Mặc dù đã nhận thức được ảnh hưởng của những rủi ro có thể xảy đến từ phương thức tín dụng chứng từ trong quá trình thanh toán nhưng các ngân hàng Việt Nam vẫn còn lúng túng trong quá tr
Trang 1Bộ giáo dục đμo tạo Trường đại học Thăng LonG
Trang 2Bộ giáo dục đμo tạo Trường đại học Thăng LonG
Sinh viên thực hiện : Phạm Nguyên Hạnh
Trang 3Lời cảm ơn
Trước hết, cho phép em được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tập thể các nhà giáo khoa Quản lý trường Đại học Thăng Long, những người đã tận tâm truyền đạt các kiến thức nền tảng cho em trong suốt 4 năm học tập tại trường Đặc biệt, em xin được gửi lời cảm ơn tới các cô giáo ở Tổ bộ môn kinh tế, giảng dạy hai bộ môn Thanh toán quốc tế và Nghiệp vụ xuất nhập khẩu đã truyền cho em niềm yêu thích, mong muốn
được tìm hiểu và lựa chọn lĩnh vực này để viết luận văn Em vô cùng biết ơn cô giáo, Thạc sỹ Ngô Khánh Huyền – người đã dành cho em sự giúp đỡ trực tiếp và hết sức tận tình từ việc định hướng, triển khai cho tới khi hoàn thành luận văn
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các cán bộ phòng Thanh toán quốc tế – Chi nhánh Bà Triệu và phòng Thanh toán quốc tế – Hội sở chính Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, hướng dẫn
và nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại ngân hàng để em hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng, em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè đã ủng
hộ, động viên và giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian làm luận văn để em có thể hoàn thành tốt và bảo vệ luận văn tốt nghiệp của mình
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Phạm Nguyên Hạnh
Trang 4MụC LụC
Lời nói đầu 1
Chương 1: Lý luận chung về rủi ro vμ quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hμng thương mại 3
1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hμng thương mại 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của phương thức tín dụng chứng từ 4
1.1.2.1 Các loại thư tín dụng 4
1.1.2.2 Thủ tục mở thư tín dụng 7
1.1.2.3 Nội dung chủ yếu của một thư tín dụng 9
1.1.2.4 Nguồn luật điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ 10
1.1.3 Quy trình thanh toán của ph ương thức tín dụng chứng từ 12
1.1.3.1 Các chủ thể tham gia 12
1.1.3.2 Quy trình thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ 14
1.1.4 Tính ưu việt của phương tín dụng chứng từ 17
1.1.4.1 Lợi ích đối với nhà nhập khẩu 17
1.1.4.2 Lợi ích đối với nhà xuất khẩu 17
1.1.4.3 Lợi ích đối với ngân hàng 18
1.2 Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 18
1.2.1 Khái niệm rủi ro 18
1.2.2 Các loại rủi ro trong ph ương thức tín dụng chứng từ 19
1.2.2.1 Rủi ro kỹ thuật/nghiệp vụ 19
1.2.2.2 Rủi ro tín dụng 20
1.2.2.3 Rủi ro hối đoái 21
1.2.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý 21
1.2.2.5 Rủi ro chính trị, pháp luật 22
1.2.2.6 Rủi ro đạo đức kinh doanh 22
Trang 51.2.3.1 Nguyên nhân từ bản thân phương thức tín dụng chứng từ 24
1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng (bên NK và XK) 25
1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng 25
1.3 Quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại các ngân hμng thương mại 26
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT 26
1.3.2 Nội dung của hoạt động quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 26
1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 26
1.3.2.2 Đo lường rủi ro, tổn thất trong phương thức tín dụng chứng từ 27
1.3.2.3 Giám sát rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 28
1.3.2.4 Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 28
1.3.2.5 Báo cáo và đánh giá về hoạt động quản trị rủi ro 29
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 29
1.3.3.1 Nhân tố chủ quan 30
1.3.3.2 Nhân tố khách quan 31
1.3.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 32
1.3.4.1 Xuất phát từ hậu quả của rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 32
1.3.4.2 Năng lực quản trị rủi ro tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 33
1.3.4.3 Xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá đòi hỏi phải tăng cường quản trị rủi ro 34
Trang 6CHƯƠNG 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại ngân hμng TMCP sμi
gòn – Hμ nội 36
2.1 Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hμng TMCP Sμi Gòn – Hμ Nội 36
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 36
2.1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 36
2.1.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 40
2.1.2 Hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 44
2.1.2.1 Tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 44
2.1.2.2 Kết quả hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 49
2.2 Thực trạng rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hμng TMCP Sμi Gòn – Hμ Nội 56
2.2.1 Các rủi ro mang tính chất vĩ mô 56
2.2.1.1 Rủi ro chính trị, pháp lý 56
2.2.1.2 Rủi ro hối đoái 57
2.2.2 Các rủi ro trực tiếp 58
2.2.2.1 Rủi ro khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội là ngân hàng phát hành 58
2.2.2.2 Rủi ro khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội là ngân hàng thông báo 59
2.2.2.3 Rủi ro khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội là ngân hàng xác nhận, chiết khấu 60
2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hμng TMCP Sμi Gòn – Hμ Nội 61
Trang 72.3.1 Nguyên nhân khách quan 61
2.3.1.1 Sự phức tạp của luật điều chỉnh 61
2.3.1.2 Sự biến động trong tình hình chính trị và kinh tế trên thế giới 63
2.3.1.3 Nguyên nhân từ phía khách hàng 63
2.3.1.4 Thực trạng nền kinh tế Việt Nam 64
2.3.2 Nguyên nhân chủ quan (nguyên nhân từ phía ngân hàng) 65
2.4 Thực trạng quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hμng TMCP Sμi Gòn – Hμ Nội 65
2.4.1 Môi trường quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 65
2.4.2 Nhận dạng các rủi ro có thể xảy ra 66
2.4.2.1 Nghiên cứu nguyên nhân gây nên rủi ro 67
2.4.2.2 Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro 67
2.4.2.3 Lập bảng danh mục rủi ro 68
2.4.3 Đo lường rủi ro, tổn thất 69
2.4.3.1 Phương pháp tính định lượng mức độ rủi ro mà SHB có thể gặp phải khi tiến hành thanh toán 69
2.4.3.2 Phương pháp định tính xác định mức độ rủi ro mà SHB có thể gặp phải khi tiến hành thanh toán 71
2.4.4 Hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ 73
2.4.5 Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong ph ương thức tín dụng chứng từ 73
2.4.6 Báo cáo và đánh giá về quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ trên thực tế 75
2.5 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hμng TMCP Sμi Gòn – Hμ Nội 75
2.5.1 Những ưu điểm trong công tác quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 76
2.5.1.1 Hệ thống kiểm tra, giám sát nội bộ có hiệu lực và hoạt động hiệu quả trong việc giám sát quy trình nghiệp vụ 76
Trang 82.5.1.2 Tích cực hoàn thiện quy trình quản trị rủi ro, từ đó dự báo và phòng ngừa được các rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 76 2.5.1.3 Xây dựng được bộ máy quản trị, điều hành làm việc rất hiệu quả, hạn chế tối thiểu được những rủi ro 76
2.5.1.4 Cập nhật và ứng dụng công nghệ ngân hàng hiện đại trên toàn hệ thống .77 2.5.2 Những tồn tại trong công tác quản trị rủi ro trong phương tín dụng chứng từ 78
2.5.2.1 Chưa có chiến lược quản trị rủi ro tổng thể mang tính dài hạn 78 2.5.2.2 Quy trình thanh toán tín dụng chứng từ còn bộc lộ một số hạn chế 79 2.5.2.3 Chế độ thưởng phạt chưa nghiêm minh đối với các cá nhân, đơn vị trong việc quản trị rủi ro 80
Chương 3: giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 82 3.1 Định hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc
tế 82 3.1.1 Định hướng phát triển chung về mọi hoạt động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 82 3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội 83
3.1.2.1 Mục tiêu tổng quát 83 3.1.2.2 Kế hoạch cụ thể .83
3.2 Một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 84 3.2.1 Giải pháp từ nội tại Ngân hàng 84
3.2.1.1 Hoàn thiện chiến lược quản trị rủi ro mang tính chất dài hạn và tiến hành phổ cập rộng rãi toàn ngân hàng 84 3.2.1.2 Nâng cao năng lực chuyên môn của các cán bộ quản trị, điều hành hoạt động TTQT, các cán bộ chuyên trách quản trị rủi ro và các nhân viên phòng TTQT 85
Trang 93.2.1.3 Củng cố và tăng cường khả năng quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát nội
bộ 77
3.2.1.4 Thực hiện thưởng, phạt nghiêm minh đối với các cá nhân, đơn vị trong việc quản trị rủi ro 86
3.2.2 Giải pháp phối hợp với các đối tác tham gia .87
3.2.2.1 Phát triển dịch vụ tư vấn khách hàng 87
3.2.2.2 Tăng cường hợp tác quốc tế với các Ngân hàng đại lý 87
3.2.2.3 Xây dựng chính sách khách hàng phù hợp 88
3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cho phương thức tín dụng chứng từ 89
3.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà n ước 89
3.3.1.1 Chủ động trong việc ban hành các văn bản dưới Luật hướng dẫn các hoạt động TTQT 89
3.3.1.2 Duy trì chính sách tỷ giá linh hoạt, phù hợp với thực Từ 90
3.3.1.3 Hỗ trợ các ngân hàng trong quá trình thực hiện hội nhập quốc tế về ngân hàng tài chính 90
3.3.2 Đối với chính phủ 91
3.3.2.1 Chính phủ cần tăng cường quyền tự chủ kinh doanh và tính độc lập cho các NHTM 91
3.3.2.2 Chính phủ cần có biện pháp mở rộng quan hệ đại lý và ký hợp đồng quan hệ bảo lãnh thanh toán hàng xuất khẩu với những thị trường có nhiều rủi ro .91
3.3.3 Đối với Ngân hàng TMCP Sài gòn – Hà Nội 91
3.3.3.1 Nâng cao trình độ quản lý điều hành cho các cán bộ TTQT .91
3.3.3.2 Tạo điều kiện cho các chi nhánh phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động TTQT 92
Kết luận 94
Trang 10Danh mục các bảng
Trang
Bảng 3: Doanh số kinh doanh ngoại tệ và thanh toán năm 2007-2009 50
Bảng 4: Số liệu thanh toán L/C xuất khẩu của phòng TTQT tại SHB 51
Bảng 5: Số liệu thanh toán L/C nhập khẩu của phòng TTQT tại SHB 52
Bảng 6: Tổng số quy đổi USD qua các năm 2006-2009 của các giao dịch
Bảng 8: Tổng số quy đổi USD của các giao dịch thanh toán
và tổn thất của SHB qua các năm 2007-2009 70
Bảng 9: Tỷ lệ rủi ro giữa các phương thức thanh toán quốc tế
Bảng 10: Các kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong phương thức tín dụng
chứng từ tại SHB trong giai đoạn 2007-2009 73
Trang 11Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn qua các năm 2007-2009 41
Biểu đồ 2: Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng qua
Biểu đồ 3: Tổng số quy đổi USD qua các năm của các giao dịch
Trang 12Danh mục các thuật ngữ viết tắt
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
l/c Letter of Credit: Th− tín dụng
usd United states dollars: đồng đôla Mỹ
Trang 13Lời nói đầu
Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới mà đỉnh cao là trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam nói riêng ngày càng mở rộng Thương mại hóa quốc tế phát triển với tốc độ nhanh chóng và đi sâu vào mọi mối quan
hệ trao đổi thương mại từ thông thường đến những mối quan hệ lớn Sự giao lưu, buôn bán hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã đòi hỏi quá trình thanh toán phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên, giảm bớt khó khăn về mặt
địa lý Để thực hiện nhiệm vụ này phải kể đến vai trò thiết yếu của các ngân hàng thương mại (NHTM) với nghiệp vụ thanh toán quốc tế (TTQT) TTQT có tác dụng bôi trơn và thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và đối với ngoại thương nói riêng Tuy nhiên, TTQT vốn dĩ là hoạt động phức tạp và nhiều rủi ro hơn thanh toán nội địa vì nó chịu chi phối của những luật lệ và tập quán địa phương cùng với những luật lệ và tập quán quốc tế
Phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ – Documentary Credit Đây là phương thức được các ngân hàng ưa chuộng bởi tính ưu việt trong việc đảm bảo quyền lợi cho các bên Mặc
dù vậy, do tính chất phức tạp của phương thức này nên bên cạnh những ưu điểm, vẫn
có những rủi ro không mong muốn Có nhiều trường hợp rủi ro xảy ra hoàn toàn có thể nhận diện được từ trước nhưng thực tế lại dẫn đến tổn thất cho các bên tham gia Các rủi ro phát sinh từ rất nhiều nguyên nhân, phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau
Chính vì vậy, tuy không phải là vấn đề mới nhưng rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ luôn là một vấn đề được các ngân hàng hết sức quan tâm bởi tổn thất mà các rủi ro gây nên ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, sự tín nhiệm của bạn bè quốc tế dành cho các ngân hàng Việt Nam Mặc dù đã nhận thức được ảnh hưởng của những rủi ro
có thể xảy đến từ phương thức tín dụng chứng từ trong quá trình thanh toán nhưng các ngân hàng Việt Nam vẫn còn lúng túng trong quá trình xử lý rủi ro
Xuất phát từ vấn đề nêu trên, trong quá trình thực tập tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Sài Gòn – Hà Nội (SHB), em đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc nghiên cứu các rủi ro phát sinh trên thực tế và đặc biệt là vấn đề tăng cường công tác quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ Từ đó, dưới sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ ngân hàng tại Ngân hàng SHB và được sự chỉ bảo tận tình của giáo viên hướng dẫn, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Tăng cường quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ của hoạt động thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội” nhằm tìm hiểu về thực trạng quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ thông qua việc phân tích đánh giá thực trạng đó tại
Trang 14Ngân hàng SHB Từ đó đề ra các giải pháp để nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tại ngân hàng này
Luận văn của em gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi ro trong phương thức
tín dụng chứng từ của hoạt động thanh toán quốc tế tại ngân hàng thương mại
Ch ương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng
chứng từ tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội
Chương 3: Giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro trong phương thức
tín dụng chứng từ
Trang 15
Chương 1:
Lý luận chung về rủi ro vμ quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ của hoạt động thanh
toán quốc tế tại ngân hμng thương mại
Trong hoạt động TTQT của các ngân hàng thương mại, phương thức tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt giá trị lớn nhất và
là một nghiệp vụ có tiềm năng phát triển trong tương lai Tuy vậy, bên cạnh tính ưu việt nổi trội, trong quá trình thanh toán, phương thức thanh toán này vẫn phát sinh những rủi ro Vậy rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ là gì? Công tác quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ bao gồm những nội dung gì và tại sao lại phải quản trị rủi ro? Trong chương này, luận văn sẽ hệ thống những vấn đề lý luận chung về rủi ro và quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ nhằm làm rõ sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong phương thức thanh toán này tại các ngân hàng thương mại
1.1 Tổng quan về phương thức tín dụng chứng từ của hoạt
động thanh toán quốc tế tại ngân hμng thương mại
1.1.1 Khái niệm
Phương thức tín dụng chứng từ là một trong những phương thức TTQT đang
được các doanh nghiệp sử dụng rất phổ biến trong thương mại quốc tế Đây là phương thức có ưu điểm nội trội và đảm bảo được lợi ích các bên trong quá trình thanh toán
Một cách tổng quát: Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người khác (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này kí phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh
toán phù hợp với những quy định của thư tín dụng (Giáo trình thanh toán quốc tế, nhà xuất bản Lao động - Xã hội, GS.NGƯT Đinh Xuân Trình)
Theo các nguồn luật điều chỉnh thì phương thức tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau:
Trước hết theo UCP 500, “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” – Văn bản luật điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ của phòng
thương mại quốc tế (ICC) phát hành lần đầu tiên vào năm 1993 thì: Ph ương thức tín dụng chứng từ dù được gọi hay mô tả như thế nào, mà theo đó một ngân hàng (Ngân
Trang 16hàng phát hành) hành động theo yêu cầu và theo chỉ thị của một khách hàng (người yêu cầu phát hành thư tín dụng) hoặc trên danh nghĩa chính mình:
i phải tiến hành việc trả tiền cho hoặc chấp nhận theo lệnh của một bên thứ ba (người hưởng lợi), hoặc phải chấp nhận và trả tiền hối phiếu do người hưởng lợi
500 đã bắt đầu có hiệu lực Tại điều 2 UCP 600 cũng đã đưa ra sửa đổi về định nghĩa tín dụng chứng từ như sau:
Tín dụng chứng từ là bất cứ một sự thỏa thuận nào, dù cho nó được mô tả hoặc
đặt tên như thế nào, là không thể hủy bỏ và theo đó là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành để thanh toán khi xuất trình phù hợp Thanh toán có nghĩa là:
i trả tiền ngay khi xuất trình, nếu tín dụng có giá trị thanh toán trả ngay
ii cam kết thanh toán về sau và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán về sau
iii chấp nhận hối phiếu (“draft”) do người thụ hưởng ký phát và trả tiền khi đáo hạn, nếu tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận
1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của phương thức tín dụng chứng từ
1.1.2.1 Các loại thư tín dụng
Khái niệm thư tín dụng – Letter of credit (L/C): Thư tín dụng là một cam
kết bằng văn bản của một ngân hàng (ngân hàng phát hành – NHPH), được phát hành theo chỉ thị của người mua (người yêu cầu mở L/C) cho người bán (người thụ hưởng L/C) nếu họ xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với nội dung của L/C
Trong hoạt động ngoại thương, tín dụng chứng từ là loại tín dụng do ngân hàng
mở cho người nhập khẩu (NK) được đảm bảo bằng chứng từ gửi hàng của người xuất khẩu (XK) Còn L/C là văn bản thể hiện loại tín dụng đó và là sự cam kết trực tiếp của ngân hàng đối với người XK Một cách tổng quát, có thể xem L/C là sự “bảo lãnh
Trang 17thanh toán có điều kiện” bởi một ngân hàng cho người thụ hưởng Thực chất, L/C là một cam kết bằng văn bản của NHPH, theo chỉ thị của người mua (người yêu cầu mở L/C) cho bên bán được hưởng nếu bên bán xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với nội dung của L/C
Thuật ngữ “tín dụng – Credit” ở đây được dùng theo nghĩa rộng, tức là “tín nhiệm” chứ không phải để chỉ “một khoản cho vay” theo nghĩa thông thường Thực chất phần nhiều trong thanh toán L/C, nhà NK dựa vào tín nhiệm của ngân hàng để giao dịch với nhà XK NHPH L/C dùng uy tín của mình để thực hiện thanh toán cho giao dịch của nhà NK Giá trị hợp đồng thì người NK phải thanh toán trong mọi trường hợp Khi người NK yêu cầu mở L/C tại NHPH thì người NK phải ký quỹ một phần hoặc toàn bộ giá trị của hợp đồng tùy thuộc vào uy tín và mối quan hệ của người NK với NHPH L/C Như vậy, thuật ngữ “tín dụng” trong phương thức tín dụng chứng từ chỉ thể hiện khoản “tín dụng trừu tượng” bằng lời hứa trả tiền của nhà NK, vì ngân hàng có
hệ số tín nhiệm cao hơn nhà NK
Do tính chất nhạy cảm của phương thức thanh toán L/C là dựa trên sự tín nhiệm nên L/C thực sự là một bản cam kết ràng buộc trách nhiệm pháp lý của tất cả các bên tham gia Bên NK phải có đơn xin mở L/C và chịu trách nhiệm pháp lý trong thanh toán giá trị L/C, NHPH có trách nhiệm thanh toán khi kiểm tra và xác nhận bộ chứng
từ xuất trình là hoàn toàn phù hợp với điều kiện của L/C, và cũng như vậy, nhà XK chỉ nhận được tiền khi xuất trình được bộ chứng từ hoàn hảo, tức là đúng như yêu cầu trong L/C
Một đặc điểm quan trọng nữa của L/C là L/C được hình thành trên cơ sở hợp
đồng ngoại thương nhưng khi ra đời thì nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng Ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm kiểm tra sự đúng khớp về mọi mặt của bộ chứng từ xuất trình với những điều kiện quy định trong L/C chứ không chịu trách nhiệm với nội dung ghi trong hợp đồng Nhà NK và nhà XK có thể thay đổi các điều khoản gốc trong hợp
đồng nhưng nếu không sửa đổi trong L/C thì NHPH không chịu trách nhiệm về những sửa đổi đó Cũng như thế, việc hủy bỏ hợp đồng không có nghĩa là hủy bỏ L/C và ngược lại Như vậy, trong giao dịch L/C, ngân hàng tham gia chỉ căn cứ vào chứng từ
mà không căn cứ vào hàng hóa hoặc dịch vụ
Phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo một cách tương đối quyền lợi của người bán và người mua trong hoạt động ngoại thương
Một số loại thư tín dụng chủ yếu
1 Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C) là loại thư tín dụng sau
khi đã được phát hành thì NHPH L/C không được sửa đổi bổ sung, hủy bỏ toàn phần
Trang 18hay từng phần nội dung trong thời hạn hiệu lực của nó L/C không thể hủy bỏ là một sự cam kết trả tiền chắc chắn của NHPH đối với người hưởng lợi L/C Vì vậy, L/C này
được áp dụng rất phổ biến trong thanh toán quốc tế
2 Thư tín dụng không thể hủy ngang có xác nhận (Confirmed L/C) là loại thư
tín dụng không thể hủy bỏ, được một ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của NHPH L/C Loại L/C này đã được hai ngân hàng cùng cam kết trả tiền cho người hưởng lợi nên độ an toàn trong thanh toán rất cao Mọi tu chỉnh L/C xác nhận đều phải
có sự đồng ý của ngân hàng xác nhận thì sự tu chỉnh đó mới có giá trị thực hiện
3 Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable L/C without Recourse) là loại thư tín dụng mà sau khi người XK đã được trả tiền thì NHPH không còn quyền đòi lại tiền từ người XK trong bất cứ trường hợp nào
4 Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C) là loại thư mà sau khi phát
hành, NHPH có quyền tự ý sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ L/C một phần hoặc toàn phần
mà không cần sự chấp thuận của người bán Tuy nhiên, hiện nay loại L/C này chỉ tồn tại trên lý thuyết vì nó không tạo ra sự cam kết mang tính chất pháp lý về việc thanh toán của ngân hàng, không đảm bảo được quyền lợi của người XK
5 Thư tín dụng có thể chuyển nhượng (Transferable L/C) là thư tín dụng trong
đó quy định quyền của người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu NHPH L/C hoặc ngân hàng chỉ định chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều người khác L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần Chi phí chuyển nhượng do người hưởng lợi đầu tiên chịu
6 Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving L/C) là loại thư không thể hủy bỏ, sau
khi sử dụng xong nó lại có giá trị như cũ, và cứ như vậy nó cứ tuần hoàn cho đến khi tổng giá trị hợp đồng được thực hiện Có ba cách tuần hoàn:
+ Tuần hoàn tự động: L/C tự động có giá trị như cũ không cần có sự thông báo của NHPH cho người hưởng lợi
+ Tuần hoàn hạn chế: chỉ khi nào NHPH thông báo cho người hưởng lợi thì L/C
kế tiếp mới có giá trị hiệu lực
+ Tuần hoàn bán tự động: sau khi L/C đầu tiên hết hạn một vài ngày mà không
có thông báo gì từ phía NHPH, L/C này lại tự động có giá trị như cũ
7 Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C) là loại thư tín dụng mà người
hưởng lợi một L/C dùng L/C này như một khoản thế chấp để yêu cầu phát hành một L/C khác cho người hưởng lợi khác hưởng, L/C phát hành sau gọi là L/C giáp lưng L/C
Trang 19giáp lưng thường dùng trong mua bán thông qua trung gian khi mà người trung gian không muốn sử dụng L/C chuyển nhượng vì không muốn tiết lộ bí mật khách hàng
8 Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C) là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiệu
lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó được mở ra
9 Thư tín dụng dự phòng (Stand – by L/C) là loại thư tín dụng do ngân hàng phục
vụ nhà XK phát hành theo yêu cầu của nhà NK, trong đó cam kết với nhà NK là ngân hàng sẽ hoàn trả lại số tiền đã đặt cọc, tiền ứng trước và chi phí mở L/C cho nhà NK L/C này được dùng để bảo vệ quyền lợi của nhà NK trong trường hợp nhà XK đã nhận được L/C, tiền đặt cọc và tiền ứng trước nhưng không có khả năng giao hàng, hoặc không hoàn thành nghĩa vụ giao hàng như đã quy định trong L/C
10 Thư tín dụng thanh toán dần (Deffered payment L/C) là loại thư tín dụng không
thể hủy bỏ, trong đó NHPH hay ngân hàng xác nhận cam kết với người hưởng lợi sẽ thanh toán dần dần toàn bộ số tiền của L/C trong những thời hạn quy định rõ trong L/C đó Đây
là một loại L/C trả chậm từng phần
11 Thư tín dụng điều khoản đỏ (Red clause L/C) là loại thư tín dụng ứng trước một
phần tiền cho người hưởng lợi L/C trước khi giao hàng
Cách thức mở L/C
Các giấy tờ cần nộp khi đến ngân hàng để mở L/C đó là:
- Đối với L/C at sight:
Trang 20+ Giấy phép NK (nếu hàng hóa được quản lý bằng giấy phép)
+ Quota (đối với hàng hóa quản lý bằng hạn ngạch)
+ Đơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ (theo mẫu của ngân hàng)
Lưu ý khi làm đơn xin mở L/C
- Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết nhưng nhà NK có thể viết thêm một số nội dung có lợi cho mình
- Trên đơn phải có chữ ký của giám đốc và kế toán trưởng đơn vị NK Nếu thực hiện NK ủy thác, trên đơn xin mở L/C phải có đầy đủ bốn chữ ký: chữ ký của giám đốc
và kế toán trưởng đơn vị NK ủy thác và chữ ký của giám đốc và kế toán trưởng của đơn
Cách thức ký quỹ
- Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quỹ, ngân hàng sẽ trích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quỹ Phòng XNK trực tiếp làm phiếu chuyển khoản nội dung ký quỹ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng kế
Trang 21- Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quỹ, có thể mua ngoại tệ để ký quỹ hoặc vay ngoại tệ để ký quỹ
- Thanh toán phí mở L/C: tùy theo mức nhà NK thực hiện ký quỹ
1.1.2.3 Nội dung chủ yếu của một thư tín dụng
Mỗi một thư tín dụng chứa đựng những nội dung riêng biệt tùy ý theo thỏa thuận của người XK và NK Nội dung của thư tín dụng có vai trò quan trọng, có tính chất quyết định việc thanh toán có diễn ra suôn sẻ hay không Bởi nếu thư tín dụng
được mở có nội dung phức tạp, khó thực hiện hay không rõ ràng thì sẽ gây khó khăn cho các bên liên quan trong việc hiểu và thực hiện nó Đồng thời, nội dung của thư tín dụng cũng là căn cứ để bảo vệ quyền lợi cũng như xem xét việc thực hiện nghĩa vụ của các bên liên quan Chính vì vậy mà nội dung của thư tín dụng phải đầy đủ, rõ ràng, chính xác Sau đây là một số nội dung cơ bản trong thư tín dụng:
- Loại thư tín dụng: đây là nội dung rất quan trọng, có tác dụng quyết định nghĩa vụ và quyền lợi của các bên tham gia
- Số tiền của thư tín dụng: số tiền của thư tín dụng vừa phải ghi bằng số vừa phải ghi bằng chữ và phải bằng nhau, tên của đơn vị tiền tệ cũng phải được ghi rõ ràng, cụ thể
- Thời hạn giao hàng: đây là thời hạn quy định bên bán phải chuyển giao cho bên mua kể từ khi thư tín dụng có hiệu lực thực hiện Thời hạn giao hàng có liên quan chặt chẽ đến thời hạn hiệu lực của L/C
- Mô tả hàng hóa: những nội dung cụ thể liên quan đến hàng hóa như nơi gửi hàng, giao hàng, cách vận chuyển, phương tiện, cách giao hàng cũng được ghi đầy đủ vào nội dung của thư tín dụng
- Các chứng từ mà người XK phải xuất trình: số lượng và chủng loại của chứng
từ phụ thuộc vào yêu cầu cụ thể của từng L/C Nhìn chung, bộ chứng từ được chia làm
2 loại là chứng từ tài chính (hối phiếu, séc ), chứng từ thương mại (hóa đơn thương mại, chứng từ vận tải, chứng từ bảo hiểm )
Ngoài những nội dung cơ bản trên, trong thư tín dụng còn một số nội dung khác như: địa điểm mở thư tín dụng, ngày mở thư tín dụng, tên và địa chỉ của những người
có liên quan đến L/C, thời hạn hiệu lực và địa điểm xuất trình L/C, thời hạn thanh toán, ngày giao hàng, nội dung về vận tải, giao nhận hàng hóa
Các bên liên quan khi sử dụng phương thức tín dụng chứng từ cần chú ý đến tất cả các nội dung nêu trên, đặc biệt là điều khoản quy định về bộ chứng từ hàng hóa mà người XK phải xuất trình tới ngân hàng sau khi giao hàng, bởi theo đúng tinh thần của
Trang 22phương thức tín dụng chứng từ thì NHPH sẽ chỉ thực hiện cam kết thanh toán với điều kiện bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C
1.1.2.4 Nguồn luật điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ hiện nay được sử dụng rộng rãi trong thanh toán quốc tế ở khắp các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên ở từng quốc gia, tập quán và luật pháp lại có những điểm khác nhau có thể dẫn đến tranh chấp nảy sinh Bộ tập quán
điều chỉnh hoạt động TTQT ra đời từ chính lý do này Bộ tập quán đã trở thành hành lang pháp lý cho các giao dịch tín dụng chứng từ Bộ tập quán đó bao gồm:
Quy tắc và thực hành thống nhất về phương thức tín dụng chứng từ ( The
Uniform Customs and Practice for Documentary Credit): UCP số 500 bản sửa đổi năm 1993 và UCP số 600 bản sửa đổi năm 2007 của phòng thương mại quốc tế – ICC
UCP là văn bản pháp lý mang tính chất quốc tế rộng rãi, chỉ áp dụng trong thanh toán quốc tế chứ không áp dụng trong thanh toán nội địa UCP là văn bản mang tính chất quy phạm tùy ý, không mang tính chất bắt buộc, có nghĩa là các bên tham gia giao dịch có thể chọn hoặc không chọn UCP để điều chỉnh các hoạt động liên quan đến thư tín dụng Tuy nhiên, khi các bên liên quan đã thỏa thuận áp dụng UCP bằng cách dẫn chiếu trên L/C thì văn bản pháp lý này sẽ mang tính bắt buộc, ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia Các bên phải thỏa thuận ghi vào L/C áp dụng theo bản nào, UCP 500 hay UCP 600, đồng thời có thể có các thỏa thuận khác miễn là
có ghi trong nội dung của L/C Các bản UCP sau không hủy bỏ các bản trước, nên tất cả các bản UCP đều có giá trị như nhau
Những nội dung chính của bản quy tắc này bao gồm:
- Nguyên tắc chung và định nghĩa về tín dụng chứng từ
Trang 23Bản UCP 500 sau 3 năm soạn thảo và chỉnh lý đã được sửa đổi thành bản UCP
600 và chính thức được áp dụng vào ngày 01/07/2007, trong đó có một số thay đổi cơ bản với UCP 500 như sau:
- Thứ nhất, UCP 600 bổ sung nhiều định nghĩa và giải thích thuật ngữ mới để làm rõ nghĩa của thuật ngữ thường gây tranh cãi trong bản UCP 500
- Thứ hai, thuật ngữ “thời gian hợp lý” (reasonable time) cho việc từ chối hoặc chấp nhận các tài liệu đã được thay thế bằng khoảng thời gian cố định là “5 ngày làm việc ngân hàng”
- Thứ ba, UCP 600 bổ sung thêm các quy định mới cho việc chiết khấu tín dụng thư trả chậm
- Thứ tư, theo UCP 600, các ngân hàng có thể chấp nhận tài liệu bảo hiểm có các nội dung dẫn chiếu đến các điều khoản miễn trừ (exclusion clause)
Văn bản pháp lý quốc tế khác điều chỉnh phương thức tín dụng chứng từ
- Tập quán ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế áp dụng cho kiểm tra chứng từ theo L/C (International Standard Banking Practice For The Examination Of Documentary Credit Subject): ISBP số 645 năm 2003 tuân thủ theo UCP 500 và ISBP
số 681 năm 2007 tuân thủ UCP 600 của phòng thương mại quốc tế (ICC) Hai bản
ISBP này cụ thể hóa các điều trong UCP tương ứng “Các ngân hàng phải kiểm tra tất cả các chứng từ quy định trong L/C với sự cẩn thận hợp lý để xác minh các chứng từ có hay không có thể hiện trên bề mặt của chúng là phù hợp với các điều kiện của L/C Sự phù hợp với các điều kiện của L/C thể hiện trên bề mặt các chứng từ quy định sẽ được quyết định bởi tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế đã được phản ánh trong điều khoản này Các chứng từ thể hiện trên bề mặt của chúng là mâu thuẫn với nhau sẽ được coi như trên bề mặt của chúng là không phù hợp với các điều khoản tín dụng” Theo đó thì: nếu áp dụng UCP 600 thì sẽ áp dụng ISBP 681 còn nếu áp dụng UCP 500 thì sẽ áp dụng ISBP 645
- Bản phụ trương UCP 500 về việc xuất trình chứng từ điện tử – Bản diễn giải số 1.0 – eUCP 1.0 là tập quán quốc tế bổ sung cho UCP 500 và Bản phụ tr ương UCP 600
về việc xuất trình chứng từ điện tử - Bản diễn giải số 1.1 – eUCP 1.1 là tập quán quốc
tế bổ sung cho UCP 600 Các bản eUCP được dùng nhằm để điều chỉnh việc xuất trình chứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất trình chứng từ văn bản eUCP sẽ được áp dụng như một bản phụ trương của UCP nếu thư tín dụng đó nêu rõ tham chiếu eUCP Một thư tín dụng phải nêu rõ số của bản diễn giải có thể áp dụng Nếu không nêu rõ như vậy thì nó sẽ được tham chiếu theo bản diễn giải đang có hiệu lực vào ngày mà thư tín dụng được phát hành
Trang 24Ngoài ra còn một số các văn bản khác cũng được tham khảo sử dụng điều chỉnh hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ, đó là:
- Điều kiện thương mại quốc tế Incoterms 2000
- Quy tắc hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo phương thức tín dụng chứng từ – bản sửa đổi số 525, năm 1995 (URR 525 – ICC) và bản số 725 (URR 725) áp dụng từ ngày 01/10/2008
- Luật thống nhất hối phiếu theo công ước Geneve năm 1930 (ULB 1930 Geneve)
- Công ước Geneve về séc năm 1931 (Geneve Convetion for check 1933)
- Và luật pháp thương mại quốc tế của các nước
Mối quan hệ giữa văn bản pháp lý quốc tế và pháp luật Việt Nam
Nghiệp vụ thanh toán quốc tế thực hiện phải phù hợp và dựa trên cơ sở phảp lý quốc tế điều chỉnh đồng thời phải tuân thủ theo quy định pháp luật hiện hành có liên quan của Việt Nam như:
- Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005
- Nghị định số 160/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành pháp lệnh ngoại hối
- Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động
đại lý mua bán, gia công, quá cảnh hàng hóa với nước ngoài
- Quyết định số 711/2001/QĐ-NHNN ngày 25/5/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành “Quy chế mở thư tín dụng nhập hàng trả chậm”
- Luật các công cụ chuyển nhượng 2005
- Và các văn bản quy phạm pháp luật thay thế, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành các văn bản trên cùng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan khác
1.1.3 Quy trình thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ
Trang 25họ) Đó thường là nhà NK hay người mua, yêu cầu ngân hàng phục vụ mình (NHPH) phát hành một L/C và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của NHPH cho người thụ hưởng L/C này
Người thụ hưởng, người hưởng, người hưởng lợi L/C (Beneficiary) là bên
mà vì quyền lợi của bên đó L/C được phát hành (hay được hưởng lợi từ thư tín dụng
được phát hành) Đó là người được hưởng số tiền được thanh toán hay sở hữu hối phiếu
đã chấp nhận được thanh toán Tùy hoàn cảnh cụ thể mà người thụ hưởng có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer), người thắng thầu (contractor)
Ngân hàng phát hành – NHPH (Issuing Bank) là ngân hàng thực hiện
phát hành L/C theo yêu cầu của người mở Nghĩa là NHPH thư tín dụng dựa trên yêu cầu của bên xin mở thư tín dụng hoặc trên danh nghĩa của chính mình NHPH thường
được hai bên mua và bán thỏa thuận và quy định trong hợp đồng mua bán Nếu trong hợp đồng không có sự thỏa thuận trước thì bên mua được phép tự chọn NHPH NHPH còn có tên gọi khác là ngân hàng mở (Opening Bank)
Ngân hàng thông báo – NHTB (Advising Bank) là NHTB thư tín dụng theo
yêu cầu của NHPH NHTB thường là đại lý hay chi nhánh của NHPH ở nước ngoài
Ngân hàng xác nhận – NHXN (Confirming Bank) là ngân hàng bổ sung
sự xác nhận của mình vào thư tín dụng đã phát hành dựa trên sự ủy quyền hoặc yêu cầu của NHPH Trong trường hợp nhà XK muốn có sự đảm bảo cho L/C, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận tín dụng theo yêu cầu hoặc ủy quyền của NHPH Thông thường, NHXN là một ngân hàng lớn có uy tín Trong nhiều trường hợp, NHTB được
đề nghị làm ngân hàng xác nhận Muốn được xác nhận, NHPH phải trả phí rất cao và thường phải đặt cọc trước, giá trị khoản đặt cọc có thể lên đến 100% giá trị của L/C
Ngân hàng được chỉ định – NHđCĐ (Nominated Bank) là ngân hàng mà
tại đó giá trị của L/C được thanh toán hoặc chiết khấu, hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu L/C có giá trị tự do Thực chất theo sự chỉ định của NHPH, ngân hàng này sẽ tiến hành thanh toán bộ chứng từ xuất trình phù hợp cho bên XK theo các cách: trả ngay, trả chậm, chấp nhận hối phiếu, bộ chứng từ hay chiết khấu NHđCĐ bao gồm:
Trang 261.1.3.2 Quy trình thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ
Trường hợp L/C có giá trị tại NHPH (Available with issuing bank)
Sơ đồ 1: Quy trình phương thức tín dụng chứng từ tại
(2) Trên cở sở các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhà
NK làm đơn (theo mẫu) gửi đến ngân hàng phục vụ mình yêu cầu phát hành một L/C cho nhà XK hưởng
(3) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, nếu đồng ý, NHPH lập L/C và thông qua ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà XK để thông báo L/C cho
Ngân hàng thông báo
Advising bank
Ngân hàng chuyển chứng từ
Shipment of goood
Trang 27(4) Khi nhận được L/C, NHTB thông báo L/C cho nhà XK
(5) Nhà XK nếu chấp nhận L/C thì tiến hành giao hàng, nếu không chấp nhận thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng ngoại thương
(6) Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình (thông qua NHTB hoặc một ngân hàng khác) cho NHPH để được thanh toán
(7) NHPH sau khi kiểm tra bộ chứng từ, nếu thấy xuất trình bộ chứng từ phù hợp thì tiến hành thanh toán cho nhà XK, nếu thấy không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ và nguyên vẹn bộ chứng từ cho nhà XK
(8) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK sau khi đã nhận được tiền hoặc đang chấp nhận thanh toán
Lưu ý:
Việc thể hiện hai ngân hàng là NHTB và Ngân hàng chuyển chứng từ trong sơ đồ trên không có nghĩa là hai ngân hàng này phải hoàn toàn khác nhau, mà nhằm mục đích làm rõ:
- Nghiệp vụ thông báo L/C và việc chuyển chứng từ thanh toán là hai việc
độc lập với nhau Nghĩa là NHTB L/C không nhất thiết đồng thời phải là ngân hàng chuyển chứng từ
- Trong thực tế, NHTB L/C thường đồng thời là ngân hàng chuyển chứng từ thanh toán
L/C có giá trị tại Ngân hàng phát hành bao gồm hai trường hợp:
Thứ nhất: là loại L/C trực tiếp (straight credit), quy định người thụ hưởng chỉ xuất trình chứng từ cho NHPH để được ngân hàng này thanh toán trực tiếp NHPH không thanh toán cho ai ngoài người hưởng L/C như vậy có điều khoản thanh toán quy định: “Available with the Issuing bank by ”
Thứ hai: L/C có chỉ định NHđCĐ (không phải là NHXN), nhưng ngân hàng này không thực hiện chức năng được ủy quyền, mà chỉ đơn thuần là ngân hàng chuyển chứng từ cho NHPH, nghĩa là bộ chứng từ được thanh toán tại NHPH
Trang 28 Trường hợp L/C có giá trị thanh toán tại Ngân hàng được chỉ định
Sơ đồ 2: Quy trình phương thức tín dụng chứng từ tại Ngân hàng được chỉ định
Document for presentation
(7) Đòi bồi hoàn
Shipment of goood
Các bước từ (1) – (5) giống như trường hợp L/C có giá trị tại NHPH
(6) Sau khi giao hàng, nhà XK lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất
trình cho Ngân hàng được chỉ định để được thanh toán
(7) NHđCĐ xuất trình chứng từ cho NHPH và đòi bồi hoàn tiền
(8) NHPH đòi tiền nhà NK và chuyển bộ chứng từ cho nhà NK sau khi đã
được nhà NK trả tiền hoặc chấp nhận thanh toán
Lưu ý: Việc thể hiện hai ngân hàng là NHTB và NHđCĐ trong sơ đồ trên
không có nghĩa là hai ngân hàng này hoàn toàn khác nhau, mà nhằm mục đích làm
rõ:
Trang 29- Việc thông báo L/C và việc được ủy quyền thanh toán chiết khấu L/C là hai việc độc lập với nhau Nghĩa là NHTB không nhất thiết đồng thời phải là NHđCĐ
- Trong thực tế, NHTB thường đồng thời là NHđCĐ Như vậy, một ngân hàng chỉ đơn thuần thực hiện thông báo L/C thì không trở thành ngân hàng được chỉ định, một NHTB L/C lại được chỉ định thanh toán hay chiết khấu L/C thì nó đồng thời là NHTB và NHđCĐ
1.1.4 Tính ưu việt của phương tín dụng chứng từ
Qua quy trình thanh toán L/C với trình tự các bước tiến hành cụ thể đã mô tả ở trên cho thấy đây là một phương thức thanh toán sòng phẳng, đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên XK và NK và các ngân hàng Hiện nay, phương thức thanh toán này được
sử dụng nhiều nhất trong TTQT bởi chính những lợi ích nổi trội mà nó mang lại
1.1.4.1 Lợi ích đối với nhà nhập khẩu
- Nhà NK sẽ nhận được mọi chứng từ hàng hóa mà mình yêu cầu trong L/C và trách nhiệm kiểm tra bộ chứng từ thuộc về NHPH Nếu bộ chứng từ có lỗi nhưng do NHPH kiểm tra không kỹ nên đã tiến hành thanh toán Như thế, trong trường hợp này, nhà NK sẽ bảo vệ được vốn
- Nhà NK tận dụng được tín dụng của ngân hàng, bởi lẽ khoảng thời gian từ khi mở L/C cho đến khi thu được tiền hàng là một khoảng thời gian khá dài bao gồm giai đoạn chuẩn bị hàng, chuyển hàng, bán hàng; nếu ngân hàng cho phép nhà NK ký quỹ một phần hoặc miễn toàn bộ, điều đó sẽ rất có lợi cho nhà NK (khoảng thời gian
đó, nhà NK có thể sử dụng tiền để thực hiện một công cuộc đầu tư khác)
1.1.4.2 Lợi ích đối với nhà xuất khẩu
Nhà XK được đảm bảo thanh toán khi xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với các điều kiện quy định trong L/C tới NHPH/NHđCĐ/NHXN mà không phải chờ đến khi nhà NK nhận hàng, tránh được các trường hợp mà nhà NK thiếu thiện chí trả tiền hoặc trì hoãn thanh toán sau khi nhận được hàng như trong các phương thức khác
Với một L/C không hủy ngang có xác nhận, không chỉ NHPH mà cả NHXN cũng bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý trong thanh toán tiền hàng cho nhà XK Hơn nữa theo quy định, việc thanh toán L/C được thực hiện trên nguyên tắc không truy đòi người thụ hưởng Nói cách khác nó cung cấp sự an toàn tốt nhất cho nhà XK
Hình thức chiết khấu hối phiếu hay chiết khấu bộ chứng từ trong thanh toán L/C sẽ đem lại lợi ích lớn, đặc biệt trong trường hợp nhà XK cần quay vòng vốn nhanh để thực hiện một giao dịch khác Chỉ cần nhà XK và nhà NK thỏa thuận và ghi
Trang 30vào trong L/C “negotiation available at any bank”, nhà XK có thể được chiết khấu tại ngân hàng phục vụ mình hoặc bất kỳ ngân hàng nào khác
1.1.4.3 Lợi ích đối với ngân hàng
+ Tăng cường mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau
+ Tăng cường mối quan hệ với ngân hàng đại lý, làm tăng tiềm năng kinh doanh đối ứng giữa các ngân hàng với nhau
Tóm lại, phương thức tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho cả nhà XK và nhà NK trong hoạt động thương mại quốc tế và nâng cao vai trò của ngân hàng trong hoạt động TTQT, khắc phục được những mâu thuẫn của phương thức TTQT khác
1.2 Rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
1.2.1 Khái niệm rủi ro
Nói đến rủi ro là đề cập đến những sự kiện không may mắn, bất ngờ xảy ra gây nên những thiệt hại về lợi ích của con người gồm: sức khoẻ, tinh thần, sự nghiệp tài sản Vậy rủi ro là những sự kiện bất lợi, xảy ra ngoài sự mong đợi và gây nên tổn thất cho con người Từ khái niệm chung về rủi ro, chúng ta đi đến khái niệm về rủi ro trong hoạt động TTQT đặc biệt là trong phương tín dụng chứng từ Đó là những rủi ro về kinh tế, phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động thanh toán, do các nguyên nhân phát sinh từ quan hệ giữa các bên tham gia thanh toán (nhà NK, XK, các tổ chức, cá nhân và các tác nhân trung gian ) hoặc do những nhân tố khách quan gây nên
Trang 311.2.2 Các loại rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
1.2.2.1 Rủi ro kỹ thuật/nghiệp vụ
Rủi ro kỹ thuật là những rủi ro do sai sót mang tính kỹ thuật trong quy trình thanh toán thư tín dụng, như sai khác giữa bộ chứng từ thanh toán với thư tín dụng hoặc hợp đồng, hay việc các bên tham gia không thực hiện đúng một khâu nào đó trong quy trình nghiệp vụ thanh toán dẫn đến sự từ chối thanh toán hay từ chối nhận hàng của phía đối tác Trong phương thức tín dụng chứng từ, mỗi ngân hàng có những trách nhiệm nhất định và do vậy cũng có thể gặp những rủi ro liên quan
Rủi ro đối với NHPH L/C (IssuingBank)
- Rủi ro trong nghiệp vụ mở L/C:
Vấn đề quan trọng nhất trong khâu mở L/C chính là việc ngân hàng phải kiểm tra cẩn thận doanh nghiệp xin phát hành L/C về các mặt như tính pháp lý, đơn xin mở L/C, nguồn vốn để thanh toán, uy tín (từ đó đưa ra mức kỹ quỹ hợp lý) Đặc biệt, ngân hàng còn phải làm tốt vai trò tư vấn trong khâu này khi phát hiện có những điều khoản bất lợi cho nhà NK thể hiện trong hợp đồng thương mại, về phương thức thanh toán,
điều kiện vận chuyển Đó chính là những bất lợi có thể dẫn đến những tranh chấp về sau và do đó có thể trở thành những rủi ro cho ngân hàng
- Rủi ro trong kiểm tra bộ chứng từ:
Đây là khâu quan trọng và bao trùm trách nhiệm lớn nhất của ngân hàng, việc ngân hàng quyết định thanh toán hay không là phụ thuộc vào khâu này Do đó, nếu ngân hàng không kiểm tra bộ chứng từ với một “sự cẩn thận hợp lý” mà vẫn thực hiện thanh toán thì những rủi ro tiềm tàng rất có thể sẽ phát sinh Việc kiểm tra chứng từ như thế nào, cũng như nội dung chứng từ đã được thể hiện trong văn bản UCP 600 Tuy nhiên, lại có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn bản này, từ đó dẫn đến những rủi ro
và tranh chấp phát sinh giữa các ngân hàng tham gia
Rủi ro đối với NHTB
Nhiệm vụ của NHTB là kiểm tra tính chân thực của L/C, tránh thông báo L/C giả khiến bên XK giao hàng mà không thu hồi được tiền Vì vậy, những rủi ro xảy ra
đối với NHTB có thể là một trong những trường hợp sau:
- Thông báo nhầm một L/C giả hoặc một sửa đổi giả
- Thông báo sửa đổi L/C trong khi L/C không có hiệu lực (chưa xác minh được tính chân thực bề ngoài – test key hay mẫu SWIFT không phù hợp)
Trang 32- Nếu NHTB thấy chưa xác minh được tính chân thực bề ngoài của một L/C và quyết định không thông báo L/C đó nhưng lại không gửi thông báo về vấn đề này hoặc gửi chậm trễ đến NHPH, đó cũng sẽ là rủi ro cho NHTB
Rủi ro đối với ngân hàng xác nhận
NHXN có nhiệm vụ là đưa thêm sự xác nhận của mình vào thư tín dụng đã phát hành dựa trên sự ủy quyền hoặc yêu cầu của NHPH Rủi ro xảy ra khi NHXN không nắm được năng lực tài chính của NHPH L/C nhưng vẫn tiến hành xác nhận theo yêu cầu NHXN sẽ gặp rủi ro khi NHPH không có thiện chí thanh toán hoặc bị mất khả năng thanh toán
Rủi ro đối với ngân hàng chiết khấu
Ngân hàng chiết khấu (NHCK) là ngân hàng phục vụ người thụ hưởng, có trách nhiệm chiết khấu bộ chứng từ do nhà XK xuất trình NHCK phải kiểm tra bộ chứng từ cẩn thận để đảm bảo bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp và NHPH không thể từ chối thanh toán Rủi ro với NHCK có thể xảy ra trong những trường hợp sau:
- Nhà nhập khẩu trì hoãn hoặc từ chối thanh toán bộ chứng từ:
Có thể do khả năng yếu kém của bên mua hoặc bên mua muốn kiểm tra thực trạng hàng hóa mới trả tiền để tránh rủi ro về hàng hóa hoặc sau khi trì hoãn thanh toán
để kiểm tra hàng, thấy hàng không như thỏa thuận, nhà NK có thể từ chối thanh toán (trường hợp này NHPH sẽ cố tình bắt lỗi để từ chối trả tiền) Người bán sẽ chịu thiệt hại lớn kéo theo rủi ro cho ngân hàng chiết khấu: bị đọng vốn hoặc bị mất vốn
- NHCK hành động không đúng theo tinh thần của UCP: Thông báo đòi tiền vượt quá 5 ngày làm việc của ngân hàng đối với văn bản UCP 600 và 7 ngày làm việc của ngân hàng đối với UCP 500
1.2.2.2 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là những rủi ro phát sinh do việc cấp tín dụng cho các bên liên quan đến hoạt động thanh toán nhưng họ không có khả năng hoàn trả Rủi ro tín dụng liên quan trực tiếp đến tình hình tài chính, khả năng thanh toán của các bên Trong phạm vi của đề tài chỉ xem xét đến khoản tín dụng được cấp trong phương thức tín dụng chứng từ Rủi ro tín dụng xảy ra đối với ngân hàng khi bên NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
Rủi ro khi nhà NK mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản
Có thể do khâu thẩm định khi mở L/C ngân hàng làm không tốt
Trang 33 Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà NK có thể gặp những biến động xấu (uy tín giảm sút với bạn hàng, hàng không tiêu thụ được, hoặc bán chịu không thu được tiền, cơ sở sản xuất bị thiệt hại nặng do nguyên nhân khách quan ) dẫn đến thua lỗ liên tục trong khi ngân hàng lại không nắm bắt được tình hình, điều này khiến ngân hàng không thu hồi được vốn từ nhà NK
Rủi ro trong quá trình vận chuyển
Phòng thương mại quốc tế ICC đã ban hành “Các điều kiện thương mại quốc tế” với mục đích giúp bên NK và bên XK phân chia lại chi phí và rủi ro một cách cụ thể, giảm thiểu những rủi ro có thể gặp phải Tuy nhiên, để lựa chọn một điều kiện giao hàng phù hợp, nhà NK vẫn xem xét đến rất nhiều yếu tố như chi phí trả trước hay sau, mua bảo hiểm lô hàng, hàng hóa vận chuyển bằng container, bằng ro – ro (giao qua lan can tàu) hay không những điều này sẽ quyết định trực tiếp đến việc lựa chọn điều kiện thương mại nào Tuy nhiên, vẫn có những nhà NK muốn lựa chọn những điều kiện thương mại với chi phí tiết kiệm nhất mà lại không để ý đến những rủi ro khác Do vậy, khi sự cố xảy ra như mất mát, hư hỏng, va chạm, đắm tàu mà trách nhiệm không thuộc
về hãng tàu và nhà NK không mua bảo hiểm hàng thì rủi ro đó nhà NK hoàn toàn phải chịu trách nhiệm và kéo theo ngân hàng cũng gặp rủi ro
1.2.2.3 Rủi ro hối đoái
Phương thức tín dụng chứng từ liên quan đến nhiều quốc gia khác nhau với những đồng tiền khác nhau, vì vậy, tỷ giá biến động luôn cũng là một trong những rủi
ro lớn đối với các bên tham gia Khi đồng nội tệ rớt giá so với ngoại tệ mạnh ở mức vượt quá dự đoán của nhà NK, đối với những mặt hàng bán giá cạnh tranh, không thể tăng giá được, nếu nhập hàng về người NK sẽ phải đối mặt với nguy cơ chịu lỗ cao Chính vì thế, nhà NK không muốn nhận lô hàng này trong khi ngân hàng đã thanh toán Rủi ro sẽ xảy đến với ngân hàng khi tỷ lệ ký quỹ không đủ bù đắp được tỷ lệ trượt giá Hoặc trong trường hợp ngân hàng cho khách hàng vay ngoại tệ để thanh toán L/C và nguồn ngoại tệ có thể huy động ở nơi khác, thì khi tỷ giá giảm, khoản lãi thu
được chưa chắc đã đủ bù đắp cho khoản lỗ do chênh lệch tỷ giá gây ra
1.2.2.4 Rủi ro ngân hàng đại lý
Tình hình tài chính thế giới luôn biến động không ngừng, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng tài chính, nó gây ra những ảnh hưởng không tốt đến những tập đoàn ngân hàng – tài chính trên thế giới Đó cũng là một yếu tố tiềm ẩn rủi ro trong TTQT Trong quá trình TTQT, chắc chắn phải có sự tham gia của ngân hàng đại lý, rủi ro xảy ra khi ngân hàng đại lý đó bị giải thể hoặc phá sản, ngân hàng bị mất khả năng thanh toán trong khi tiền đã chuyển đến ngân hàng đó mà nó vẫn chưa được thanh toán đi
Trang 341.2.2.5 Rủi ro chính trị, pháp luật
Do đặc điểm của phương thức TTQT là đa dạng về ngành nghề, lĩnh vực, chịu
sự điều chỉnh của nhiều tập quán, thông lệ và pháp luật quốc gia nên khi có những thay
đổi về tình hình kinh tế, chính trị, chính sách, quyết định của các quốc gia có liên quan trong quá trình thanh toán dù là nhỏ nhưng theo chiều hướng bất lợi cũng sẽ tạo thành những rủi ro trong hoạt động TTQT đặc biệt là phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ là một trong những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại, đóng vai trò quan trọng không chỉ với ngân hàng mà còn với cả nền kinh tế Chính vì thế, các giao dịch tín dụng chứng từ đòi hỏi phải có hành lang pháp lý
để thực hiện Việc áp dụng những văn bản pháp lý điều chỉnh quan hệ chứng từ sao cho
có hiệu quả phụ thuộc vào luật pháp của các quốc gia Hiện nay, một trong những vấn
về nổi lên là việc tranh chấp giao dịch tín dụng chứng từ phát sinh ngày càng nhiều và càng phức tạp Do vậy, đòi hỏi hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia cần phải ổn định chặt chẽ, hoàn thiện để tạo điều kiện cho hoạt động thanh toán quốc tế được trôi chảy
và giảm thiểu được rủi ro Đối với những nước có hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn thiếu sót, thường xuyên sửa chữa, bổ sung sẽ gây nên rủi ro cho các bên tham gia thanh toán tín dụng chứng từ, bởi những thay đổi này khiến cho các bên không thực hiện được nghĩa vụ của mình, dẫn tới việc hủy bỏ L/C và gây thiệt hại cho các bên
Những mâu thuẫn, xung đột lớn về chính trị giữa các nước hay ở tại một số nước
có chiến tranh, cấm vận, bao loạn như trường hợp cấm vận kinh tế bắt nguồn từ mục
đích chính trị như đối với Cuba và Iraq hiện nay cũng đem lại rủi ro tương tự như mất mát hàng hóa, chứng từ, ngân hàng bị phong tỏa hoặc ngừng hoạt động
Các biến động về kinh tế, chính trị thường là rất khó có thể dự đoán trước và nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và khách hàng, chính vì vậy, rủi ro chính trị luôn là mối đe doạ đến phương thức tín dụng chứng từ
1.2.2.6 Rủi ro đạo đức kinh doanh
Mặc dù trong phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia được quy định rõ ràng nhưng không phải lúc nào các nghĩa vụ và quyền lợi đó cũng được tôn trọng Rủi ro đạo đức xảy ra khi một bên tham gia cố tình không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên còn lại
Về phía người NK, làm nhiệm vụ thanh toán cho ngân hàng mở, nếu có thiện chí thì việc thanh toán sẽ diễn ra thuận tiện, nhanh chóng, ngay cả khi bộ chứng từ có lỗi họ cũng sẵn sàng bỏ qua và trả tiền Nhưng khi họ thiếu thiện chí thanh toán, người mua không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng, có thể do giá cả trên thị trường bất lợi
Trang 35thanh toán hoặc thậm chí không thanh toán, gây thiệt hại cho phía người XK Hoặc cũng có thể nhà NK cố tình trì hoãn thanh toán, lừa gạt ngân hàng bằng cách sử dụng tiền bán hàng vào mục đích khác – một hình thức chiếm dụng vốn của ngân hàng
Về phía nhà XK, nhà XK có nhiệm vụ chuyển giao hàng đúng hợp đồng và chuyển bộ chứng từ cho người mua để người mua có thể đi nhận hàng Tuy nhiên, không phải lúc nào nhà XK cũng thực hiện nghiêm túc những nghĩa vụ nói trên Có nhiều trường hợp, khi người mua đã tiến hành mở L/C theo đúng yêu cầu của người bán nhưng khi tình hình giá cả trên thị trường có chiều hướng tăng hoặc giảm, người bán tìm được người mua khác trả giá cao hơn thì người bán nhiều khi sẵn sàng hủy bỏ hợp đồng đã ký và không giao hàng như đã thỏa thuận Lúc này rủi ro mà người mua gặp phải là mất chi phí mở thông báo L/C hoặc ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh Hoặc cũng có trường hợp, người bán không trung thực, lợi dụng sự độc lập của L/C và hợp đồng ngoại thương cũng như quy định về trách nhiệm của ngân hàng chỉ là kiểm tra sự phù hợp của chứng từ và L/C để cố tình giao hàng kém chất lượng, sai sót về số lượng, bao bì, mẫu mã, đóng gói nhưng vẫn lập chứng từ để thanh toán Theo quy
định của UCP, các bên tham gia chỉ làm việc dựa trên chứng từ chứ không căn cứ vào các giao dịch hàng hóa trên thực tế, do vậy người mua sẽ phải thanh toán cho ngân hàng mở kể cả khi hàng hóa nhận được không đúng với trong hợp đồng hoặc không nhận được hàng nếu người bán xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo Các vi phạm về hợp
đồng có thể giải quyết sau đó nhưng phải mất nhiều thời gian và phí tổn, thiệt hại trước mắt của người mua là mất cơ hội kinh doanh và bị chiếm dụng vốn
Về phía ngân hàng, các ngân hàng cũng có thể vi phạm trách nhiệm khi ngân hàng thông đồng với các nhà NK bắt lỗi bộ chứng từ để từ chối thanh toán Và ngược lại ngân hàng cũng chịu ảnh hưởng gián tiếp từ những rủi ro của khách hàng như khi nhà NK không nhận được hàng hoặc hàng nhận được không đúng như yêu cầu thì họ khó có thể trả cho ngân hàng số tiền họ vay để thanh toán L/C
Nguyên nhân dẫn đến các rủi ro về đạo đức là do các bên tham gia thanh toán không có những thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh cũng như về uy tín và tính trung thực của đối tác Chính vì vậy, quyết định của các bên đưa ra sẽ không chính xác và gây nên rủi ro trong thanh toán Vì thế, để hạn chế những rủi ro này, chúng ta cần phải giải quyết vấn đề thông tin không cân xứng Các ngân hàng cần thiết lập riêng một bộ phận điều tra, thu thập thông tin, nghiên cứu khách hàng để hạn chế rủi ro cho chính mình đồng thời có thể tư vấn cho chính khách hàng của mình
Trang 361.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Dựa trên những rủi ro thường gặp nêu trên, dưới đây là phần đánh giá về các nguyên nhân dẫn đến những rủi ro đó
1.2.3.1 Nguyên nhân từ bản thân phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức tín dụng chứng từ là phương thức TTQT được các bên XNK và ngân hàng sử dụng nhiều nhất do những lợi ích mà nó đem lại cho tất cả các bên Tuy vậy, đây cũng là phương thức thanh toán phức tạp, diễn ra với nhiều khâu trung gian, đòi hỏi sự am hiểu về nghiệp vụ như ngoại thương, bảo hiểm vận tải bên cạnh các nghiệp vụ thanh toán Chính vì phức tạp nên bản thân phương thức cũng như các quy định, thông lệ quốc tế về loại hình thanh toán này cũng không tránh khỏi những tồn tại có thể dẫn đến rủi ro như:
- Căn cứ để ngân hàng và bên NK thanh toán tiền trong phương thức chính là bộ chứng từ Bộ chứng từ hoàn hảo đồng nghĩa với việc tiền sẽ được thanh toán cho bên XK Nhưng thế nào là bộ chứng từ hoàn hảo còn tuỳ thuộc vào ngân hàng kiểm tra chứng từ cũng như thiện chí trả tiền của NHPH và bên NK Tuy đã có văn bản UCP 600 hướng dẫn
về việc kiểm tra của chứng từ nhưng ngay trong cách hiểu về các quy định này giữa các ngân hàng cũng không có sự đồng nhất Các tranh chấp liên quan tới chứng từ trong phương thức thanh toán này cũng có phần lớn phát sinh từ đây
- Trong thanh toán bằng L/C, ngân hàng chỉ có trách nhiệm kiểm tra chứng từ với việc xem xét tính xác thực của chứng từ, sự phù hợp của bộ chứng từ với L/C, phù hợp giữa các chứng từ với nhau và với nguồn luật dẫn chiếu chứ không có trách nhiệm kiểm tra thực trạng hàng hóa Đây chính là cơ sở để bên XK thực hiện hành vi lừa đảo, giao hàng sai hợp đồng (thiếu số lượng, chất lượng yếu kém, mẫu mã bao bì không phù hợp), nhưng vẫn lập và xuất trình một bộ chứng từ phù hợp để đòi tiền Căn cứ vào đó, ngân hàng trả tiền, đến khi nhà NK nhận được lô hàng không theo mong muốn, tranh chấp phát sinh, ngân hàng sẽ tốn thời gian công sức để giải quyết hoặc việc tiêu thụ hàng không thực hiện
được, nhà NK gặp rủi ro kéo theo ngân hàng cũng sẽ gặp rủi ro theo trong trường hợp nhà
NK vay tiền ngân hàng để thanh toán lô hàng
- Do tính chất phức tạp của phương thức thanh toán này, các bên tham gia cần phải
có trình độ nghiệp vụ nhất định mới có thể tiến hành thanh toán một cách chính xác, hạn chế rủi ro Phương thức tín dụng chứng từ diễn ra với một quy trình nghiệp vụ bao gồm nhiều khâu, nhiều bên tham gia cũng như liên quan đến nhiều nghiệp vụ khác Một sai sót nhỏ trong khâu mở thư tín dụng, khâu sửa đổi, kiểm tra chứng từ hay chỉ là sự thiếu hiểu biết nghiệp vụ XNK của bên mua, bên bán, hoặc sự thiếu thiện chí thanh toán đều có thể dẫn đến những rủi ro với nhiều mức độ, có thể chỉ là gây mất thời gian thanh toán, tốn
Trang 371.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng (bên NK và XK)
Việc thanh toán lô hàng XNK có diễn ra suôn sẻ hay không, không chỉ phụ thuộc vào trình độ, chất lượng, nghiệp vụ thanh toán của ngân hàng mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự am hiểu của hai đối tác XNK Có thể nhận thấy việc am hiểu về kinh doanh XNK của các bên sẽ khiến cho thời gian thanh toán được rút ngắn Chẳng hạn như, bên NK trình một đơn xin mở thư tín dụng với nội dung đầy đủ, mẫu hợp lệ sẽ giúp cho ngân hàng nhanh chóng phát hành được L/C thay vì việc phải tư vấn qua lại cho bên NK để có được một đơn xin mở thư tín dụng phù hợp nhất Hơn nữa, chính sự hiểu biết của các bên về kinh doanh XNK nói chung và nghiệp vụ TTQT nói riêng sẽ giúp tránh được những rủi ro khi đối tác có hành vi lừa đảo gian lận
Bên cạnh đó, thiện chí trong thanh toán cũng là một yếu tố rất quan trọng giúp
đẩy nhanh quá trình thanh toán Trong trường hợp bộ chứng từ có lỗi nhưng nếu hai bên có sự tin tưởng, thống nhất và thiện chí tiến hành giao dịch thì lô hàng vẫn được giao và thanh toán đầy đủ Nhưng cũng có trường hợp, bên NK và NHPH thiếu thiện chí, cố tình bắt lỗi bộ chứng từ hoặc tiến hành sửa đổi L/C nhiều lần gây khó khăn cho bên XK Rủi ro cũng từ đó phát sinh
1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngân hàng là bên tham gia phương thức thanh toán với vai trò đặc biệt quan trọng Sự ủy thác của bên NK cho ngân hàng trong việc kiểm tra và thanh toán tiền hàng thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm lớn lao cũng như những rủi ro không thể tránh khỏi nếu như không hoàn thành tốt trách nhiệm của mình Tuy vậy, không có điều gì là tuyệt
đối, bản thân ngân hàng cũng khó có thể tránh khỏi những sai sót dù lớn dù nhỏ trong qua trình thanh toán Sai sót mức độ nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:
- Chất lượng thanh toán tại ngân hàng thể hiện ở trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ làm thanh toán Cán bộ có trình độ cao và có nhiều kinh nghiệm là một trong các yếu tố đảm bảo cho quá trình thanh toán được diễn ra nhanh chóng, suôn sẻ
- Công nghệ ngân hàng cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng
và tốc độ thanh toán Công nghệ lạc hậu, không được thường xuyên cập nhật sẽ ảnh hưởng đến quá trình thanh toán giữa các bên và uy tín của ngân hàng
- Một yếu tố khác góp phần mở rộng hoạt động thanh toán quốc tế cũng như tạo
điều kiện dễ dàng cho hoạt động này là các mối quan hệ đại lý với các ngân hàng khác Càng có nhiều mối quan hệ đại lý với độ tin tưởng cao của các ngân hàng đại lý sẽ là yếu
tố giúp ngân hàng thắng thế trong cạnh tranh Và ngược lại, ít mối quan hệ đại lý sẽ là trở ngại, gây tốn kém chi phí, thời gian, mất uy tín với khách hàng và rủi ro gia tăng khi phải thông qua nhiều ngân hàng khác nhau để thực hiện thanh toán cho khách hàng
Trang 381.3 Quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ tại các ngân hμng thương mại
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT
Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt
được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường
Quản trị rủi ro là một chức năng quản trị chung để nhận dạng, đánh giá, đối phó với những nguyên nhân và hậu quả của rủi ro đối với một tổ chức
Quản trị rủi ro trong hoạt động thanh toán quốc tế là:
- Nhận diện rủi ro
- Dự kiến trước với các chi phí nhỏ nhất các nguồn lực tài chính cần thiết trong truờng hợp có rủi ro xảy ra
- Kiểm soát các rủi ro bằng cách loại bỏ, giảm nguy cơ, hoặc di chuyển một cách hợp lý rủi ro cho các đối tác kinh tế
- Đo lường những hậu quả của rủi ro gây ra và dự kiến các biện pháp tổ chức nhằm giảm bớt tới mức thấp nhất những thiệt hại về người và của đối với ngân hàng
Như vậy, thực chất quản trị rủi ro trong hoạt động TTQT là những biện pháp mang tính chủ động nhằm phát hiện, phòng ngừa, loại bớt, khoanh vùng các rủi ro để giảm nhẹ tổn thất trên cơ sở tính toán và so sánh với chi phí quản trị rủi ro
1.3.2 Nội dung của hoạt động quản trị rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ 1.3.2.1 Nhận dạng rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Nhận dạng rủi ro là việc xác định một danh mục các rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khi tham gia phương thức tín dụng chứng từ Những rủi ro này xuất phát từ nguyên nhân chủ quan hay khách quan Danh sách các rủi ro được đưa ra càng chi tiết
và đầy đủ thì càng có lợi cho hoạt động thanh toán diễn ra giữa các bên tham gia
Để nhận dạng được các rủi ro có thể xảy ra từ phương thức tín dụng chứng từ, các nhà quản trị cần phải:
Nghiên cứu nguồn xuất phát rủi ro của phương thức tín dụng chứng từ
Trong quá trình thực hiện thanh toán, các ngân hàng phải đối phó với các nguồn rủi ro sau đây:
- Rủi ro phát sinh từ phía khách hàng
Trang 39- Rủi ro phát sinh từ chính ngân hàng và các mối quan hệ đại lý với các ngân hàng khác có tác động trực tiếp đến quá trình thực hiện thanh toán
- Ngoài ra còn có các rủi ro do nguyên nhân khách quan mang lại như sự không
ổn định, thường xuyên thay đổi các chính sách, các tập quán, thông lệ, pháp luật của quốc gia, tình hình kinh tế, chính trị bất ổn định, tỷ giá thị trường biến đổi, thiên tai, hỏa hoạn
Nghiên cứu đối tượng gặp rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Căn cứ vào quy trình thanh toán của phương thức tín dụng chứng từ và việc phân loại các rủi ro có thể gặp phải đã được trình bày ở phần trên, chúng ta có thể biết được những đối tượng chịu rủi ro trong phương thức thanh toán này Đó chính là nhà NK, nhà XK, NHPH, NHXN, NHđCĐ, NHTB, NHCK Đây là những thành phần tham gia vào quá trình thanh toán
Lập bảng danh mục các rủi ro
Thiết kế bảng danh mục rủi ro nhằm liệt kê một cách có hệ thống những rủi ro
có thể gặp phải trong phương thức tín dụng chứng từ, từ đó có kế hoạch theo dõi, giám sát và có biện pháp phòng ngừa cũng như hạn chế rủi ro nếu xảy ra Bảng danh mục những rủi ro đã gặp phải, cũng như chưa bao giờ gặp phải luôn là điều nhắc nhở cần thiết để mọi người cảnh giác, cẩn trọng với những rủi ro, đặc biệt là những rủi ro có tính chất, mức độ nghiêm trọng cao
- Mục đích của việc nhận dạng rủi ro là nhằm phát hiện kịp thời rủi ro để ứng phó một cách có khoa học và đỡ tốn kém nhất cho ngân hàng và khách hàng mà mình phục vụ Ngân hàng có khả năng nhận biết và xác định chính xác thì việc phân tích, đo lường ở các bước tiếp theo mới thực sự có ý nghĩa và hiệu quả
Nhận biết và xác định rủi ro đòi hỏi cán bộ không những phải có trình độ chuyên môn vững, có tinh thần trách nhiệm mà quan trọng nhất là buộc phải có kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết để tập hợp được tất cả các loại rủi ro có thể xảy ra và phân biệt chúng với các tiêu thức khác nhau
1.3.2.2 Đo lường rủi ro, tổn thất trong phương thức tín dụng chứng từ
Đo lường rủi ro là tính toán, dự đoán mức độ rủi ro mà ngân hàng đang đối mặt
và mức độ thiệt hại nếu rủi ro xảy ra
Phân tích và đo lường rủi ro là điều mà tất cả các nhà quản trị ngân hàng đều quan tâm, vì đo lường chính xác là cơ sở cho quyết định lựa chọn danh mục tài sản cũng như các biện pháp phòng ngừa, kiểm soát và chấp nhận rủi ro một cách chủ động
và hiệu quả
Trang 40Đo lường và phân tích rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ phải đạt được hai yếu tố cơ bản:
+ Tính mức độ hay xác suất gặp phải rủi ro
+ Dự đoán mức độ tổn thất nếu rủi ro xảy ra
Mục đích của việc đo lường rủi ro để giúp cho các cấp điều hành, chỉ đạo, khắc phục kịp thời các tồn tại, đối phó với các rủi ro tiềm ẩn, từ đó giảm thiểu rủi ro, nâng cao hiệu quả và chất lượng của phương thức tín dụng chứng từ
1.3.2.3 Giám sát rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Giám sát rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ là hoạt động giám sát rủi ro sao cho tổn thất xảy ra ít nhất, nằm trong khả năng chấp nhận để đảm bảo rằng việc thực hiện các hoạt động kinh doanh sẽ luôn mang lại hiệu quả và thu nhập cho ngân hàng Nếu không có khả năng quản lý và kiểm soát tốt, tổn thất xảy ra có thể vượt quá khả năng chấp nhận thì ngân hàng rất dễ rơi vào tình trạng nguy hiểm
Giám sát rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ là việc thực hiện:
+ Giám sát hàng ngày các rủi ro có thể xảy ra dựa theo bảng danh mục các rủi
ro đã lập, đặc biệt là đối với những khoản thanh toán tín dụng chứng từ có giá trị cao,
từ đó đối chiếu, kiểm tra tính tuân thủ đối với các chính sách và chỉ thị của ngân hàng
+ Trao đổi thông tin giữa các bộ phận quản lý rủi ro và ban lãnh đạo để thu thập
ý kiến phản hồi về các chiến lược quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế nói chung và trong phương thức tín dụng chứng từ nói riêng
+ Đảm bảo các hạn mức rủi ro không bị vượt quá
+ Đánh giá các tổn thất tín dụng tiềm tàng và lập đủ dự phòng từ giai đoạn đầu
1.3.2.4 Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ
Lựa chọn kỹ thuật phòng ngừa rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ là các biện pháp kỹ thuật, công cụ cố gắng né tránh, đề phòng, hạn chế hay nói cách khác là kiểm soát tần suất, độ lớn của những tổn thất và những ảnh hưởng khác không mong
đợi của rủi ro
Để phòng ngừa rủi ro trong phương thức tín dụng chứng từ và hoạt động TTQT nói chung có thể lựa chọn một số phương pháp sau đây:
+ Né tránh rủi ro: là chủ động né tránh trước những rủi ro có thể xảy ra và loại
bỏ nguyên nhân những gây ra rủi ro, có thể là việc hạn chế mở L/C cho những khách