 1990, báo cáo cho thấy có hơn một nửa số nông dân Thái Lan sử dụng thuốc BVTV với liều cao hơn mức ghi trên nhãn Quyết định sử dụng thuốc BVTV

và tỷ lệ áp dụng được dựa trên khuyến nghị của người bán lẻ hoặc dựa vào phương thức sản xuất đã có tại cộng đồng Báo cáo cũng cho biết khó có thể thu nhận được những nguồn thông tin khác Các nghiên cứu trên các trường hợp điển hình cho thấy nông dân vẫn tiếp tục sử dụng thuốc BVTV với liều cao ngay cả khi, trong trường hợp của cây chuối ở Nepal, có rất ít bằng chứng cho thấy hóa chất BVTV giúp kiểm soát sự phá hoại Dịch vụ khuyến nông có thể hỗ trợ phần nào, song báo cáo cho thấy kiến thức của cán bộ khuyến nông về các vấn đề chất lượng và an toàn ở hầu hết các quốc gia cũng còn hạn chế Ở Trung Quốc, các nhân viên khuyến nông có trách nhiệm cung cấp thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV an toàn cũng đồng thời có một phần thu nhập từ việc bán thuốc BVTV.14

Nông dân không có đủ thông tin cho phép họ có thể đánh giá xem liệu họ đã áp dụng các hóa chất BVTV một cách kinh tế nhất chưa Hơn nữa, nhìn chung họ cũng không ý thức được việc sử dụng hóa chất BVTV không hợp lý có thể khiến tình trạng sâu bệnh trầm trọng thêm Điều này là kết quả của việc sử dụng nồng độ hóa chất quá mức cần thiết và hình thành quan niệm sai lầm cho rằng cần phải sử dụng liều cao để đối phó với tình trạng sâu bệnh có mật độ cao Trong khi nông dân biết rõ họ đang sử dụng một lượng lớn hóa chất nông nghiệp cho rau màu, nhưng có lẽ không phải lúc nào họ cũng ý thức được việc áp dụng như vậy sẽ để lại dư lượng hóa chất trong các loại rau quả mà họ trồng cấy Với các cơ sở vật chất phục vụ thử nghiệm thiếu thốn, thường chỉ có ở các khu vực cách xa các trang trại, rất khó để chứng minh sự tồn tại của dư lượng hóa chất cho nông dân

Trong khi nông dân ở Philippines ngày càng tăng cường ý thức về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc BVTV, thì nghiên cứu trường hợp điển hình lại báo cáo về việc

13 Phun thuốc theo ngày hoặc giai đoạn phát triển của vụ mùa, hơn là đối với loài sâu bệnh cụ thể

14 Ngân hàng thế giới,2005

Trang 29

họ hầu như không có kiến thức gì về những mối nguy hiểm từ vi sinh vật gắn với quá trình sản xuất rau quả Các nghiên cứu trường hợp điển hình khác cũng cho kết quả tương

tự Nhìn chung, vấn đề này dường như bị xem nhẹ hơn rất nhiều ở tất cả các nước được khảo sát và dịch vụ khuyến nông cũng mới chỉ được cung cấp rất ít thông tin về sự nguy hiểm và cách phòng tránh những mối nguy từ vi sinh vật

Trang 30

CHƯƠNG 3 NHỮNG YẾU TỐ HẠN CHẾ KHIẾN THƯƠNG NHÂN KHÔNG

CÓ KHẢ NĂNG CUNG CẤP CÁC LOẠI RAU QUẢ CHẤT LƯỢNG CAO VÀ AN

TOÀN

Nghiên cứu trường hợp điển hình cho thấy ở hầu hết các nước trong khu vực, giá cả là mối quan tâm chính của phần lớn của người tiêu dùng nghèo Đối mặt với tình trạng này, thương nhân khó có thể đẩy mạnh nâng cao chất lượng và an toàn cho sản phẩm trừ khi

có thể thực hiện những cải thiện này mà không cần tăng giá cho người tiêu dùng Tại hầu hết các nước, hoạt động tiếp thị cho rau quả có tính cạnh tranh cao, có rất ít cơ hội để bán những sản phẩm có chất lượng cao hơn nhưng giá bán cũng cao hơn Như đã nhấn mạnh trong trường hợp nghiên cứu điển hình tại Pakistan, thương nhân thường chú trọng cạnh tranh về giá cả hơn về chất lượng Điều này có thể do họ không quá đề cao khả năng cải thiện chất lượng và độ an toàn của sản phẩm song điều này có nhiều khả năng đã phản ánh nhu cầu của người tiêu dùng Dù sao chăng nữa, cũng đã có một vài dấu hiệu cho thấy những thay đổi Những điều này thường do quá trình toàn cầu hóa mang lại, quá trình này đã dẫn đến gia tăng lượng nhập khẩu các sản phẩm tươi sống trong khu vực Thương nhân bán buôn, nhận thấy sản phẩm nhập khẩu có chất lượng cao hơn so với các sản phẩm họ có thể cung cấp và có thể bán với giá cao hơn, đang bắt đầu gây áp lực lên nông dân để có được sản phẩm tương đương với chất lượng của hàng nhập khẩu Điều này đã được ghi nhận tại khu chợ Azadpur tại New Delhi nơi các thương nhân bán táo đã phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt của hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Úc và Mỹ

Tầng lớp thượng lưu ở hầu hết các nước, và tầng lớp trung lưu nói chung ở một vài nước khác, có nhu cầu ngày càng tăng về các loại rau quả chất lượng tốt hơn, đặc biệt là trái cây, trong khi đó ở nhiều quốc gia mặt hàng này vốn vẫn được xem là xa xỉ Những người tiêu dùng giàu có hơn đang bắt đầu đòi hỏi chất lượng tốt hơn Ở một số nước, các siêu thị cũng bắt đầu chú trọng tới nhu cầu này và đã có những chương trình chất lượng đặc biệt, chẳng hạn như chương trình rau “an toàn” tại Việt Nam Tuy nhiên, nhu cầu này thường không được cung cấp thông qua các kênh tiếp thị truyền thống Ở những nước có

hệ thống cung cấp thông qua kênh tiếp thị truyền thống, chẳng hạn như Myanmar, các siêu thị có nguồn sản phẩm từ các chợ bán buôn và do đó cũng bán các loại rau quả tương

tự như khi bán thông qua các kênh truyền thống Chất lượng sản phẩm trong các siêu thị

có thể cao hơn ngoài chợ, thông qua các tiêu chí mua hàng khắt khe hơn và điều kiện thực hành bảo quản trong siêu thị cũng tốt hơn, sản phẩm được làm sạch và phân loại trước khi bán, nhưng các vấn đề an toàn vẫn hoàn toàn như nhau Tại một hoặc hai nước, các chợ bán buôn truyền thống và thương nhân kinh doanh tại đó bắt đầu nhận ra sự cần phải cạnh tranh với các siêu thị bằng cách cung cấp những sản phẩm có chất lượng cao hơn Tuy nhiên, những tiến triển theo hướng này cho đến nay mới chỉ có tính chất thăm dò

Khả năng buôn bán một mặt hàng cụ thể có nhiều hơn một mức chất lượng tại toàn

bộ các kênh tiếp thị truyền thống trong khu vực dường như rất hạn chế Nếu như có tiến hành phân loại sản phẩm, thường dựa trên kích cỡ, thì chất lượng giữa các loại cũng

Trang 31

không có nhiều khác biệt Thương nhân thường không thể buôn bán trao đổi gì khác hơn những sản phẩm có “chất lượng đạt trung bình” Hệ thống tiếp thị truyền thống không đòi hỏi mua vào những sản phẩm có chất lượng cao hơn, đồng thời cũng không được trang bị

để có biện pháp xử lý, bảo quản riêng biệt cho những sản phẩm có mức chất lượng khác nhau khi vận chuyển tới tay người tiêu dùng Hơn nữa, tiêu chuẩn để xử lý, bảo quản rau quả trong chuỗi tiếp thị truyền thống thường quá kém, đến nỗi giả sử thương lái có thể mua được các sản phẩm có chất lượng khác nhau từ nông dân, thì chất lượng cũng chỉ còn chút xíu khác biệt tại thời điểm người tiêu dùng quyết định mua Thực tế phổ biến bao gồm công đoạn mở thùng, phân loại và đóng gói lại, có thể lặp đi lặp lại tới hai hoặc ba lần trong một số chuỗi tiếp thị dài hơn, điều này khiến cho động lực thúc đẩy cải tiến công đoạn xử lý và đóng gói cấp ở nông trại càng thêm ít ỏi.15

Ở một số nước, thương nhân còn chịu hạn chế do các chợ nơi họ đang hoạt động

có cơ sở hạ tầng yếu kém Có rất ít khu chợ bán buôn được cấp chứng nhận GMP Mỗi khu chợ khác nhau lại vận hành hệ thống khác nhau Ở những nước nơi thương nhân bán buôn có thể mua lại cơ sở vật chất bên trong chợ hoặc thuê lại chúng bằng hợp đồng cho thuê dài hạn, họ có thể có cơ hội để cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng Ở những nước khác, hợp đồng cho thuê chỉ trong ngắn hạn, hoặc thậm chí theo mùa như trường hợp chợ đầu mối Azadpur tại Delhi chuyên kinh doanh các sản phẩm như táo và xoài, sẽ ít cơ hội để được để nâng cấp cải thiện Thương nhân, thường làm việc thông qua các hiệp hội, có thể làm việc với ban quản lý chợ để cải thiện hoạt động của khu chợ và, trong số những điều khác, bao gồm cả việc nâng cao chất lượng và an toàn Điều này thường liên quan đến các vấn đề tương đối đơn giản thường gặp ngày qua ngày, chẳng hạn như chỉ ra sự cần thiết phải bảo dưỡng và làm vệ sinh (ví dụ như hệ thống thoát nước bị tắc).16 Một số hiệp hội

đã hợp tác với chính quyền thành phố trong việc quy hoạch và thiết kế các khu chợ mới nhưng ở nhiều quốc gia, một bộ phận chính quyền còn miễn cưỡng trong việc đầu tư vào các chợ, trừ khi phí tổn nếu không làm như vậy còn vượt quá chi phí đầu tư, chẳng hạn như tình trạng ùn tắc giao thông Như vậy, trong khi chính quyền thành phố có thể đầu tư vào các chợ mới, rất khó để thuyết phục họ tiến hành nâng cấp, cải tạo các khu chợ đã có Bởi nhìn chung, các chợ trước hết vẫn được nhìn thấy như nguồn thu nhập của chính quyền địa phương

Các chợ bán lẻ thường có chất lượng rất kém hoặc không tồn tại Báo cáo ở Nepal lưu ý rằng trong trường hợp không có những khu chợ có tổ chức thì số lượng người bán hàng rong và kinh doanh lưu động sẽ phát triển nhanh chóng Điều này không chỉ liên quan đến chất lượng và an toàn mà nó cũng có nghĩa giả sử nhà chức trách có các nguồn lực để tiến hành thanh tra, kiểm tra các mặt hàng tươi sống ở mức độ bán lẻ, thì cũng sẽ rất khó để thực hiện do các cơ sở bán lẻ nằm phân tán quá nhiều nơi

15 Paty, 2005

Trang 32

Phương tiện bảo quản sẵn có của người bán hàng thường có chất lượng kém và không tuân thủ các quy định về vệ sinh Hiếm khi các khu chợ bán buôn, bán lẻ có thể cung cấp điều kiện bảo quản thích hợp và khi người bán tự làm chủ gian hàng, họ lại thường thiếu nguồn lực tài chính để tiến hành các bước cải tạo nâng cấp đáng kể cho kho hàng của họ Một số nghiên cứu trường hợp điển hình đã chỉ ra nhu cầu tăng khả năng tiếp cận với kho bảo quản lạnh của các nhà bán buôn Trong khi điều này sẽ có lợi đối với một số loại rau quả như khoai tây, song với những sản phẩm dễ hư hỏng thì việc bảo quản lạnh ở khâu này cũng không có nhiều ý nghĩa, trừ khi đảm bảo được một chuỗi bảo quản lạnh kéo dài từ nông trại đến cửa hàng bán lẻ Ở thời điểm hiện tại, áp dụng chuỗi bảo quản lạnh như vậy không có tính khả thi đối với các hệ thống tiếp thị truyền thống bởi các

lý do về chi phí và năng lực quản lý hạn chế

Rất ít thương lái sở hữu xe tải chuyên dụng để phục vụ hoạt động kinh doanh của

họ Do tính chất mùa vụ của công việc, các chi phí đầu tư cần thiết, việc không có khả năng mua đủ lượng hàng để chở đầy cả chuyến xe tải và độ phức tạp khi vận hành một chiếc xe nên hầu hết thương lái thích thuê xe vận tải hơn Trừ khi họ có thể thuê toàn bộ chiếc xe, nếu không họ không thực sự ở vị trí có quyền kiểm soát cách thức xử lý, bảo quản sản phẩm Do đó, các tiểu thương có thể thấy sản phẩm của họ bị nhồi nhét vào một chiếc xe tải cùng với sản phẩm của thương nhân khác, bị giẫm đạp lên trong quá trình xếp hàng và bị quăng quật khi đến đích Hơn nữa, chất lượng đường xá ở nhiều nước trong khu vực thật sự kém và, như đã trình bày trước đó, điều này góp phần gây thiệt hại cho sản phẩm trong khi vận chuyển

Hoạt động tập huấn xử lý sau thu hoạch do chính phủ và các nhà tài trợ tiến hành gần như luôn luôn nhắm tới mục tiêu là người nông dân Hiếm khi có những buổi tập huấn cho các thương nhân Tại Myanmar, Chính phủ sử dụng chương trình phát thanh để giáo dục các nhà bán lẻ thực phẩm về thực hành vệ sinh nhưng không có bất kỳ hỗ trợ nào liên quan đến vấn đề chất lượng và an toàn Trong tất cả các nước được nghiên cứu, xuất hiện rất ít hoạt động cung cấp tư vấn sau thu hoạch cho thương nhân Do vậy, thương nhân khó có thể nhận thức đầy đủ được những nguyên nhân gây ra những vấn đề chất lượng mà họ gặp phải hàng ngày, và do đó không thể thực hiện các hoạt động cải tiến

Gần đây, Trung Quốc đã đưa ra một số sáng kiến để thúc đẩy quảng bá cho các loại thực phẩm an toàn hơn (Chương 5) Tuy nhiên, có vẻ chúng chưa thật sự phổ biến trong hoạt động thương mại Giới thương nhân chưa thật sự nhận biết được các nhãn hiệu

sử dụng cho các loại thực phẩm “xanh”, thực phẩm “hữu cơ” và thực phẩm “không ô nhiễm” và nhiều thương nhân còn chưa hiểu rõ ý nghĩa của các nhãn này Bảy mươi phần trăm thương nhân được khảo sát cho biết họ cảm thấy mơ hồ không hiểu rõ ý nghĩa của những thuật ngữ trên Để cung cấp bằng chứng cho điều này, một khảo sát gần đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy, các nhà quản lý siêu thị đã gặp khó khăn khi tiếp nhận các

Ngày đăng: 10/02/2015, 10:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w