1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC

22 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 324,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC Khoảng thặng dư thương mại khổng lồ là vấn đề nan giải đối với nước Trung Quốc và các nước khác trên thế giới. Chúng chủ yếu xuất phát từ mậu dịch gia công. Bài viết này phân tích việc thay đổi tỷ giá sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nhập khẩu nguyên liệu để gia công và xuất khẩu hàng hóa đã qua gia công của nước Trung Quốc.

Trang 1

VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ

SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU

DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC?

TÓM TẮT

Khoảng thặng dư thương mại khổng lồ là vấn đề nan giải đối với nước Trung Quốc

và các nước khác trên thế giới Chúng chủ yếu xuất phát từ mậu dịch gia công Bài viếtnày phân tích việc thay đổi tỷ giá sẽ ảnh hưởng như thế nào đến nhập khẩu nguyên liệu đểgia công và xuất khẩu hàng hóa đã qua gia công của nước Trung Quốc Kết quả nghiêncứu cho thấy sự tăng giá tiền tệ đồng loạt ở một chuỗi các nước cung cấp nguyên liệu ởĐông Á sẽ làm giảm thặng dư của Trung Quốc trong mậu dịch gia công, trong khi nếu chỉ

có đồng Nhân dân tệ tăng giá thì điều này có thể không xảy ra Tuy nhiên, nếu có sự tănggiá ở toàn khu vực Đông Á, thì tổng độ co giãn của tỷ giá hối đoái cũng không lớn Vì vậy,

để cán cân thương mại của Trung Quốc đạt mức cân bằng, thì ngoài việc gia tăng tỷ giáhối đoái còn phải kèm theo một số thay đổi khác như là tự do hóa thị trường yếu tố sảnxuất và tuân thủ tốt hơn những quy định về bảo vệ môi trường

Chúng cũng làm gia tăng việc phân bổ không hiệu quả các nguồn tài nguyên bởi vì tỉ suấtsinh lợi tư nhân và xã hội của việc đầu tư vào nền kinh tế trong nước là cao hơn so vớiviệc đầu tư vào Trái phiếu kho bạc của Mỹ Cho nên, nhiều người cho rằng Trung quốcnên thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn

Trang 2

Sự biến động của tỷ giá hối đoái sẽ ảnh hưởng như thế nào đến thặng dư của TrungQuốc so với các quốc gia còn lại của thế giới? Điều kiện Marshall – Lerner ngụ ý rằngnếu cán cân mậu dịch ban đầu cân bằng, một sự tăng giá sẽ làm sụt giảm cán cân mậudịch nếu tổng (giá trị tuyệt đối) độ co giãn của cầu cho xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1.Trong trường hợp của Trung Quốc thì ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái lên cáncân mậu dịch sẽ phức tạp hơn nhiều lí do là kể từ năm 2008 thặng dư mậu dịch của họphần lớn là từ mậu dịch gia công Việc xuất khẩu hàng hóa đã qua gia công là những hànghóa cuối cùng được sản xuất từ những linh kiện được nhập từ các nước khác trên thế giới.Bởi vì, phần lớn giá trị gia tăng của hàng hóa đã qua gia công là đến từ các nước khác,cho nên đồng nhân dân tệ thay đổi có thể làm cho sản lượng của mậu dịch gia công giảmxuống.

Yoshitomi (2007) dẫn chứng ra rằng những thành phần, linh kiện được sử dụng đểgia công rồi xuất khẩu của Trung Quốc có nguồn gốc chủ yếu từ các quốc gia Đông Ákhác Vì thế, ông ta cũng chỉ ra rằng việc nâng giá đồng nhân dân tệ chỉ tác động đến cácchi phí có gốc ngoại tệ của phần giá trị gia tăng của Trung Quốc trong mậu dịch giacông, trong khi một sự tăng giá đồng loạt ở các nước châu Á sẽ tác động đến chi phí bằngđồng ngoại tệ của toàn bộ đầu ra của hàng hóa gia công của Trung Quốc.1 Theo đó, sự

tăng giá phổ biến lại có ảnh hưởng lớn hơn nhiều đối với hàng gia công xuất khẩu củaTrung Quốc

Thorbecke và Smith (2010) đã xây dựng nên biến tỷ giá hối đoái tích hợp đơn nhất

để đo lường sự thay đổi trong mối quan hệ với các chi phí có gốc ngoại tệ không chỉ đốivới phần giá trị gia tăng của Trung Quốc mà còn đối với toàn bộ lượng hàng hóa gia côngxuất khẩu đầu ra của Trung Quốc Bằng việc sử dụng khoảng ước lượng bình phương nhỏnhất bình thường động và một bảng số liệu hàng năm giai đoạn từ 1992 – 2005, họ chothấy, cứ tăng giá đồng tiền lên 10 % trong toàn khu vực sẽ làm giảm hàng hóa xuất khẩu

đã qua gia công 10%

1 Điều này không hoàn toàn đúng, bởi vì không phải toàn bộ đầu vào nhập khẩu đều xuất phát từ khu vực Đông Á.

Trang 3

Ahmed (2009) đã sử dụng mô hình hồi quy và bảng dữ liệu hàng quý giai đoạn từquý 1 năm 1996 đến quý 2 năm 2009 và tách những thay đổi trong tỷ giá hối đoái củađồng nhân dân tệ thành những thay đổi có mối liên hệ với đồng tiền các nước Đông Á vànhững thay đổi có quan hệ với đồng tiền các nước khác Ông ta cho rằng nếu đồng nhân tệtăng giá 10% so với đồng tiền của các nước không phải ở khu vực Đông á sẽ làm giảm sốlượng hàng hóa xuất khẩu đã qua gia công của Trung Quốc 17% và nếu đồng tiền cácnước Đông Á khác tăng giá 10 % thì hàng gia công xuất khẩu của Trung Quốc sẽ giảm15% 2

Bài viết này mở rộng việc nghiên cứu trước đây theo 2 cách Đầu tiên, nó nghiêncứu các nhân tố ảnh hưởng đến nhập khẩu nguyên liệu để gia công cũng như là xuất khẩuhàng gia công Điều này giúp tạo ra khả năng xem xét cách mà tỷ giá hối đoái thay đổi tácđộng không chỉ đến xuất khẩu hàng gia công mà còn ảnh hưởng đến khoản thặng dư gần

300 tỷ USD trong mậu dịch gia công của Trung Quốc Thứ nhì, nó mở rộng bảng dữ liệucủa Thorbecke và Smith quan sát trong giai đoạn từ 2006-2008 Giai đoạn này rất quantrọng bởi vì cả đồng nhân dân tệ và ngành mậu dịch gia công của Trung Quốc đều chủyếu diễn ra trong suốt giai đoạn này

Kết quả cho thấy sự tăng giá hàng loạt các đồng tiền của các quốc gia cung cấpnguyên liệu ở khu vực Đông á đã làm giảm thặng dư gia công của Trung Quốc Ít có bằngchứng rõ ràng cho thấy liệu đồng nhân dân tệ tăng giá mà không kèm theo sự tăng giáđồng tiền ở các nước châu Á khác thì sẽ có tác động này

Phần kế tiếp sẽ trình bày phân tích mô tả về mậu dịch gia công của Trung Quốc.Phần 3 trình bày số liệu và phương pháp luận Phần 4 cho thấy kết quả và phần 5 sẽ thảoluận về hàm ý sâu xa của những kết quả này Phần 6 là phần kết luận

2 TRUNG QUỐC VỚI MẬU DỊCH GIA CÔNG:

2 Marquez và Schindler (2007) và Cheung, Chinn, Fuji (2010), Garcia-Herrero và Koivu (2007) cũng đã đưa ra mức ước lượng về mặt giá trị của độ co giãn thương mại của Trung Quốc.

Trang 4

Thống kê Hải quan của Trung Quốc (CCS) đã đưa ra sự khác biệt giữa nhập khẩu vàxuất khẩu trong mậu dịch gia công; và nhập khẩu và xuất khẩu thông thường.3 Hàng hóanhập khẩu để gia công là những hàng hóa được nhập vào Trung Quốc để gia công và táixuất khẩu lại Hàng hóa đã qua gia công xuất khẩu, được phân loại bởi các tài liệu Hảiquan Trung Quốc, là những hàng hóa được tạo ra bằng cách trên Hàng hóa nhập khẩu đểgia công thì được miễn thuế và cả những thành phẩm được sản xuất ra bằng cách sử dụngnhững hàng hóa nhập khẩu này để tiêu thụ ở thị trường nội địa cũng không bị đánh thuế.Ngược lại, hàng hóa nhập khẩu thông thường là những hàng hóa không được miễn thuếnhập khẩu và hàng hóa xuất khẩu thông thường là những hàng hóa được sản xuất ra bằngcách sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ trong nước Theo Feenstra và Wei (2009),

84% lượng gia công xuất khẩu của Trung Quốc được tạo ra bởi các Doanh nghiệp đầu

tư nước ngoài.

Bảng 1 cho thấy, phần lớn thặng dư mậu dịch của Trung Quốc trước năm 2008 vàtoàn bộ thặng dư mậu dịch sau năm 2008 đều do mậu dịch gia công mang lại CCS đãchia mậu dịch gia công thành 2 dạng là mậu dịch “gia công và lắp ráp” và mậu dịch “giacông với nguyên liệu nhập khẩu” Theo Gaulier, Lemoine, và Unal-Kesenci (2005), dạngđầu tiên đề cập đến những nhà cung cấp nước ngoài nhập những hàng hóa trung gianthuộc sở hữu của chính công ty họ và sử dụng đầu vào này để sản xuất ra những hàng hóatái xuất khẩu Còn dạng thứ hai lại đề cập đến những nhà cung cấp nước ngoài nhập khẩuđầu vào từ những công ty khác và sử dụng chúng để sản xuất hàng hóa tái xuất khẩu.Khoảng thặng dư từ nguồn thứ nhất trung bình khoảng 20 tỷ USD từ năm 2007 – 2009,trong khi đó khoảng thặng dư từ nguồn thứ hai trung bình 250 tỷ USD Điều này hàm ýrằng, trong khi mức độ nhập khẩu hàng nguyên liệu nội bộ của các công ty có vốn đầu tưnước ngoài được duy trì không đổi thì các giao dịch phi nội bộ của những công ty này vớicác công ty khác ở Trung Quốc ngày càng gia tăng

3 Trang web của Thống kê Hải quan của Trung Quốc là www.ChinaCustomStat.com

Trang 5

Biểu đồ 2 phân chia mậu dịch gia công theo cách phân loại chế độ quan thuế điềuhòa (HS) Nó cho thấy sản phẩm cơ khí và điện tử (HS 84-85) là hai mặt hàng ngày càngtrọng yếu cả về nhập khẩu và xuất khẩu trong khi đó hàng dệt may (HS 41 – 43, 50-63)ngày càng trở nên ít quan trọng hơn Vì thế, mậu dịch gia công bao gồm nhập khẩu nhữnglinh kiện và sau đó sử dụng chúng để sản xuất ra máy tính, thiết bị viễn thông, và nhữngsản phẩm kỹ thuật cao khác.

Trang 6

Bảng 1 cho thấy mậu dịch gia công trong các năm từ 2006 đến 2008 Trong đó, 2/3giá trị nhập khẩu để gia công của Trung Quốc là do Nhật Bản, các thành viên trong Hiệp

Trang 7

hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), và các nước công nghiệp mới (NIEs) cung cấp,trong lúc đó Mỹ và Châu âu chỉ cung cấp khoảng 5% Mặt khác, Đông á, Mỹ, Châu Âu vàHồng Kông – Trung Quốc mỗi nước chỉ nhận khoảng 20% doanh số xuất khẩu hàng giacông Kết quả là mậu dịch gia công Trung Quốc thâm hụt khoảng 100 tỷ USD với Khuvực Đông Á, thặng dư khoảng 100 tỷ USD với Châu âu và thặng dư 130 tỷ USD với Mỹ,Hồng Kông – Trung Quốc.

3 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Xác định các chức năng xuất nhập khẩu

Trang 8

Theo mô hình thay thế không hoàn hảo của Goldstein và Khan (1985), các chứcnăng của xuất khẩu và nhập khẩu có thể được biểu diễn như sau:

ext = α10 + α11rert + α12y* + ε1t (1)imt = α20 + α21rert + α22yt + ε2t (2)Trong đó,

ext: xuất khẩu thực

rert: tỷ giá hối đoái thực

y*: thu nhập thực nước ngoài

imt: Nhập khẩu thực

yt: thu nhập thực trong nước

Các biến còn lại được đo lường theo các bản ghi tự nhiên

Trong trường hợp mậu dịch gia công của Trung Quốc, chúng ta cần phải sửa đổi lạicác phương trình này Dưới đây, tôi xem xét một vài các nhân tố khác có ảnh hưởng đếnnhập khẩu nguyên liệu để gia công và xuất khẩu những mặt hàng gia công này

Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (2005) cho rằng độ co dãn về giá của việc nhập khẩu hàngnguyên liệu để gia công thì nhỏ vì các hàng hóa trung gian này không được sản xuất trongnước, vì thế hàng nguyên liệu thay thế được từ nhập khẩu không có nhiều tiềm năng Tuynhiên, kể từ năm 2005, những thặng dư khổng lồ từ ngành mậu dịch gia công của nhữngcông ty có nguồn gốc hàng hóa trung gian nhiều hơn cho thấy chúng đều xuất xứ từ TrungQuốc Do vậy, trong những năm gần đây, nhu cầu cho việc nhập khẩu nguyên liệu để giacông có độ co dãn về giá đã lớn hơn nhiều

Tổ chức IMF (2005) cũng chỉ ra rằng việc nhập khẩu hàng nguyên liệu để gia côngthì có sự khác biệt rất nhiều so với việc xuất khẩu hàng gia công Việc nhập khẩu hàngnguyên liệu để gia công chảy vào Trung Quốc một cách dễ dàng nhằm đáp ứng sự gia tăngnhu cầu về các mặt hàng xuất khẩu gia công này tại các quốc gia còn lại Do đó, việc xuất

Trang 9

khẩu hàng gia công chính là các biến nằm bên phải nhằm lý giải việc nhập khẩu nguyênliệu để gia công Bởi vì nhập khẩu hàng nguyên liệu để gia công không nhắm tới thịtrường nội địa mà chỉ nhằm phục vụ cho việc xuất khẩu hàng gia công, cho nên chính đặcđiểm được yêu thích hơn này bên dưới đây là bao gồm các việc xuất khẩu hàng gia côngnhưng không được coi là thu nhập của Trung quốc

Các luồng vốn đầu tư trực tiếp FDI và tập đoàn đa quốc gia cũng đóng vai trò quantrọng trong ngành thương mại gia công Như đã thảo luận bên trên, 84% xuất khẩu hànggia công của Trung Quốc năm 2006 đều được sản xuất bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Do vậy, các luồng vốn FDI chính là biến nằm bên phải Theo Maquez vàSchindler (2007) ghi nhận, hiệu quả của luồng vốn FDI đối với hàng nhập khẩu có chắcchắn hay không thì phụ thuộc vào việc đầu tư này có tạo ra được tác động thay thế hay tácđộng bổ sung

Theo các tác giả trước đây (ví dụ: Garcia – Herrero và Koivu 2007), biến giả nằmbên phải chính là tổ chức thương mại thế giới WTO Việc gia nhập WTO của Trung Quốc

đã cho các công ty nước ngoài tự tin hơn để thiết lập mối quan hệ lâu dài với các công tyTrung Quốc Garcia – Herrero và Koivu 2007 thừa nhận rằng việc gia nhập WTO củaTrung Quốc đã bắt đầu có tác động lên ngành thương mại của nước này kể từ sau khi họgia nhập WTO đầu năm 2000 Do đó, đầu năm 2000, biến giả WTO được cho bằng 1

Đối với xuất khẩu hàng gia công có giá trị gia tăng nhiều từ đầu vào nhập khẩu, đặcbiệt là đầu vào có xuất xứ từ các quốc gia Đông Nam Á Vì vậy, việc tăng giá của đồngtiền các quốc gia nhập khẩu từ Đông Nam Á có tác động lớn hơn lên chi phí xuất khẩuhàng gia công của Trung Quốc so với việc đơn thuần chỉ đánh giá đồng Nhân dân tệ Việcđơn phương đánh giá sẽ chỉ làm thay đổi giá trị đồng ngoại tệ tương ứng của những hànghóa gia công xuất khẩu của Trung Quốc Do vậy, tỷ giá hối đoái tích hợp mà làm cân bằngnhững thay đổi cung tỷ giá hối đoái của chuỗi những quốc gia được bao gồm bởi giá trị giatăng của những quốc gia đó trong ngành gia công

3.2 Xây dựng một tỷ giá hối đoái hợp nhất.

Trang 10

Theo Tong và Zhen (2008), giá trị gia tăng trong ngành gia công của Trung quốcđược đo lường bởi sự khác nhau giữa giá trị hàng xuất khẩu đã qua gia công của TrungQuốc (VEPt) và giá trị hàng nhập khẩu để gia công từ nguồn cung của chuỗi những quốcgia (ΣiVIPi,t):

VAChin,t = (VEPt – ΣVIPi,t)/VPEt = 1 – ΣiVIPi,t/VEPt (3)

Trong đó, VAChin,t: Giá trị gia tăng của Trung Quốc trong Ngành gia công

Dữ liệu hàng năm trên tổng giá trị hàng xuất khẩu hàng gia công và tổng hàngnguyên liệu nhập khẩu để gia công thường được tính toán cho giá trị gia tăng của TrungQuốc

Để tính toán giá trị gia tăng từ nguồn cung trong chuỗi các quốc gia thì trong bài nàytập trung vào 9 nhà cung cấp hàng nhập khẩu để gia công hàng đầu cho Trung Quốc Đó làĐức, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Singapore, Đài Loan – Trung Quốc, Thái Lan

và Mỹ Sự cân bằng của các nhà cung cấp này được tính toán bằng việc phân chia sự đónggóp của họ đối với hàng nhập khẩu gia công của Trung Quốc theo số lượng hàng nhậpkhẩu để gia công có xuất xứ từ 9 quốc gia trên Sự cân bằng này thường được tính toántheo tỷ giá hối đoái cân bằng (wrerj,t) giữa Trung Quốc và mỗi nước thứ j có tiêu thụ hànggia công xuất khẩu từ Trung Quốc bằng việc tính toán các sản phẩm bên trong nước và tỷgiá hối đoái thực song phương giữa các quốc gia đang cung hàng nhập khẩu gia công vàquốc gia thứ j:

wrerj,t = Σ i wi,t * reri,j,t (4)Trong đó: reri,j,t là tỷ giá hối đoái thực song phương giữa chuỗi quốc gia cung thứ i

và quốc gia thứ j mua các hàng gia công xuất khẩu cuối cùng này

Tỷ giá hối đoái thực cân bằng này sau đó lại liên kết với tỷ giá hối đoái songphương giữa Trung Quốc và quốc gia thứ j để tính toán một tỷ giá hối đoái tích hợp (irerj,t)

đo lường cách mà tỷ giá hối đoái thay đổi tác động lên toàn bộ chi phí của hàng gia côngxuất khẩu Trung Quốc với quốc gia thú j:

Trang 11

irerj,t = VAChin,t * rerChin,j,t + (1- VAChin,t) * wrerj,t (5)Theo cách này, để tính toán irer cần để đo lường tỷ giá hối đoái được sử dụng đa số.Điều này có thể được thực hiện bằng việc sử dụng các biến tỷ giá hối đoái thực được xâydựng bởi Trung tâm CEPII Tỷ giá hối đoái thực CEPII giữa các quốc gia i và j được tínhtoán trước tiên bằng tổng sản phẩm quốc dân (GDP) theo đồng USD đối với quốc gia i vàGDP sức mua tương đương cho quốc gia thứ i và quốc gia thứ j Biến này đo lường đơn vịhàng hóa tiêu thụ ở quốc gia thứ i cần để mua một đơn vị hàng hóa tiêu thụ tại quốc giathứ j Nó có thể được so sánh qua nhiều quốc gia theo thời gian Bởi vì nó thông qua nhiềuquốc gia cho nên nó có thể được sử dụng trong phương trình (2) để tính toán irer Giá trịcao hơn của wrer và irer đại diện cho các tỷ giá hối đoái mạnh tại Trung Quốc và các quốcgia cung hàng.

Các biến độc lập còn lại chính là chứng khoán vốn trong ngành sản xuất của TrungQuốc, chứng khoán FDI và một biến giả WTO Chueng, Chinn và Fujii (2010) nhận rarằng chứng khoán vốn của Trung Quốc giúp giải thích xuất khẩu của nước này Như đãthảo luận bên trên, chứng khoán FDI và sự gia nhập WTO của Trung Quốc có thể giúp giảithích sự gia tăng trong ngành gia công

Các biến phụ thuộc là hàng nhập khẩu để gia công và hàng xuất khẩu đã qua giacông của Trung Quốc Các biến này có được từ nguồn số liệu hải quan Trung Quốc TheoChueng, Chinn và Fujii (2010), chỉ số giá đơn vị tái xuất của Hong Kong _Trung Quốcsang Trung Quốc được sử dụng để làm giảm nhập khẩu của Trung Quốc và chỉ số giá đơn

vị tái xuất của Hong Kong _Trung Quốc sang Mỹ được sử dụng để làm giảm xuất khẩucủa Trung Quốc Dữ liệu này được thảo luận chi tiết tại phụ lục dữ liệu

3.3 Mô hình kinh tế lượng

Bảng 2A thể hiện các kết quả từ một nhóm các kiểm định nghiệm đơn vị trên số liệubảng (panel unit root tests) Cột (1) thể hiện Im, Peseran, và Shin W-statistic, cột (2) phânphối tiễm cận (the asymptotically distribution free – ADF) Fisher Chi-square statistic, cột(3) the Phillips-Perron Fisher Chi-square statistic, cột (4) the Levin, Lin, anh Chu t-statistic, và cột (5) the heteroscedastic consistent Z-statistic Đối với 4 kiểm định đầu tiên,

Ngày đăng: 09/02/2015, 20:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 cho thấy mậu dịch gia công trong các năm từ 2006 đến 2008. Trong đó, 2/3 giá trị nhập khẩu để gia công của Trung Quốc là do Nhật Bản, các thành viên trong Hiệp - VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ  SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 1 cho thấy mậu dịch gia công trong các năm từ 2006 đến 2008. Trong đó, 2/3 giá trị nhập khẩu để gia công của Trung Quốc là do Nhật Bản, các thành viên trong Hiệp (Trang 6)
Bảng 2B thể hiện các kết quả của kiểm nghiệm sai số đồng kết hợp Kao (the Kao residual cointegration) - VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ  SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 2 B thể hiện các kết quả của kiểm nghiệm sai số đồng kết hợp Kao (the Kao residual cointegration) (Trang 12)
Bảng 3: Bảng DOLS ước tính nhập khẩu của Trung Quốc để gia công từ 25 nước trong thời kỳ 1992- 1992-2008. - VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ  SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 3 Bảng DOLS ước tính nhập khẩu của Trung Quốc để gia công từ 25 nước trong thời kỳ 1992- 1992-2008 (Trang 15)
Bảng 5: Bảng DOLS ước tính nhập khẩu của Trung Quốc để gia công từ 25 nước trong thời kỳ 1992-2008. - VIỆC TĂNG GIÁ ĐỒNG NHÂN DÂN TỆ  SẼ ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN THẶNG DƯ TRONG MẬU DỊCH GIA CÔNG CỦA TRUNG QUỐC
Bảng 5 Bảng DOLS ước tính nhập khẩu của Trung Quốc để gia công từ 25 nước trong thời kỳ 1992-2008 (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w