3 Phân vùng chè:Do điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp cho nên cây chè được trồng trọtrải rác ở hầu hết các tỉnh trung du và miền núi, nhưng tập trung ở một số vùngchính như sau: - Vù
Trang 1CHƯƠNG I
VỊ TRÍ CỦA CÂY CHÈ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI
I VỊ TRÍ CỦA CÂY CHÈ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1) Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu:
rung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống sau đó nhờ những đặc tính tốtcủa nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới Ngày nay chè được phổbiến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao Tác dụng chữa bệnh và chấtdinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau:
- Caféin và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khảnăng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thầnminh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lựclàm việc, giảm bớt mệt nhọc sau những lúc làm việc căng thẳng
- Hỗn hợp tanin chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruộtnhư tả, lỵ, thương hàn Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chèxanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày Theo xác nhậncủa M.N Zaprometop thì hiện nay chưa tìm ra được chất nào lại có tác dụnglàm vững chắc các mao mạch tốt như catechin của chè Dựa vào số liệu củaViện nghiên cứu y học Leningrat, khi điều trị các bệnh cao huyết áp và nepritmạch thì hiệu quả thu được có triển vọng rất tốt, nếu như người bệnh được dùngcatechin chè theo liều lượng 150mg trong một ngày E.K Mgaloblisvili và cáccộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạngchức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước,tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C, trạng thái chứcnăng của hệ thống điều tiết máu.v.v
- Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP
và nhiều nhất là vitamin C
- Một giá trị đặc biệt của chè được phát hiện gần đây là tác dụng chốngphóng xạ Điều này đã được các nhà khoa học Nhật Bản thông báo qua việcchứng minh chè có tác dụng chống được chất Stronti (Sr) 90 là một đồng vịphóng xạ rất nguy hiểm Qua việc quan sát thống kê nhận thấy nhân dân ở mộtvùng ngoại thành Hirôsima có trồng nhiều chè, thường xuyên uống nước chè, vìvậy rất ít bị nhiễm phóng xạ hơn các vùng chung quanh không có chè Các tiến
sĩ Teidzi Ugai và Eisi Gaiasi (Nhật Bản) đã tiến hành các thí nghiệm trên chuộtbạch cho thấy với 2% dung dịch tanin chè cho uống sẽ tách ra được từ cơ thể90% chất đồng vị phóng xạ Sr - 90
Trang 22) Chè là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, maucho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao Chè trồng một lần, có thể thu hoạch 30-
40 năm hoặc lâu hơn nữa Trong điều kiện thuận lợi của ta cây sinh trưởng tốtthì cuối năm thứ nhất đã thu bói trên dưới một tấn búp/ha Các năm thứ hai thứ
ba (trong thời kỳ kiến thiết cơ bản) cũng cho một sản lượng đáng kể khoảng 2-3tấn búp/ha Từ năm thứ tư chè đã đưa vào kinh doanh sản xuất
3) Chè là sản phẩm có thị trường quốc tế ổn định, rộng lớn và ngày càngđược mở rộng Theo dự đoán của FAO (1967), nếu lấy năm 1961 - 1963 là100% thì năm 1975 yêu cầu về chè hàng năm của thế giới sẽ tăng 2,2 - 2,7% vàsản xuất chè tăng 3,2%
4) Ở nước ta, chè là một trong những cây có giá trị xuất khẩu cao Căn cứvào năng suất bình quân đã đạt được năm 1969 của khu vực nông trường quốcdoanh (42,39 tạ búp/ha), nếu chỉ đứng về mặt xuất khẩu mà xét thì một ha chècủa khu vực nông trường quốc doanh so với một số cây công nghiệp dài ngàycủa cùng khu vực này bằng hơn 5 lần một ha cà phê, gần 10 lần một ha sả Nếunăng suất chè đạt 100 tạ búp/ha thì xuất khẩu có thể thu được đủ để nhập 46 tạphân hóa học, hoặc 3,1 tạ bông, hoặc 25 - 30 tạ bột mì Như vậy một ha chè cónăng suất 100 tạ búp có giá trị xuất khẩu ngang với 200 tấn than
5) Để sử dụng nguồn tài nguyên phong phú và nguồn lao động dồi dào, thayđổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp với điềi kiện không tranh chấp với diện tíchtrồng cây lương thực, chè là một trong những cây có ưu thế nhất Hiện nay tamới sử dụng khoảng 50% đất nông nghiệp Nguồn lao động của ta dồi dàonhưng phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng, chè là một loạicây yêu cầu một lượng lao động sống rất lớn Do đó việc phát triển mạnh câychè ở vùng trung du và miền núi là một biện pháp có hiệu lực, vừa để sử dụnghợp lý vừa để phân bố đồng đều nguồn lao động dồi dào trong phạm vi cả nước.Việc phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du và miền núi dẫn tới việc phân bổcác xí nghiệp công nghiệp chế biến chè hiện đại ngay ở những vùng đó, do đólàm cho việc phân bố công nghiệp được đồng đều và làm cho vùng trung du vàmiền núi mau chóng đuổi kịp miền xuôi về kinh tế và văn hóa
II TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CHÈ TRÊN THẾ GIỚI
Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè Chè được trồng tậptrung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến châu Phi
Theo con số thống kê của cơ quan Nông nghiệp và Lương thực thế giới(FAO năm 1971 và 1975) thì diện tích trồng chè của thế giới năm 1948 - 1952 là985.000 ha, năm 1971 là 1.357.000 ha và năm 1974 là 1.531.000 ha Phân bố
Trang 31.531381.26714876
Sản lượng chè trên thế giới tính đến năm 1977 (theo số liệu của FAO) là1.636.000t Trong đó Nam Mỹ: 42.000t; Châu Á: 1.316.000T; CHẤUPhi:180.000t; Liên Xô: 92.000t; Châu Đại Dương: 6.000t
Các nước sản xuất chè nhiều nhất là: Ấn Độ: 500.000T, Trung Quốc:331.000t, Xrilanca: 197.000t; Nhật Bản: 100.000t
Theo số liệu của FAO (1997), những nước xuất nhập khẩu chè nhiều nhấttrên thế giới năm 1976 như sau:
- Xuất khẩu: Ấn Độ 237.000T, Xrilanca: 199.700t, Kênia: 63.000t;
Trang 4được trồng phần lớn trên đất dốc đến 30 độ Diện tích trồng chè của Trung Quốcnăm 1974 là 337.000 ha.
Trung Quốc có rất nhiều giống chè, trong đó chủ yếu là giống chè TrungQuốc lá to và lá trung bình
2) Ấn Độ:
Ấn Độ bắt đầu trồng chè vào khoảng 1834 - 1840 Do điều kiện khí hậuthích hợp, những năm gần đây, Ấn Độ đã đứng đầu thế giới về sản xuất và xuấtkhẩu chè Chè của Ấn Độ gồm có hai vùng rõ rệt: vùng phía Bắc (vùng sản xuấtchè chủ yếu của Ấn Độ) và vùng phía Nam Vùng phía Bắc, chè tập trung ở cácbang Atxam, Kachar, Duars, Darjiling; Atxam và Darjiling là hai khu vực sảnxuất chè có tiếng trên thế giới Vùng chè phía nam: tập trung ở hai bang Kerala
và Madras Đất vùng Atxam chủ yếu là đất đỏ pha sét và đất phù sa Đất vùngMadras chủ yếu là đất sét và đất đỏ pha cát Do lượng mưa lớn, đất đai phìnhiêu, năng suất chè của Ấn Độ đạt bình quân 5 - 8 t/ha, cá biệt đạt 12 - 13 t/ha.Đặc điểm sản xuất chè của Ấn Độ là trồng tập trung, giống chè lá to, trồng câybóng râm cho chè và áp dụng phương pháp hái chừa nhiều lá Diện tích trồngchè của Ấn Độ năm 1974 là 360.000 ha
3) Xrilanca:
Xrilanca bắt đầu trồng chè vào khoảng 1837 - 1840, nhưng thực sự pháttriển từ năm 1867 - 1873 (sau khi các vườn cà phê bị tiêu diệt bởi bệnh nấm
Hemileia vastatrix).
Chè Xrilanca tập trung ở các tỉnh miền trung, miền tây và tây bắc, phân bố
ở các độ cao so với mặt biển như sau:
4) Nhật Bản:
Nhật Bản là nước đầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc (năm 805 - 814).Chè trồng tập trung ở giữa 35 và 38 độ vĩ bắc, có một số diện tích trồng đến 40
Trang 5độ vĩ bắc Chè trồng chủ yếu ở những nơi đất bằng, một số diện tích nhỏ trồngtrên đồi Độ cao so với mặt biển không vượt quá 60 - 100m Khí hậu Nhật Bảnchiụ ảnh hưởng của gió mùa, lượng mưa tương đối lớn: 2150mm/năm, phần lớnmưa vào mùa hè Đất trồng chè ở Nhật Bản là đất sét nặng và đất đỏ Diện tíchtrồng chè năm 1974 là 56.000 ha Nhật Bản là nước kinh doanh chè theo phươngthức tiểu nông, diện tích không lớn song khu vực chè tương đối tập trung, giốngchè chủ yếu là giống lá nhỏ, chế biến chè xanh là chính Quản lý vườn chè chuđáo lượng phân bón dùng nhiều, hái bằng kéo.
5) Inđônêxia:
Nghề trồng chè ở Inđônêxia bắt đầu từ đầu thế kỷ 19 Chè được trồng tậptrung ở miền tây đảo Java (trên các sườn dốc có độ cao so với mặt biển 2.300m), miền đông bắc và nam Xumatra (độ cao so với mặt biển 900m) Đất trồngchè ở Java có nguồn gốc núi lửa, giàu mùn và đạm; lân và kali có hàm lượngtrung bình Độ chua pH 5,5 - 5,8 Cả hai đảo Java và Xumatra nằm trong vùngnhiệt đới, lượng mưa hàng năm 2.500 - 4.000 mm, phân bố tương đối đồng đều.Chè được thu hoạch quanh năm, chủ yếu là dùng chế biến chè đen Năm 1974diện tích trồng chè của Inđônêxia là 100.000 ha, tổng sản lượng chè khô67.000t
6) Liên Xô:
Vùng sản xuất chè chủ yếu của Liên Xô là miền tây nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Bruzia (nằm trên bờ Hắc Hải) chiếm trên 90% tổng sản lượng chètoàn quốc Ngoài ra chè còn được trồng ở vùng Kraxnôda (thuộc nước Cộng hòaXHCN Liên bang Nga) và vùng Lencôran (thuộc nước Cộng hòa XHCNAzecbaijan) Cây chè lần đầu tiên được trồng thử ở vườn thực vật Nhikit (thuộcCrưm) năm 1883, sau đó trồng ở vườn thực vật Xukhumi 1884 Năm 1884 chèđược trồng ở vùng Trăccơvi cây chè sinh trưởng phát triển bình thường, búp cóphẩm chất tốt Song việc phát triển sản xuất chè không được chế độ Nga hoàngchú ý
Từ năm 1848 đến 1925 (trong 77 năm), diện tích trồng chè của Liên Xô chỉđạt 1086 ha
Sau kế hoạch năm năm lần thứ nhất đến năm 1958 diện tích trồng chè đạt51,803 ha (tức là tăng gần 50 lần so với thời kỳ 1848 - 1925) Diện tích trồngchè của Liên Xô năm 1974 là 76.000 ha
Đất trồng chè chủ yếu của Liên Xô là đất đỏ, đất vàng và đất potzon
Khí hậu vùng trồng chè hình thành hai mùa rõ rệt Cây chè bắt đầu sinhtrưởng từ cuối tháng 3 đầu tháng 4 và kết thúc sinh trưởng vào tháng 10 Thời
Trang 6gian thu hoạch búp chủ yếu là từ tháng 5 đến hết tháng 9.
III - TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ CỦA VIỆT NAM
Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu Nhưng cây chè được khai thác
và trồng với diện tích lớn mới bắt đầu khoảng hơn 50 năm nay
Quá trình phát triển diện tích trồng chè ở Việt Nam có thể chia làm ba thời
kỳ sau đây:
Thời kỳ thứ nhất 1890 - 1945:
Năm 1890 một số đồn điền chè được thành lập đầu tiên:
Tĩnh Cương (Phú Thọ) với diện tích 60 ha, Đức Phổ (Quảng Nam) 250 ha,chè được trồng ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi với diện tích 1900 ha Năm
1925 - 1940 người Pháp mở các đồn điền trồng chè ở cao nguyên Trung bộ vớidiện tích khoảng 2.750 ha Tính đến năm 1938, tổng diện tích trồng chè của ViệtNam là 13.405 ha với sản lượng 6.100t chè khô Cây chè được trồng nhiều ởBắc bộ và Trung bộ trong đó trên 75% diện tích là của người Việt, khoảng 25%diện tích là của người Pháp Theo số liệu thống kê năm 1939 sản lượng chè củaViệt Nam là 10.900t, đứng hàng thứ 6 sau Ấn Độ, Xrilanca, Trung Quốc, NhậtBản và Inđônêxia
Một đặc điểm nổi bật trong thời kỳ này là diện tích là diện tích trồng chè rấtphân tán, lẻ tẻ, sản xuất mang tính chất tự túc, tự cấp Kỹ thuật canh tác lâu sơsài với phương thức quảng canh, năng suất rất thấp chỉ đạt trên dưới 1,5t búptươi/ha
Các cơ sở nghiên cứu về cây chè được thành lập ở hai nơi Phú Hộ (VĩnhPhú) và Bảo Lộc (Lâm Đồng)
Thời kỳ thứ hai 1945 - 1955:
Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Pháp các vườn chè bị bỏ hoangnhiều, số còn lại không được đầu tư chăm sóc cho nên diện tích và sản lượngchè trong thời kỳ này giảm sút dần
Thời kỳ thứ ba từ năm 1954 tới nay:
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ với phương châm xây dựng nềnnông nghiệp toàn diện và vững chắc, nghề trồng chè đã được chú ý đúng mức.Chè chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế của nhân dân ta Trongcác vùng trồng chè, chè là nguồn thu nhập chủ yếu, góp phần quan trọng trongviệc cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Hiện nay việc sản xuất vàcung cấp chè chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng ở trong nước,cũng như nhu cầu xuất khẩu Tính đến hết năm 1977 cả nước có 44.330 ha chè
Trang 7với tổng sản lượng là 17.896t chè khô.
Sản xuất chè gồm hai khu vực: tập thể và quốc doanh
1) Khu vực tập thể (do các hợp tác xã nông nghiệp quản lý):
Chúng ta đã phục hồi cải tạo các vườn chè cũ, đồng thời không ngừng mởrộng diện tích trồng chè mới Những năm gần đây đã có nhiều hợp tác xãchuyên trồng chè (25 hợp tác xã ở Định Hóa - Bắc Thái) hoặc trồng chè là chủyếu (các hợp tác xã ở Sông Lô - Vĩnh Phú) Các hợp tác xã trồng chè đang ápdụng những biện pháp kỹ thuật tiên tiến trong quá trình trồng trọt như thiết kếnương chè mới, kỹ thuật gieo trồng, đốn tạo hình, quản lý chăm sóc và hái chèsan trật Diện tích trồng chè trong khu vực tập thể năm 1977 là 22.205 ha
2) Khu vực quốc doanh:
Từ năm 1960 ta đã xây dựng những nông trường quốc doanh trồng chè.Hiện nay đã có 43 nông trường quốc doanh với diện tích 17.932 ha Ngoài haikhu vực hợp tác xã nông nghiệp và nông trường quốc doanh, ở các tỉnh phíanam diện tích trồng chè của tư nhân cũng còn khoảng 5.000 ha
Nhìn chung, trong những năm qua, việc trồng chè của ta còn một số tồn tạinhư: khả năng mở rộng diện tích chè ở vùng trung du và miền núi còn nhiều,nhưng ta chưa có điều kiện để giải quyết tốt Tốc độ phát triển trồng chè chậm,các vùng chè mới trồng không đồng đều, còn nhiều diện tích xấu và đến thời hạnchưa đưa vào sản xuất kinh doanh Việc quy hoạch sử dụng đất trồng chè chưahợp lý, còn lãng phí đất đai Năng suất sản lượng chè hàng năm có tăng nhưngtăng rất chậm, chất lượng sản phẩm có khá hơn trước nhưng không đồng đều ởcác cơ sở và không ổn định
Khả năng phát triển nghề trồng chè của ta rất lớn và có nhiều điều kiệnthuận lợi:
- Phát triển sản xuất cây công nghiệp nói chung và cây chè nói riêng đangđược sự quan tâm của Đảng và Chính phủ Nhiều văn kiện của Đảng và Nhànước đã nhấn mạnh việc phát triển sản xuất và xuất khẩu chè Hội nghị bàn vềsản xuất chè họp vào tháng 7 - 1970 đã nhất trí: Phải phát triển cây chè với tốc
độ nhanh, cần tổ chức làm ăn theo lối công nghiệp, làm tập trung, quy mô lớn,
có kỹ thuật tiên tiến để có năng suất cao, sản lượng nhiều
- Điều kiện khí hậu đất đai của ta rất thuận lợi cho việc sinh trưởng pháttriển của cây chè Diện tích vùng trung du và miền núi thích hợp cho việc trồngchè Khả năng đưa năng suất búp tươi lên 5 - 10 tấn/ha là có cơ sở hiện thực
- Nhu cầu tiêu dùng chè trong nước và nhu cầu xuất khẩu ngày càng tăng,phẩm chất chè của ta được thị trường thế giới ưa chuộng
Trang 83) Phân vùng chè:
Do điều kiện đất đai và khí hậu thích hợp cho nên cây chè được trồng trọtrải rác ở hầu hết các tỉnh trung du và miền núi, nhưng tập trung ở một số vùngchính như sau:
- Vùng chè miền núi: Gồm các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn, Sơn La,
giống chè được trồng chủ yếu ở vùng này là chè Shan (còn gọi là chè tuyết) cónăng suất cao, phẩm chất tốt Sản lượng chè của vùng này chiếm 25 - 30% tổngsản lượng chè của miền Bắc Trong tương lai sẽ nâng tỷ trọng sản lượng lên 50 -60% Sản phẩm chủ yếu của vùng chè miền núi là chè lục, chè mạn Hiện naysản xuất chè xanh đã chiếm ưu thế
- Vùng chè trung du: gồm các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Bắc
Thái và một phần của Hoàng Liên Sơn (Yên Bái cũ) Là vùng sản xuất chè chủyếu, chiếm 70% sản lượng chè của miền Bắc Giống chè chính được trồng trọt làgiống Trung du (Trung Quốc lá to) có năng suất cao và phẩm chất tốt Sản phẩmchủ yếu là chè đen và chè xanh để tiêu dùng và xuất khẩu
- Vùng chè tươi: gồm các tỉnh đồng bằng Bắc bộ và khu 4 cũ, vùng này
nhân dân có tập quán sử dụng lá bánh tẻ để uống tươi (không qua quá trình chếbiến) Năm 1972 diện tích vùng chè tươi là 8.098 ha, chè được trồng chủ yếu ởcác tỉnh Nghệ Tĩnh (4.550 ha), Thanh Hóa (1.427 ha) Những năm gần đây một
số vườn chè tươi đã được chăm sóc, đốn hái để chuyển sang chè hái búp Hiệnnay vùng chè này đang giữ vị trí quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu thứcuống của nhân dân
Ở miền Nam chè được trồng chủ yếu ở hai tỉnh Lâm Đồng và Gia Lai
-Công Tum Vùng nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) là vùng cao nguyên nhiệt đới,
độ cao 800 - 1.500 m, thích hợp với giống chè Shan Vùng bắc Tây Nguyên thấphơn (500 - 700m), khí hậu thích hợp với các giống chè Atxam và Trung du.Diện tích trồng chè của các tỉnh phía nam hiện có khoảng 8.200 ha (diện tíchtrồng chè đạt được cao nhất năm 1965: 9.685 ha với tổng sản lượng là 5.905tchè khô)
CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM SINH VẬT HỌC CỦA CÂY CHÈ
I - NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI
1) Nguồn gốc:
hiều công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của câychè là vùng cao nguyên Vân Nam Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt và ấm
Trang 9Theo các tài liệu của Trung Quốc thì cách đây khoảng 4.000 năm, người TrungQuốc đã biết dùng chè để làm dược liệu và sau đó mới dùng để uống Cũng theocác nguồn tài liệu này thì vùng biên giới Tây Bắc nước ta nằm trong vùngnguyên sản của giống chè tự nhiên trên thế giới.
Năm 1823 R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam(Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng nguyên sản của cây chè là ở Ấn
Độ chứ không phải là ở Trung Quốc Trong tất cả các tài liệu gần đây hầu nhưkhông thấy có sự nhất quán nêu lên về nơi xuất xứ của cây chè Chúng ta biếtrằng muốn xác định vùng nguyên sản của một cây trồng cần căn cứ vào nhữngđiều kiện tổng hợp, trong đó cây dã sinh chỉ là một điều kiện mà chủ yếu là cầnxét đến tập quán sử dụng, lịch sử trồng trọt và tình hình phân bố các loại hình cóquan hệ tới cây trồng đó
Những công trình nghiên cứu của Đjêmukhatze (1961 - 1976) về phứccatechin của lá chè từ các nguồn gốc khác nhau, so sánh về thành phần các chấtcatechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu lên luậnđiểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và trên cơ sở đó xác minh nguồn gốccây chè Đjêmukhatze kết luận rằng: những cây chè mọc hoang dại từ cổ xưa,tổng hợp chủ yếu là (-) - epicatechin và(-) - epicatechin galat, ở chúng phát triển chậm khả năng tổng hợp (-) epigalocatechin và các galat của nó để tạo thành (+) galocatechin Nghiên cứu các câychè dại ở Việt Nam cho thấy chúng cũng tổng hợp chủ yếu là(-) - epicatechin và (-) - epicatechin galat (chiếm 70% tổng số các loại catechin).Khi di thực những cây chè dại này lên phía Bắc, với các điều kiện khắc nghiệthơn về khí hậu, chúng sẽ thích ứng dần với các điều kiện sinh thái bằng cách cóthành phần catechin phức tạp hơn, cùng với sự tạo thành (-) epigalocatechin vàcác galat của nó Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất ở đây hướng về phía tăngcường quá trình hiđroxin hóa và galin hóa Từ những biến đổi sinh hóa này của
lá các cây chè mọc hoang dại và cây chè được trồng trọt chăm sóc, cho phép đitới một kết luận mới "Nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam"
Hiện nay chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên rấtkhác nhau từ 30 độ vĩ nam (Natan - Nam Phi) đến 45 độ vĩ bắc (Gruzia - LiênXô) là những nơi có điều kiện tự nhiên khác rất xa vùng nguyên sản Chè đượctrồng ở Nhật Bản năm 805 - 814, Indonesia 1684, Liên Xô 1833, Xrilanca 1837
- 1840, Ấn Độ 1834 - 1840 và Tasmania (châu Đại Dương) năm 1940
Những thành tựu gần đây của các nhà nông học Liên Xô cũng như một sốnước khác đã tạo ra nhiều giống chè mới có khả năng thích ứng trong nhữngđiều kiện khí hậu khác nhau mở ra nhiều triển vọng cho sự nghiệp trồng chè trên
Trang 10Chi chè Camellia (Thea)
Loài Camellia (Thea) sinensis
Tên khoa học của cây chè được nhiều nhà khoa học công nhận là: Camellia sinensis (L) O Kuntze và có tên đồng nghĩa là: Thea sinensis L.
Chú thích:
Năm 1753 Linê đặt tên khoa học cho cây chè là Thea sinensis, sau đó lại đặt
là Camellia sinensis Sau Linê có nhà thực vật học xếp cây chè thuộc chi Thea,
có người lại xếp cây chè thuộc chi Camellia sinensis Tên khoa học của cây chè được viết là Thea sinensis hoặc Camellia sinensis Hơn một trăm năm, tên khoa
học của cây chè vẫn là một vấn đề tranh luận Trước sau có 20 cách đặt tên khoahọc cho cây chè Diễn biến chủ yếu như sau:
Năm 1807 f Sims Thea sinensis Sims.
1822 H.F Link Camellia sinensis Link.
1854 W Griffim Camellia theifera Griff.
1874 D Brandis Camellia thea Brandis.
1874 W T T Dyer Camellia theifera Dyer.
1908 G Watt Camellia thea (Link) Brandis.
1919 C P Cohen Stuart Camellia thiefera (Griff) Dyer.
1933 C R Harler Thea sinensis (L) Sims.
1956 C R Harler Camellia sinensis (L) O Kuntze.
Hiện nay các nhà thực vật học gộp hai chi Thea và Camellia làm một và gọi
là chi Camellia Vì vậy tên khoa học của cây chè được nhiều người thường gọi
là Camellia sinensis (L) O Kuntze.
Cơ sở của việc phân loại chè thường dựa vào:
- Cơ quan dinh dưỡng: loại thân bụi hoặc thân gỗ, hình dạng của tán, hình
Trang 11dạng và kích thước của các loại lá, số đôi gân lá
- Cơ quan sinh thực: độ lớn của cánh hoa, số lượng đài hoa, vị trí phânnhánh của đầu nhị cái
- Đặc tính sinh hóa: chủ yếu dựa vào hàm lượng tanin Mỗi giống chè đều
có hàm lượng tanin biến động trong phạm vi nhất định
Dưới đây giới thiệu phân loại của Cohen Stuart (1919) Cách phân loại này
được nhiều người chấp nhận Tác giả chia Camellia sinensis L làm 4 thứ
(varietas):
a) Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var Bohea):
Đặc điểm:
- Cây bụi thấp phân cành nhiều
- Lá nhỏ, dày nhiều gợn sóng, màu xanh đậm, lá dài 3,5 - 6,5 cm
- Có 6 - 7 đôi gân lá không rõ, răng cưa nhỏ, không đều
- Búp nhỏ, hoa nhiều, năng suất thấp, phẩm chất bình thường
- Khả năng chịu rét ở độ nhiệt -12oC đến -15oC
Phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một sốvùng khác
b) Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla):
Đặc điểm:
- Thân gỗ nhỡ cao tới 5m trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên
- Lá to trung bình chiều dài 12 - 15 cm, chiều rộng 5 - 7 cm, màu xanh nhạt,bóng, răng cưa sâu không đều, đầu lá nhọn
- Có trung bình 8 - 9 đôi, gân lá rõ
- Năng suất cao Phẩm chất tốt
Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc)
c) Chè Shan (Camellia sinensis var Shan):
- Thân gỗ, cao từ 6 đến 10 m
- Lá to và dài 15 - 18 cm màu xanh nhạt, đầu lá dài, răng cưa nhỏ và dày
- Tôm chè có nhiều lông tơ, trắng và mịn trông như tuyết, nên còn gọi làchè tuyết
- Có khoảng 10 đôi gân lá
Trang 12- Có khả năng thích ứng trong điều kiện ấm ẩm, ở địa hình cao, năng suấtcao, phẩm chất thuộc loại tốt nhất.
Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền bắc của Miến Điện và ViệtNam
d) Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var atxamica):
- Thân gỗ cao tới 17 m phân cành thưa
- Lá dài tới 20 - 30 cm, mỏng, mềm, thường có màu xanh đậm, dạng lá hìnhbầu dục, phiến lá gợn sóng, đầu lá dài
- Có trung bình 12 - 15 đôi gân lá
Bốn thứ (varietas) chè trình bày trên đây đều có trồng ở Việt Nam, nhưng
phổ biến nhất là hai thứ C sinensis var macrophylla và C sinensis var Shan.
- Camellia sinensis var macrophylla được trồng nhiều nhất ở các tỉnh trung
du với các tên gọi của địa phương (tùy theo màu sắc của lá) như: Trung du láxanh, Trung du lá vàng, v.v Tỷ lệ trồng các giống chè trung du ở miền bắc đạttới 70% Năng suất búp trong sản xuất đại trà khi chè 5 - 19 tuổi thường đạt 4 - 5tấn/ha
Các giống chè Trung du chịu được đất xấu, nhưng nhiều sâu hại: rầy xanh,
bọ cánh tơ , ở vùng cao thường bị bệnh phồng lá Chè Trung du thường để chếbiến chè xanh, chè đen đều cho phẩm chất tốt
- Camellisa sinensis var Shan được trồng ở miền núi các tỉnh miền bắc và ở
miền nam Tây Nguyên (Lâm Đồng) Ở mỗi địa phương có các giống khác nhaunhư: Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh Năng suất búp thườngđạt 6 - 7 tấn/ha Búp chè có nhiều tuyết, dùng chế biến chè xanh, chè đen đềucho phẩm chất tốt nhưng thích hợp với chế biền chè xanh hơn
II - ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH VẬT HỌC CÂY CHÈ 1) Thân và cành:
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ cómột thân chính, trên đó phân ra các cấp cành Do đặc điểm sinh trưởng và dohình dạng phân cành khác nhau, người ta chia thân chè ra làm ba loại: thân gỗ,
Trang 13thân nhỡ (thân bán gỗ) và thân bụi.
Thân gỗ là loại hình cây cao, to, có thân chính rõ rệt, vị trí phân cành cao.Thân nhỡ hay thân bán gỗ là loại hình trung gian, có thân chính tương đối
rõ rệt, vị trí phân cành thường cao khoảng 20 - 30 cm ở phía trên cổ rễ
Đặc điểm của thân bụi là cây không có thân chính rõ rệt, tán cây rộng thấp,phân cành nhiều, vị trí phân cành cấp 1 thấp ngay gần cổ rễ Trong sản xuấtthường gặp loại chè thân bụi Vì sự phân cành của thân bụi khác nhau nên tạocho cây chè có các dạng tán: tán đứng thẳng, tán trung gian và tán ngang
Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè Với số lượng càng thíchhợp và cân đối ở trên tán, cây chè cho sản lượng cao Vượt quá giới hạn đó, sảnlượng không tăng và phẩm cấp giảm xuống do búp mù nhiều Tương quan giữamật độ cành và sản lượng búp là một tương quan không chặt Theo Bakhơtatje,
hệ số tương quan giữa mật độ cành với sản lượng là r = 0,071
Trong sản xuất, cần nắm vững đặc điểm sinh trưởng của cành để áp dụngcác biện pháp kỹ thuật đốn, hái hợp lý mới có thể tạo ra trên tán chè nhiều búp,đặt cơ sở cho việc tăng sản
2) Mầm chè:
Trên cây chè có những loại mầm: mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực Mầmdinh dưỡng phát triển thành cành lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa vàquả
Mầm dinh dưỡng gồm có:
Trang 14- Mầm đỉnh
- Mầm nách
- Mầm ngủ
- Mầm bất định (mầm ở cổ rễ)Phía trái:
Trang 15Mầm đỉnh: Loại mầm này ở vị trí trên cùng của cành, tiếp tục phát triển trên
trục chính của các cành năm trước, hoạt động sinh trưởng mạnh và thường cótác dụng ức chế sinh trưởng của các mầm ở phía dưới nó (ưu thế sinh trưởngngọn) Trong một năm, mầm đỉnh hình thành búp sớm nhất cùng với thời kỳ bắtđầu sinh trưởng mùa xuân của cây Búp được hình thành từ các mầm đỉnh là cácbúp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Mầm nách: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, phần lớn chúng ở trạng
thái nghỉ do sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đỉnh, mầm nách phát triểnthành búp mới Tùy theo vị trí của lá ở trên cành, khả năng phát triển thành búp
và chất lượng búp ở các nách lá rất khác nhau Những mầm ở nách lá phía trênthường hoạt động sinh trưởng mạnh hơn, do đó cho búp có chất lượng tốt hơncác mầm ở nách lá phía dưới Những búp được hình thành từ mầm nách của các
lá năm trước gọi là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Mầm bất định: Vị trí của loại mầm này không cố định trên thân chè thường
ở sát cổ rễ Nó chỉ phát triển thành cành lá mới khi cây chè được đốn trẻ lại.Trong trường hợp ấy cành chè tựa như mọc ở dưới đất lên Búp được hình thành
từ các mầm bất định cũng có hai loại: búp bình thường và búp mù
Mầm sinh thực: Mầm sinh thực nằm ở nách lá Bình thường mỗi nách lá có
hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp số mầm sinh thực nhiều hơn vàkhi đó ở nách lá có một chùm hoa Các mầm sinh thực cùng với mầm dinhdưỡng phát sinh trên cùng một trục, mầm dinh dưỡng ở giữa, mầm sinh thực ởhai bên, vì vậy, quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thựcthường có những mâu thuẫn nhất định Khi mầm sinh thực phát triển nhiều ởtrên cành chè, thì quá trình sinh trưởng của các mầm dinh dưỡng yếu đi, do sựtiêu hao các chất dinh dưỡng cho việc hình thành nụ hoa và quả Trong sản xuấtchè búp cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triểncủa các mầm sinh thực
3) Búp chè:
Búp chè là đoạn non của một cành chè Búp được hình thành từ các mầmdinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non ở trên đỉnh của cành chưa xòe ra) và hai
Trang 16hoặc ba lá non Búp chè trong quá trình sinh trưởng chịu sự chi phối của nhiềuyếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong của nó Kích thước của búp thay đổi tùytheo giống, loại và liều lượng phân bón, các khâu kỹ thuật canh tác khác nhưđốn, hái và điều kiện địa lý nơi trồng trọt.
Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trựctiếp đến năng suất và phẩm chất của chè Nghiên cứu của Bakhơtatje (1947) chothấy tương quan giữa số lượng búp trên một đơn vị diện tích và năng suất là mộttương quan rất chặt chẽ r = 0,956
a) Búp bình thường b) Búp mù
Hình 3: Búp chè
Búp chè gồm có hai loại: búp bình thường và búp mù Búp bình thường(gồm có tôm + 2, 3 lá non), có trọng lượng bình quân 1 búp từ 1g đến 1,2g đốivới giống chè Shan, từ 0,5 đến 0,6g đối với giống chè Trung du, búp càng nonphẩm chất càng tốt Hệ số tương quan giữa tỷ lệ phần trăm búp bình thường vớihàm lượng tanin và cafein trong lá chè là r = 0,67 và r = 0,48 Búp mù là búpphát triển không bình thường, trọng lượng bình quân của một búp mù thườngbằng khoảng 1/2 trọng lượng búp bình thường và phẩm chất thì thua kém rõ rệt.Nguyên nhân xuất hiện búp mù rất phức tạp Một mặt do đặc điểm sinh vật họccủa cây trồng, mặt khác do ảnh hưởng xấu của các điều kiện bên ngoài hoặc dobiện pháp kỹ thuật không thích hợp
Búp chè hoạt động sinh trưởng theo một quy luật nhất định và hình thành
Trang 17nên các đợt sinh trưởng theo thứ tự thời gian Thời gian của mỗi đợt sinh trưởngphụ thuộc vào giống, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu Có thể tóm tắthoạt động sinh trưởng búp theo tuần tự như sau:
Sơ đồ đợt sinh trưởng
Trên một cành chè nếu để sinh trưởng tự nhiên, một năm có 4 - 5 đợt sinhtrưởng, nếu hái búp liên tục thì có 6 - 7 đợt và trong điều kiện thâm canh có thểđạt 8 - 9 đợt sinh trưởng
Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống,tuổi cây chè, điều kiện thời tiết khí hậu và các biện pháp kỹ thuật
Bảng 2: Thời gian hình thành các đợt sinh trưởng trong một năm trên các tuổi
chè khác nhau
(Nguyễn Phong Thái, 1976)
Đợt sinh
trưởng
Số ngày hình thành một đợt sinh trưởng
4032322833,53436,5
41363531363441
4) Lá chè:
Trang 18Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá Lá thường có nhiều thay đổi
về hình dạng tùy theo các loại giống khác nhau và trong các điều kiện ngoạicảnh khác nhau Lá chè có gân rất rõ Những gân chính của lá chè thường khôngphát triển ra đến tận rìa lá Rìa lá chè thường có răng cưa, hình dạng răng cưatrên lá chè khác nhau tùy theo giống Số đôi gân lá là một trong những chỉ tiêu
để phân biệt các giống chè
Trên một cành chè thường có các loại lá như sau:
- Lá vẩy ốc: là những lá vẩy rất nhỏ, có màu nâu, cứng Lá vẩy ốc là bộ
phận bảo vệ điểm sinh trưởng của mầm khi nó ở trạng thái ngủ Số lượng lá vẩy
ốc thường là 2 - 4 lá ở mầm mùa đông, và 1 - 2 lá ở mầm mùa hè
- Lá cá: Về hình dạng bên ngoài: là một lá thật thứ nhất nhưng phát triển
không hoàn toàn thường dị hình hoặc có dạng hơi tròn, không có hoặc có rất ítrăng cưa quanh rìa lá, diện tích lá nhỏ Cấu tạo giải phẫu lá cá có số lớp mô dậu
và mô khuyết ít hơn lá thật Số lượng lục lạp ít hơn và cấu trúc của nó rất nhỏ
Lá cá tồn tại như một lá bình thường trên cành chè Nó có khả năng tích lũygluxit như lá bình thường còn hàm lượng tanin thì thấp hơn từ 1 - 2%
Trang 19Hình 5: Các dạng lá cá
- Lá thật: cấu tạo giải phẫu của lá thật gồm có:
+ Lớp biểu bì: gồm những tế bào nhỏ, dày và cứng xếp thành một lớp: cóchức năng bảo vệ lá
+ Lớp mô dậu: gồm từ 1 - 3 lớp tế bào sắp xếp đều nhau, chứa nhiều diệplục
+ Lớp tế bào mô khuyết: chiếm phần chính của lá các tế bào sắp xếp không
đều nhau Ở trong có nhiều thạch tế bào và tinh thể oxalat canxi
Tỷ lệ mô dậu/ mô khuyết càng lớn, biểu hiện tính chống chịu điều kiệnngoại cảnh tốt
Lá chè mọc trên cành theo các thế khác nhau, tức là góc độ giữa lá và cànhchè to nhỏ khác nhau Trong sản xuất thường gặp 4 loại thế lá như sau: thế lá úp,nghiêng, ngang và rủ Thế lá ngang và rủ là đặc trưng của giống chè năng suấtcao
Tuổi thọ trung bình của lá chè là một năm
Trang 20Hệ rễ chè gồm có: rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu Quá trình sinhtrưởng và phát triển của bộ rễ có những đặc điểm:
- Khi hạt mới nảy mầm rễ trụ phát triển rất nhanh Vào khoảng 3 - 5 thángsau khi trồng thì rễ trụ phát triển chậm lại và rễ bên phát triển mạnh
- Thời kỳ cây chè còn nhỏ, rễ trụ luôn luôn phát triển dài hơn phần thân trênmặt đất Đến năm thứ 2 và thứ 3 thì tốc độ sinh trưởng giữa phần thân trên đất
và phần rễ mới cân bằng Rễ bên và rễ phụ trong thời kỳ này rất phát triển, tốc
độ lớn lên và phân cấp của chúng cũng rất nhanh Đặc điểm này có quan hệ rấtlớn đến chế độ làm đất ban đầu khi trồng chè mới
- Sự phát triển của rễ chè và thân chè có hiện tượng xen kẽ nhau, khi thân láphát triển mạnh thì rễ phát triển chậm lại và ngược lại Theo kết quả nghiên cứucủa Trung Quốc, trong điều kiện của Chiết Giang, một năm có 3, 4 lần phát triểnxen kẽ nhau giữa thân, lá và rễ Đặc điểm sinh trưởng đó thay đổi tùy theo điềukiện khí hậu, đất đai và chế độ canh tác cụ thể ở mỗi nơi
Hình 7: Rễ chè
Trang 21- Rễ trụ của chè thường ăn sâu xuống đất hơn 1 mét, ở những nơi đất xốp,thoát nước nó có thể ăn sâu tới 2 - 3 mét Rễ hấp thu được phân bố tập trung ởlớp đất từ 10 - 40 cm thời kỳ cây chè lớn, rễ tập trung ở gữa hai hàng chè, tán rễ
so với tán cây lớn hơn 2 - 2,5 lần
Sự phân bố của rễ chè trong đất phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điềukiện đất đai và chế độ canh tác Lượng dinh dưỡng trong đất có ảnh hưởng lớnđến sự phát triển của bộ rễ, nhất là lượng đạm
Rễ chè kỵ vôi, do đó yêu cầu đất có phản ứng chua Canxi cần cho cây chè,
nó có mặt ở những nơi phân bào và sinh trưởng như mút rễ, ngọn cây, là thànhphần của màng tế bào v.v Hàm lượng canxi trong lá chè khoảng 0,55% Nếunhiều canxi quá rễ chè không phát triển được Chè yêu cầu đất có phản ứng chua
là do cây chè yêu cầu một số nguyên tố hiếm và nguyên tố vi lượng mà phần lớnnhững nguyên tố này bị kết tủa trong môi trường kiềm Vì vậy, chè trồng ởnhững nơi đất có phản ứng kiềm dễ bị hại và không sinh trưởng được Mặt kháccăn cứ vào những nghiên cứu về sinh lý, thấy rằng năng lực hoãn xung trongdịch tế bào rễ chè tốt nhất ở môi trường pH = 5 và yếu dần khi độ pH tăng lên.Khi pH = 5,7 thì khả năng hoãn xung của dịch tế bào rễ chè đã giảm xuống rấtnhỏ
Bảng 3: Sự phát triển của rễ phụ thuộc vào liều lượng phân đạm (theo Biava
89100151216181
23754600483072167630
52100105157166
33555706648495829611
59100114168168
III - ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG SINH THỰC CỦA CÂY CHÈ
Trang 22Sau khi gieo hạt khoảng 2 năm, cây chè cho hoa quả lần thứ nhất Từ 3 đến
5 năm cây chè được hoàn chỉnh về đặc tính phát dục
Trên mỗi nách lá chè thường có một mầm dinh dưỡng ở giữa và 2 hoặcnhiều mầm sinh thực ở hai bên Hoa chè được hình thành từ các mầm sinh thực.Hoa chè lưỡng tính, đài hoa có 5 - 7 cánh Trong một hoa có rất nhiều nhị đực,
từ 200 - 400 Noãn sào thường có 3 - 4 ô Trong điều kiện tự nhiên ở Vĩnh Phú,mầm hoa chè được hình thành và phân hóa sau thánh 6 Hoa nở rộ vào thánh 11
- 12 Phương thức thụ phấn chủ yếu là khác hoa, tự thụ phấn chỉ 2 - 3% Trongmột ngày, hoa thường nở từ 5 - 9 giờ sáng Nhị đực thường chín trước nhị cái 2ngày Hạt phấn hoa chè sống khá lâu: Sau 5 ngày kể từ khi hoa nở rộ, hạt phấnvẫn còn khả năng nảy mầm tới 70% Khả năng thụ tinh tốt nhất của hạt phấn làsau khi hoa nở 2 ngày Khả năng ra nụ, ra hoa của chè rất lớn nhưng tỷ lệ kếtquả thường thấp hơn 12%
Sau khi thụ tinh quả chè được hình thành, thời gian phát dục của quảkhoảng 9 đến 10 tháng Quả chè thuộc loại quả nang Mỗi quả thường có 2 - 3hạt Hình dạng bên ngoài của quả phụ thuộc vào số lượng hạt trong quả Quả có
3 hạt thì có hình 3 góc, quả có 4 hạt thì có hình 4 góc Trọng lượng hạt, tỷ lệhạt/quả thay đổi tùy theo giống
Theo kết quả nghiên cứu của Bakhơtatze thì trọng lượng 1000 hạt chè thayđổi như sau:
Giống chè Nhật Bản: 1.100g
Giống chè Trung Quốc: 1.250g
Giống lai Trung An: 1.400g
Gíông chè Ấn Độ (Manipua): 1.700g
Trọng lượng 1.000 hạt chè Trung du Việt Nam thường vào khoảng 2.000g
Trang 23Hình 8: Hoa , quả chè.
Hạt chè không có nội nhũ Lá mầm của hạt chè rất phát triển chiếm 3,4trọng lượng của hạt Phần lớn các chất dinh dưỡng dự trữ cần thiết cho hạt nảymầm đều dự trữ trong lá mầm Thành phần hóa học của hạt chè, theo phân tíchcủa Khupera và Bakhơtatze (1948) như sau: dầu 22,9%, anbumin 8,5%,Xapônin 9,1%, tinh bột 32,5%, gluxit khác 19,9%, xenlulo 3,8%, muối khoáng3,3% Hàm lượng dầu thay đổi tùy theo giống, ví dụ giống Ấn Độ: 43 - 45%,Trung Quốc: 30 - 35%, Nhật Bản: 24 - 26%, Gruzia: 36%
Sau khi hạt nảy mầm, lá mầm của hạt chè có khả năng hình thành diệp lục
tố và tiến hành quang hợp Theo V.V.Kutubitje (1974) thì hạt chè có hiện tượng
đa phôi Hiện tượng này xuất hiện với tỷ lệ thấp ở trong chè, chiếm 0,19% sốlượng hạt Trong tương lai, hiện tượng đó có thể ứng dụng vào công tác chọn
Trang 24giống và nghiên cứu tế bào học của chúng.
IV- KHÁI NIỆM VỀ PHÁT DỤC CÁC THỂ CỦA CÂY CHÈ
Phát dục cá thể của cây chè là quá trình từ lúc thụ tinh cho đến khi cây giàcỗi tự chết, đó cũng là chu kỳ sinh sống cá thể của cây Chè là cây lâu năm cóchu kỳ sinh sống rất dài có thể đạt 100 năm hoặc lâu hơn Tổng chu kỳ phát dục
là từ khi hoa thụ tinh hình thành quả cho đến khi tự chết Hàng năm từ lúc mầmđỉnh bắt đầu sinh trưởng, hình thành búp lá rồi ra hoa kết quả cho đến năm sautrước lúc mầm đỉnh lại bắt đầu sinh trưởng gọi là chu kỳ phát dục hàng năm.Nhiều chu kỳ phát dục hàng năm tạo thành tổng chu kỳ phát dục của cây Nhưng
sự bắt đầu chu kỳ phát dục cá thể của cây không chỉ dựa vào hạt mà còn dựa vàonhững mầm dinh dưỡng của cây ở bất kỳ tuổi nào để nhân giống đời sau, thựchiện tổng chu kỳ phát dục cá thể
1) Tổng chu kỳ phát dục cá thể của cây:
Theo các tài liệu của Trung Quốc, tổng chu kỳ phát dục cá thể của cây chèchia làm 5 giai đoạn:
a) Giai đoạn phôi thai: là giai đoạn phôi hạt hoặc phôi của các mầm dinh
dưỡng Giai đoạn phôi hạt là quá trình hình thành hạt: từ lúc cây ra hoa thụ phấncho đến lúc quả chín, quá trình này đòi hỏi một năm Giai đoạn phôi của cácmầm dinh dưỡng là từ lúc phôi mầm phát dục phân hóa cho đến khi hình thànhmột búp (cành) mới, nếu tách rời cây mẹ thì nó có khả năng mọc rễ để hìnhthành một cá thể mới Quá trình này cần 60 - 80 ngày
b) Giai đoạn cây con: từ lúc hạt nảy mầm cho đến khi cây ra hoa kết quả
lần đầu tiên, cần trên dưới 2 năm Trong điều kiện của Việt Nam thường là cuốinăm thứ nhất Thời kỳ này sinh trưởng dinh dưỡng phát triển mạnh, tán câyvươn theo chiều cao mạnh hơn phân cành, đặc điểm sinh trưởng là ưu thế đỉnh ởhai đầu
c) Giai đoạn cây non: từ lúc cây ra hoa kết quả lần đầu tiên cho đến lúc cây
được định hình (cây có một bộ khung tán rõ), khoảng 2 - 3 năm Trong điều kiệncủa Việt Nam: Từ năm thứ 2 đến năm thứ 4 Thời kỳ này sinh trưởng dinhdưỡng vẫn chiếm ưu thế, thân chè đã có một số cành nách, bộ rễ cũng đã pháttriển, có nhiều rễ bên
d) Giai đoạn cây chè lớn: sự phát dục của các khí quan trong cá thể cây
trồng đạt mức cao nhất Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực mạnhnhất, biểu hiện những đặc trưng tốt xấu của một giống Thời kỳ này khoảng 20 -
30 năm, dài ngắn tùy theo điều kiện giống, đất đai, trình độ quản lý, chăm sóc vàkhai thác
Trang 25e) Giai đoạn cây chè già: các khí quan của cá thể cây trồng đã bắt đầu già
yếu, cơ năng sinh lý giảm, khả năng ra hoa kết quả ở thời kỳ đầu nhiều, sinhtrưởng dinh dưỡng kém Bộ phận tán cây có hiện tượng chết dần Khả năng sinhthực ở thời kỳ cuối cũng giảm thấp Cổ rễ bắt đầu mọc một số cành vượt, lóngdài, da đỏ, dấu hiệu của sự thay đổi bộ khung cũ: nếu đốn trẻ lại thì cây có khảnăng phục hồi sinh trưởng
2) Chu kỳ phát dục hàng năm:
Chu kỳ này bao gồm hai giai đoạn: sinh trưởng và tạm ngừng sinh trưởng Trong giai đoạn sinh trưởng, các loại mầm dinh dưỡng sẽ phát triển hìnhthành búp, lá non và những đợt búp chè mới; hệ rễ tiếp tục phát triển hình thànhcác rễ bên và rễ hấp thụ Các mầm sinh thực phát triển thành nụ, hoa và quả.Sinh trưởng dinh dưỡng cũng như sinh trưởng sinh thực phụ thuộc vào giống,tuổi của cây, điều kiện ngoại cảnh, trình độ quản lý chăm sóc Giai đoạn sinhtrưởng dài hay ngắn chủ yếu tùy thuộc vào điều kiện khí hậu, thời tiết của mỗivùng
V- ĐẶC TÍNH SINH HÓA CHÈ
Phẩm chất của chè thành phẩm được quyết định do những thành phần hóahọc của nguyên liệu và kỹ thuật chế biến Thành phần sinh hóa của chè biếnđộng rất phức tạp nó phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình,
kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch Trên cơ sở nắm được những đặc điểm chủyếu về mặt sinh hóa của nguyên liệu sẽ đặt cơ sở cho một số biện pháp kỹ thuật
để nâng cao sản lượng đồng thời giữ vững và nâng cao chất lượng của chè.Những thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè gồm có:
1) Nước:
Nước là thành phần chủ yếu trong búp chè: nước có quan hệ đến quá trìnhbiến đổi sinh hóa trong búp chè và đến sự hoạt động của các men, là chất quantrọng không thể thiếu được để duy trì sự sống của cây Hàm lượng nước trongbúp chè thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, đất đai, kỹ thuật canh tác, thời gianhái và tiêu chuẩn hái v.v Trong búp chè (tôm + 3 lá) hàm lượng nước thường
có từ 75 - 82% Để tránh khỏi sự hao hụt những vật chất trong búp chè qua quátrình bảo quản và vận chuyển, phải cố gắng tránh sự giảm bớt nước trong búpchè sau khi hái
2) Tanin:
Tanin là một trong những thành phần chủ yếu quyết định đến phẩm chấtchè Tanin còn gọi chung là hợp chất fenol, trong đó 90% là các dạng catechin
Trang 26Tỷ lệ các chất trong thành phần hỗn hợp của tanin chè không giống nhau và tùytheo từng giống chè mà thay đổi Những hợp chất này dựa vào tính chất củachúng có thể phân thành:
- Dạng tan được trong este: phân tử lượng 320 - 360
- Dạng tan trong nước hoặc xeton: phân tử lượng 420 - 450
- Dạng kết hợp với protein (chỉ sau khi dùng dung dịch NaOH 0,5% để xử
lý, mới có thể hòa tan trong dung dịch)
Thành phần hóa học của tanin trong búp chè Gruzia, theo phân tích củaCuaxanop và Djaprometop (1952) như sau:
Dạng catechin Hàm lượng (tính theo % tổng lượng tanin chung)
Trang 2733,9020,408,3981,027,4171,09
19,811,924,947,416,0100,0
Quá trình hình thành các hợp chất polifenol trong cây chè là quá trình phức tạp
và có nhiều giả thuyết Theo MM Đjapromêtôp thì các đường có chứa 6 cacbon(glucô, fructô ) trong quá trình chuyển hóa thông qua dạng sản phẩm trung gian
mà hình thành nên các chất polifenol Sơ đồ quá trình đó như sau:
Sơ đồ tổng hợp catechin (theo Đjaprômêtop)
Sự biến động của hàm lượng tanin nói chung và catechin nói riêng trong
Trang 28chè rất lớn Nó phụ thuộc vào giống, tiêu chuẩn hái, mùa hái, điều kiện độ vĩ,địa hình, kỹ thuật canh tác, Trong hoàn cảnh tự nhiên của ta, các giống chèShan thường cho hàm lượng tanin cao hơn các giống chè khác hiện đang trồng.Hàm lượng tanin biến động rất lớn tùy theo vị trí lá trên búp.
Bảng 5: Hàm lượng tanin ở các loại lá chè (% chất khô)
34,9936,9734,6131,16Cuộng
Tanin được dùng trong y học để làm thuốc cầm máu, nó có khả năng tăngcường sức đề kháng của thành huyết quản trong cơ thể động vật, tăng cường sựtích lũy và đồng hóa sinh tố C
Trang 29Sự thay đổi hàm lượng cafein trong chè nguyên liệu phụ thuộc vào giống, vídụ:
- Giống chè Trung Quốc: 2,29 - 2,31%
4) Protein và axít amin:
Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp chứa N, phân bố không đều ở các phầncủa búp chè và thay đổi tùy theo giống, thời vụ, điều kiện canh tác và các yếu tốkhác Protein có thể trực tiếp kết hợp với tanin, polifenol tạo ra những hợp chấtkhông tan làm ảnh hưởng xấu đến phẩm chất chè đen Do đặc điểm của việc chếbiến chè xanh là diệt men ngay từ đầu, nên hàm lượng tanin trong chè ít bị thayđổi và còn quá cao làm cho chè có vị đắng Protein kết hợp với một phần taninlàm cho vị chát và đắng giảm đi Vì thế trong một chừng mực nào đó, protein cólợi cho phẩm chất chè xanh
Ngày nay người ta đã tìm thấy trong chè có 17 axít amin, các axít amin này
Trang 30kết hợp với đường và tanin tạo thành andehit có mùi thơm của chè đen và làmcho chè xanh có dư vị tốt.
0,640,851,66
1,632,003,06
Lá bánh tẻ
Lá già
1,631,81
2,062,52
3,694,33
Xenlulo và hemixenlulo cũng tăng lên theo tuổi của lá, vì vậy nguyên liệucàng già chất lượng càng kém Hàm lượng đường hòa tan ở trong chè tuy ítnhưng rất quan trọng đối với hương vị chè Đường tác dụng với protein hoặcaxít amin tạo nên các chất thơm
Pectin thuộc về nhóm gluxít và nó là hỗn hợp của các polixacarit khác nhau
và những chất tương tự chúng ở trong chè, pectin thường ở dạng hòa tan trongnước, tan trong axít oxalic, tan trong amon oxalat Pectin tham gia vào việc tạothành hương vị chè, làm cho chè có mùi táo chín trong quá trình làm héo ở mức
độ vừa phải, pectin làm cho chè dễ xoăn lại khi chế biến nhưng nó có ảnh hưởngxấu đến quá trình bảo quản chè thành phẩm vì pectin dễ hút ẩm
Theo số liệu của Gôghia, hàm lượng pectin trong lá chè như sau: mầm và láthứ nhất: 3,08%, lá thứ hai: 2,63%, lá thứ ba: 2,21%
Trang 31Mẫu chè Diệp lục tố Carotin Xantofin
Lá tươi
Chè đen
0,570,30
0,250,041
0,0640,033
0,0920,013
Trong chè thành phẩm diệp lục tố có ảnh hưởng xấu tới phẩm chất của chèbởi vì làm cho sản phẩm có màu xanh, mùi hăng, vị ngái
7) Dầu thơm:
Dầu thơm ở trong chè rất ít, hàm lượng của chúng trong lá chè tươi: 0,007%
- 0,009% và trong chè bán thành phẩm: 0,024 - 0,025% Hàm lượng dầu thơmtrong lá chè, được tăng dần ở những địa hình cao, tuổi lá quá non chứa ít hươngthơm Dầu thơm ảnh hưởng trực tiếp đến hương vị của chè do hương thơm tựnhiên và do quá trình chế biến tạo thành như sự lên men, ôxi hóa, tác dụng của
độ nhiệt cao
Dầu thơm có tác dụng điều tiết sinh lý của cây để thích hợp với điều kiệnbên ngoài (khi độ nhiệt quá cao hay quá thấp) và ngăn cản những bức xạ cóbước sóng ngắn, tác hại đến cây chè Đối với cơ thể con người dầu thơm có tácdụng kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho tinh thần minh mẫn, thoải mái
dễ chịu nâng cao hiệu suất làm việc của các cơ năng trong cơ thể
8) Vitamin:
Các loại vitamin có trong chè rất nhiều Chính vì vậy giá trị dược liệu cũngnhư giá trị dinh dưỡng của chè rất cao Theo các tài liệu của Trung Quốc, hàmlượng một số vitamin trong chè tính theo mg/1.000g chất khô như sau:
Vitamin A: 54,6; B1: 0,70; B2: 12,20; PP: 47,0; C: 27,0 v.v
Đáng chú ý nhất là hàm lượng vitamin C ở trong chè, nhiều hơn trong camchanh từ 3 đến 4 lần Quá trình chế biến chè đen làm cho vitamin C giảm đinhiều vì nó bị ôxi hóa, còn trong chè xanh thì nó giảm đi không đáng kể
9) Men:
Men là nhân tố quan trọng của sự sống Men quyết định chiều hướng pháttriển của mọi phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể sinh vật và chúng là chấtkích động tất cả các biến đổi hóa học
Trong búp chè non có hầu hết các loại men, nhưng chủ yếu gồm hai nhómchính:
Trang 32- Nhóm thủy phân: men amilaza, glucoxidaza, proteaza và một số menkhác.
- Nhóm ôxi hóa khử: Chủ yếu là hai loại men: peroxidaza vàpolifenoloxidaza
10) Chất tro:
Các nguyên tố tro giữ vai trò quan trọng trong hoạt động của cơ thể sống,chúng là những nhân tố của sự thay đổi trạng thái các chất keo và ảnh hưởngtrực tiếp đến sự trao đổi chất của tế bào Hàm lượng tro trong chè tươi từ 4-5%
và trong chè khô từ 5-6% Trong chè, tro chia thành hai nhóm: hòa tan trongnước và không hòa tan trong nước Chè thành phẩm loại tốt, hàm lượng tro íthơn so với loại chè xấu nhưng tỷ lệ chất tro hòa tan lại nhiều hơn
CHƯƠNG III ĐIỀU KIỆN SINH THÁI
ây chè chịu ảnh hưởng rất lớn do tác động của các điều kiện sinh thái trong quátrình sống của nó Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu rừng á nhiệt đới Tuyvậy cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi, từ 30 vĩ tuyến nam đến
45 vĩ tuyến bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khác xa với nơi nguyên sản.Trong những điều kiện như vậy, muốn cho cây chè sinh trưởng bình thường và
có năng suất phẩm chất tốt phải có trình độ khoa học cao trong canh tác Nhữngcông trình nghiên cứu nhiều năm của Liên Xô cho thấy: sự tạo thành và tích lũycác vật chất khác nhau trong cây, phần lớn phụ thuộc vào điều kiện khí hậu vàphân bố theo từng vùng Tổng hợp các điều kiện ngoại cảnh là yếu tố chủ yếuảnh hưởng đến phẩm chất chè
Vì vậy, xét đến điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến những điềukiện sống thích hợp nhất về các mặt Nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinhthái cũng như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là mộttrong những cơ sở khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng trọtthích hợp
Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt,sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm
Dưới đây, chúng ta xét một số điều kiện sinh thái chủ yếu:
1) Điều kiện đất đai và địa hình:
So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm.Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải
Trang 33đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thíchhợp cho chè phát triển là 4,5 - 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm,mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường.
- Đất trồng chè của ta ở các vùng Trung du phần lớn là feralit vàng đỏ đượcphát triển trên đá granit, nai, phiến thạch sét và mica ở vùng núi phần lớn là đấtferalit vàng đỏ được phát triển trên đá mẹ phiến thạch sét Về cơ bản những loạiđất này phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của chè như có độ pH từ 4 đến 5 có lớpđất sâu hơn 1 mét và thoát nước Những đất này thường nghèo chất hữu cơ nhất
là ở các vùng trồng chè cũ Vì thế vấn đề bón phân hữu cơ để bổ sung dinhdưỡng cho chè và cải tạo kết cấu vật lý của đất là rất cần thiết Bên cạnh đó, phảicoi trọng việc bón đủ và hợp lý phân hóa học hàng năm cho chè Chè là loại cây
kỵ vôi, nhiều tài liệu cho biết trong đất trồng chè chỉ có một lượng vôi rất ít,khoảng 0,2% CaCO3 đã làm cây chè bị hại Bởi thế không bao giờ người ta dùngvôi để bón vào đất trồng chè, trừ trường hợp đất có độ pH quá thấp, dưới 4
- Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp Phẩm chất do nhiều yếu
tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp Song trong những điều kiện nhấtđịnh thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất Kinhnghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiềumùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩmđều tốt Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng.Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít
- Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè.Thực tiễn ở Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản cho thấy: chè không trồng trên núicao có hương thơm và mùi vị tốt hơn chè trồng ở vùng thấp và đồng bằng Kinhnghiệm nhận thấy chè được chế biến từ nguyên liệu ở núi cao Xrilanca có mùithơm của hoa mà hương vị đó không thể có được trong chè trồng ở khu vựcthấp Nhiều tác giả ở Liên Xô Kharabava, Đjêmukhatze đã xác định chè trồng ởnơi có địa thế càng cao hơn mặt biển (trong một chừng mực nhất định) thìkhuynh hướng tạo thành và tích lũy tanin càng lớn
Phần lớn các vùng trồng chè có phẩm chất tốt của các nước trên thế giớithường có độ cao cách mặt biển từ 500 đến 800 mét Vùng chè ngon có tiếng ở
Ấn Độ trồng ở độ cao cách mặt biển 2.000 mét Nghiên cứu của Viện nông học
Hồ Nam (1957) cho thấy ảnh hưởng của độ cao so với mặt biển tới hàm lượngtanin trong búp chè như sau:
Bảng 8
Trang 34Ở độ vĩ càng cao phẩm chất và sản lượng chè càng có xu hướng giảm thấp.
Do độ nhiệt thấp, độ ẩm thấp và ngày dài đã ảnh hưởng không tốt đến sinhtrưởng và tích lũy vật chất trong cây chè
2) Điều kiện độ ẩm và lượng mưa:
Thực vật nói chung muốn hình thành nên một phần vật chất hữu cơ để cấutạo thành cơ thể của chúng thì chúng phải cần tới 400 phần nước Chè là loại cây
ưa ẩm, là cây thu hoạch búp, lá non, nên càng cần nhiều nước và vấn đề cungcấp nước cho quá trình sinh trưởng của cây chè lại càng quan trọng hơn
Yêu cầu tổng lượng nước mưa bình quân trong một năm đối với cây chèkhoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưacủa các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm,nếu nhỏ hơn 100 mm chè sinh trưởng không tốt Chè yêu cầu độ ẩm không khícao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng85%
Lượng mưa và phân bố lượng mưa của một nơi có quan hệ trực tiếp tới thờigian sinh trưởng và mùa thu hoạch chè dài hay ngắn, do đó ảnh hưởng trực tiếpđến sản lượng cao hay thấp Vùng chè Doomđome ở Bắc Ấn Độ lượng mưaphân bố nhiều vào tháng 5 tới tháng 8 cho nên sản lượng chè thu hoạch đượctrong năm cũng tập trung vào thời kỳ đó Vùng chè Mlanji (Nam Phi) lượngmưa tập trung vào tháng 11 đến tháng 4 nên sản lượng chè cao nhất trong nămcũng tập trung vào thời kỳ này Ở ta phân bố sản lượng chè trong năm cũng cóquan hệ rõ rệt với tình hình phân bố lượng mưa trong các tháng
Trang 35Bảng 9: Quan hệ giữa lượng mưa và sự phân bố sản lượng búp chè
(Tài liệu của trại thí nghiệm chè Phú Hộ)
4,74
6,66
50
Tổng lượng mưa bình quân hàng năm ở các vùng trồng chè của nước tatương đối thỏa mãn cho nhu cầu về nước của cây chè
(Phú Thọ: 1.747 mm, Hà Giang: 2.156 mm, Plâyku: 2.072 mm, Buôn MêThuột: 1.954 mm, Bảo Lộc: 2.084 mm)
Nhưng ở các vùng chè lượng mưa trong năm lại thường tập trung từ tháng 5đến tháng 10, cây chè gặp hạn từ tháng 11 đến tháng 3 Thời gian này hạn kếthợp với độ nhiệt không khí thấp là những điều kiện bất thuận cho sự sinh trưởngcủa cây Vì vậy, bên cạnh biện pháp chống xói mòn cho chè vào mùa mưa còncần chú ý đến việc chống hạn giữ ẩm cho chè vào mùa khô Nghiên cứu về yêucầu của cây chè đối với độ ẩm, Urusatze, Khamzaep xác định rằng độ ẩm đấtthích hợp cho cây chè phát triển là 80 - 85% sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng và
độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80% hoặc trên 80% Thiếu nước, độ ẩmkhông khí và độ ẩm của đất không đủ thì sức sinh trưởng của búp sẽ yếu, lá trởnên dày và cứng, hình thành nhiều búp mù, phẩm chất kém
Nước có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phẩm chất chè Khi cung cấp đủnước, cây chè sinh trưởng tốt, lá to mềm, búp non và phẩm chất có xu hướngtăng lên Những thí nghiệm về tưới nước cho chè ở Liên Xô cho thấy, tùy điềukiện đất đai khí hậu khác nhau mà hiệu quả tăng sản của biện pháp tưới nướccũng khác nhau Vùng chè Gruzia tưới nước làm tăng sản bình quân 25 - 30%,
Trang 36vùng chè Kraxnoda 60 - 65%, vùng chè Lencôran thuộc Azecbaizan trên 200%.Hiệu quả tăng sản của việc tưới nước cũng rất rõ rệt ở một số nước trồng chèkhác như: Trung Quốc (vùng Chiết Giang và Vân Nam) tưới nước làm tăng sản6,1% Ấn Độ (vùng Atxam) 60% và ở Tây Phi 217 - 293% Ở Việt Nam thínghiệm tưới nước tại Phú Hộ (1958 - 1960) cũng cho năng xuất búp tăng bìnhquân 41,5% Phẩm chất búp chè được tưới nước đều tăng lên rõ rệt so với khôngtưới.
Bảng 10: So sánh một vài chỉ tiêu sinh hóa chủ yếu của búp chè có tưới
và không tưới nước trên các nền đốn khác nhau
(Nguyễn Ngọc Kính 1970 -1973)
Loại
hình đốn
Tanin (%) Hòa tan (96) Tanin
(%)
Hòa tan (%)
40.038,7536,98
23,3622,1319,41
36,8736,0834,43
Tưới nước là một biện pháp tăng sản lượng và phẩm chất rất quan trọngđối với chè Ngoài biện pháp tưới nước, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuậttrồng trọt tổng hợp khác như cày đất, làm đất, xới đào, làm cỏ, mật độ vàphương thức trồng hợp lý, phủ đất, tủ gốc, chọn giống chịu hạn v.v để giảiquyết tốt nhu cầu nước trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây chè nhằmđạt sản lượng cao, phẩm chất tốt Kết quả thí nghiệm của trường trung cấp Sông
Lô tại Nông trường Tân Trào và Tháng Mười cho thấy tủ gốc làm cho độ ẩmcủa lớp đất mặt (0 - 20 cm) và ở các lớp đất dưới nhiều hơn 5 - 6% và 3 - 4% sovới đối chứng (không tủ gốc), năng suất búp chè tăng từ 15,6 đến 19,6%
3) Điều kiện độ nhiệt không khí:
Để sinh trưởng phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi độ nhiệt nhấtđịnh Theo nghiên cứu của Kvaraxkhêlia (1950) và Trang Vãn Phương (1956)thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi độ nhiệt trên 10oC Độ nhiệt bình quân hàngnăm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5oC và sinh trưởng tốttrong phạm vi 15 - 23oC Giới hạn độ nhiệt thấp đối với sinh trưởng của chè biểu
Trang 37hiện rõ rệt qua thời kỳ ngừng sinh trưởng trong mùa đông và sinh trưởng trở lạikhi có độ nhiệt ấm áp của mùa xuân trong những vùng khí hậu á nhiệt đới Đốivới sinh trưởng của cây trong thời kỳ này thì độ nhiệt không khí trở thành nhân
tố sinh thái chủ yếu Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 4.000oC Độ nhiệt tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùytheo giống, có thể từ -5oC đến -25oC hoặc thấp hơn
-Nghiên cứu của Trường Đại học Nông nghiệp Chiết Giang cho thấy độnhiệt thích hợp đối với cây chè là 20 - 30oC, nếu độ nhiệt tăng dần, thì tác dụngxúc tiến việc hình thành và tích lũy tanin trong lá chè biểu hiện rất rõ rệt Độnhiệt quá thấp hoặc quá cao đều giảm thấp việc tích lũy tanin Độ nhiệt cao quá
35oC thì quá trình tích lũy tanin bị ức chế và nếu độ nhiệt trên 35oC kéo dài liêntục, chè sẽ bị cháy lá Ngược lại khi độ nhiệt giảm thấp sẽ dẫn đến một loạt biếnđổi về cơ năng sinh lý thành phần hóa học của búp chè, ảnh hưởng không tốtđến sinh trưởng của cây và phẩm chất búp Độ nhiệt thấp và khô hạn là nguyênnhân hình thành nhiều búp mù
Độ nhiệt là một trong những nhân tố chủ yếu chi phối sự sinh trưởng củabúp và quyết định thời gian thu hoạch búp trong chu kỳ một năm Từ 16 độ vĩnam đến 19 độ vĩ bắc, không có hai mùa nóng lạnh rõ rệt, cây chè sinh trưởngquanh năm do đó búp cũng được thu hoạch quanh năm Từ 20 độ vĩ bắc đến 45
độ vĩ bắc, độ nhiệt mùa đông xuống thấp, sinh trưởng và thu hoạch chè đã cómùa rõ rệt Trong những vùng này nơi nào độ nhiệt bình quân mùa đông càngthấp càng kéo dài thì thời gian sinh trưởng và thu hoạch búp chè ở đó càng ngắn
Bảng 11: Ảnh hưởng của độ nhiệt đến thời gian thu hoạch búp
Vùng
Độ cao so với
mặt biển (m)
Vĩ tuy ến bắc
Thời gian thu hoạch búp (thán g)
Nhiệt độ trung bình ( o C)
Tháng 1
4231
816
2328
5 - 6
8 - 9
Trang 381817
2817
1012
Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá vàthành phần hóa học của chúng
Bảng 12: Sự biến đổi thành phần hóa học của búp chè trong điều kiện có cherâm (% chất khô) (% chất khô)
Thời gian
Ngày 30 - 4 Ngày 26 - 5
Công thức thí nghiệm Công thức thí nghiệm
Thành phần sinh hóa Che
râm
Không cherâm
Cherâm
Không che râm
Tanin
Cafein
N tổng số
10,034,627,05
12,753,766,03
8,113,435,84
8,282,784,22
Cây chè được che bóng râm, hàm lượng các vật chất có đạm (cafein, Ntổng số, protein ) trong búp và lá tăng lên và tích lũy nhiều hơn; các chất không
có N (tanin, gluxit ) lại có chiều hướng giảm xuống Sự giảm thấp tanin,
Trang 39gluxit và tăng hàm lượng các vật chất có đạm trong lá chè ở một mức độ nhấtđịnh thường có lợi cho phẩm chất chè xanh và không có lợi cho phẩm chất chèđen Vì vậy, trồng cây bóng mát cho chè thường áp dụng cho những vùng trồngchè sản xuất nguyên liệu để chế biến chè xanh.
Do cường độ ánh sáng có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phẩm chất chècho nên điều tiết cường độ ánh sáng có thể làm cho năng suất chè tăng lên rõ rệt.Những kết quả nghiên cứu tại Trại thí nghiệm chè Tocklai (Ấn Độ) cho thấy:giảm độ chiếu sáng xuống 30% thì sản lượng búp tươi trong năm đầu tăng 34%
so với xử lý cường độ chiếu sáng hoàn toàn và giảm độ chiếu sáng xuống 50%thì năng suất đạt cao nhất Song nếu tiếp tục giảm cường độ chiếu sáng xuốngdưới 50% thì năng suất bắt đầu giảm thấp
Ánh sáng còn có quan hệ đến giai đoạn phát dục của cây chè: theo các tàiliệu nghiên cứu của Liên Xô thì giống chè Ấn Độ và giống lai Trung - Ấnnguyên sản ở vùng ngày ngắn, sinh trưởng trong điều kiện Gruzia (Liên Xô)ngày dài, không thể hoàn thành giai đoạn ánh sáng cho nên không ra hoa kếtquả Song giống Trung Quốc lá nhỏ đã thích ứng với điều kiện ngày dài, chonên trồng ở Gruzia vẫn ra hoa kết quả
5) Không khí:
Không khí rất cần cho sự sống của thực vật Hàm lượng CO2 trong khôngkhí khoảng 0,03%, song chỉ cần có một biến động nhỏ cũng ảnh hưởng rất lớnđến quang hợp Chè là một cây ưa bóng râm, cường độ quang hợp cũng thay đổitheo hàn lượng CO2 có trong không khí Nói chung hàm lượng CO2 trong khôngkhí tăng lên đến 0,1 - 0,2% thì cường độ quang hợp tăng lên rất rõ rệt
Không khí lưu thông tạo thành gió Gió nhẹ và có mưa có lợi cho sự sinhtrưởng của chè vì nó có tác dụng điều hòa cân bằng nước của cây Những nơi độ
ẩm không khí quá cao, phát tán khó; gió nhẹ sẽ làm cho nước dễ thoát hơi, nước
và chất dinh dưỡng trong đất tiếp tục vận chuyển lên trên Mặt khác gió nhẹ cótác dụng làm cho lượng CO2 phân bố đều, có lợi cho quang hợp
Gió to không những làm cho cây bị tổn thương cơ giới, mà còn phá vỡ cânbằng nước của cây Cường độ thoát hơi nước lớn, nước trong đất cung cấpkhông đủ, cây bị héo Mặt khác gió to khí khổng sẽ đóng lại, không thể tiếnhành quá trình quang hợp Mùa đông độ nhiệt thấp nếu có gió to thì chè bị hạinhiều vì rét Gió to khi chè ra hoa còn ảnh hưởng đến hoạt động thụ phấn củacôn trùng
Để giảm tác hại của gió, người ta áp dụng các biện pháp như chọn đất nơikín gió, trồng rừng hoặc vành đai phòng hộ Chọn giống chè thấp cây và trồng
Trang 40dày hợp lý
Ở Việt Nam tác hại của gió không lớn, song nói chung ở các vùng có gióLào cần tùy điều kiện cụ thể mà xét đến việc áp dụng các biện pháp trồng rừnghoặc trồng vành đai phòng chắn gió
CHƯƠNG IV CHỌN GIỐNG CHÈ
ử dụng giống tốt trong nông nghiệp là phản ảnh trình độ sản xuất nông nghiệpcủa một nước và của mỗi thời kỳ khác nhau Đối với ta, chọn giống chè còn cónhiều ý nghĩa: đào thải các giống chè bị lẫn tạp do cách trồng trước đây, phụctráng giống đã già cỗi và đồng thời nhanh chóng đưa ra sản xuất những loại hìnhtốt
I- ĐẶC ĐIỂM CÔNG TÁC CHỌN GIỐNG CHÈ
Chè là cây trồng lâu năm thời gian sinh trưởng rất dài, những đặc trưng vềsinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực biểu hiện rất khác nhau, do đóviệc nghiên cứu giống chè cần phải kiên trì và lâu dài
Chu kỳ phát dục của chè dài, quá trình phát dục của cây chè bị điều kiệnngoại cảnh chi phối rất mạnh Công tác chọn giống cần phải tạo những loại hìnhthích ứng với điều kiện ngoại cảnh, kỹ thuật quản lý và chăm sóc
Việc đánh giá phẩm chất chè phải trải qua nhiều khâu như giống, kỹ thuậtnông nghiệp, chế biến cho nên phải đánh giá thật khách quan mới phản ánhđúng tính chất của từng giống
II- TIÊU CHUẨN GIỐNG CHÈ TỐT
1) Chỉ tiêu sinh trưởng:
Yêu cầu chọn những giống có khả năng phân cành mạnh, tán cây thấp Câysinh trưởng khỏe và có khả năng thích ứng mạnh với điều kiện ngoại cảnh Vềhình thái lá: lá to mềm, có nhiều gợn sóng, màu xanh sáng Mật độ búp trên táncao và trọng lượng búp cao Thời gian sinh trưởng hàng năm của cây dài
2) Chỉ tiêu sản lượng:
Các giống chè đều có sự sai khác rất rõ về sản lượng Ví dụ trong điều kiệncủa ta, giống chè Kỳ Môn (thuộc loại camellia var bohea) thường cho năng suấtthấp hơn nhiều so với giống chè Trung Du (camellia var macrophylla) Ở TrungQuốc cho thấy chọn giống tốt tăng sản 127% so với đối chứng Ở Liên Xô kếtquả nghiên cứu 17 năm cho thấy giống Gruzia 1 tăng hơn giống địa phương27,3%, giống Gruzia 2 tăng hơn giống địa phương 47,7%