MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Điều 2, Hiếp pháp năm 2013 đã xác định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [82]. Do đó, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần xây dựng cơ chế vận hành bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhận dân. Điều 8, Hiến pháp 2013 chỉ rõ “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [82]. Để quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước cần hoàn thiện pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các qui định trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện những phương thức, biện pháp quản lý, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả và tăng cường khả năng điều chỉnh bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật là một chức năng cơ bản của Nhà nước, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài vừa là nhiệm vụ trước mắt. Trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, khi đề cập đến các giải pháp xây dựng pháp luật có nêu: “cần nghiên cứu khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ quốc tế) và qui tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” [12]. Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, ngoài việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến, cần kế thừa, phát huy yếu tố tích cực của tập quán vận dụng vào công tác lập pháp, công tác quản lý xã hội. Trên khía cạnh văn hóa, việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc được Đảng ta hết sức quan tâm. Theo đó, nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ đã thể hiện tính nhất quán về sự lãnh đạo của Đảng đối với nội dung này. Văn kiện Đại hội XI tiếp tục làm rõ hơn yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa, trong đó Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 chỉ rõ: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người” [17]. Từ việc tổng kết rút kinh nghiệm mười năm thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII), Nghị quyết TW9 (khóa XI) tiếp tục khẳng định làm sâu sắc thêm quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, và khi nói về nhiệm vụ, nghị quyết nêu rõ “Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng” [3]. Như vậy, việc khai thác các giá trị văn hóa nói chung và nghiên cứu tập quán, luật tục nói riêng để xác định giá trị của nó nhằm vận dụng trong quản lý xã hội là chủ trương có tính hệ thống của Đảng, Nhà nước, là yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn khách quan. Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái có quá trình lịch sử phát triển lâu đời, với nền văn hóa phong phú, độc đáo; người Thái có tiếng nói và chữ viết riêng. Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Thái có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vùng cư trú của người Thái là những địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh, là vùng đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, đã và đang góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Luật tục người Thái là một yếu tố cấu thành văn hóa Thái. Với những đặc điểm riêng, luật tục người Thái có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật. Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, tự quản ở cộng đồng dân cư, điều hòa xã hội, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của người Thái. Tuy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, song hệ thống luật tục người Thái cho tới nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhất là nghiên cứu những giá trị xã hội của luật tục người Thái vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam. Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Luận án tìm hiểu luật tục người Thái, tập trung phân tích, đánh giá những giá trị xã hội của luật tục người Thái, nhằm tìm ra những khả năng có thể vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái. Trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, luật tục người Thái trong điều kiện hiện nay.
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
VI VĂN SƠN
LUËT TôC NG¦êI TH¸I Vµ Sù VËN DôNG
TRONG QU¶N Lý NHµ N¦íC §èI VíI CéNG §åNG NG¦êI TH¸I ë C¸C TØNH B¾C TRUNG Bé VIÖT NAM
Chuyên ngành : Lý luận lịch sử Nhà nước và Pháp luật
Mã số : 62 38 01 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS QUÁCH SĨ HÙNG
TS LÊ VĂN TRUNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu độc lập của mình Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vi Văn Sơn
Trang 3Trang
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8 1.1 Tình hình nghiên cứu của tác giả nước ngoài 8 1.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước 11 1.3 Đánh giá khái quát kết quả các công trình nghiên cứu có liên
1.4 Những vấn đề cần tập trung nghiên cứu, luận giải sâu hơn 24
Chương 2: LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ VẬN DỤNG LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở
Chương 3: GIÁ TRỊ XÃ HỘI CỦA LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI HIỆN
NAY VÀ THỰC TRẠNG VẬN DỤNG TRONG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở CÁC
TỈNH BẮC TRUNG BỘ VIỆT NAM 78 3.1 Giá trị xã hội và một số hạn chế của luật tục người Thái hiện nay 78 3.2 Thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà
nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO VIỆC VẬN DỤNG
LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở CÁC TỈNH BẮC
4.1 Quan điểm đảm bảo việc vận dụng luật tục người Thái trong
quản lý nhà nước đối với cộng động người Thái ở các tỉnh Bắc
4.2 Giải pháp đảm bảo việc vận dụng luật tục Thái trong quản lý
nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 166
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 167
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNH : Công nghiệp hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
ĐCS : Đảng cộng sản
HĐH : Hiện đại hóa
HĐND : Hội đồng nhân dân
HIV/AIDS : Viết từ tiếng Anh: Human Immuno
deficiency virus infection/Acquired Immunodeficiency (Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
Trang 5Trang
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điều 2, Hiếp pháp năm 2013 đã xác định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân,
do Nhân dân, vì Nhân dân” [82] Do đó, trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước cần xây dựng cơ chế vận hành bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhận dân Điều 8, Hiến pháp 2013 chỉ rõ “Nhà nước được
tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” [82] Để quản lý xã hội bằng pháp luật, Nhà nước cần hoàn thiện pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các qui định trong hệ thống văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời hoàn thiện những phương thức, biện pháp quản lý, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
và tăng cường khả năng điều chỉnh bằng pháp luật trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luật là một chức năng cơ bản của Nhà nước, vừa là nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài vừa là nhiệm vụ trước mắt Trong Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, khi đề cập đến các giải pháp xây dựng pháp luật có nêu: “cần nghiên cứu khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông
lệ quốc tế) và qui tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật” [12] Xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, toàn diện, phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, ngoài việc vận dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật pháp lý tiên tiến, cần
kế thừa, phát huy yếu tố tích cực của tập quán vận dụng vào công tác lập pháp, công tác quản lý xã hội
Trên khía cạnh văn hóa, việc phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc được Đảng ta hết sức quan tâm Theo đó, nghị quyết Đại hội Đảng qua các thời kỳ đã thể hiện tính nhất quán về sự lãnh đạo của Đảng đối với nội dung này Văn kiện Đại hội XI tiếp tục làm rõ hơn yêu cầu phát huy các giá trị văn hóa, trong đó Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 chỉ
Trang 7rõ: “Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người” [17] Từ việc tổng kết rút kinh nghiệm mười năm thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII), Nghị quyết TW9 (khóa XI) tiếp tục khẳng định làm sâu sắc thêm quan điểm xây dựng và phát triển văn hóa: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”, và khi nói về nhiệm vụ, nghị quyết nêu rõ “Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa của các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng” [3]
Như vậy, việc khai thác các giá trị văn hóa nói chung và nghiên cứu tập quán, luật tục nói riêng để xác định giá trị của nó nhằm vận dụng trong quản
lý xã hội là chủ trương có tính hệ thống của Đảng, Nhà nước, là yêu cầu đòi hỏi từ thực tiễn khách quan
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái có quá trình lịch
sử phát triển lâu đời, với nền văn hóa phong phú, độc đáo; người Thái có tiếng nói và chữ viết riêng Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Thái có một vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vùng cư trú của người Thái là những địa bàn trọng yếu về quốc phòng, an ninh, là vùng đa dạng về tài nguyên thiên nhiên, đã và đang góp phần vào phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Luật tục người Thái là một yếu tố cấu thành văn hóa Thái Với những đặc điểm riêng, luật tục người Thái có mối quan hệ chặt chẽ với pháp luật Hệ thống luật tục giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc gắn kết cộng đồng, tự quản ở cộng đồng dân cư, điều hòa xã hội, trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc của người Thái
Tuy có vị trí, vai trò hết sức quan trọng, song hệ thống luật tục người Thái cho tới nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, nhất là nghiên cứu những giá trị xã hội của luật tục người Thái vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam
Trang 8Xuất phát từ những lý do nêu trên, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Luật
tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án tìm hiểu luật tục người Thái, tập trung phân tích, đánh giá những giá trị xã hội của luật tục người Thái, nhằm tìm ra những khả năng có thể vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái Trên cơ sở đó đề xuất những quan điểm và giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung
Bộ Việt Nam, góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa, luật tục người Thái trong điều kiện hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của các tác
giả trong và ngoài nước, từ đó đánh giá kết quả nghiên cứu, đồng thời rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu có chiều sâu hơn đối với đề tài
Hai là, phân tích cơ sở lý luận về luật tục, luật tục người Thái và sự vận
dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái ở Việt Nam Cụ thể: Khái quát nguồn gốc, lịch sử, văn hóa, đặc trưng của người Thái, vị trí của cộng đồng người Thái trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; làm rõ khái niệm luật tục, luật tục người Thái; tìm hiểu đặc điểm; phân tích mối quan hệ giữa luật tục người Thái với pháp luật và vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử cộng đồng người Thái; luận giải khái niệm vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; tìm hiểu khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước; khái niệm, nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước; phân tích các điều kiện đảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng tập quán, luật tục của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, rút ra bài học tham khảo trong thời gian tới; luận giải một
số vấn đề đặt ra về vận dụng luật tục nói chung và luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái hiện nay
Trang 9Ba là, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt
Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá khách quan thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái các tỉnh Bắc Trung Bộ Việt Nam
Bốn là, xác định rõ quan điểm vận dụng luật tục và đề xuất, luận chứng
các giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung bộ Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là luật tục người Thái ở Việt Nam và
sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung
Bộ Việt Nam; các vấn đề liên quan như: cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật có ảnh hưởng đến quả trình vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Việt Nam nói chung, người Thái ở Bắc Trung Bộ Việt Nam nói riêng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu luật tục tiếp cận dưới góc độ khái niệm, đặc điểm luật tục người Thái và mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật; đánh giá vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử đời sống cộng đồng người Thái; tìm hiểu kinh nghiệm vận dụng luật tục trên thế giới và Việt Nam Từ những luật tục đã được văn bản hóa và kết quả sưu tầm trong nhân dân, tác giả đã chọn lựa, phân loại, phân tích những giá trị xã hội của luật tục người Thái tương tác với một số nội dung quản lý nhà nước hiện hành, nhất là quản lý hành chính nhà nước đối với cộng đồng người Thái
Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục Phạm vi nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đi sâu đối với cộng đồng người Thái ở các tỉnh Bắc Trung bộ Việt Nam Đặc biệt tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và xây dựng hệ thống chính trị; khảo sát nhận thức về luật tục của cán bộ, công chức, viên chức cấp xã;
Trang 10khảo sát, đánh giá kết quả vận dụng luật tục của một số xã có người Thái cư trú tập trung ở hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An Từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước, chủ yếu là quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương
pháp luận của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng và củng cố chính quyền cơ sở, cộng đồng làng xã ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt là các quan điểm về dân tộc, đoàn kết dân tộc, quản lý nhà nước và tự quản cộng đồng, về thực hiện dân chủ cơ sở, quan hệ giữa pháp luật, luật tục, phong tục tập quán
4.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp lịch
sử, lô gích, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê v.v Cụ thể ở chương 1, luận án sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và tổng hợp; chương 2, sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh; chương 3, sử dụng kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin, phương pháp xã hội học, điền dã, phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp; chương 4, luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử và so sánh để giải quyết những vấn đề đặt ra
5 Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Phân tích đặc điểm, sự tương đồng và khác biệt giữa luật tục người Thái với pháp luật; luận giải nội dung của luật tục người Thái trong mối tương quan với pháp luật và kết luận: Luật tục người Thái có vị trí độc lập
tương đối với pháp luật, đó là Một, trong điều kiện nhất định, luật tục người Thái có khả năng thay thế pháp luật; Hai, luật tục người Thái có khả năng bổ
Trang 11sung cho pháp luật; Ba, luật tục người Thái có khả năng hỗ trợ cho pháp luật;
Bốn, những giá trị tích cực của luật tục người Thái là tinh hoa văn hóa dân tộc
Thái, có giá trị xây dựng, cố kết cộng đồng lớn lao
- Luận giải quan niệm về vận dụng luật tục người Thái trong quản lý Nhà nước đối với cộng đồng người Thái, đó chính là đưa tri thức địa phương, tri thức cộng đồng của người Thái bổ sung, hỗ trợ cùng pháp luật quản lý cộng đồng người Thái có hiệu quả
- Luận giải giá trị, vai trò của luật tục người Thái trên một số nội dung
chủ yếu sau: Một, luật tục người Thái luôn ứng xử hài hòa với tài nguyên
thiên nhiên, đặc biệt nhấn mạnh công tác quản lý bảo vệ rừng, quản lý đất đai,
nguồn nước; Hai, luật tục người Thái luôn hướng tới xây dựng khối đại đoàn
kết cộng đồng bền vững, trong đó nhấn mạnh tính tương thân, tương ái và
bình đẳng dân tộc; Ba, luật tục người Thái giáo dục cộng đồng luôn tuân thủ
pháp luật, luật tục, đặc biệt nhấn mạnh việc xây dựng ý thức cho cộng đồng trong phòng ngừa tội phạm, trách nhiệm của cộng đồng trong bảo vệ Tổ quốc
- Nhận xét, đánh giá một số vấn đề đặt ra từ thực trạng nhận thức về luật tục người Thái và kết quả vận dụng luật tục người Thái của chính quyền
cơ sở vùng dân tộc Thái Bắc Trung Bộ: Một, những giá trị của luật tục người Thái hiện nay đứng trước nguy cơ bị mai một; hai, chính quyền cơ sở vùng
dân tộc Thái chưa thực sự quan tâm vận dụng luật tục người Thái trong quản
lý nhà nước; ba, chính quyền cơ sở và cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ
có nguyện vọng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái
- Một số nhóm giải pháp nhằm vận dụng luật tục người Thái đối với
cộng đồng người Thái: Một, nhóm giải pháp về tổ chức, trong đó nhấn mạnh
việc thành lập Tổ tư vấn phong tục tập quán ở thôn, bản và Hội đồng tư vấn
phong tục tập quán cấp xã; hai, nhóm giải pháp về kỹ thuật, nhấn mạnh việc
vận dụng gắn với một số lĩnh vực quản lý nhà nước về: Văn hóa, giáo dục, y
tế, tài nguyên, quốc phòng, an ninh; xây dựng qui chế phối hợp ; ba, nhóm giải pháp về nâng cao năng lực cho các chủ thể; bốn, nhóm giải pháp về nguồn lực tài chính; năm, giải pháp tổ chức thực hiện
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật thông qua nghiên cứu luật tục và luật tục người Thái Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở Việt Nam
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo giúp cho chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cơ sở và bộ máy tự quản ở làng, bản vùng có người Thái cư trú tập trung ở Bắc Trung Bộ có thêm định hướng trong công tác quản lý xã hội của địa phương mình; giúp cho các thôn, bản vận dụng trong xây dựng hoàn thiện qui ước mới, hương ước mới của thôn, bản nhằm kết hợp đồng bộ giữa pháp luật với tập quán truyền thống của người Thái, thực hiện tốt qui chế dân chủ cơ sở, xây dựng nông thôn mới
- Luận án phản ánh thực trạng của văn hóa Thái và yêu cầu về giữ gìn, phát huy bản sắc của văn hóa - luật tục người Thái Tạo động lực, cơ hội để cộng đồng người Thái nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc mình, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam
- Luận án là tài liệu tham khảo cho cán bộ chuyên môn tham mưu quản
lý lĩnh vực văn hóa, xã hội và các nhà doanh nghiệp tìm hiểu sâu hơn về văn hoá, luật tục người Thái ở Việt Nam; tạo điều kiện để cán bộ miền xuôi lên công tác vùng đồng bào dân tộc Thái tìm hiểu văn hóa, phong tục, vận dụng
có hiệu quả cho nhiệm vụ của mình Đồng thời là tài liệu hữu ích đối với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chương, 11 tiết
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ NƯỚC NGOÀI
Luật tục đã được một số nhà nghiên cứu lịch sử luật pháp quan tâm khi
đề cập tới luật pháp của châu Âu từ thời La Mã cho đến thế kỷ XVIII, đó là sự kết hợp giữa luật La Mã và luật tục đã được luật hóa Các nhà nghiên cứu lịch
sử pháp luật thời kỳ này đã hợp nhất giữa luật La Mã và tập quán pháp Sau này, người ta quan tâm từ góc độ tập quán trở thành luật pháp như thế nào và cho rằng tập quán pháp trở thành luật chỉ khi nó được đạo luật hay quyết định của tòa án công nhận, khi nó được biết như là luật, chấp nhận như là luật và thi hành như là luật [104]
Trên thế giới, luật tục được các nhà luật học, các nhà quản lý ở địa phương chú ý nghiên cứu để phục vụ cho việc cai trị ở các nước thuộc địa, nhất
là vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX khi mà chủ nghĩa thực dân được thiết lập ở nhiều khu vực và quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước châu Á, châu Phi, Nam Mỹ Vì vậy, các nhà luật học, các nhà quản lý của các nước có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Tây Ban Nha rất quan tâm nghiên cứu lĩnh vực này
Vấn đề đặt ra đối với các nước đế quốc thực dân là áp dụng thể chế cai trị nào đối với các thuộc địa của mình Những năm đầu của thế kỷ XX, với sự ra đời của trường phái chức năng (Functionnalism) đứng đầu là Bronislaw Malinowski, ông cho rằng, tất cả những hiện tượng văn hóa đều cần thiết và mang chức năng nhất định trong một xã hội nhất định Từ đó rút ra kết luận: không thể dùng một thể chế xã hội này áp đặt cho một xã hội khác, mà cần sử dụng bản thân thể chế xã hội vốn có để quản lý xã hội đó Luận điểm này đã được các nhà cai trị thực dân vận dụng trong việc cai trị các xã hội thuộc địa lúc bấy giờ [104]
Các nhà luật học người Anh đã cố gắng chuyển đổi luật tục thành luật pháp ở một số quốc gia châu Phi, như Kenya, Sudan , nhưng chủ yếu vẫn là nhìn nhận luật tục từ góc độ luật pháp mà luật pháp châu Âu bao giờ cũng là
hệ qui chiếu chủ yếu Điều này khác biệt với cách tiếp cận luật tục từ góc độ nhân học xã hội hay nhân học văn hóa [104]
Trang 14Bên canh việc tiếp cận từ góc độ luật học, thì đã xuất hiện ngày một phổ biến cách nhìn luật tục từ góc độ nhân loại học (Anthopology) Bắt đầu là việc tiếp cận với các bộ lạc, các dân tộc hiện còn tồn tại luật tục để văn bản hóa luật tục Vào đầu thế kỷ XX đã xuất hiện bốn loại công trình thuộc dạng
văn bản luật tục: một là, những cuốn cẩm nang (Handbook) về luật tục, như:
“Cẩm nang Tswanan và tập quán”, cuốn “Sổ tay luật Neur” của P.P.Howell; hai
là, những cuốn luật tục đầu tiên, như “Luật tục của bộ lạc Haya thuộc lãnh thổ
Tanganyika” hay “Luật Sukuma và tập quán” của Cory Thuộc loại này có thể kể tới: “Luật tập quán bản địa” của Sey Mour “Luật bản địa được áp dụng ở Nata”
của Stafford; ba là, cuốn “Luật tục Shona” và cùng với nó là các cuốn: “Luật tục
Kamba” của D.Y.Penwill, “Luật tục Nam Di” của G.S.Nell, mô tả luật tục trong
môi trường xã hội, văn hóa và luật pháp của dân tộc; bốn là, loại mô tả luật tục
theo các vụ án mà các tòa án địa phương thực hiện và những bình luận của tác giả, thí dụ như cuốn: “Quá trình tòa án của người Brottse ở Bắc Phodesia” của Max Gluckam [104]
Vào những thập kỷ nửa cuối thế kỷ XX này, các nhà nhân loại học luật pháp đã mở rộng phạm vi nghiên cứu của mình trên nhiều bình diện khác nhau, như các vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu luật tục, nghiên cứu luật tục ở các vùng, các quốc gia khác nhau trên thế giới
Có thể khẳng định, châu Phi là nơi có nhiều công trình nghiên cứu
về luật pháp nói chung và luật tục nói riêng Trong một công trình “Luật
và lý luận luật pháp châu Phi”, do G.R.Woodman và A.O.Obilde chủ biên [104], đã đưa ra một danh mục hơn 100 nội dung nghiên cứu về luật và tác phẩm này cũng tập hợp các bài viết khác nhau của nhiều tác giả, trong đó phần lớn cuốn sách đề cập tới bản chất của luật tục châu Phi với ba phần chính: Những vấn đề chung; nhân loại học pháp luật; luật tục trong hệ thống pháp luật của Nhà nước (G.R.Woodman and A.O.Obilade) Ngoài
ra phải kể đến công trình của Y.C.Bekker: “Luật tục Nam phi”, đề cập tới nhiều khía cạnh quan hệ giới tính, quan hệ hôn nhân và quan hệ gia đình, quyền thừa kế
Trang 15Ở châu Á, có công trình do Masaji Chiba (Nhật Bản), bao gồm nhiều chương viết về luật bản địa của nhiều dân tộc và quốc gia khác nhau, như người Ai Cập Hồi giáo, Iran Hồi giáo, Sri Lanka, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản Trong tác phẩm này Masaji Chiba đưa ra sự phân loại luật ở các nước châu Á dưới ba hình thức: Luật (Received law), Luật bản địa (Indigenous law) và dạng hỗn hợp giữa hai hình thức nêu trên (Masaji Chiba) [104] Ấn Độ là quốc gia có 5000 năm lịch sử, phong tục tập quán phong phú, nên có khá nhiều công trình đi sâu nghiên cứu luật tục, chẳng hạn như cuốn: “Luật tục bộ lạc ở Đông Bắc Ấn Độ” của Shinbani Roy và S.H.M.Rizvi; hay cuốn “Đất đai công cộng và luật tục”, xuất bản năm 1996 của Minoti Charcravarty-Kaul, đề cập đến vấn đề sở hữu đất đai ở Bắc Ấn Độ (Minoti Charcravarty-Kaul) Với châu Á, Inđônêxia và Malaysia là quốc gia hiện nay còn tồn tại luật tục (Adat)
và được sử dụng trong đời sống thường ngày của nhiều dân tộc Do vậy, đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu luật tục, như Von BenDa - Beckmann K và Von BenDa - Beckmann F (Hà Lan), nhà nghiên cứu người
Mỹ John Ambler Các nước như Canada, Australia, New Zealand vốn là nơi sinh sống của cư dân bản địa, còn ở trình độ phát triển thấp và tình trạng phụ thuộc vào chủ nghĩa thực dân Công trình của Kayleen M.Hazle Hurht đã đề cập tới tình trạng đa dạng pháp luật của cư dân bản địa của các nước kể trên trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân [104]
Về góc độ nhân học pháp luật, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến tới các vấn đề lý thuyết và phương pháp sưu tầm và nghiên cứu luật tục các dân tộc Đó là các công trình của Alan Dundes bàn tới khái niệm thế nào là luật tục (folk law), của Alan Watson về tiếp cận luật tục, của Van Den Dergh khái niệm luật tục trong khung cảnh lịch sử, của Obei Hag Ali về chuyển đổi luật tục thành luật pháp, Các vấn đề phương Đông cũng được đặt ra, như vấn đề văn bản hóa luật tục (T.O.Elias), sưu tầm luật tục (Simon Roberts) Nội dung vận dụng luật tục trong phát triển xã hội cũng được quan tâm, nhất là vấn đề luật tục và việc bảo vệ khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên [104]
Trang 16Như vậy, công việc nghiên cứu luật tục trên thế giới từ thế kỷ XX đã đạt được những tiến bộ đảng kể cả lý luận, phương pháp nghiên cứu, do đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu luật tục ở Việt Nam trong thời gian vừa qua
1.2 CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ TRONG NƯỚC
1.2.1 Công trình nghiên cứu có liên quan đến luật tục của các dân tộc ở Việt Nam
- Cuốn sách “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam” của Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, Viện Nghiên cứu Văn hóa dân gian [121] Tại đây, có những bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về luật tục các dân tộc, nổi bật như: “Nguồn gốc và bản chất của luật tục Tây Nguyên” của tác giả Phan Đăng Nhật, bài viết đã khái quát quá trình nghiên cứu luật tục Tây Nguyên của người Pháp và người Việt Nam, trên cơ sở đó nêu lên bản chất của luật tục một số dân tộc Tây Nguyên, cuối cùng tác giả kiến nghị cần thiết phải sưu tầm luật tục Tây Nguyên (cũng như các dân tộc thiểu số khác) và soạn thảo tài liệu gửi đến cơ sở để thực hiện Phải nói rằng, địa bàn Tây Nguyên
là có nhiều công trình nghiên cứu hơn cả, chẳng hạn như: “Luật tục Ê Đê, luật tục M’Nông và vai trò của nó trong đời sống các dân tộc Đắc Lắc” của tác giả Nguyễn Hữu Trí; “Luật tục Raglai đối với các vấn đề liên quan đến gia súc” của Chamaliaq Tiến; “Luật tục Raglai đối với hành vi trộm cắp lừa gạt tài sản công dân” của tác giả Trần Vũ; hoặc bài viết “Tập quán và vai trò của người đàn ông Ê Đê trong xã hội mẫu hệ” của tác giả Nguyễn Thị Hòa v.v Bài viết
có tựa đề “Văn hóa thích nghi của người H’Mông trắng ở Thài Phìn Tủng, Đồng Văn, Hà Giang” của tác giả Lê Trọng Cúc là một trong ít công trình nghiên cứu về tập quán của người H’Mông được trình bày tại hội thảo này; Thừa Thiên Huế là địa bàn có đông đồng bào thiểu số, tác giả Nguyễn Văn Mạnh có bài “Những qui định khai thác và bảo vệ đất đai trong sản xuất nương rẫy của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Thừa Thiên - Huế” v.v
- Tác giả Ngô Đức Thịnh có khá nhiều công trình nghiên cứu về luật tục, trong đó phải kể đến: Cuốn “Tìm hiểu luật tục các tộc người ở Việt Nam”
Trang 17[103], công trình 11 chương, gồm hai phần, phần khảo sát các khía cạnh khác nhau của luật tục (như góc độ tiếp cận, bản chất, hình thức phát triển của luật tục ), phần hai giới thiệu luật tục một số dân tộc “Luật tục trong đời sống các tộc người ở Việt nam” [104], tác giả đã kế thừa công trình nêu trên để phát triển có chiều sâu hơn, nhất là phần cơ sở lý luận
- Cuốn “Luật tục với đời sống” của tác giả Phan Đăng Nhật [74], đã luận giải luật tục các dân tộc Việt Nam và giới thiệu minh chứng nội dung luật tục JRai trên một số lĩnh vực liên quan của đời sống xã hội
- Quảng Nam là địa bàn có nhiều tộc người thiểu số sinh sống, tác giả Bùi Quang Thanh cùng các cộng tác viên đã dày công khảo cứu cho ra mắt công trình “Nghiên cứu luật tục, phong tục các dân tộc thiểu số ở Quảng Nam” [93], cuốn sách đã điều tra, khảo sát thực trạng khai thác sử dụng luật tục của bốn nhóm dân tộc ít người, gồm Co, Cơ Tu, Giẻ Triêng và Xơ Đăng, tìm hiểu nhận thức, thái độ và hoạt động thực hành luật tục; làm rõ vai trò tác động của luật tục; đưa ra những bất cập trong qúa trình thực hiện luật tục; đồng thời đề xuất một số giải pháp mang tính ứng dụng vào thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội ở vùng này
- Cá biệt có một số công trình chuyên nghiên cứu vận dụng luật tục đối với các hoạt quản lý xã hội, quản lý nhà nước như: Tác giả Trương Tiến Hưng với đề tài “Vận dụng luật tục dân tộc Chăm trong quản lý cộng đồng người Chăm của chính quyền cơ sở ở tỉnh Ninh Thuận” [48], tác giả
đã làm rõ cơ sở lý luận vận dụng luật tục Chăm, khảo sát thực tiễn thực trạng vận dụng và đưa ra những giải pháp để chính quyền cơ sở vùng dân tộc Chăm Ninh Thuận tổ chức thực hiện Tác giả Lê Đình Hoan với đề tài
“Luật tục Ê Đê và sự vận dụng trong quản lý nhà nước ở tỉnh Đắc Lắc”, là công trình nói rõ về nghiên cứu vận dụng quản lý nhà nước của chính quyền [37]
- Đối với người Việt, tác giả Bùi Xuân Đính có cuốn “Hương ước và quản lý làng, xã” [26], đây là một trong những công trình nghiên cứu có chiều
Trang 18sâu về hương ước của người Việt trong mối quan hệ với quản lý xã hội ở làng
1.2.2 Công trình nghiên cứu liên quan đến người Thái ở Việt Nam
1.2.2.1 Các công trình nghiên cứu về dân tộc học, lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc liên quan đến người Thái Việt Nam
Với quá trình lịch sử phát triển lâu dài và tính phong phú, đa dạng, độc đáo của mình, văn hóa và lịch sử dân tộc Thái đã được đông đảo c¸c nhà khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu từ nhiều năm nay Theo thống kê của Giáo sư, Tiến sĩ Shigêharu Tanabê (người Nhật Bản) thì cuối thế kỷ XIX đến năm 1991 đã có 1.303 tác giả viết về các tộc người nói tiếng Thái [21] Nội dung các bài viết đó đã đề cập đến tất cả các lĩnh vực liên quan đến người Thái Đông Nam Á Tác giả nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam, kể cả trong và ngoài nước cũng khá phong phú, tiêu biểu có một số công trình nghiên cứu như sau:
- “Nhận xét về người Tày Đèng ở Lang Chánh” của tác giả R.Rô - ber [84] Công trình nghiên cứu về địa lý, về con người và một số phong tục của người Thái ở Lang Chánh - Thanh Hoá Đặc biệt, tác giả đã dày công quan sát văn hóa con người nơi đây và đưa ra những đánh giá, nhận xét khá thú vị về phong cách sinh hoạt, đời sống thường ngày, về văn hóa tâm linh của người Thái ở Lang Chánh, Thanh Hóa
- “Người Thái ở Tây bắc Việt Nam” của tác giả Cầm Trọng Nghiên cứu về lịch sử, kinh tế, xã hội, tập quán người Thái Tây Bắc Việt Nam Có thể khẳng định, đây là công trình của tác giả Việt Nam đầu tiên giới thiệu khá sâu sắc
về văn hoá, phong tục tập quán của người Thái Tây Bắc nước ta [114]
Trang 19Thấy được những giá trị văn hóa, lịch sử và dân tộc học của cộng đồng các tộc người ngữ hệ Thái - Kadai, từ hơn 20 năm nay (1991) Viện Việt Nam học và khoa học phát triển - Đại học Quốc gia Hà Nội đã sáng lập Chương trình Thái học nhằm nghiên cứu những đặc điểm về quá trình tộc người, mối liên hệ văn hóa tộc người, không gian văn hóa và các mối quan hệ của cộng đồng trong khu vực Tây Bắc Việt Nam Từ đó đến nay, Chương trình Thái học đã tổ chức sáu Hội thảo khoa học Hội thảo lần thứ nhất được tổ chức tại
Hà Nội vào năm 1991 với chủ đề chung về nhóm ngữ hệ Thái - Kadai, có 34 báo cáo khoa học và 39 lượt tác giả [20] Hội thảo lần thứ II (Năm 1998), Hội thảo lần thứ III (2002) được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề về “Các vấn đề văn hóa, lịch sử”, Hội thảo lần thứ hai có 58 báo cáo khoa học, 62 lượt tác giả [21]; Hội thảo lần thứ ba có 117 báo cáo khoa học, 115 lượt tác giả [22] Hội thảo lần thứ IV (năm 2006) được tổ chức tại Cao Bằng với chủ đề “Đóng góp của các dân tộc Tày Thái trong tiến trình lịch sử Việt Nam” có 61 báo cáo khoa học, với 53 lượt tác giả tham gia [23] Hội thảo lần thứ V (2009) được tổ chức tại Điện Biên với chủ đề “Địa danh và những vấn đề lịch sử, văn hóa” có
50 báo cáo của 50 nhà khoa học [24] Hội thảo lần thứ VI được tổ chức vào tháng 6 năm 2012 tại Thanh Hoá với chủ đề “Cộng đồng dân tộc Thái - Kadai: Truyền thống, hội nhập và phát triển” có 74 báo cáo khoa học của 87 lượt tác giả [25] Thông qua những hoạt động nêu trên cho thấy nhóm ngữ hệ Thái - Kadai nói chung và Văn hóa Thái nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Các công trình giới thiệu tại sáu cuộc Hội thảo đều được đầu tư công phu, có cơ sở khoa học và sát với thực tiễn cuộc sống, bước đầu lý giải nhiều vấn đề mà lâu nay giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử còn tranh luận Một điều quan trọng hơn phải khẳng định, đây là môi trường hết sức có
ý nghĩa nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa của các tộc người nói tiếng Thái trên thế giới cũng như ở Việt Nam
- Nghệ An là tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số, trong đó người Thái chiếm
đa phần Nghiên cứu đầu tiên về cộng đồng thiểu số ở Nghệ An của tác giả Nguyễn Đình Lộc có tựa đề “Các dân tộc thiểu số Nghệ An” [57], công trình
Trang 20này đã giới thiệu một cách khái quát văn hoá, lịch sử, truyền thống của đồng bào ở Thái Nghệ An, đây cũng là công trình đã và đang là “cẩm nang” quan trọng cho những người quan tâm tìm hiểu văn hóa các dân tộc thiểu số Nghệ
An, trong đó có người Thái
- Các công trình về văn hoá nghệ thuật, giới thiệu về ca dao, dân ca, hát giao duyên, truyện cổ, truyện thơ dân tộc Thái, cụ thể như: “Thơ ca, nghi lễ dân tộc Thái” [45]; “Hát giao duyên người Thái Nghệ An” của tác giả Lò Khánh Xuyên [133]; Công trình “Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái Tây Bắc Việt Nam" của tác giả Dương Minh Sơn [89]; Công trình có tựa đề tiếng Thái “Tạo Sông Ca - Nàng Si Cáy” do Lương Thị Đại biên dịch [19], câu chuyện kể về tình yêu khác thường của đôi trai gái Sông Ca và Si Cáy, tình yêu nở từ khi bé gái Si Cáy còn trong bụng mẹ, vượt nhiều khó khăn trở ngại rồi cuối cùng Sông Ca và Si Cáy lấy nhau, sống hạnh phúc bên nhau Tác giả Quán Vi Miên có khá nhiều công trình,
đó là: “Ca giao - Dân ca Thái Nghệ An”, Tập 1, Tập 2 [67]; “Tang lễ của người Thái ở Nghệ An” [68]; “Tục ngữ Thái giải nghĩa” [69]; “Chương Han” của tác giả Vương Trung [119], đây là tác phẩm mang tầm vóc sử thi anh hùng ca; “Văn hóa dân gian người Thái” của tác giả Lò Vũ Vân [129];
“Hày Xổng Phi (khóc tiễn hồn)" của tác giả La Quán Miên [66]; “Truyện
cổ Thái” của tác giả Ninh Viết Giao [28], là công trình khoa học tập hợp kho tàng truyện cổ của người Thái, chủ yếu sưu tầm ở vùng núi phía Tây Nghệ An Những nỗ lực nêu trên thể hiện tâm huyết của các nhà nghiên cứu, sưu tầm đối với dân tộc Thái, mặt khác đây là biểu hiện sinh động của
sự phong phú, đa dạng, độc đáo, bất tận của văn hóa người Thái ở nước ta
- “Văn hóa Thái Việt Nam” của nhóm tác giả Cầm Trọng, Phan Hữu Dật [115] Công trình này giới thiệu tổng quát về người Thái và Thái học, về văn hóa Thái trong cội nguồn chung của Việt Nam và Đông Nam Á và Mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ Môn -Khơ
Me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở miền Bắc Việt Nam
- “Các giá trị văn hóa vật chất của người Thái ở miền núi Nghệ An” của tác giả Artha Nantachukra [72] Đây cũng là một trong số rất ít công trình
Trang 21nghiên cứu có chiều sâu về văn hóa người Thái ở Nghệ An Tác giả là người Thái Lan, thuộc nhóm Tày Đăm (Thái Đen) ở Đông Bắc Thái Lan, tương đồng văn hóa với người Thái ở Việt Nam, nên sau khi công trình được công
bố đã được đông đảo giới nghiên cứu văn hóa, lịch sử đánh giá cao
- “Thiết chế bản - mường truyền thống của người Thái ở miền Tây Nghệ An” của tác giả Vi Văn An [1] Đây là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam đề cập tới vấn đề thiết chế quản lý xã hội của cộng đồng dân tộc Thái Trọng tâm nghiên cứu của luận án là hai mường thuộc huyện Con Cuông tỉnh Nghệ An (ngày nay), đó là Mường Quạ và Mường Chai Luận án
đã rút ra những kết luận quan trọng, có ý nghĩa lý luận về lịch sử, nguồn gốc quản lý xã hội trong cộng đồng dân tộc Thái lúc bấy giờ
- “Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung bộ hiện nay”, do tác giả Cao Văn Thanh chủ biên [94] Nghiên cứu đại cương về người Thái và văn hóa truyền thống của người Thái ở vùng núi Bắc Trung bộ, khái quát thực trạng văn hóa và đưa ra một số giải pháp bảo tồn, phát huy, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung Bộ trong giai đoạn hiện nay
- Tác giả Cầm Trọng có cuốn “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam” [118] Tác giả tiếp tục nghiên cứu giới thiệu bổ sung về lịch sử, văn hóa, kinh tế, xã hội, tín ngưỡng tôn giáo người Thái Việt Nam Đây là công trình có phương pháp tiếp cận mới, đa chiều, nhiều chi tiết khi luận giải về cội nguồn lịch sử, văn hóa Thái đã gắn liền với cội nguồn lịch sử, văn hóa của người Việt
- “Khủn Chưởng anh hùng ca Thái” của tác giả Phan Đăng Nhật [73], là công trình khoa học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu về Khủn Chưởng bằng hai thứ tiếng Việt và Anh; giới thiệu tác phẩm Khủn Chưởng bằng chữ Quốc ngữ, chữ Thái cổ và chữ Thái la tinh “Khủn Chưởng anh hùng ca Thái” còn gọi là Lái Khủn Chưởng, lưu truyền rất lâu đời và sâu rộng trong nhân dân bằng nhiều hình thức như: kể, hát (khắp), khóc (hày) và ghi bằng chữ Thái cổ, trong đó phổ biến nhất là hát Qua Khủn Chưởng chúng ta được tiếp cận với một kho tàng huyền thoại Thái phong phú, sinh động và hấp dẫn Bản anh hùng ca cho ta cuốn
Trang 22hút vào những cảnh chiến đấu can trường, dũng cảm với vô vàn voi ngựa, gươm đao, những đám cưới ca hát say sưa, của cải tràn trề; niềm vui thắng trận, cũng như nỗi đau đớn buồn thương khi Khủn Chưởng nửa chừng phải lìa đời v.v
- Tác giả Vi Văn Biên có công trình: "Một số phong tục và lễ hội truyền thống của người Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An" [9] Đây là một trong nhưng công trình hiếm hoi nghiên cứu về người Thái ở phạm vi hai địa phương Thanh hóa, Nghệ An, và cũng là một công trình có phân tích khái quát bước đầu về những giá trị văn hóa, phong tục tập quán trong đời sống người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam
Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu đã nêu ở trên, cho chúng
ta hình dung sự ưu ái, quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu, các nhà sưu tầm về văn hóa các dân tộc nói tiếng Thái trên thế giới nói chung và văn hóa người Thái Việt Nam nói riêng Ngoài những công trình nêu trên, còn có rất nhiều khóa luận, luận văn, bài viết trên các tạp chí nghiên cứu về văn hóa, ngôn ngữ v.v của người Thái trong thời gian qua
Vấn đề chúng ta rút ra ở đây là, các công trình nghiên cứu đã góp phần quan trọng cho việc giới thiệu và bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng người Thái song hành cùng nền văn hóa của đại gia đình dân tộc Việt Nam
1.2.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan đến luật tục người Thái ở Việt Nam
Nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm luật tục ở Việt Nam đã được các nhà khoa học quan tâm từ khá lâu Tuy nhiên, việc nghiên cứu luật tục để quản lý
xã hội hiện đại thì mới xuất hiện từ vài chục năm trở lại đây
Phải khẳng định rằng, các học giả nước ngoài là những người tiên phong trong nghiên cứu giới thiệu luật tục và nghiên cứu các khía cạnh vận dụng luật tục Sau đó, nhiều học giả trong nước đã tiếp cận vấn đề này một cách tích cực, song mới chỉ dừng lại ở việc tập hợp luật tục, giới thiệu đặc điểm, ưu, khuyết điểm của luật tục, và gợi mở một số nét cơ bản về vận dụng, chưa có công trình chuyên sâu về vấn đề vận dụng vào quản lý xã hội Một số công trình nổi bật phải kể đến đó là:
Trang 23- Cuốn “Tư liệu về Lịch sử và xã hội dân tộc Thái” của nhóm tác giả Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng, Khà Văn Tiến, Tòng Kim Ân [128] Công trình tập hợp và giới thiệu các nội dung chủ yếu sau: Truyện kể bản mường; Lai lịch dòng họ Hà Công; Lệ mường; Luật mường; Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu - Sơn La
- Cuốn sách tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, với tựa đề “Luật tục và phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay" [121] Tại đây,
có những bài viết của nhiều tác giả nghiên cứu về vận dụng luật tục, cụ thể như: “Luật tục và chiến lược phát triển nông thôn ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Quí [121, tr.13]; “Vai trò của luật tục vùng cao trong công tác giao đất khoán rừng và quản lý tài nguyên thiên nhiên”, của tác giả Hoàng Xuân Tý [121, tr.310]; “Vai trò của phong tục tập quán và việc kế thừa phong tục tập quán trong xây dựng pháp luật” [121, tr.863]; “Luật tục và vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên: những gợi ý nhằm hoà hợp luật thành văn và luật tục ở Châu Á”, của tác giả John Ambler [121, tr.219-257]; “Luật truyền thống của người Thái: Khái quát chung về luật hiít khoòng ở Lào” của tác giả Oliver Raendchen [121, tr.581], tại đây, tác giả đã dẫn chứng về luật tục truyền thống, đó là luật hiit khoòng hiện đang có hiệu lực ở các bộ tộc người Lào, Thái Phuan, Thái Lue, Thái Yuan, Thái Dam Một số bài viết về luật tục người Thái, điển hình như: “Luật tục Thái với việc bảo vệ môi trường” của tác giả Cầm Trọng [121, tr.356]; “Phong tục trong hôn nhân và gia đình của người Thái Mường Tấc (Phù Yên - Sơn La)” của tác giả Hoàng Lương [121, tr.582] Tác giả cho rằng, đây là hội thảo khoa học lớn nhất bàn về vận dụng luật tục vào phát triển nông thôn ở Việt Nam Tuy nhiên, hội thảo nghiên cứu
hệ thống luật tục của nhiều dân tộc khác nhau trong cả nước, do đó luật tục người Thái vẫn chưa được mổ xẻ có chiều sâu, nhất là nghiên cứu những giá trị của luật tục người Thái và sự vận dụng trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ thì chưa có công trình nào đề cập tới
- Nhóm tác giả Ngô Đức Thịnh và Cầm Trọng có cuốn “Luật tục Thái
ở Việt Nam” [102] Công trình được trình bày bằng hai ngôn ngữ: chữ Thái
và bản dịch tiếng Việt Nội dung chủ yếu của cuốn sách trình bày khái quát một số khái niệm về luật tục, luật tục người Thái; những nội dung cơ bản của
Trang 24luật tục người Thái Đen ở Thuận Châu, Sơn La và một số nội dung luật tục người Thái ở Tây Bắc do đồng tác giả Cầm Trọng sưu tầm
- Cũng là một dạng, một hình thức luật tục người Thái, tác giả Quán Vi Miên đã sưu tầm và giới thiệu cuốn “Tục ngữ Thái giải nghĩa” [69] được thực hiện dưới hai ngôn ngữ: Phiên âm tiếng Thái (La Tinh) và dịch nghĩa tiếng Việt, gồm giới thiệu những nội dung tác giả sưu tầm được ở Nghệ An
- Cuốn sách có tiêu đề “Tìm hiểu luật tục các dân tộc ở Việt Nam” của tác giả Ngô Đức Thịnh [103] Trong đó có phần giới thiệu luật tục người Thái, tác giả
đã nêu khái quát vai trò của luật tục trong phát triển nông thôn Việt Nam
Cũng phải đánh giá khách quan rằng, những công trình nghiên cứu về luật tục người Thái các tác giả chỉ mới dừng lại việc trình bày hệ thống luật tục của các dân tộc thiểu số, khái quát sơ lược vấn đề vận dụng, chưa đi sâu nghiên cứu việc vận dụng luật tục, nhất là luật tục người Thái vào thực tiễn công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội ở vùng dân tộc Thái
- Công trình sau đây đã giới thiệu khá chi tiết về tín ngưỡng cúng vía của người Thái, đó là cuốn “Tìm hiểu một số tục cúng vía của người Thái Đen ở Mường Lò” [34] Nội dung của của cuốn sách trình bày tục cúng vía- một nét văn hóa của người Thái nói chung, Thái Đen Mường Lò nói riêng Cúng vía là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng trong cộng đồng người Thái Cúng vía, tức là gọi hồn, gọi vía, một nghi lễ tín ngưỡng Theo quan niệm của người Thái, người sống có vía của người sống (tiếng Thái gọi là phi khoăn), người chết có vía, tiếng Thái gọi là phi tai, một số con vật, cây cối, rừng núi, đất đai…người ta quan niệm đều có hồn, vía Và theo tục lệ,
có thể cúng vía theo định kỳ, theo chu kỳ hoặc có thể cúng vía đột xuất do
có các sự kiện vui, buồn…khác nhau phát sinh trong đời sống thường nhật Cho đến nay, tục lệ này đang được duy trì khá phổ biến trong cộng đồng người Thái ở Việt Nam
- Tác giả Bùi Xuân Trường với cuốn: “Tác dụng của luật tục đối với việc quản lý xã hội ở các dân tộc Thái, H’Mông Tây Bắc Việt Nam” [124] có phương pháp tiếp cận luật tục thực tế hơn, gắn với những vấn đề liên quan đến quản lý xã hội, có tính thời sự Tuy nhiên, công trình này mới ở dạng khái quát, và nghiên cứu chung cho quản lý xã hội, không đi sâu khai thác ở nhiều
Trang 25lĩnh vực quản lý nhà nước Đặc biệt phần cơ sở lý luận và phần giải pháp chưa được đầu tư công phu
- Liên quan đến giá trị của luật tục người Thái, có nhiều công trình đã tập hợp, giới thiệu về phong tục tang lễ, cưới xin, tri thức dân gian của người Thái, ví dụ như: Cuốn: “Hôn nhân truyền thống dân tộc Thái ở Điện Biên” của nhóm tác giả Lương Thị Đại, Lò Xuân Hinh [18]; “Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam” của tác giả Đỗ Thúy Bình [11];
“Phong tục tang lễ của người Thái Đen xưa kia”, tác giả Lương Văn Trung [120]; hoặc cuốn “Văn hóa Thái, những tri thức dân gian”, của tác giả Đặng Thị Oanh [79]
Nhìn chung, tất cả các công trình nghiên cứu của các tác giả là sự nỗ lực, cố gắng để mang những giá trị dân gian vào cuộc sống đương đại một cách hài hòa, với mong muốn sẽ có được hiệu quả nhất định Tuy nhiên, xét
về góc độ gắn với thực tiễn quản lý xã hội, quản lý nhà nước, các công trình chỉ dừng lại ở lĩnh vực dân tộc học, sử học, hoặc có tác giả đã nghiên cứu về vận dụng luật tục nhưng mới ở mức độ tiếp cận khái quát mang tính bước đầu, và chỉ nghiên cứu ở một số lĩnh vực, một số vùng miền trong phạm vi hẹp, luật tục người Thái vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống Mặt khác, quá trình nghiên cứu các tác giả chưa có sự so sánh giữa luật tục với các qui phạm pháp luật và chưa phân tích rõ những tiến bộ hay hạn chế của hệ thống luật tục đó, đặc biệt là chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá có chiều sâu về những giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý xã hội, quản lý nhà nước, nhất là nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam thì chưa có công trình nào công bố
1.3 ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT KẾT QUẢ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.3.1 Các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài
1.3.1.1 Một số kết quả đạt được
Công trình nghiên cứu về luật tục, hình thức tập quán pháp được đông đảo các nhà khoa học chính trị, khoa học pháp lý, các nhà dân tộc học trên thế giới rất chú ý, đặc biệt tập trung ở các nước lúc bấy giờ có thuộc địa, như
Trang 26Anh, Pháp, Tây Ban Nha , trọng tâm nghiên cứu phải đến thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX mới được các nhà cầm quyền của các quốc gia có thuộc địa và các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu có tính hệ thống hơn
Những nhận định bước đầu, có ý nghĩa định hướng nhận thức và thôi thúc các nhà cầm quyền và nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, đó là quan điểm: Tất cả những hiện tượng văn hóa đều cần thiết và mang chức năng nhất định trong một xã hội nhất định
Từ những sự quan tâm đó, việc nghiên cứu luật tục được thực hiện thông qua các bước, từ việc sưu tầm, phân loại luật tục đến việc đánh giá, vận dụng, phổ biến luật tục Các công trình nghiên cứu đã góp phần làm phong phú thêm khối tư liệu khoa học trên nhiều lĩnh vực lịch sử, nhân học, văn hóa học , đặc biệt hơn đã góp phần làm phong phú thêm môn khoa học pháp lý cũng như khoa học quản lý; mặt khác những công trình nghiên cứu nêu trên là kho tư liệu có ý nghĩa tham khảo để lại cho thế hệ mai sau tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và phát triển
Thông qua nhiều công trình nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn, cơ bản các nhà khoa học đều thống nhất khẳng định: tập quán, luật tục, ngoài việc nó có giá trị trong các môn khoa học khác (dân tộc học, nhân loại học, văn hóa học ), còn có giá trị trong khoa học quản lý Nếu việc nghiên cứu có tính hệ thống, vận dụng một cách hài hòa sẽ giúp cho chính quyền quản lý có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số
Một trong những đóng góp lớn nhất của những công trình nghiên cứu này là việc đưa các lý thuyết về tiến bộ xã hội trở thành những nấc thang quan trọng trong quá trình phát triển của loài người, của các thể chế Nhà nước Từ việc con người nô lệ, số phận phụ thuộc trở thành có tự do hơn; từ một xã hội bảo thủ, độc tài, vô dân chủ trở thành một xã hội dân chủ và văn minh hơn
1.3.1.2 Một số vấn đề chưa được quan tâm
Nhìn chung, chủ thể nghiên cứu hình thức tập quán pháp trên thế giới chỉ mới tập trung ở các nước có thuộc địa, chưa lan rộng thành môn khoa học chung, có tính phổ thông để tất cả các nhà khoa học, các chính quyền vào cuộc Đối tượng nghiên cứu cũng chỉ tập trung ở các nước thuộc địa, hoặc phạm vi cộng đồng nhỏ hẹp, cộng đồng thiểu số
Trang 27Việc nghiên cứu luật tục nhằm mục đích vận dụng vào quản lý xã hội chưa thực sự rõ nét, khó thực hiện trên thực tế, có khi xảy ra xung đột giữa luật quốc gia và tập quán; ở châu Á, đặc biệt là Việt Nam, chưa có nhiều học giả nước ngoài nghiên cứu vai trò của luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt, nhất là nghiên cứu đề xuất những giá trị của luật tục để vận dụng vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội thì còn hạn hữu Hoặc
có chăng nữa chỉ mới tập trung ở một số cộng đồng thiểu số ở Tây Nguyên (Việt Nam), chưa thật sự quan tâm nghiên cứu luật tục người Thái trên thế giới nói chung và luật tục người Thái ở Việt Nam nói riêng
Khi nghiên cứu luật tục, các tác giả chỉ mới quan tâm việc sưu tầm, tập hợp và giới thiệu là chủ yếu, hiếm có công trình nghiên cứu chiều sâu, hoặc vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu đánh giá, đưa ra những đề xuất mang tính khoa học, có tính thời đại
1.3.2 Các công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
1.3.2.1 Một số kết quả đạt được
Những công trình nghiên cứu luật tục các dân tộc ở trong nước tương đối đa dạng Nhiều công trình đã đào sâu cơ sở lý luận vận dụng luật tục, hương ước để quan lý xã hội nói chung Trong đó, có công trình đã nghiên cứu, luận giải khá chi tiết nội dung, giá trị của luật tục và đề xuất giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước ở cơ sở Đây là những tư liệu có ý nghĩa thực tiễn góp phần cùng pháp luật hiện hành, thể chế hiện hành quản lý xã hội
có hiệu quả hơn, đồng thời là cơ sở để cộng đồng các dân tộc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa của mình
Công trình nghiên cứu về dân tộc học, lịch sử, văn hóa, bản sắc dân tộc liên quan đến người Thái ở Việt Nam cho đến nay là hết sức phong phú Nếu so sánh thật sự công bằng về những tư liệu nghiên cứu, giới thiệu văn hóa tộc người nói chung thì chỉ đứng sau những công trình nghiên cứu văn hóa của người Việt
Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định, người Thái cũng như Văn hóa Thái gắn liền với lịch sự hình thành và phát triển của Quốc gia, dân tộc Việt Nam Cộng đồng người Thái có nhiều đóng góp quan trọng, có mặt quyết định trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước qua từng thời kỳ lịch sử cụ thể
Trang 28Những nhà nghiên cứu đi tiên phong đó là các học giả nước ngoài đến
từ nước Pháp, Thái Lan và Lào Bước đầu, các nhà khoa học đã tiếp cận tìm hiểu văn hóa Thái theo vùng, hoặc theo nhóm riêng lẻ, các nghiên cứu đều có chiều sâu nhất định Tiếp đến là các nhà nghiên cứu trong nước, số này có thể chia thành các nhóm nghiên cứu theo môn khoa học như: Dân tộc học, khoa học lịch sử, văn hóa học, văn hóa dân gian Hầu hết các nhà nghiên cứu đều đánh giá người Thái có bản sắc văn hóa độc đáo, nhân văn và cần được tôn trọng, nghiên cứu, tìm hiểu, lý giải một cách nghiêm túc
Trong điều kiện hội nhập quốc tế về văn hóa và nhu cầu của đồng bào thiểu số, trong khi bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng giữ và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho dân tộc mình; đồng thời là những tư liệu quí phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu lịch sử, văn hóa cộng đồng người Thái trên thế giới cũng như người Thái ở Việt Nam
Công trình nghiên cứu có liên quan đến luật tục người Thái và vai trò của nó trong quản lý xã hội Nội dung này, so với nhóm nghiên cứu về văn hóa, lịch sử nói chung thì hạn chế về tác giả và công trình nghiên cứu khoa học hơn Tuy nhiên, phần đa các công trình nghiên cứu luật tục người Thái vẫn là những bài nghiên cứu ngắn, khái quát, đăng trên các tạp chí hay những
kỷ yếu của Hội thảo khoa học Những nghiên cứu này ít nhiều là những luận
cứ khoa học về quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, góp phần cùng pháp luật
và các thiết chế hiện hành quản lý xã hội có hiệu quả hơn
Ở đây có thể chia vấn đề nghiên cứu luật tục ra thành ba loại, một là, dạng sưu tầm, văn bản hóa, dịch thuật, đơn thuần chỉ giới thiệu luật tục; hai
là, dạng vừa sưu tầm, vừa nghiên cứu vai trò của luật tục với xã hội hiện đại;
ba là, dựa vào luật tục đã được sưu tầm, giới thiệu để phân loại nó, phân tích,
đánh giá ưu, khuyết điểm, giá trị của luật tục và đề xuất những giải pháp vận dụng phù hợp Mỗi phương pháp nghiên cứu nêu trên có những ý nghĩa khác nhau, trong đó đóng góp cho việc giữ gìn và giới thiệu thuần phong mỹ tục của đồng bào Thái là nội dung cốt lõi
Trang 29Không chỉ nghiên cứu thực trạng trong nước, có nhiều công trình đã nghiên cứu thực tiễn diễn ra ở Trung Quốc và một số quốc gia có thể chế tương đồng với Việt Nam để rút ra một số bài học kinh nghiệm quí báu cho qúa trình quản lý xã hội ở nước ta, những công trình nghiên cứu này thực sự đáng trân trọng và cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu, phát huy
1.3.2.2 Một số vấn đề chưa được quan tâm
Các công trình nghiên cứu vận dụng luật tục các dân tộc trong nước trong quản lý nhà nước chưa được nhiều, vừa hạn chế về công trình và hạn chế về giải pháp kết hợp với pháp luật như thế nào, tổ chức thực hiện ra sao thì còn mờ nhạt Đa số công trình chủ yếu vẫn là tập hợp, phân tích, đánh giá luật tục, công trình đã công bố liên quan đến việc đề xuất các giải pháp vận dụng trong quản lý nhà nước chưa được các cấp chính quyền quan tâm triển khai thực hiện, chủ yếu chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu, chưa được tổ chức có hiệu quả trên thực tiễn
Thông qua nghiên cứu, tìm hiểu tác giả cho rằng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát người Thái ở Việt Nam cư trú trên tất cả các vùng trong nước và có sự đánh giá, so sánh điểm chung và những điểm khác biệt mang yếu tố địa phương của từng vùng Đặc biệt, rất ít công trình nghiên cứu thực trạng của của những vùng Thái trong thời kỳ đổi mới, nhất là những vùng người Thái di dân tái định cư, di dân tự do v.v
Luật tục Thái chưa được nghiên cứu có hệ thống Mặt khác, quá trình nghiên cứu các tác giả chưa có sự so sánh một cách đầy đủ giữa luật tục và các qui phạm pháp luật và chưa phân tích rõ những tiến bộ hay hạn chế của hệ thống luật tục đó, đặc biệt là chưa có công trình nghiên cứu, đánh giá sâu về nội dung, giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý xã hội, quản lý nhà nước, nhất là vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Việt Nam nói chung, người Thái Bắc Trung Bộ nói riêng
1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU, LUẬN GIẢI SÂU HƠN
1.4.1 Về phương diện lý luận
Luận án tập trung tìm hiểu đặc điểm của luật tục người Thái và mối quan hệ giữa luật tục người Thái với pháp luật; phân tích luận giải khái niệm
Trang 30vận dụng, phương thức vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái; làm rõ những vấn đề đặt ra về vận dụng luật tục nói chung và vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với người dân tộc thiểu số và cộng đồng người Thái ở Việt Nam hiện nay; tìm hiểu kinh nghiêm vận dụng luật trên thế giới và ở trong nước, đồng thời rút ra một số bài học kinh nghiệm gợi mở cho Việt Nam
1.4.2 Về phương diện thực tiễn
Phân tích làm rõ những giá trị xã hội của luật tục người Thái ở Việt Nam hiện nay; tiến hành khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước ở cơ sở đối với cộng đồng người Thái; luận chứng các quan điểm, giải pháp đảm bảo vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam
Tiểu kết chương 1
Như vậy, qua phần đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài tác giả cho rằng: trên thế giới cũng như trong nước, đã có nhiều tác giả với nhiều công trình nghiên cứu các nội dung liên quan đến luật tục và hình thức tập quán pháp, về quản lý nhà nước, phân quyền, phân cấp, tự quản cộng đồng Một số công trình đã mạnh dạn nghiên cứu vận dụng luật tục trong quản lý nhà nước, tuy nhiên các công trình này không nhiều và còn hạn chế về phần ứng dụng Đa phần các công trình chỉ mới giới hạn ở việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá những giá trị của luật tục và đề xuất giải pháp lưu giữ, bảo tồn là chính, việc đề xuất các giải pháp vận dụng cụ thể chưa được các nhà khoa học chú trọng Quá trình nghiên cứu các tác giả chưa so sánh có chiều sâu giữa luật tục và các qui phạm pháp luật; chưa có sự phân tích mối tương quan của luật tục người Thái với pháp luật Đặc biệt, chưa có công trình nào nghiên cứu, đánh giá công phu về những giá trị của luật tục người Thái trên nhiều lĩnh vực liên quan đến quản lý xã hội, nhất là nghiên cứu vận dụng luật tục người Thái trong quản lý nhà nước đối với cộng đồng người Thái Bắc Trung Bộ Việt Nam thì chưa có công trình nào đề cập đến
Kết quả khảo cứu các công trình cho thấy, phong phú nhất là các công trình nghiên cứu, sưu tầm, giới thiệu về văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam,
Trang 31ngoài các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu văn hóa, thì nhiều cá nhân tâm huyết đã vào cuộc sưu tầm, giới thiệu, tôn vinh về văn hóa dân tộc Thái Những công trình nghiên cứu nói trên là nguồn tư liệu quí, trước hết làm cơ
sở để tác giả tham khảo thực hiện đề tài này, và đáng trân trọng hơn đây là khối tư liệu để cho các thế hệ mai sau nối tiếp tìm hiểu, nghiên cứu, giới thiệu, sưu tầm lưu giữ bản sắc văn hóa Thái, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong thời gian tới
Trong điều kiện bản sắc văn hóa của các tộc người ngày càng bị mai một thì những công trình nghiên cứu nêu trên là những tài sản vô giá cho dân tộc Việt Nam nói chung, dân tộc Thái nói riêng, góp phần giữ gìn và thắp sáng thêm ngọn lửa bản sắc văn hóa cho cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Yêu cầu về hội nhập quốc tế ngày càng sâu, những nền văn minh trên thế giới đã và đang tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tập quán tiến bộ của các cộng đồng người phục vụ cho yêu cầu phát triển hài hòa của quốc gia mình, thì Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc
Trang 32Chương 2 LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
2.1 NGƯỜI THÁI VÀ LUẬT TỤC NGƯỜI THÁI Ở VIỆT NAM
2.1.1 Khái quát về người Thái ở Việt Nam
2.1.1.1 Nguồn gốc lịch sử, tên gọi, địa bàn cư trú
Theo nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đều tiếp cận theo hướng người Thái trên thế giới có chung một nguồn gốc Biểu hiện rõ nhất là thông qua ngôn ngữ, văn hóa Đã có công trình nghiên cứu cho rằng, gần 90% ngôn ngữ Thái trên thế giới nói chung là tương đồng, thông qua các công trình nghiên cứu của Giáo sư Phan Đăng Nhật về bộ ba các anh hùng ca Thái: Khủn Chưởng (sưu tầm ở miền Tây Nghệ An), Chương Han (lưu truyền ở Tây Bắc Việt Nam) và Thạo Hùng hay Chương (lưu truyền ở Thái Lan và Lào), nhiều nội dung, nhân vật, cốt truyện cơ bản giống nhau [43, tr.419]
Người Thái ở Việt Nam, xét về góc độ lịch sử tộc người được các nhà khoa học xác định có chung nguồn gốc với người Thái trên thế giới, hay rộng hơn là những người cùng ngữ hệ Thái nói chung
Khá nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về người Thái hoặc các công trình nghiên cứu về Thái học (Thai Studies) đều chưa có công trình nào
đủ cứ liệu khẳng định chắc chắn nguồn gốc của người Thái bắt đầu từ đâu Theo Hoàng Hoa Toàn trong bài viết có tựa đề Đôi nét về lịch sử cổ đại của người Thái ở Trung Quốc [20, tr.69], ông cho rằng tổ tiên của người Tày - Thái phía Tây đã sớm và liên tục có mặt ở Tây Nam Trung Quốc từ vài thế kỷ trước công nguyên Vùng Tây Nam hoặc chính xác hơn là Vân Nam của Trung Quốc là đất khởi thủy của người Thái và cho đến ngày nay vẫn là nơi
tụ cư chính của người Thái ở Trung Quốc Căn cứ vào một số tài liệu và một
số truyền thuyết dân gian thì bắt đầu từ thế kỷ thứ VIII sau công nguyên trở
về sau, dân tộc Thái ở Tây Nam Trung Quốc bắt đầu diễn ra những đợt thiên
di lớn, nhỏ khác nhau, những đợt thiên di này đều liên quan đến một số sự
Trang 33kiện lịch sử Vào thế kỷ thứ VIII, tộc người Thái ở vùng biên giới Vân Nam
bị Nam Chiếu (728 - 902) chinh phục, người Nam Chiếu nhiều lần dùng vũ lực chuyển dời một bộ phận người Thái vào sâu trong nội địa Vân Nam Từ thế kỷ X trở đi, do sự phát triển lớn mạnh của kinh tế - xã hội của bản tộc và
sự bành trướng của các vương triều Trung Hoa, nhất là thời Nguyên (thế kỷ XIII) đẩy mạnh chính sách dùng vũ lực chinh phục các tộc người phương Nam dẫn đến sự di cư lớn của người Thái ở vùng Tây Nam Trung Quốc xuống phương Nam Về sau, có bộ phận gặp được những điều kiện địa lý và lịch sử thuận lợi và đã thành lập được các vương quốc trên lưu vực sông Mê Công, Tây Lào, Bắc Băng Gan, Thái Lan Cũng có bộ phận gặp điều kiện ít thuận lợi hơn, chỉ thành lập được các tiểu nhóm cát cứ, do những lãnh chúa phong kiến đứng đầu
Trong cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” do Đặng Nghiên Vạn chủ biên và một số cộng sự thực hiện [128]; các tác giả đã cho chúng ta hình dung những nét cơ bản về lịch sử tộc người Thái Cuốn Truyện
kể bản mường của người Thái Đen, ghi các sự kiện xảy ra trong từng mường
do một chúa đất cai quản, đời này ghi tiếp đời kia từ lúc hai nhân vật nửa huyền thoại, nửa có thực là tạo Ngần, tạo Xuông dẫn dắt người Thái theo dọc sông Hồng (nặm Tao) đến khai phá đất Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) và người con là Lạng Chượng đi chinh phục các dân tộc cư trú ở Tây Bắc trước đó bắt đầu từ Mường Lò, qua Sơn La đến Điện Biên cho đến thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam Thông qua nhiều tài liệu, truyền thuyết
kể trên cho thấy người Thái di cư vào Tây Bắc Việt Nam bắt đầu là Mường
Lò, sau đó qua Sơn La rồi đến Điện Biên, thời điểm này vào khoảng thế kỷ thứ X [114, tr.5]; di cư vào Bắc Trung Bộ thuộc nhánh từ sông Mê Công Thái Lan tới, nhánh này di cư sang Việt Nam rồi tiến về phía Mộc Châu, Yên Châu sau đó theo sông Mã di cư về miền Tây Nghệ An Thời điểm người Thái di cư đến vùng đất này cũng chưa có ý kiến thống nhất, có thể sớm hơn thế kỷ XI hoặc không thể sớm hơn thế kỷ XII; theo các nguồn tài liệu thông
sử cho rằng người Thái có mặt tại đây rõ nét nhất là thời thuộc Minh, từ thế
kỷ XIII - XV [1]
Trang 34Người Thái ở Việt Nam bao gồm nhiều ngành và mỗi ngành lại chia thành nhiều nhóm với những tên gọi khác nhau tùy theo từng địa phương Ở Tây Bắc có những nhóm: Thái Đen, cư trú chủ yếu ở Sơn La, Yên Bái, Điện Biên; Thái Trắng cư trú chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, có một nhóm Thái Trắng đã chịu ảnh hưởng lớn của văn hóa Tày, như ở Sa Pa, Bắc Hà - Lào Cai Sự phân chia cộng đồng người Thái thành hai ngành Thái Trắng (Tày Khao), Thái Đen (Tày Đăm) rất phổ biến ở vùng Tây Bắc, thì đối với người Thái ở Thanh Hóa
và Nghệ An, sự phân biệt lại không rõ Đặc điểm chung nổi bật về cách gọi tên của người Thái ở vùng này là gọi theo các mường, nơi họ đang sinh sống (mường là thiết chế truyền thống của người Thái, tồn tại trước năm 1945) Cách gọi như vậy cũng phổ biến cho cả người Thái Tây Bắc và đó là cách gọi theo địa danh
Tuy nhiên, dù ở các mường khác nhau, nhưng người Thái ở miền núi hai tỉnh này cũng tự xếp mình vào các nhóm địa phương (local groups) nào đó mỗi khi họ cần phải làm như vậy, như trường hợp khi đi ra khỏi địa bàn của mình Cụ thể, ở tỉnh Thanh Hóa có các nhóm Tày Do, Tày, Tày Mường Trong ba nhóm này, nhóm Tày và nhóm Tày Do có số lượng đông hơn, Tày
Do thuộc ngành Thái Trắng, các nhóm Tày, Tày Mường thuộc ngành Thái Đen Từ Do ở đây có thể hiểu người Thái có chung nguồn gốc với các từ Do
để chỉ Mường Do ở Vân Nam - Trung Quốc, Mường Do ở Nghĩa Lộ - Yên Bái, Mường Do ở huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu của Việt Nam
Ở Nghệ An có các nhóm Tày Mường, Tày Thanh, Tày Mười và vấn đề tên gọi của các nhóm này phức tạp hơn Các nhóm Tày Mường còn có tên gọi
là Hàng Tổng và nhóm Tày Thanh còn gọi là Man Thanh Hàng Tổng là một
từ thuần Việt dùng để chỉ dân gốc của địa phương, còn Man Thanh cũng có ý nghĩa gần như Tày Thanh, cách gọi tên như vậy đã trở thành thói quen được duy trì đến ngày nay
Dù sự phân biệt thành các ngành Thái Trắng, Thái Đen ở miền núi của các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An không rõ ràng, nhưng nếu được hỏi thì người dân vẫn có thể tự xác định mình thuộc ngành nào Bộ phận tự gọi là Tày Do ở Thanh Hóa và Tày Mường ở Nghệ An chỉ là một, và họ tự nhận mình là
Trang 35người Thái trắng Các nhóm Tày, Tày Mường ở Thanh Hóa gần gũi với nhóm Tày Thanh, Tày Mười ở Nghệ An và tự coi là người Thái đen
Cho đến nay, địa bàn cư trú của người Thái ở Việt Nam tập trung chủ yếu ở hai vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ; vùng Tây Bắc gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình; vùng Bắc Trung Bộ gồm miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Ngoài ra, do chủ trương về định canh định cư và di cư tự do, một số tỉnh miền Trung Tây Nguyên đều có đồng bào Thái cư trú, có nơi thì tập trung thành xã, thành bản, có nơi thì cư trú xen kẽ cùng với các dân tộc khác
2.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của người Thái ở Việt Nam
Một là, người Thái có truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng, có tinh
thần tương thân tương ái, không những đối với đồng tộc mà cả cộng đồng quốc gia dân tộc Người Thái có ý thức mình là một dân tộc trong Quốc gia Việt Nam đã có từ bao đời, đồng bào tự nhận mình là người Thái của người Việt Nam hay là người Việt (cồn Việt) Ý thức này được thể hiện rất rõ trong tâm lý “yêu bản, mến mường” (hặc bán, pèng mường), họ luôn coi quê hương mình là một bộ phận của đất nước Việt Nam
Hai là, Người Thái có một ngôn ngữ thống nhất Dù ngành Thái Trắng
hay Thái Đen, hay các nhóm Thái địa phương (Tày Thanh, Tày Mường, Tày Hàng Tổng ) cơ bản đều đồng nhất về ngôn ngữ Khi so sánh ngôn ngữ Thái với ngôn ngữ của một dân tộc cùng nhóm ngữ hệ như Tày, Nùng, Lào, Lự, Giấy thì có thể kết luận đó là những ngôn ngữ có chung một cội nguồn Ngôn ngữ Thái, nhất là Thái cổ có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ Việt cổ Ngôn ngữ này có mấy đặc trưng cơ bản: Tiếng nói đơn âm,
có thanh điệu (độ cao, thấp của từ có phân biệt ý nghĩa) và cấu tạo theo thứ tự chủ ngữ - vị ngữ - các thành phần khác, trừ những câu thuộc mệnh lệnh thức,
ít có trường hợp ngược thứ tự này Văn tự Thái bắt nguồn từ bộ chữ Phạn Đặc điểm của cách cấu tạo chữ Thái rất thống nhất, đó là chữ ghép vần, có hệ thống phụ âm, nguyên âm để ghép lại thành tiếng
Ba là, Người Thái có chung một tâm lý biểu hiện về các mặt văn hóa
vật chất và tinh thần thống nhất
Trang 36Người Thái canh tác ở các thửa ruộng trong các thung lũng lòng chảo, với đặc trưng dẫn thủy nhập điền (Mương, Phai, Lái, Lìn) và sử dụng các công cụ sản xuất thành thạo; có tập quán trồng lúa nếp và dùng lúa nếp làm lương thực chủ yếu
Về ẩm thực, người Thái có nhiều món ăn đặc trưng, trong đó phải kể đến như: món cheo (chẻo), lạp, coi (một hình thức làm gỏi), pa pính tộp (cá
mổ dọc sống lưng của cá và cho gia vị, rau thơm, gấp cá lại và nướng), pa phe (cá mổ ở sống lưng, lấy que xâu lại, gác bếp cho khô, sau đó hông lên để dùng); cenh bon (nấu canh bằng cây mùng ngọt); mọc, nạp v.v
Về nhà ở, người Thái ở nhà sàn (có thể nguyên vật liệu khác nhau), cơ bản kết cấu, sử dụng trong ngôi nhà có sự tương đồng
Về mặc, phụ nữ mặc váy đen hoặc váy có thêu hoa văn thổ cẩm, có khăn đội đầu (nổi bật là khăn piêu của người Thái Đen, hoặc khăn xờng của nhóm Thái Tày Thanh (Thái Đen) ở Nghệ An, thêu hoa văn hai đầu khăn), áo phụ nữ ngắn, xẻ ngực, có đính cúc nhỏ hình cầu hoặc cúc bạc hình bướm, nhện, ve sầu, hoa (loại áo này còn gọi là xứa cóm); lúc trời rét hoặc nghi lễ
có áo dài màu đen, xẻ nách hoặc kiểu áo chui đầu Nam giới xưa mặc quần đen hoặc quần trắng, không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng, mặc áo
xẻ ngực, màu sắc thường màu đen, hoa văn kẻ hoặc màu gạch non, cúc áo bằng đồng hoặc tết bằng dây vải, áo có hai túi ở vạt trước hoặc có thể có một túi ngực; mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen xẻ nách, đầu quấn khăn
Người Thái có tâm lý thống nhất là: Cần cù, dũng cảm trong lao động
và đấu tranh, tính tình thật thà, chất phác, giản dị, làm nhiều nhưng nói ít, thích từ tốn, chứ không dữ dội, nôn nóng Làm tới đâu chắc tới đó, chứ không hay làm thật nhiều Họ thích tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt Người Thái rất mến khách, nên thường có tính rộng lượng Sinh hoạt gia đình đầm ấm, vợ chồng ít có cãi cọ, mắng chửi nhau, hoặc cha mẹ cũng ít mắng chửi con cái Đàn ông thì xốc vác, chăm chỉ; đàn bà thì trung hậu, đảm đang, thương chồng, con Tình cảm của đồng tộc được thể hiện rõ rệt, biểu hiện ở trong tập tục, sinh hoạt gắn bó của người người trong bản, trong mường
Sự thống nhất về mặt văn hóa, tinh thần của họ còn biểu hiện trên cách nhìn và giải thích thế giới Mặt này thường thể hiện trong các mô tuýp thần
Trang 37thoại và truyền thuyết về thiên nhiên, địa vực cư trú và nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình Mặc khác còn thể hiện trong âm nhạc, nghệ thuật, văn học, các tập tục tín ngưỡng [114]
Người Thái có đời sống tín ngưỡng phong phú, họ rất coi trọng phần hồn Người Thái quan niệm vạn vật hữu linh, hồn vía người còn sống gọi là “phi khoăn”, hồn vía người đã khuất gọi là “phi tai”, hồn vía của bố, mẹ đã quá cố gọi
là “phi hườn”, hồn vía của tổ tiên gọi là “lắm pang” Do vậy, theo tục lệ, người sống thì có tục gọi vía hoặc làm vía (hiếc khoăn, ệt khoăn), như một hình thức động viên tinh thần; những người đã khuất theo tục lệ thì cúng ma nhà (xơ phi hườn, lắm pang), một hình thức như báo ơn tổ tiên Như vậy, kể cả người sống, người đã mất đều được ứng xử về mặt tâm linh gần như ngang nhau Đối với vạn vật xung quanh, như đất đai, rừng núi, sông ngòi, cây cối, vật nuôi người Thái luôn ứng xử một cách phù hợp, hài hòa, không gây hại mà có ý thức vun đắp để vạn vật luôn tồn tại, phát triển và đồng hành với cuộc sống của mình
Bốn là, người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế và xã hội cổ
truyền Đó là loại hình tổ chức xã hội theo chế độ phìa tạo Xã hội đó phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường Mỗi một châu mường (tương đương như một huyện ngày nay) đã hình thành một bộ máy thống trị của một dòng quí tộc thế tập Đất, ruộng được mang danh nghĩa toàn mường (Công thổ), mọi người đều có quyền sử dụng ruộng đất, nhưng phải chịu việc mường, nhưng việc mường lại do bộ máy thống trị điều khiển
Từ bốn nhóm đặc trưng chủ yếu ở trên của người Thái xưa, ngày nay
ba nhóm đặc trưng từ nhóm một đến nhóm ba vẫn được duy trì, cơ bản không thay đổi Riêng nhóm đặc trưng thứ tư, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945
đã không còn tồn tại
2.1.1.3 Vị trí, vai trò của cộng đồng người Thái ở Việt Nam trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
- Thứ nhất, địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc Thái ở Việt Nam có vị
trí quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh quốc gia
Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Thái có số dân đông thứ hai (sau dân tộc Tày), số liệu tính đến năm 2009 là: 1.550.423
Trang 38người Người Thái ở Việt Nam có quá trình cư trú lâu đời, bao phủ cả miền Tây hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Tây Bắc nước ta Vùng cư trú của cộng đồng dân tộc Thái có ý nghĩa chiến lược đối với việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống mọi sự xâm lăng của các kẻ thù bên ngoài, do
đó cộng đồng dân tộc Thái rất được các triều đại đặc biệt chú ý Lịch sử đã ghi nhận, trong quá trình dựng nước và giữ nước, đặc biệt trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, cộng đồng dân tộc Thái đã phát huy vai trò to lớn, bám trụ kiên cường trên mảnh đất quê hương đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ biên cương, phên dậu của Tổ quốc Trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược đã từng diễn ra những trận quyết chiến, có ý nghĩa quyết định đối với cục diện chiến tranh, nổi bật như trận Điện Biên Phủ
“chấn động địa cầu”, đồng bào Thái cùng với quân và dân cả nước đã không tiếc máu xương của mình, tích cực đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến Ngoài ra, cộng đồng dân tộc Thái đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ hữu nghị với nước bạn Lào Trong điều kiện giữa tộc người Thái ở Việt Nam với một số bộ tộc ở Lào có nhiều nét văn hóa tương đồng, do vậy việc phát huy, giữ gìn truyền thống hữu nghị giữa hai nước thông qua cộng đồng dân tộc Thái có ý nghĩa sâu sắc trong công tác quốc phòng - an ninh
- Thứ hai, vùng cư trú của cộng đồng dân tộc Thái có vị trí chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Địa bàn cư trú của đồng bào Thái lµ nh÷ng vïng có tài nguyên phong phú, đa dạng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đối với độ bền vững của môi trường sinh thái Thực tế cho thấy rằng, trong những ngày đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, chúng ta
đã phải dựa vào nguồn tài nguyên gỗ được khai thác từ những vùng này để phục vụ cho các công trường lớn như đường tàu hỏa, các nhà máy, xí nghiệp quốc doanh ; có những vùng trữ lượng khoáng sản lớn và quí hiếm như vùng Quì Châu, Quì Hợp tỉnh Nghệ An Vùng này có nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, ngày nay được Nhà nước ta cùng với cộng đồng thế giới
ra sức giữ gìn, trước mắt là bảo vệ để phục vụ cho du lịch sinh thái, mục đích lâu dài là vì sự bền vững của môi trường toàn cầu
Trang 39- Thứ ba, vùng cư trú của cộng đồng dân tộc Thái có vai trò quan trọng
trong việc xây dựng tình đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau
Những vùng cư trú của người Thái thường có sự đan xen sinh sống của một số dân tộc khác như người Hmông, người Mường, người Thổ mà những tộc người này lại là thiểu số so với dân tộc Thái Do vậy, cộng đồng dân tộc Thái có vị trí, vai trò quan trọng trong việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau, cùng nhau xây dựng bản làng, quê hương, đất nước ngày càng ấm no, hạnh phúc
- Thứ tư, cộng đồng dân tộc Thái có bề dày lịch sử truyền thống, có nền
văn hóa lâu đời với những bản sắc văn hóa riêng, độc đáo, có tiếng nói và chữ viết riêng Qua khảo cứu, nhiều chuyên gia nhận định rằng:
Hiện nay có thể coi cộng đồng người Thái là một trong những kho tàng folklore về các câu chuyện kể huyền thoại và truyền thuyết nói
về sự hình thành và phát triển văn hóa cổ xưa Các dấu vết về quan niệm lưỡng hợp (dualisme) với văn hóa biểu tượng thống nhất giữa hai mặt đối lập là nguồn tư liệu tốt để bổ sung những kiến thức về thời tiền sử ở nước ta [114, tr.52-53]
Có thể khẳng định, văn hóa dân tộc Thái đã và đang có những đóng góp quan trọng, không thể thiếu trong nền văn hóa của dân tộc Việt Nam Nhận thức rõ vai trò quan trọng của dân tộc Thái và nền văn hóa dân tộc Thái, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để bảo tồn vốn văn hóa dân gian của dân tộc Thái, đặc biệt là bảo tồn ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết), văn học, nghệ thuật, tập quán Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã
có tác dụng tích cực trong quá trình bảo tồn, khai thác và phát huy nền văn hóa dân tộc Thái cả văn hóa vật thể và phi vật thể
2.1.2 Khái niệm, đặc điểm luật tục người Thái, mối tương quan giữa luật tục người Thái với pháp luật và vai trò của luật tục người Thái trong lịch sử đời sống cộng đồng người Thái
2.1.2.1 Khái niệm luật tục và luật tục người Thái
Luật pháp nảy sinh từ lịch sử và phát triển theo tiến trình riêng Hay nói cách khác pháp luật ra đời cùng với sự ra đời của Nhà nước Trên thế giới,
Trang 40trong các xã hội tiền Nhà nước, luật tục giữ vai trò thống trị Đối với Việt Nam, kể cả dân tộc đa số như người Việt cũng có hình thức luật tục (gọi là hương ước) và các dân tộc thiểu số khác đều có luật tục của mình để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng tộc người
Khái niệm luật tục được các nhà khoa học bàn luận nhiều, nhưng cơ bản thống nhất khái niệm được đưa vào từ điển luật học: “Luật tục là những qui tắc xử sự mang tính chất bắt buộc do các cộng đồng làng xã xây dựng nên
và được truyền từ đời này sang đời khác” [14, tr.528] Luật tục có thể tồn tại bằng truyền miệng hoặc được ghi chép bằng văn bản Văn bản luật tục có thể tồn tại dưới hình thức đơn giản như: “hương ước” nhưng cũng có thể được xây dựng dưới dạng bộ luật như: Bộ luật tục của dân tộc Êđê có 11 chương với 236 điều Luật tục khác với tập quán thông thường là có tính bắt buộc thực hiện Luật tục là pháp luật của các cộng đồng làng xã hoặc của cả một cộng đồng dân tộc thiểu số Luật tục, khi có nội dung phù hợp với tiến bộ xã hội, tạo được công bằng, công lý và trật tự xã hội, thì được Nhà nước thừa nhận và trở thành pháp luật tập quán, còn nếu cổ hủ, lạc hậu hoặc mang tính chất mê tín dị đoan thì sẽ bị Nhà nước cấm đoán
Luật tục hay tập quán pháp, tương đương với các thuật ngữ nước ngoài Customary laws, folk laws, là một hiện tượng xã hội phổ biến của nhân loại thời kỳ phát triển tiền công nghiệp và còn tồn tại đến ngày nay ở nhiều tộc người trên thế giới, nhất là châu Á và châu Phi Các nhà khoa học coi luật tục
là một kho tàng tri thức bản địa về ứng xử và quản lý cộng đồng Ở nước ta, luật tục của các dân tộc thiểu số và hương ước của người Việt đã được các nhà sử học, dân tộc học, văn hóa dân gian, các luật gia quan tâm nghiên cứu
từ khá sớm
Cũng giống như người Việt, luật tục của người Thái phần lớn đã được văn bản hóa và thường mang một cái tên chung là “hít khoòng”, dịch ra tiếng Việt có nghĩa là “Phong tục tập quán”, “Lệ tục”, hoặc là “Lệ”, thậm chí còn được coi là “Luật” nữa [102, tr.34] Công trình khoa học đầu tiên ít nhiều đề cập tới vấn đề này là cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái” của Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên) Có thể nói rằng, hầu như mỗi Mường của người Thái