1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm

226 500 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 226
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

gian nước ngoài vào thị trường tài chính Việt nam nói chung và vào thị trường TP Hồ Chí Minh nói riêng đã và đang đặt ra cho các định chế tài chính trung gian Việt nam những thử thách kh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TP

CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

( Bản đã điều chỉnh)

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2006

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TP

CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HUY

ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC

ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN

CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI : GS.TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH THƯ KÝ ĐỀ TÀI : PGS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA:

TS TRẦN ĐẮC SINH

TS VŨ THỊ MINH HẰNG

TS BÙI KIM YẾN ThS NGUYỄN ANH TUẤN

CN NGUYỄN BÁ VƯỢNG

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2006

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO THỰC HIỆN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chiến lược này tỏ ra rất hứa hẹn để Việt Nam thực hiện thành công quá trình chuyển đổi kép: từ một nền kinh tế mang nặng tính hành chính chuyển hẳn sang một nền kinh tế thị trường năng động; từ một xã hội nông nghiệp lạc hậu chuyển sang một xã hội công nghiệp Với viễn cảnh đó, là một trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, TP Hồ Chí Minh phải có những đột phá về phát triển kinh tế - xã hội, với mục tiêu là hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian ngắn nhất để trở thành đầu tàu cho sự phát triển kinh tế của cả nước nói chung và phía nam nói riêng

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi TP Hồ Chí Minh phải tạo ra một khối lượng vốn đầu tư Cùng với đà phát triển của nền kinh tế, các nguồn vốn huy động của các định chế tài chính trung gian, đặc biệt là ngân hàng thương mại tuy ngày càng đa dạng, song phần lớn số vốn huy động mang tính chất ngắn hạn Hoạt động của các định chế tài chính trung gian trên địa bàn TP Hồ Chí Minh còn yếu, các hình thức huy động vốn đầu tư chưa hấp dẫn, linh hoạt Trong khi đó, thị trường chứng khoán đã đi vào hoạt động, song trong một thời gian ngắn thị trường chứng khoán chưa thể hiện được là một kênh dẫn vốn đầu

tư cho nền kinh tế mang đặc trưng của cơ chế kinh tế thị trường Do vậy, nghiên cứu huy động vốn đầu tư trung và dài hạn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thông qua các định chế tài chính trung gian được đặt ra một cách cấp thiết Hiện tại, sự cạnh tranh, công nghệ hoạt động và năng lực kinh doanh của các định chế tài chính trung gian Việt nam vẫn còn có nhiều hạn chế Trong điều kiện mở cửa nền kinh tế, sự thâm nhập của các định chế tài chính trung

Trang 4

gian nước ngoài vào thị trường tài chính Việt nam nói chung và vào thị trường

TP Hồ Chí Minh nói riêng đã và đang đặt ra cho các định chế tài chính trung gian Việt nam những thử thách không nhỏ, đó là phải cạnh tranh với các sản phẩm mang tính đa dạng và linh hoạt của các định chế tài chính trung gian nước ngoài trong quá trình huy động vốn đầu tư trung và dài hạn, cạnh tranh về lãi suất, công nghệ, thị phần… Đây là những vấn đề cần thiết phải được nghiên cứu thấu đáo nhằm giúp cho các định chế tài chính trung gian Việt nam nâng cao được khả năng cạnh tranh, xác định phương thức kinh doanh và huy động vốn đầu tư một cách hiệu quả nhất

2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Thứ nhất, xác lập cơ sở khoa học về các định chế tài chính trung gian phù

hợp với cơ chế thị trường của Việt nam

Thức hai, đánh giá đúng thực trạng huy động vốn đầu tư (vốn đầu tư

trung và dài hạn) thông qua các định chế tài chính trung gian của Việt nam trên địa bàn TP Hồ Chí Minh trong thời gian qua, từ đó rút ra những ưu điểm, nhược điểm và các nguyên nhân tồn tại làm cơ sở cho việc đề ra các giải pháp huy động vốn đầu tư cho thời gian tới

Thứ ba, đưa ra những giải pháp vừa có tính khoa học vừa mang tính thực

tiễn thúc đẩy và nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian Việt nam phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn TP Hồ Chí Minh đến năm 2010

Trang 5

3 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

So với các đề tài nghiên cứu khác, công trình nghiên cứu này có những điểm mới sau:

Thứ nhất, nghiên cứu toàn diện về hệ thống các định chế tài chính trung

gian và sự tương tác giữa các định chế này với hoạt động của thị trường chứng khoán trong quá trình huy động vốn đầu tư

Thứ hai, nghiên cứu toàn diện cơ chế huy động vốn thông qua các định

chế tài chính trung gian và gắn kết cơ chế này với môi trường chính sách vĩ mô của nhà nước nói chung và đặc thù của TP Hồ Chí Minh nói riêng

Thứ ba, tập trung nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy khả năng huy động

vốn đầu tư trung hạn và dài hạn thông qua các định chế tài chính trung gian Việt nam nhằm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa TP Hồ Chí Minh

Những vấn đề nghiên cứu trên đều gắn kết với bối cảnh hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt nam

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp hệ thống: Các công cụ tài chính trong quá trình huy động

vốn có quan hệ phụ thuộc và tác động thúc đẩy lẫn nhau Vì vậy, dựa vào phương pháp này, công trình phân tích làm nổii bật cơ cấu của từng công cụ trong hệ thống tài chính và qua đó phân tích xác định rõ nét các mặt hoạt động và phát triển của chúng trong tổng thể của chính sách huy động vốn

- Phương pháp tổng hợp: Dựa vào phương pháp này, công trình nghiên

cứu và phân tích cơ chế vận hành của các công cụ tài chính được đặt trong một tổng thể thống nhất, từ đó tránh xem xét những sự kiện một cách biệt lập, tách rời các sự kiện khác trong tổng thể nền kinh tế quốc dân

Trang 6

- Phương pháp lịch sử: Các công cụ tài chính luôn tồn tại trong nó trạng

thái phát triển và biến đổi dưới sự tác động của nhân tố khách quan trong nền kinh tế xã hội Do đó, dựa vào phương pháp lịch sử, công trình phân tích một cách sâu sắc sự vận hành của các công cụ tài chính trong sự gắn chặt với tình hình thực tiễn và sự phát triển của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển

Ngoài ra, công trình nghiên cứu còn dùng các phương pháp phân tích,

thống kê, quy nạp để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu

5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục tham khảo, kết cấu đề tài nghiên cứu chia thành 3 chương với các nội dung nghiên cứu: cơ sở lý luận về các định chế tài chính trung gian và huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn Tp.HCM từ năm 1996 đến nay; đề xuất các giải pháp thúc đầy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn Tp.HCM đến năm 2010

Trang 7

KẾT LUẬN

ới nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế của Thành phố theo mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, yêu cầu Thành phố cần đẩy mạnh khai thác vốn dài hạn từ các kênh thị trường tài chính và các trung gian tài chính Trong điều kiện thị trường chứng khoán hiện còn đang ở giai đoạn khởi điểm, nên các trung gian tài chính được xem là kênh chủ yếu để khai thác vốn đầu tư cho Thành phố Nhưng với đặc điểm truyền thống của các định chế tài chính trung gian chủ yếu là huy động các nguồn vốn có thời gian ngắn nhưng sau đó phải cho các doanh nghiệp vay với thời gian sử dụng vốn dài hơn Điều này luôn luôn đặc cho các định chế tài chính trung gian phải đương đầu nhiều rủi ro về khả năng thanh toán

Kết quả công trình nghiên cứu này nhấn mạnh, để gia tăng khả năng huy động vốn đầu tư dài hạn qua các định chế tài chính trung gian trên địa bàn Thành phố cần phải tập trung phát triển mạnh các định chế quỹ đầu tư chuyên nghiệp, phát triển mô hình ngân hàng đa năng, tăng cường sự gắn kết hoạt động của các định chế tài chính trung gian với thị trường chứng khoán trong việc khai thác các nguồn vốn dài hạn

Chính phủ và chính quyền Thành phố cần có sự hợp tác trong việc hoàn thiện chính sách cho sự tạo môi trường phát triển các định chế tài chính Bản thân các định chế phải không ngừng vươn lên để nâng cao chất lượng kinh doanh và năng lực cạnh tranh phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tề quốc tế, qua đó khai thác có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội, đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư của Thành phố ngày một gia tăng Ở một tầm ngắm xa hơn, Chính phủ và chính quyền Thành phố cần có chiến lược phát triển Thành phố thành trung tâm tài chính của cả nước và khu vực nhằm phát triển đa dạng các dịch vụ tài chính, chuyển tải các nguồn vốn trong và ngoài nước cho sự đầu tư và phát triển kinh tế

V

Trang 8

1.1 Cơ sở lý luận về các định chế tài chính trung gian 1 1.2 Huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian 18 1.3 Mối quan hệ tương tác giữa các định chế tài chính trung gian với thị

CHƯƠNG II:

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA BÀN

2.1 Tình hình kinh tế – tài chính của TP.HCM từ năm 1996 đến nay 50 2.2 Vị thế trung tâm tài chính của Thành phố Hồ Chí Minh 58 2.3 Thực trang huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của Việt Nam trên địa bàn TP.HCM từ năm 1996

2.4 Thực trạng mối quan hệ tương tác giữa các định chế tài chính trung gian với thị trường chứng khoán từ năm 1996 cho đến nay 80 2.5 Đánh giá hiệu quả huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của Việt Nam trên địa bán TP Hồ Chí Minh từ

Trang 9

CHƯƠNG III:

CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẦY HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN CỦA VIỆT NAM TRÊN ĐỊA

3.1 Định hướng đầu tư phát triển của TP.HCM đến năm 2010 129 3.2 Nhu cầu vốn đầu tư và các quan điểm huy động vốn thông qua các định chế tài chính trung gian trên địa bàn TP.HCM đến năm 2010 135 3.3 Tái cơ cấu hệ thống các định chế tài chính trung gian của Việt Nam

3.4 Các giải pháp vĩ mô nhằm thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của Việt Nam trên địa bàn TP Hồ

3.5 Các giải pháp vi mô nhằm thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của Việt Nam trên địa bàn TP Hồ

3.6 Xây dựng TP Hồ Chí Minh thành trung tâm tài chính của cả nước 182

PHỤ LỤC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 10

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

1 ABS: Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính

2 BH: Bảo hiểm

3 DNBH: Doanh nghiệp bảo hiểm

4 GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

5 HIFU: Quỹ Đầu tư Phát triển Đô thị TP.HCM

6 IMF: Qũy Tiền tệ Quốc tế

7 MBS: Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cầm cố, thế chấp

8 NHNN: Ngân hàng Nhà nước

9 NHTM: Ngân hàng thương mại

10 NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần

11 ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức

12 TTCH: Thị trường chứng khoán

13 WB: Ngân hàng Thế giới

Trang 11

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN

1.1.1 Khái niệm về định chế tài chính trung gian

Trong nền kinh tế thị trường, khi mà số lượng và mức độ tiết kiệm của các

2chủ thể ngày càng gia tăng, đồng thời quy mô sản xuất không ngừng mở rộng

vượt quá khả năng vốn tự có, sự ra đời và phát triển các hình thức điều tiết vốn

giữa các chủ thể với nhau là rất cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu giao lưu vốn

thực tế khách quan của nền kinh tế xã hội Tựu trung lại, quá trình điều tiết

vốn của xã hội được thể hiện thông qua hai hình thức cơ bản:

§ Điều tiết vốn trực tiếp: Các chủ thể thừa vốn ( tiết kiệm) trực tiếp tài

trợ đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể cần vốn - là người chi tiêu

cuối cùng bằng việc mua các loại chứng khoán khởi thủy của các chủ

thể này

§ Điều tiết vốn gián tiếp: Các chủ thể thừa vốn không thể tài trợ trực

tiếp để đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể cần vốn - người sử dụng

vốn cuối cùng mà phải thông qua các định chế tài chính trung gian

Quá trình xã hội hóa càng phát triển, đạt trình độ cao làm cho đồng tiền

có khả năng tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng Sự mua bán chuyển

Trang 12

nhượng quyền sở hữu và quyền sử dụng về tài sản, tiền vốn đòi hỏi cần phải có các định chế tài chính trung gian

Thuật ngữ định chế được sử dụng trong công trình nghiên cứu này được

hiểu theo 2 góc độ: (1) tổ chức được thành lập vì mục đích đặc biệt và nó có những thể chế hay những quy tắc được xã hội và luật pháp thừa nhận; (2) cơ chế hoạt động của tổ chức này Tài chính trung gian là hoạt động tài chính phản ảnh sự điều phối nguồn vốn giữa người tiết kiệm (ultimate savers) và

người cần vốn cuối cùng (ultimate borrowers) Như vậy, có thể định nghĩa các

định chế tài chính trung gian là những tổ chức thực hiện huy động nguồn tiền của những người tiết kiệm cuối cùng và sau đó cung cấp cho những người cần vốn cuối cùng

Những người tiết kiệm cuối cùng bao gồm các chủ thể như hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ Trên cơ sở số thu nhập có được, bằng việc tiết kiệm các khoản chi tiêu trong tiêu dùng, các chủ thể này góp phần làm gia tăng thêm nguồn vốn cung cấp cho nhu cầu đầu tư của xã hội Những chủ thể cần vốn cuối cùng cũng chính là các hộ gia đình, doanh nghiệp và Chính phủ Những chủ thể này đang tiến hành thực hiện các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, cung cấp hàng hóa cho xã hội mà nhu cầu vốn đầu tư vượt quá khả năng tự tài trợ nên buộc họ phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ những người tiết kiệm cuối cùng trên thị trường tài chính

§ Hộ gia đình

§ Doanh nghiệp

§ Chính phủ

Định chế tài chính trung gian

Trang 13

1.1.2 Đặc điểm của định chế tài chính trung gian

Các định chế tài chính trung gian có các đặc điểm chung sau đây:

Các định chế tài chính trung gian là các cơ sở kinh doanh tiền tệ và giấy tờ có giá được tổ chức và hoạt động để đạt những mục đích sinh lợi nhất định. Xét về khía cạnh này các định chế tài chính trung gian có đặc điểm giống như các đơn vị kinh doanh khác Có thể mô tả hoạt động của các định chế tài chính trung gian theo sơ đồ sau:

Tiến trình tạo ra các đầu ra của các định chế tài chính trung gian gồm 2 giai đoạn: (1) huy động nguồn tiền của những người tiết kiệm cuối cùng; (2) chuyển số vốn tiết kiệm này cho một số người cần vốn cuối cùng

§ Ở giai đoạn 1: Để huy động nguồn tiền của những người tiết kiệm

cuối cùng, các định chế tài chính trung gian phát hành các loại tài sản tài chính của riêng nó với đặc tính có mức rủi ro thấp, như:

trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tài khoản thanh

toán để thu hút tiền nhàn rỗi của xã hội Mức độ huy động nguồn tiết kiệm của xã hội phụ thuộc năng lực kinh doanh của các định chế tài chính rất lớn

§ Ở giai đoạn 2: các định chế tài chính trung gian tiến hành mua lại

các loại tài sản tài chính do những đơn vị cần vốn cuối cùng phát

Các yếu tố đầu vào

§ Tài sản cố định

§ Vốn bằng tiền

§ Cho vay, đầu tư

§ Cung cấp các dịch vụ tài chính khác …

Định chế tài chính trung gian

Trang 14

hành, như: thương phiếu, trái phiếu, các hợp đồng vay nợ, hợp đồng bảo hiểm…

Các định chế tài chính trung gian đảm nhận những hoạt động trung gian như sau:

§ Trung gian mệnh giá:

Các định chế tài chính trung gian thực hiện huy động các khoản tiền tiết kiệm có quy mô nhỏ tập trung thành quỹ cho vay có quy mô lớn để tài trợ cho những người cần vốn

§ Trung gian rủi ro ngầm định:

Các định chế tài chính trung gian phát hành những loại chứng khoán thứ cấp tương đối an toàn và dễ lưu hoạt để thu hút tiền tiết kiệm của những người không chấp nhận rủi ro; nhưng đồng thời các định chế tài chính trung gian lại chấp nhận những chứng khoán sơ cấp có rủi ro cao do những người cần vốn phát hành

§ Trung gian kỳ hạn:

Các định chế tài chính trung gian huy động những khoản tiền tiết kiệm có những thời hạn khác nhau, sau đó chuyển hóa tài trợ cho những người cần vốn với những kỳ hạn cũng khác nhau

§ Trung gian thanh khoản:

Các hộ gia đình, các doanh nghiệp nắm giữ các loại chứng khoán lưu hoạt, khi có nhu cầu chi tiêu tiền mặt có thể đến các định chế tài chính trung gian chuyển đổi thành tiền

§ Trung gian thông tin:

Bằng những kỹ năng của mình, các định chế tài chính trung gian thay thế những người tiết kiệm tiếp cận thông tin và đánh giá khả

Trang 15

năng của người cần vốn cuối cùng để đánh giá và đặt vốn đầu tư một cách có hiệu quả

1.1.3 Phân loại các định chế tài chính trung gian

− Căn cứ vào đặc điểm hoạt động, trong nền kinh tế thị trường xuất hiện những loại định chế tài chính trung gian chủ yếu:

§ Ngân hàng thương mại;

§ Các loại quỹ tiết kiệm;

§ Các quỹ tín dụng

§ Các công ty bảo hiểm;

§ Các công ty tài chính;

§ Các loại quỹ hỗ tương;

§ Các quỹ đầu tư …

− Căn cứ vào mức độ thực hiện chức năng trung gian, các định chế tài chính trung gian được chia thành 3 loại :

+ Các định chế nhận tiền gửi:

Đây là những định chế tài chính trung gian hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, sau đó sử dụng nguồn vốn này để cấp tín dụng và mua chứng khoán, bao gồm các ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, các hiệp hội vay nợ và tiết kiệm, các ngân hàng tiết kiệm hỗ tương …

+ Các định chế tiết kiệm theo hợp đồng:

Bao gồm các công ty bảo hiểm nhân thọ, các công ty bảo hiểm tai nạn và tài sản Các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng thu nhận vốn theo định kỳ trên

cơ sở hợp đồng thỏa thuận với khách hàng và đầu tư chúng vào thị trường vốn

Trang 16

dưới các loại tài sản tài chính dài hạn như: chứng khoán vốn và chứng khoán nợ Do nguồn vốn huy động có đặc điểm là ổn định và dự đoán được, nên tính lỏng của các tài sản tài chính không là tiêu thức ưu tiên hàng đầu trong quản lý tài sản của các định chế tiết kiệm theo hợp đồng

+ Các định chế trung gian đầu tư:

Bao gồm quỹ đầu tư, quỹ hỗ tương, công ty tài chính và quỹ hỗ tương thị trường tiền tệ Các trung gian đầu tư thực hiện huy động vốn trên thị trường rất

đa dạng bằng cách phát hành các loại chứng từ có giá như tín phiếu, trái phiếu, sau đó mua danh mục đầu tư ( portfolio) trên thị trường tài chính Đặc trưng của các tổ chức này là huy động vốn trung dài hạn để đầu tư vào những lĩnh vực chuyên môn hóa mà họ có lợi thế để giảm áp lực cạnh tranh từ phía ngân hàng

1.1.4 Các định chế tài chính trung gian ở Việt nam

Cho đến nay, nền kinh tế Việt nam đã hình thành nên hệ thống các định chế tài chính trung gian chính thức sau:

Các tổ chức tín dụng được chi phối bởi Luật các Tổ chức Tín dụng: Luật các Tổ chức Tín dụng được Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 12/12/1997 và Luật bổ sung, sửa đổi năm 2002 xác định các tổ chức tín dụng là những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán1 Các tổ chức tín dụng chính thức của Việt nam bao gồm:

§ Các ngân hàng thương mại

1 Theo Luật các tổ chức tín dụng (năm 1997 và bổ sung, sửa đổi 2002):

§ các loại tiền gửi mà các tổ chức tín dụng nhận của khách hàng gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác

§ cấp tín dụng tức là các tổ chức tín dụng để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác

Trang 17

§ Tổ chức tín dụng hợp tác

§ Công ty tài chính

§ Công ty cho thuê tài chính

§ Các quỹ hỗ trợ đầu tư của nhà nước

§ Các quỹ đầu tư và quỹ hỗ tương

Công ty bảo hiểm được chi phối bởi Luật kinh doanh bảo hiểm và văn bản pháp lý liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm

Các định chế tài chính trung gian trên nếu xét về hình thức sở hữu gồm các định chế tài chính trung gian thuộc sở hữu nhà nước và các định chế tài chính trung gian thuộc sở hữu tư nhân; nếu xét về phạm vi gồm các định chế tài chính trung gian trong nước và các định chế tài chính trung gian có vốn đầu tư nước ngoài; nếu xét về mục đích hoạt động gồm các định chế tài chính trung gian hoạt động vì mục đích lợi nhuận và các định chế hoạt động không vì mục đích lợi nhuận (Ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ hỗ trợ đầu tư )

Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới hạn nghiên cứu các định chế tài chính trung gian của Việt nam và không xếp loại hình tiết kiệm qua bưu điện là một định chế tài chính trung gian, bởi lẽ:

§ Tiết kiệm bưu điện chưa phải là một tổ chức độc lập Hoạt động của tiết kiệm bưu điện được điều hành lồng ghép trong hệ thống Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông Việt nam

§ Số vốn mà tiết kiệm bưu điện huy động được một phần để lại cho Tổng công ty Bưu chính – Viễn thông nhằm trang trãi chi phí hành chính; phần lớn số vốn còn lại, tiết kiệm bưu điện không thực hiện cấp vốn cho người cần vốn cuối cùng mà theo quy định của Chính phủ phải chuyển cho Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển

Trang 18

để thực hiện cho vay theo chính sách tín dụng chỉ định của Chính phủ

1.1.4.1 Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một định chế tài chính trung gian thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt kinh doanh khác có liên quan Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hệ thống NHTM đã ngày càng hoàn thiện và đa dạng các công cụ huy động vốn Mặt khác với mạng lưới ngân hàng được mở rộng phạm vi hoạt động đã tạo điều kiện để các NHTM đóng vai trò quan trọng trong số các loại hình định chế tài chính trung gian về khả năng thu hút vốn nhàn rỗi trong công chúng Để duy trì hoạt động, ngoài nguồn vốn tự có, cơ cấu nguồn vốn huy động của NHTM là rất đa dạng, song nhìn chung bao gồm các nguồn chủ yếu sau :

§ Nguồn huy động từ tiền gửi thanh toán – tiền gửi không kỳ hạn

§ Nguồn huy động từ tiền gửi có kỳ hạn và tiết kiệm

§ Nguồn huy động qua thị trường liên ngân hàng

§ Nguồn huy động qua phát hành các chứng từ có giá như: giấy chứng nhận tiền gửi, chứng thư tiết kiệm, trái phiếu tiết kiệm…

Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức dịch vụ tài chính khác

1.1.4.2 Quỹ đầu tư

Trang 19

Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian có nhiệm vụ huy động những nguồn vốn nhỏ, nhàn rỗi trong xã hội thành những nguồn vốn lớn, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư dài hạn, đặc biệt là các dự án phát triển sản xuất trong nền kinh tế

Căn cứ vào qui mô, cách thức và tính chất góp vốn, quỹ đầu tư chia làm

2 loại:

− Quỹ đầu tư dạng đóng

Đây là quỹ đầu tư mà theo điều lệ qui định thường chỉ tạo vốn qua một lần bán chứng khoán cho công chúng Quỹ đầu tư dạng đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi hoặc trái phiếu Quỹ không được phát hành thêm bất kỳ một loại cổ phiếu nào để huy động thêm vốn và cũng không mua lại các cổ phiếu đã phát hành Những người tham gia góp vốn đầu tư không được phép rút vốn bằng cách bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho chính quỹ đầu tư Tuy nhiên, chính việc cấm rút vốn làm cho cấu trúc của quỹ rất chặt chẽ, nên các chứng chỉ quỹ đầu tư dạng đóng thường được niêm yết giao dịch trên SGDCK, vì vậy người đầu tư có thể rút vốn bằng cách bán lại các chứng chỉ quỹ đầu tư trên SGDCK Với tính chất cơ cấu vốn ổn định cho phép quỹ đầu tư dạng đóng có thể đăng ký đầu tư vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp

Quỹ đầu tư dạng đóng dùng số vốn của mình đầu tư vào các doanh nghiệp hay TTCK và Sau đó lại dùng số tiền và vốn lãi thu được để đầu tư tiếp Như vậy, qui mô vốn của loại quỹ này chỉ có thể tăng lên từ các khoản lợi nhuận thu được mà thôi

− Quỹ đầu tư dạng mở

Quỹ đầu tư dạng mở còn được gọi là quỹ tương hỗ Khác với quỹ đầu tư dạng đóng, các quỹ này luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn

Trang 20

và cũng sẵn sàng mua lại những cổ phiếu đã phát hành Các cổ phiếu của quỹ được bán trực tiếp cho công chúng không qua TTCK Muốn mua cổ phiếu của quỹ đầu tư dạng mở chúng ta không qua môi giới, không phải trả tiền hoa hồng và có thể viết thư hoặc điện thoại trực tiếp cho quỹ xin các giấy tờ cần thiết, do đó tạo cơ hội cho bất kỳ ai cũng có thể tham gia và trở thành chủ sở hữu của quỹ Tất cả các cổ phiếu phát hành của quỹ này đều là cổ phiếu thường, so với quỹ đầu tư dạng đóng , quỹ đầu tư dạng mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động , mở rộng qui mô vốn , do đó nó linh hoạt hơn trong việc lựa chọn các dự án đầu tư

Do cấu trúc hoạt động của quỹ có tính chất "mở" nên rất thuận tiện cho người đầu tư trong việc rút vốn vào bất cứ lúc nào nếu họ thấy hoạt động của quỹ không hiệu quả Tuy nhiên , đây cũng là điểm bất lợi cho quỹ vì cơ cấu vốn không ổn định cho nên quỹ thường xuyên phải duy trì một tỷ lệ khá lớn những tài sản có tính thanh khoản cao như các trái phiếu Chính phủ hoặc cổ phiếu được niêm yết trên SGDCK, chứ ít có khả năng đầu tư vào các dự án lớn có tiềm năng và những dự án có lợi nhuận lớn nhưng có độ rủi ro cao

Căn cứ vào mô hình cấu trúc tổ chức - điều hành, quỹ đầu tư được tổ chức dưới 2 hình thức là quỹ đầu tư dạng công ty và quỹ đầu tư dạng tín thác

− Quỹ đầu tư dạng công ty

Theo mô hình công ty, quỹ đầu tư được xem là một pháp nhân đầy đủ, những người góp vốn vào quỹ trở thành các cổ đông và có quyền bầu ra Hội đồng quản trị quỹ Đây là tổ chức cao nhất trong quỹ đứng ra thuê công ty quản lý quỹ, ngân hàng bảo quản tài sản quỹ và giám sát việc tuân thủ hoạt động của 2 tổ chức này Trong đó, ngân hàng giám sát đóng vai trò bảo quản các tài sản quỹ, nhận hoặc giao chứng khoán cho quỹ khi thực hiện lệnh giao dịch Còn công ty quản lý quỹ có trách nhiệm cử người điều hành và sử dụng vốn của quỹ để đầu tư vào các chứng khoán hay các tài sản sinh lợi khác Mô hình quỹ

Trang 21

đầu tư tổ chức dưới dạng công ty thường được sử dụng ở các nước có TTCK phát

triển, tiêu biểu là thị trường Mỹ và Anh

− Quỹ đầu tư dạng tín thác

Theo mô hình tín thác, quỹ đầu tư không được xem là một pháp nhân đầy

đủ, mà chỉ là quỹ chung vốn giữa những người đầu tư để thuê các chuyên gia

quản lý quỹ chuyên nghiệp đầu tư sinh lợi Theo mô hình này, vai trò của công

ty quản lý quỹ khá nổi bật Đó là tổ chức đứng ra thành lập và sử dụng vốn thu

được thông qua việc phát hành các chứng chỉ đầu tư để đầu tư vào những nơi có

hiệu quả nhất Còn ngân hàng giám sát đóng vai trò là người bảo quản an toàn

vốn và tài sản của người đầu tư , giám sát các hoạt động của công ty quản lý

quỹ trong việc tuân thủ điều lệ quỹ đầu tư Mô hình quỹ đầu tư tổ chức dưới

dạng tín thác thường được sử dụng ở các TTCK mới nổi, đặc biệt là các TTCK

đang phát triển ở Châu Á

Ở Việt Nam, quỹ đầu tư của Nhà nước được hình thành dưới các dạng sau:

− Quỹ hỗ trợ phát triển: được thành lập theo Nghị định 50/1999 ngày

8/7/1999 của Chính phủ và đi vào hoạt động kể từ 1/1/2000 Nguồn vốn hình

thành của Quỹ này bao gồm vốn điều lệ và vốn huy động từ phát hành trái

phiếu Chính phủ , tiếp nhận nguồn vốn ODA để cho vay lại ; vay các quỹ tích

lũy trả nợ nước ngoài, tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm xã hội và các nguồn vốn khác

− Quỹ đầu tư phát triển địa phương: loại quỹ này được Chính phủ cho

phép thí điểm đầu tiên tại TP Hồ Chí Minh từ tháng 6/1997 sau đó mở rộng ra

các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Tháp, Bình Định Nguồn vốn

hoạt động của quỹ chủ yếu là do ngân sách Nhà nước cấp, vốn huy động thông

qua phát hành trái phiếu , vay nợ từ các tổ chức , cá nhân trong và ngoài nước

Hoạt động của quỹ thực hiện theo nguyên tắc tự chủ về tài chính , bảo toàn

Trang 22

và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro Quỹ cho vay đầu tư theo từng dự án với lãi suất cụ thể do chính quyền Nhà nước địa phương trên cơ sở đề nghị của Hội đồng quản lý quỹ

1.1.4.3 Công ty tài chính

Là công ty cổ phần hoặc quốc doanh thực hiện kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là cho vay ngắn và trung hạn phục vụ các hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ đối với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

Ngoài dịch vụ tín dụng, các công ty tài chính còn thực hiện các dịch vụ như cầm cố hàng hoá, vật tư, ngoại tệ, giấy tờ có giá, làm tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp trong ký kết hợp đồng hoặc thành lập các công ty liên doanh Các công ty tài chính của các tập đoàn công nghiệp là sự bù đắp vào lỗ hổng thiếu hụt tài chính do thiếu khả năng cung ứng của các ngân hàng thương mại Các công ty, tập đoàn kinh doanh khi đã đủ lớn mạnh thường đẻ ra cho mình một công ty tài chính Các công ty này vay nợ từ nhân dân bằng cách phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu tùy theo từng trường hợp Phần lớn tiền thu được từ việc phát hành phiếu nợ này sẽ được cung ứng cho hoạt động của công ty mẹ, phần còn lại đưa vào thị trường cho vay Người vay tiền của các công ty tài chính thường là những cá nhân hoặc đơn vị cần tiền rất gấp mà không thể vay được ngay từ các ngân hàng thương mại Tính cách vay này có thể hiểu như là vay nóng ở Việt Nam , vì thời gian vay thường rất ngắn (một vài ngày đến một vài tuần ) và lãi suất phải trả rất cao, nhiều khi cao hơn lãi suất tiền vay của các ngân hàng thương mại đến 4 hoặc 5 lần

1.1.4.4 Các công ty bảo hiểm

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm (BH) có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiến trình phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia Các công ty BH được xem là “lá chắn” về kinh tế, bảo vệ cho mọi tổ chức, cá nhân Mặt khác BH còn

Trang 23

có khả năng tập trung, huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển Mọi hoạt động BH cho dù dưới hình thức nào đều dựa trên nguyên tắc số đông đoàn kết, cùng nhau chia sẽ rủi ro Công ty BH phải là những nhà tổ chức, tập hợp mọi người tham gia, có rủi ro cùng tính chất, qua đó có thể bù trừ lẫn nhau trong hội tương hỗ này Tính chất đoàn kết dựa vào số đông cùng nhau chia sẻ rủi ro cho phép loại bỏ sự ngẫu nhiên, mang lại sự an toàn, tổn thất của số ít người trở thành trách nhiệm của tất cả các thành viên tham gia cùng gánh chịu

Đặc điểm hoạt động của bảo hiểm thương mại

+ BH là một hoạt động đặc biệt, khi hợp đồng BH được ký kết, đồng nghĩa khách hàng phải thanh toán một khoản phí cho BH, để đổi lấy cam kết đảm bảo về mặt tài chính từ BH, về những rủi ro có thể xảy ra ở tương lai cho khách hàng ‘’Đặc trưng này cho thấy nguồn vốn chủ sở hữu đối với các DNBH và đặc biệt quan trọng và là nguồn lực tài chính quan trọng, được DNBH đem đầu tư dài hạn Với chính sách kinh tế hội nhập, phát triển, nhiều hình thức sở hữu khác nhau trong ngòai nước, qua đó đã làm đa dạng, phong phú nguồn vốn huy động của thị trường bán hàng Việt Nam” Như vậy phí thu của khách hàng phải được dự trữ bằng loại quỹ dự phòng, nhằm giúp cho BH có đủ năng lực tài chính, thực hiện cam kết với người tham gia

+ Khoảng thời gian kể từ khi thu phí đến lúc phải bồi thường, dài hay ngắn phụ thuộc vào đặc điểm sản phẩm BH nhân thọ hay phi nhân thọ, vì vậy công ty BH với vai trò phân phối lại các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp, kỹ thuật của mình

BH phi nhân thọ là những sản phẩm BH có kỳ hạn cam kết dưới một năm, về lý thuyết phí thu được sẽ phải dự phòng suốt một năm BH Khi chưa có tổn thất, hoặc tổn thất nhỏ với số lượng ít, BH vẫn có thể quản lý lượng vốn nhàn rỗi, lượng vốn này đem đầu tư ngắn hạn Thực tế một phần quỹ dự phòng phi

Trang 24

§ Trong một số loại BH như BH hàng hải, BH hàng không hay nhà ở với trị giá lớn, khi xảy ra tổn thất, có thể chưa được bồi thường ngay trong năm tổn thất, do cần thời gian điều tra, giám định hoặc cần có thủ tục hành chính Thiệt hại này phải được dự phòng tiếp theo cho những năm sau để bồi thường khi có thể được

§ Hàng năm, từ phí thu được, phải tích hợp một phần cho quỹ dự phòng tổn thất nghiêm trọng có thể xảy ra trong tương lai xa Dự phòng này được trích lập dần hàng năm Như vậy trong hoạt động BH phi nhân thọ, một phần phí thu được vẫn có thể thực hiện đầu tư dài hạn trên thị trường tài chính Điều này càng hiện thực hơn nếu công cụ đầu tư tài chính có độ thanh khoản cao Với sự phát triển của thị trường tài chính sẽ tạo ra cơ hội cho công ty BH cải thiện cơ cấu đầu tư tài chính theo hướng có lợi cho nền kinh tế

Trái lại với BH phi nhân thọï, BH nhân thọ liên quan đến rủi ro gắn với tuổi thọ của con người, do vậy để thương mại hóa sản phẩm BH nhân thọ, các sản phẩm này được đảm bảo bằng những hợp đồng dài hạn 5, 10, 20 … năm BH nhân thọ là sự kết hợp hài hoà giữa BH với tiết kiệm dài hạn Một hợp đồng

BH nhân thọ trong khoảng thời gian còn hiệu lực, nếu xảy ra sự kiện được BH, khách hàng được trợ cấp số tiền BH cho tổn thất xảy ra, đây là số tiền BH về rủi ro tổn thất Nếu không xảy ra bất kỳ sự kiện BH nào, đến ngày đáo hạn hợp đồng, người tham gia được nhận số tiền BH, đây là khoản tiết kiệm trong suốt thời gian tham gia, cộng thêm khoản lãi được chia trên số phí đóng góp Như vậy với số phí bảo hiểm thu được hàng năm sẽ BH tách làm hai phần sau:

§ Một phần nhỏ để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra sự kiện BH hàng năm

§ Phần chủ yếu để tích lũy nhiều năm cho đến ngày hợp đồng đáo hạn

Trang 25

BH nhân thọ đã tạo ra khả năng cho công ty BH, quản lý một nguồn tài chính dồi dào, tích lũy qua nhiều năm, vì vậy sự tham gia của công ty BH nhân thọ vào thị trường tài chính trở thành mối quan hệ “định mệnh” quyết định sự tồn tại, phát triển ổn định của công ty này

1.1.5 Vai trò của các định chế tài chính trung gian trong nền kinh

+ Lựa chọn đối nghịch

Lựa chọn đối nghịch xảy ra trước khi giao dịch vốn Đối với những người cần vốn, đặc biệt là các doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về huy động vốn thường có khuynh hướng đưa ra mức lãi suất huy động vốn rất cao Nhưng một sự lựa chọn đối nghịch xảy ra đối với người cung cấp vốn Bởi vì không biết rõ lịch sử và đặc điểm hoạt động của người cần vốn, nên người cung cấp vốn có lẽ cũng không sẵn lòng cung cấp vốn

+ Rủi ro đạo đức

Rủi ro đạo đức xảy ra sau khi thực hiện giao dịch vốn Những hợp đồng vay nợ thường có đặc điểm là mức lãi suất cố định, vì vậy khi vay được vốn các doanh nghiệp lại có khuynh hướng sử dụng số vốn vay đầu tư vào những dự án có lãi suất cao hơn nhưng lại có nhiều rủi ro tiềm năng Trong khi đó, người cho

Trang 26

vay không có đủ khả năng để giám sát những hoạt động của người đi vay sau khi đã cung cấp vốn để đảm bảo rằng người đi vay không dùng số tiền vay đầu

tư vào những dự án có nhiều rủi ro Nhận thức như vậy, người thừa vốn không sẵn lòng để cung cấp vốn cho người đi vay

Tính hợp lý cho sự tồn tại của các định chế tài chính trung gian là khả năng vượt trội của nó trong việc giải quyết vấn đề thông tin bất cân xứng và hai vấn đề liên đới là lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức Các định chế tài chính trung gian chuyên môn hóa trong việc đánh giá rủi ro tiềm năng của người đi vay Chúng có thể tiếp cận các thông tin cá nhân của người xin vay tiền (như là tiền gửi, thu nhập, tài sản, nợ phải trả và tín dụng) và kiểm soát những hoạt động đầu tư của người đi vay Hay nói khác hơn, các định chế tài chính trung gian có vị thế tốt hơn để đưa ra quyết định cung cấp các khoản nợ một cách hợp lý Các định chế tài chính trung gian tạo điều kiện thuận lợi cho các quỹ tiền tệ nhàn rỗi của xã hội dịch chuyển từ người thừa sang người thiếu, cải thiện tính hiệu quả kinh tế của tiến trình này Chi tiêu vốn gia tăng và nâng cao năng suất lao động Dưới góc độ của xã hội, điều này làm cho phúc lợi xã hội và tiêu chuẩn cuộc sống được nâng lên Tức là lợi ích thuần đối với xã hội được nẩy sinh từ các định chế tài chính trung gian

Góp phần giảm chi phí giao dịch của xã hội

Chi phí giao dịch là chi phí liên quan đến tiền và thời gian để thực hiện giao dịch tài chính Một trong yếu tố quan trọng của chi phí giao dịch là chi phí nghiên cứu Nếu không có định chế tài chính trung gian, người vay vốn phải bỏ

ra thời gian để tìm kiếm những người cho vay vốn với mức lãi suất hợp lý Đối với người tiết kiệm để quyết định cho vay vốn cần phải trải qua 2 công đoạn: (1) tìm người cần vốn đáng tin cậy; (2) thiết lập hợp đồng vay vốn chặt chẽ Thực hiện các hoạt động này, đòi hỏi người tiết kiệm phải bỏ ra một lượng chi phí nhất định

Trang 27

Sự ra đời của các định chế tài chính trung gian góp phần làm giảm chi phí giao dịch Các định chế tài chính trung gian có ưu thế tạo ra kinh tế quy mô thông qua việc tập trung những quỹ tiền tệ có quy mô nhỏ của từng cá nhân tiết kiệm và đa dạng hóa các nghiệp vụ sử dụng vốn Những hoạt động này của các định chế tài chính trung gian được thực hiện bởi một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao Với kinh tế quy mô, các định chế tài chính trung gian đã gộp tất cả giao dịch tài chính riêng lẻ của từng cá nhân, nên đã làm giảm đi nhiều chi phí giao dịch của xã hội2 Bằng việc giảm đi chi phí giao dịch, các định chế tài chính trung gian mang lại lợi ích cho người tiết kiệm và người đi vay

Góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn cuộc sống xã hội

Các định chế tài chính trung gian mang lại ích cả cho người tiết kiệm lẫn

người đi vay, và do đó mang lại lợi ích xã hội ở mức rộng lớn, đó là: nâng cao

hiệu quả kinh tế và tiêu chuẩn cuộc sống xã hội.

+ Lợi ích đối với người tiết kiệm

Bằng việc phát hành các chứng khoán thứ cấp, các định chế tài chính trung gian: tập trung nguồn vốn nhàn rỗi của nhiều người tiết kiệm, biến nó thành đồng vốn sinh lời; khắc phục những khó khăn mà vốn dĩ từng người tiết kiệm gặp phải khi thực hiện đầu tư trực tiếp như: thiếu kinh nghiệm, thông tin, khả năng hạn chế tiếp cận đến thị trường, thiếu những công cụ tài chính có quy mô nhỏ và chi phí giao dịch tốn kém; tạo ra kinh tế quy mô và đa dạng hóa các sản phẩm tài chính từ đó phân tán rủi ro cho những người tiết kiệm

+ Lợi ích đối với người vay vốn

2 Các định chế tài chính trung gian có thể sử dụng một hợp đồng vay nợ chuẩn áp dụng cho

Trang 28

Các định chế tài chính trung gian làm giảm chi phí giao dịch; gắn kết chặt chẽ nhu cầu của người tiết kiệm và người đi vay; chuyển hóa nguồn vốn tiết kiệm ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vay vốn dài hạn của các doanh nghiệp; đa dạng hóa các sản phẩm tài chính với nhiều loại quy mô và kỳ hạn khác nhau; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ tiếp cận để vay vốn

1.2 HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƯ THÔNG QUA CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH TRUNG GIAN

1.2.1 Các kênh huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài

chính trung gian

Trong nền kinh tế mở, các tổ chức tài chính trung gian có thể huy động vốn đầu tư thông qua các kênh sau đây:

1.2.1.1 Kênh huy động vốn đầu tư ở trong nước

Đặc điểm kênh huy động này là: thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia; ổn định, bền vững, giảm thiểu được rủi ro và hậu quả xấu đối với nền kinh tế do những tác động từ bên ngoài

- Các định chế tài chính trung gian huy động vốn đầu tư trong nước trên cơ sở khai thác các nguồn vốn tiết kiệm nằm ở các khâu tài chính doanh nghiệp, tài chính các tổ chức xã hội và tài chính hộ gia đình thông qua phát hành các sản phẩm tài chính như: trái phiếu, các chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, hợp đồng bảo hiểm với nhiều kỳ hạn khác nhau

Trong nền kinh tế thị trường, tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống tài chính Số tiền tiết kiệm của khu vực dân cư có thể chuyển hóa thành nguồn vốn cho đầu tư thông qua các kênh đầu tư mà công chúng có thể lựa chọn như: đầu tư qua các định chế tài chính trung gian; đầu tư mua chứng khoán trên thị trường tài chính; trực tiếp đầu tư vào hoạt động kinh

Trang 29

doanh … Mỗi kênh đầu tư đều có những ưu và nhược điểm nhất định Với những

ưu điểm nổi bật là chi phí giao dịch thấp, độ an toàn cao và ít rủi ro, các định chế tài chính trung gian tỏ ra có nhiều lợi thế trong quá trình huy động vốn đầu

tư của xã hội Nhưng, trong một nền kinh tế, nếu như môi trường kinh tế vĩ mô không ổn định, thị trường tài chính và các công cụ tài chính yếu kém, thì các định chế tài chính trung gian khó mà phối hợp và chuyển tải nhanh chóng nguồn vốn tiết kiệm của khu vực dân cư cho khâu tài chính doanh nghiệp và các nhà đầu tư

Huy động vốn đầu tư qua thị trường vốn trong nước (Phát hành chứng

khoán trên TTCK)

Với sự chuyên môn hóa về mua bán các loại chứng khoán, TTCK được xem như một cơ sở hạ tầng tài chính để các định chế tài chính trung gian thực hiện chính sách huy động vốn của các nhà đầu tư thông qua phát hành các giấy tờ có giá

Trong xu hướng tự do tài chính, TTCK sẽ mở ra nhiều cơ hội để cho các định chế tài chính trung gian trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài giao lưu vốn với nhau trên TTCK Tuy vậy, kênh huy động vốn này luôn chứa đựng những rủi ro tiềm ẩn, gây bất ổn cho hoạt động của các định chế tài chính trung gian Cũng chính ở đây, nếu giá cả chứng khoán do những hoạt động đầu cơ đẩy

lên cao thì tạo nên kinh tế ảo hoặc bong bóng rất nguy hiểm và làn sóng khủng

hoảng tài chính - tiền tệ có thể xảy ra bất kỳ lúc nào

1.2.1.2 Kênh huy động vốn từ nước ngoài

So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là mang lại ngoại tệ cho nền kinh tế Tuy vậy, nguồn vốn trong nó lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc; nguy cơ khủng hoảng nợ; sự tháo chạy đầu tư; sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong

Trang 30

nước … Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang chuyển đổi, đó là: một mặt, phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công nghiệp hóa; mặt khác, phải kiểm soát chặt chẽ sự huy động vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng

Các định chế tài chính trung gian huy động vốn đầu tư nước ngoài qua các hình thức:

− Tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ( ODA ) để thực hiện cho vay theo các chương trình tín dụng chỉ định của các nhà tài trợ nước ngoài Nguồn vốn ODA có ưu điểm về chi phí sử dụng, nhưng về phía tiếp nhận nguồn vốn này phải chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn Mỗi tổ chức tài trợ đều có những phương cách và thông lệ riêng trong việc cung cấp ODA nhằm để đạt được những mục tiêu chính sách riêng của họ Thực tế cho thấy, cung cách đó đã mang lại những hệ quả tốt lẫn xấu trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn này

Huy động vốn đầu tư qua thị trường vốn quốc tế (Phát hành chứng

khoán trên thị trường tài chính quốc tế)

Ưu điểm của kênh này là mở ra cho các định chế tài chính trung gian trong nước một thị trường huy động vốn rộng lớn Thế nhưng, việc tìm kiếm vốn trên thị trường tài chính quốc tế vẫn có nhiều khó khăn và thử thách, đặc biệt là các tiêu chuẩn tín nhiệm của chứng khoán để được chấp nhận giao dịch tại các thị trường tài chính quốc tế Việc phát hành trái phiếu quốc tế đòi hỏi các định chế tài chính trung gian phải tuân thủ các thông lệ quốc tế, những thủ tục này rất phức tạp, gây ra nhiều trở ngại trong việc tiếp cận kênh huy động này

1.2.2 Công cụ và hình thức huy động vốn đầu tư thông qua các

định chế tài chính trung gian

Trang 31

1.2.2.1 Đối với các Ngân hàng thương mại

Có thể nói, huy động qua các loại tiền gửi ký thác ở ngân hàng là những hình thức huy động mang tính truyền thống của các NHTM Tuy nhiên từ những năm 60 của thế kỷ 20 trở lại đây với sự phát triển nhanh của thị trường tài chính đã có rất nhiều loại tài sản có lợi tức ổn định và thanh khoản cao được mở ra trước mắt các ngân hàng Từ đó, vấn đề khó khăn không còn là đầu

tư vào đâu, mà là làm thế nào để có đủ vốn cho đầu tư giữa môi trường cạnh tranh đầy kịch tính giữa các ngân hàng Vì vậy, bên cạnh lối huy động truyền thống, các công cụ huy động vốn qua phát hành các chứng từ có giá với nhiều đặc tính khác nhau như ký danh hoặc vô danh, với nhiều kỳ hạn khác nhau Đặc biệt là bảo đảm khả năng chuyển nhượng các công cụ này một cách dễ dàng trên thị trường tiền tệ, cùng với vấn đề đối xử công bằng hơn với khách hàng có mở tài khoản kỳ hạn tại ngân hàng như: nếu có nhu cầu đột xuất phải rút tiền trước hạn vẫn được nhận lãi cho kỳ hạn trước đó thay vì không được hưởng lãi như trước đây hoặc có thể dùng chính những sản phẩm huy động vốn của ngân hàng làm tài sản thế chấp để vay vốn hoặc làm bảo đảm cho các yêu cầu bảo lãnh từ phía ngân hàng Ngoài ra để tăng cường sức hấp dẫn của các sản phẩm, ngân hàng còn đính kèm các sản phẩm huy động vốn của mình với các chương trình khuyến mãi

Với kết cấu các nguồn vốn như trên, nếu chỉ xem xét đối với nguồn vốn huy động trung và dài hạn thì chỉ bao gồm: nguồn tiền gửi có kỳ hạn – tiền gửi tiết kiệm có thời hạn trên 1 năm và nguồn huy động qua phát hành các chứng từ có giá có thời hạn trên 1 năm Với tính ổn định của chúng, các ngân hàng có thể chủ động trong cho vay trung và dài hạn Tuy nhiên, nguồn huy động này chỉ chiếm tỉ trọng không quá 30% trong kết cấu tổng nguồn vốn huy động Vì vậy, để tối đa hoá lợi nhuận, các NHTM thường tận dụng cả những khoản huy động thời hạn ngắn dưới 1 năm để cho vay trung và dài hạn Đây là việc làm dễ gây

Trang 32

nên rủi ro và đòi hỏi các NHTM luôn phải tính toán kỹ lưỡng vòng luân chuyển vốn, đặc biệt phải biết tận dụng triệt để những biện pháp hỗ trợ khi có khó khăn về khả năng chi trả nhằm giữ uy tín như :

§ Duy trì hoạt động kinh doanh ổn định để thường xuyên có thể nhận được những nguồn huy động mới nhằm hoàn trả cho những khoản nợ đến hạn, giữ sự tín nhiệm với công chúng là điều cơ bản trong kinh doanh ngân hàng

§ Bảo đảm duy trì dự trữ ngân quỹ

§ Vay trên thị trường liên ngân hàng từ các NHTM khác hoặc nhờ sự hỗ trợ từ NHTW

Việc duy trì và mở rộng các nguồn vốn huy động nói chung luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc mở rộng kinh doanh và gia tăng lợi nhuận của ngân hàng Vì lý do đó, các ngân hàng đã vận dụng nhiều biện pháp để khai thác mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội Trong đó, lãi suất luôn là biện pháp

cơ bản hàng đầu Xuất phát từ chỗ dù huy động dưới hình thức nào thì công cụ để kích hoạt được vốn nhiều và kinh doanh có lãi là điều quan trọng của bất kỳ NHTM nào Đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển các ngân hàng không chỉ cạnh tranh với các ngân hàng khác mà còn với cả các tổ chức tài chính khác và kể cả các chủ thể có phát hành các công cụ nợ trên thị trường tài chính Từ quy mô và cấp độ cạnh tranh đó, khi một chính sách lãi suất được đưa ra có thể góp phần tăng nguồn vốn và cũng có thể tiền gửi tự rò rỉ chuyển sang những nơi đầu tư khác Vì vậy, việc nghiên cứu thị trường để đưa ra một chính sách lãi suất thích hợp có ý nghĩa quyết định đến việc gia tăng nguồn vốn huy động

Sau đây chúng tôi xin đi vào vấn đề lý luận tổng quan có liên quan đến công cụ huy động vốn của hệ thống NHTM là lãi suất

Trang 33

Xét trong một quan hệ vay mượn, có thể hiểu lãi suất là giá cả của tín dụng, là chi phí được tính trên tiền vay Nếu biểu hiện sự vận động của phạm trù tín dụng là T – T' , trong đó T’ = T + T, khoản t được gọi là tiền lãi là khoản chênh lệch giữa số vốn thu về và số vốn đã cho vay Nói cách khác, tiền lãi là tiền chi trả mà người đi vay trả cho người cho vay sau một thời gian sử dụng vốn vay Và khái niệm lãi suất đã biểu hiện cho độ lớn của phần tiền lãi, là tỉ lệ % giữa tiền lãi và số tiền đã vay trong một kỳ hạn đã thoả thuận

Trong nền kinh tế, lãi suất chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố tác động chủ yếu sau:

Sự tác động giữa cung và cầu của quỹ cho vay

Xuất phát từ chỗ lãi suất là giá phải trả cho vốn vay nên việc hình thành giá tất nhiên phải diễn ra trên thị trường dưới tác động của cung và cầu

§ Nguồn cung của quỹ cho vay được hình thành từ các bộ phận cơ bản như tiền tiết kiệm trong dân cư, tiềm tạm thời nhàn rỗi của các doanh nghiệp, nguồn thăng dư ngân sách …

§ Nguồn cầu của quỹ cho vay bao gồm nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, nhu cầu mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, nhu cầu bù đắp thiếu hụt ngân sách …

Quan hệ cung và cầu tín dụng đã có ảnh hưởng nhất định đến việc hình thành lãi suất như khi tăng thêm về những khoản tiết kiệm cá nhân có thể làm tăng nguồn cung tín dụng và làm giảm lãi suất, hoặc xuất phát từ số thâm hụt lớn trong cán cân ngân sách và nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp tăng lên sẽ làm lãi suất tăng …Nói cách khác dưới sức ép của cung và cầu tín dụng trên thị trường sẽ dẫn đến hai xu hướng cho quá trình hình thành lãi suất đó là :

§ Nếu cung > cầu, lãi suất sẽ có xu hướng giảm

Trang 34

Sơ đồ trên cho thấy, lãi suất được xác định do giao điểm giữa đường cầu Dmvà đường cung Sm Về mặt lý thuyết cơ quan tiền tệ có thể kiểm soát lãi suất bằng cách thay đổi nguồn cung ứng tiền Nếu nguồn cung ứng tiền tăng lên từ

Sm lên Sm1, hậu quả sẽ làm hạ thấp thế cân bằng của lãi suất từ R đến R1 và qua lãi suất, tác động đến tổng chi tiêu ( nhu cầu tổng hợp của nền kinh tế) Tuy nhiên ảnh hưởng của cung cầu đến hình thành lãi suất trên thị trường không phải là tác động một chiều mà theo quan điểm của các nhà kinh tế theo chủ nghĩa trọng tiền cho rằng cung – cầu quỹ cho vay tương đối co giãn với lãi suất, nghĩa là khi lãi suất tăng hay giảm cũng có tác động mạnh mẽ đến cung – cầu của quỹ cho vay Điều này minh chứng cho kết luận của các nhà kinh tế về mối quan hệ chặt chẽ giữa: tiết kiệm – đầu tư và lãi suất Thật vậy, lãi suất càng cao thì số tiền được sử dụng trong tương lai càng lớn ( nguồn cung), số tiền này có thể khai thác bằng cách kiềm chế tiêu dùng trong hiện tại để dành cho tiêu dùng trong tương lai và do đó khuyến khích tiết kiệm Mặt khác, đối với doanh nghiệp thì lãi suất cao có ý nghĩa làm tăng thêm động cơ đầu tư tài chính từ vốn nội bộ hơn là bằng con đường đi vay, cầm cố giá trị tài sản tạo khả năng tăng thêm lợi tức doanh nghiệp và tránh những chi phí tài trợ từ bên ngoài Ngược lại, sự gia tăng lãi suất sẽ kích thích nguồn tiết kiệm song lại hạn chế đầu tư và ngược lại

Lãi suất

Quỹ tín dụng

R1 R

Sm

Sm1

Dm 0

Trang 35

Qua đó, cho thấy vai trò của công cụ lãi suất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của các NHTM, việc xây dựng chính sách lãi suất phù hợp thông qua nắm bắt những biến động của môi trường kinh tế không chỉ có tác dụng tăng nguồn vốn huy động mà còn phải bảo đảm việc mở rộng hoạt động tín dụng, sử dụng đồng vốn một cách hiệu quả

Tác động của tỉ lệ lạm phát

Trong nền kinh tế thị trường vốn vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ, do đó sức khoẻ của đồng tiền biểu hiện qua tỉ lệ lạm phát trong từng thời kỳ cũng ảnh hưởng đến giá vốn vay là lãi suất Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất đã được thừa nhận về mặt lý luận và được kiểm chứng qua thực tiễn của các nước đó là : lãi suất sẽ có xu hướng tăng khi nền kinh tế có lạm phát và ngược lại lãi suất sẽ có xu hướng giảm khi tỉ lệ lạm phát bị kiềm chế

Mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất được biểu hiện qua công thức : Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỉ lệ lạm phát ( dự kiến)

Trong đó:

§ Lãi suất danh nghĩa ( Nominal interest rate: NIR) chỉ ra số lượng đơn

vị tiền thu được từ mỗi đơn vị tiền được đem đầu tư trong khoảng thời gian nhất định Loại lãi suất này được niêm yết trên báo chí, niêm

Lãi suất

Đầu tư

20%

Hiệu suất đầu tư biên0

10%

Trang 36

§ Lãi suất thực ( Real interest rate: RIR) là số lãi mà người vay phải trả

tính theo giá trị thực tế, nói cách khác đây là loại lãi suất được vận

hành trong không gian và thời gian mà trong đó lạm phát được giả sử

bằng không

Lãi suất được coi là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn Trong

đời sống kinh tế hầu như không có quốc gia nào duy trì được tỉ lệ lạm phát bằng

0 như giả định Do đó, ngày nay người ta càng thấy được ý nghĩa quan trọng của

lạm phát thực ảnh hưởng đến đầu tư, đến quá trình tái phân phối thu nhập giữa

chủ nợ và con nợ Đặc biệt đối với các ngân hàng để bảo đảm quá trình huy

động đạt hiệu quả, nói cách khác để RIR luôn > 0 các ngân hàng luôn phải giữ

cho NIR> tỉ lệ lạm phát Đây là điều hoàn toàn không đơn giản nếu ngân hàng

áp dụng chính sách lãi suất cố định Điều này giải thích lý do vì sao, chế độ lãi

suất thả nổi đã và đang có xu hướng áp dụng tại hầu hết các NHTM trên thế giới

§ Đối với lãi suất cố định, ngân hàng có sẵn khung lãi suất huy động,

điều này giúp ngân hàng có thể tính toán khá chính xác lợi nhuận thu

về Tuy nhiên vấn đề thương lượng về chi phí vốn giữa ngân hàng và

khách hàng sẽ bị triệt tiêu, hạn chế tính chất linh hoạt của công cụ

lãi suất

§ Đối với lãi suất thả nổi, ngân hàng có thể điều chỉnh cho phù hợp với

sự biến động của môi trường kinh doanh Trong điều kiện đó, lãi suất

trên thị trường liên ngân hàng sẽ được chọn làm cơ sở để xác định lãi

suất ngân hàng Aùp dụng lãi suất thả nổi tỏ ra phù hợp với nguồn vốn

huy động dài hạn, mặt khác nâng cao năng lực cạnh tranh của các

ngân hàng hơn

Một vấn đề đặt ra là sự tác động lạm phát đến lãi suất không phải là tác

động một chiều, mà thông qua chính sách lãi suất các NHTM cũng góp phần

Trang 37

tích cực trong quá trình kiểm soát lạm phát Cụ thể là, một chính sách lãi suất cao được coi như một giải pháp tức thời để hạn chế lạm phát và ngược lại

Kỳ hạn vay

Nhằm khuyến khích các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, các NHTM luôn thực hiện theo nguyên tắc chung là vốn huy động có thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao Điều này xuất phát từ thực tế là những khoản lãi suất huy động phải tính toán thêm chi phí rủi ro càng lớn, nên lãi suất huy động phải tính toán thêm chi phí rủi ro cho nhà đầu tư Mặt khác, với nguồn huy động dài hạn NHTM có thể sử dụng vào những mục đích đầu tư sinh lợi với lợi tức cao hơn nên việc định mức lãi suất huy động với nhiều mức khác nhau tương ứng với thời gian đáo hạn là thoả đáng

Các loại kỳ hạn mà ngân hàng đưa ra rất đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng, thông thường có các loại kỳ hạn như 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 2 năm, 4 năm, … Riêng đối với hình thức huy động qua phát hành các loại trái phiếu ngân hàng, thời hạn có thể lên đến 10 năm Để xác định các mức lãi suất ở các kỳ hạn khác nhau, ngân hàng thường quy về kỳ hạn tương đương để xác định mức cân bằng lãi suất

Ví dụ: I1 là lãi suất thời hạn 3 tháng

I2 là lãi suất thời hạn 6 tháng

Thì trong mối tương quan với I1, I2 được xác định là:

I2 = (1 + I1)2 – 1

Tương tự nếu I3 là lãi suất kỳ hạn 9 tháng

I3 = ( 1 + I1 )3 – 1 ……

Trang 38

Yếu tố rủi ro

Đứng trên giác độ huy động vốn, đặc biệt là huy động vốn trung, dài hạn, các NHTM cũng chịu áp lực bởi yếu tố rủi ro Nhân tố rủi ro khiến cho các chủ thể cung ứng vốn trên thị trường xem như một loại chi phí mà họ phải tính đến như : vốn đầu tư bị mất giá, ngân hàng bị phá sản, vỡ nợ nên không thu hồi được vốn ….Do đó, trong quá trình cạnh tranh để thu hút vốn, các NHTM có qui mô lớn và uy tín cao luôn có ưu thế và có khả năng huy động vốn với lãi suất thấp hơn so với các NHTM khác, dẫn đến sự chi phối lãi suất từ các ngân hàng lớn trong hệ thống NHTM Bên cạnh đó, đối với từng hình thức huy động khác nhau cũng ẩn chứa rủi ro, chẳng hạn các khoản tiền gửi có kỳ hạn – tiết kiệm khả năng chuyển đổi sang tiền mặt nhanh hơn là các chứng từ có giá mà NHTM phát hành để huy động, do đó lãi suất tiền gửi có kỳ hạn – tiết kiệm không thể cao hơn lãi suất huy động qua phát hành các chừng từ có giá

Ngoài những yếu tố kể trên, lãi suất huy động của các NHTM còn chịu ảnh hưởng bởi lãi suất liên ngân hành trên thị trường tiền tệ, đặc biệt đối với những khoản vay áp dụng lãi suất thả nổi, thì việc xác định: Lãi suất huy động

= Lãi suất liên ngân hàng + x% ( thỏa thuận)

Với xu thế tự do hóa tài chính hệ thống, các NHTM đã và đang phát huy mạnh mẽ mạng lưới hoạt động của mình, một thị trường tài chính được quốc tế hóa góp phần thúc đẩy các dòng chảy vốn di chuyển nhanh hơn và lãi suất cũng được hình thành ở phạm vi thị trường rộng hơn Từ đó, lãi suất huy động của ngân hàng còn chịu ảnh hưởng từ những yếu tố bên ngoài tác động đến thị trường tài chính quốc tế

Qua phân tích trên có thể thấy lãi suất là công cụ hàng đầu cơ bản được vận dụng để huy động vốn của các NHTM, là một phạm trù kinh tế tổng hợp chịu ảnh hưởng bởi nhiều cung bậc của thị trường nên việc xây dựng chính sách

Trang 39

khách hàng, thường xuyên đổi mới công nghệ ngân hàng nhằm thu hút và duy trì khách hàng … Ngoài ra, ở giác độ vĩ mô, một thị trường tài chính hoạt động có hiệu quả vừa tạo khả năng thanh khoản cho các chứng từ có giá vừa tạo điều kiện để các NHTM đa dạng nguồn vốn huy động

1.2.2.2 Đối với quỹ đầu tư

Ở Việt nam, Quỹ hỗ trợ phát triển (viết tắt là Quỹ) là tổ chức tài chính Nhà nước, thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước thông qua việc cho vay, thu nợ các dự án đầu tư ; bảo lãnh vay vốn đối với các chủ đầu tư; tái bảo lãnh và nhận tái bảo lãnh đối với các quỹ đầu tư; hỗ trợ lãi suất sau đầu tư đối với các dự án ưu đãi của các thành phần kinh tế thuộc một số ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước và các vùng khó khăn cần khuyến khích đầu tư Quỹ được tiếp nhận vốn ngân sách Nhà nước, vốn vay nợ và viện trợ nước ngoài của Chính phủ; huy động vốn trung và dài hạn của các thành phần kinh tế và vốn nước ngoài; tổ chức việc thanh toán với khách hàng có quan hệ trực tiếp với các hoạt động của Quỹ

Quỹ là một tổ chức tài chính Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, bảo đảm hoàn vốn và bù đắp chi phí, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong và ngoài nước và được tổ chức thanh toán với khách hàng có quan hệ trực tiếp đến các hoạt động của Quỹ Quỹ là đơn vị hạch toán tập trung toàn hệ thống ; thực hiện thu chi và quyết toán thu chi tài chính theo chế độ qui định ; được miễn nộp thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước để giảm lãi suất cho vay và giảm phí bảo lãnh Quỹ thực hiện nhiệm vụ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước dành cho tín dụng đầu tư phát triển để thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển của Nhà nước

Trang 40

Nguồn vốn hoạt động của Quỹ:

− Vốn thuộc sở hữu Nhà nước gồm:

+ Vốn điều lệ

+ Vốn ngân sách Nhà nước cấp bổ sung hàng năm dành cho mục tiêu đầu tư

Trường hợp thay đổi mức vốn điều lệ, Hội đồng quản lý Quỹ báo cáo Bộ trưởng Bộ Tài chính để trình Thủ tướng Chính phủ quyết định

− Vốn huy động dưới các hình thức: vay trung, dài hạn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và vốn vay từ Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài, Quỹ tiết kiệm bưu điện, Quỹ bảo hiểm xã hội Việt Nam; vốn từ phát hành trái phiếu; vay nợ, viện trợ nước ngoài của Chính phủ dùng để cho vay lại theo ủy thác của Bộ Tài chính

− Nguồn vốn nhận ủy thác cho vay đầu tư phát triển của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước

1.2.2.3 Đối với công ty tài chính

Cho dù là một công ty tài chính độc lập hay phụ thuộc các tập đoàn kinh tế, để thực hiện chức năng cung vốn, các công ty tài chính thực hiện huy động vốn của xã hội từ nhiều nguồn khác nhau Theo Luật các tổ chức tín của Việt nam, các công ty tài chính được phép huy động các nguồn vốn sau:

§ Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước

§ Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác để huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật hiện hành

Ngày đăng: 10/02/2015, 00:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2) Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính, PGS.TS. Lê văn Tư, NXB TK, 2001. Giáo trình Lý thuyết tài chính , Trường Đại học TCKT Hà nội, naêm 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng, thị trường tài chính
Tác giả: PGS.TS. Lê văn Tư
Nhà XB: NXB TK
Năm: 2001
8) Financial institutions management, Anthony Saunders, Publishing House of Mac Graw Hill , 2000 year Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial institutions management
Tác giả: Anthony Saunders
Nhà XB: Publishing House of Mac Graw Hill
Năm: 2000
9) Financial markets and institutions, Anthony Saunders, Publishing House of Mac Graw Hill , 2001 year Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial markets and institutions
Tác giả: Anthony Saunders
Nhà XB: Publishing House of Mac Graw Hill
Năm: 2001
12) Financial intermediation, Gary Gorton, Andrew Winton, Working Paper 8928, http://www.nber.org/papers/w8928 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Intermediation
Tác giả: Gary Gorton, Andrew Winton
Nhà XB: NBER
Năm: 2002
13) Financial intermediation with eversions, Martin F. Hellwig, university of Mannheim, Ausgust 12/1999 (http://ideas.repec.org/p/xrs/sfbmaa/98-39.html) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial intermediation with eversions
Tác giả: Martin F. Hellwig
Nhà XB: university of Mannheim
Năm: 1999
17) Financial Intermediation Versus Stock Markets in a Dynamic Intertemporal Model (with S.Bhattacharya and P.Fulghieri). Journal of Institutional and Theoretical Economics, 154, No.1, March 1998, 291-319 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial Intermediation Versus Stock Markets in a Dynamic Intertemporal Model
Tác giả: S. Bhattacharya, P. Fulghieri
Nhà XB: Journal of Institutional and Theoretical Economics
Năm: 1998
20) Investor risk aversion and financial fragility in emerging economies (with Jeffrey Nilsen) July 2000. Published: Journal of International Financial Markets, Institutions & Money, 11, 2001, 443-474 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Published
21) Monetary and fiscal policy coordination and macroeconomic stabilization. A theoretical analysis (with Luca Lambertini) 14 February 2003.Dipartimento di Scienze Economiche-Università di Bologna, W.P. no. 464 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monetary and fiscal policy coordination and macroeconomic stabilization. A theoretical analysis
Tác giả: Luca Lambertini
Nhà XB: Dipartimento di Scienze Economiche-Università di Bologna
Năm: 2003
3) Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Việt nam đến năm 2020, TS. Sử Đình Thành, NXB TK, 2002 Khác
5) Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, Frederic S.Mishkin, năm 2004 Khác
6) Các định chế tài chính, Học viện ngân hàng, NXB, TK, năm 1998 Khác
7) Lãi suất trong nền kinh tế thị trường, NXB TK, năm 1997. II. PHAÀN TIEÁNG ANH Khác
10) Managing financial institutions, Mona J. Gardner, a Division of Harcourt college Publishers, 2002 year Khác
11) Financial Intermediation and Policy-Based Lending: Policy Recommendations for Latin America and the Caribbean, By Antonio Vives, Kim B. Staking (03/97, IFM108-1997, En) See also Infrastructure and Financial Markets Khác
18) Capital markets, financial intermediaries and liquidity supply (with P.Fulghieri). Journal of Banking and Finance, 22, 1998, 1157-1179 Khác
19) Financial Intermediation Versus Stock Markets in a Dynamic Intertemporal Model (with S.Bhattacharya and P.Fulghieri), Quaderno No. 300, Dip. di Scienze Economiche, Università di Bologna, August 1997 Khác
22) Singapore’ s financial service sectore: The Road Ahead, 2/2003, Ngiam Kee Jin, Insitute of Southeast Asian Studies Khác
23) Shanghai as an international center, James Laurenceson, Kam Ki Tang, Hui Mei Wong, Shool of Economics, University of Queensland Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ trên cho thấy, lãi suất được xác định do giao điểm giữa đường cầu D m - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ tr ên cho thấy, lãi suất được xác định do giao điểm giữa đường cầu D m (Trang 34)
Sơ đồ 1: Cấu trúc thị trường tài chính - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 1 Cấu trúc thị trường tài chính (Trang 46)
Sơ đồ 2:  Quy trình chứng khoán hóa tổng quát - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 2 Quy trình chứng khoán hóa tổng quát (Trang 51)
Sơ đồ 3: Sản phẩm của quá trình chứng khoán hóa - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 3 Sản phẩm của quá trình chứng khoán hóa (Trang 54)
Sơ đồ 4: Quá trình chứng khoán hóa khoản cho vay của ngân hàng - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 4 Quá trình chứng khoán hóa khoản cho vay của ngân hàng (Trang 55)
Hình vẽ 2.2:  So sánh kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình v ẽ 2.2: So sánh kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu trên địa bàn (Trang 67)
Hình vẽ 2.3: So sánh các chỉ tiêu kinh tế của Thành phố với các địa - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình v ẽ 2.3: So sánh các chỉ tiêu kinh tế của Thành phố với các địa (Trang 68)
Hình vẽ 2.4:  Tỷ phần các loại định chế tài chính trên địa bàn Thành phố - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình v ẽ 2.4: Tỷ phần các loại định chế tài chính trên địa bàn Thành phố (Trang 73)
Hình vẽ 2.6:  Quy mô huy động tiền gởi vào hệ thống ngân hàng trên địa - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình v ẽ 2.6: Quy mô huy động tiền gởi vào hệ thống ngân hàng trên địa (Trang 74)
Bảng 2.11:   Qui mô thị trường BH Việt Nam  (Đơn vị tính: tỉ đồng VN) - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Bảng 2.11 Qui mô thị trường BH Việt Nam (Đơn vị tính: tỉ đồng VN) (Trang 85)
Bảng 2.15:    Tình hình TD của các NHTM tại TP.HCM (Đơn vị tính: tỉ đồng) - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Bảng 2.15 Tình hình TD của các NHTM tại TP.HCM (Đơn vị tính: tỉ đồng) (Trang 104)
Hình 2.7:  Doanh thu phí BH với quỹ dự phòng nghiệp vụ - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình 2.7 Doanh thu phí BH với quỹ dự phòng nghiệp vụ (Trang 116)
Hình 2.8:  Doanh thu phí BH với quỹ dự phòng nghiệp vụ - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Hình 2.8 Doanh thu phí BH với quỹ dự phòng nghiệp vụ (Trang 119)
Sơ đồ 3.1:  Quá trình xúc tiến thành lập Quỹ ủy thác đầu tư - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 3.1 Quá trình xúc tiến thành lập Quỹ ủy thác đầu tư (Trang 186)
Sơ đồ 3.2:  Quy trình chứng khoán hóa TSTC của Quỹ ủy thác đầu tư - các giải pháp thúc đẩy huy động vốn đầu tư thông qua các định chế tài chính trung gian của việt nam trên địa bàn tp.hcm
Sơ đồ 3.2 Quy trình chứng khoán hóa TSTC của Quỹ ủy thác đầu tư (Trang 188)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w