1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp

178 299 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 178
Dung lượng 826,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, sau 20 năm thực thi chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế 1986 – 2006 của Đảng và Nhà nước, đưa nền kinh tế Việt Nam chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị

Trang 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:

Khoảng 40 năm về trước, Saigon dưới con mắt của các doanh nhân, khách du lịch quốc tế, là “Hòn ngọc Viễn Đông” Nhưng hậu quả của chiến tranh, những khó khăn của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung bao cấp, thời kỳ nhiều nước thực thi chính sách hạn chế buôn bán với Việt Nam… làm cho Saigon xưa, nay là Thành phố Hồ Chí Minh, mất đi vị thế là trung tâm kinh tế và thương mại của khu vực

Ngày nay, sau 20 năm thực thi chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế (1986 – 2006) của Đảng và Nhà nước, đưa nền kinh tế Việt Nam chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang nền kinh tế thị trường, mở cửa để hội nhập với khu vực và thế giới, đất nước đã gặt hái nhiều thành tựu kinh tế, vị thế kinh tế của Việt Nam ngày càng được nâng lên trong khu vực và trên thế giới: là nước đứng thứ hai thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và đều trong 20 năm vừa qua; nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đứng thứ hạng cao trên thế giới: đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu; đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo; đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu cà phê; điều nhân; đứng thứ tư về thế giới về xuất khẩu cao su; là một trong 10 nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu hàng dệt may; giày dép; đồ gỗ; thủy sản…

Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh trong suốt 20 năm thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, luôn giữ vị trí số một về kinh tế,

trong đó có hoạt động thương mại: chiếm khoảng gần 40% tổng doanh thu thương

mại của cả nước (kể cả thương mại quốc tế) Tuy nhiên, vị trí của Thành phố trong khu vực Đông Nam Châu Á còn mờ nhạt, chưa tương xứng với tiềm năng của nó Và ngay cả ở trong nước, cùng với tiến trình hội nhập với nền kinh tế thế giới, đã và đang xuất hiện nhiều nhân tố ảnh hưởng bất lợi đến vai trò làm trung tâm

thương mại của các tỉnh phía Nam của Thành phố Hồ Chí Minh: triển khai dự án sân bay quốc tế Long Thành (Đồng Nai); di dời cảng Saigon; việc nâng cấp mạnh các cảng ở đồng bằng sông Cửu Long; ở Bà Rịa – Vũng Tàu; sự phát triển mạnh

các khu kinh tế mở Chu Lai; khu kinh tế Dung Quất với nhiều ưu đãi… Tất cả các sự kiện này sẽ làm giảm bớt sự tập trung kinh tế ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có sự tập trung về thương mại Cho nên, việc nghiên cứu vai trò hiện tại

và tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh trong hoạt động thương mại quốc tế, đánh giá, dự báo được những nhân tố thuận lợi, những thách thức đối với Thành phố để

đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo cho Thành phố chẳng những giữ vững là trung tâm thương mại quốc tế hàng đầu của Việt Nam mà còn trở thành trung tâm

thương mại của khu vực Đây chính là ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài đặt hàng nghiên cứu của Sở Khoa học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh đối với các nhà khoa học, các viện nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 2

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

2.1 Về phương diện lý luận:

• Nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và phát triển trung tâm thương mại quốc tế của Singapore, HongKong, Dubai… để rút ra những kết luận: một trung tâm thương mại quốc tế mang tính khu vực phải có những biểu hiện nào trên khía cạnh kinh tế và có những điều kiện nào về cơ chế chính sách (đảm bảo hành lang pháp lý cho trung tâm thương mại quốc tế hoạt động)

• Làm rõ bản chất trung tâm thương mại quốc tế khu vực (khái niệm, tiêu chí,

điều kiện phát triển)

2.2 Mục tiêu thực tiễn:

• Phân tích vai trò nòng cốt của Thành phố Hồ Chí Minh trên giác độ là trung tâm thương mại quốc tế của Việt Nam

• Phân tích khả năng trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

+Nêu bật các yếu tố và điều kiện hiện có mà thành phố cần phát huy để trở

thành trung tâm thương mại quốc tế;

+Nêu những điểm yếu, những điều kiện cần phải có để thành phố trở thành

trung tâm thương mại quốc tế

• Đề xuất các giải pháp:

+Nhằm duy trì vị trí của Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại

quốc tế của cả nước;

+Kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền về các điều kiện để xây dựng Thành

phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực (cơ sở hạ tầng, khung pháp lý…);

+Đề xuất lộ trình để thực hiện các kiến nghị đề xuất

3 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:

Thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu tiếp cận với hàng chục công trình, bài báo có liên quan ít nhiều đến đề tài

Điểm mới nổi bật của đề tài nghiên cứu khác với các công trình khác thể hiện

ở các điểm sau đây:

1 Thông qua nghiên cứu tài liệu quốc tế, khảo sát thực tế ở nước ngoài, mô phỏng đặc điểm cơ bản của một trung tâm thương mại quốc tế của khu vực để qua

đó hình dung được hình ảnh (cái đích) mà Thành phố Hồ Chí Minh tiến tới phải đạt được

Trang 3

2 Đánh giá vai trò hiện tại của Thành phố Hồ Chí Minh đối với vùng kinh tế

phía Nam trong lĩnh vực thương mại quốc tế, qua đó chỉ rõ: vai trò nào đã làm tốt; vai trò nào còn chưa thực hiện tốt Tìm nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động thuận lợi và không thuận lợi đến các vai trò này

3 Đánh giá khả năng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại

quốc tế của khu vực Đông và Đông Nam Châu Á: khả năng nào là hiện thực, khả năng nào cần phải phấn đấu xây dựng

4 Đề xuất hệ thống các giải pháp dưới dạng phác hoạ đề án tiền khả thi để duy

trì vị thế của Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại quốc tế của các tỉnh phía Nam và trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu thực trạng và các điều kiện để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực

4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Hoạt động thương mại quốc tế có 2 mảng lớn: thương mại hàng hoá hữu hình (hay còn gọi là hoạt động xuất nhập khẩu) và thương mại hàng hoá vô hình

(hay còn gọi là hoạt động mua bán các loại dịch vụ: du lịch; tài chính; logistics…) Nhóm nghiên cứu sẽ tập trung chủ yếu nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là trung tâm thương mại hàng hoá hữu hình Tuy nhiên, 2 mảng thương mại hữu hình và vô hình có liên quan chặt chẽ với nhau, cho nên nhóm nghiên cứu xem xét các vấn đề thương mại dịch vụ dưới giác độ là những nhân tố quan trọng tác động đến hoạt động thương mại quốc tế hàng hữu hình của Thành phố Hồ Chí Minh, xem xét dưới giác độ là trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

Ngoài ra, nhóm đề tài sẽ chỉ giới hạn nghiên cứu về trung tâm thương mại

quốc tế trên phạm vi địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, chứ không đi sâu mọi loại hình trung tâm thương mại hoạt động trên địa bàn Thành phố

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Để thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp sau đây:

*Phương pháp phân tích thống kê: là phương pháp nhóm nghiên cứu sử dụng ở

Chương 2 để phân tích các số liệu thứ cấp thu thập nhằm đánh giá khả năng trở thành trung tâm thương mại quốc tế kc của Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

*Phương pháp duy vật lịch sử: nhóm nghiên cứu sử dụng các tư liệu lịch sử để

nghiên cứu rút ra bản chất của trung tâm thương mại quốc tế

*Phương pháp duy vật biện chứng: nhóm đề tài sử dụng trong cả 3 chương của

đề án

*Phương pháp chuyên gia: thông qua hội thảo và gửi đề án nghiên cứu đến các

chuyên gia, các nhà nghiên cứu thương mại để xin ý kiến giúp chúng tôi hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình

6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Công trình nghiên cứu của chúng tôi bao gồm 101 trang, chứa đựng 04 sơ đồ và 19 bảng, biểu số liệu, chia thành 3 chương:

CHƯƠNG 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Ở Chương 1 nhóm nghiên cứu 5 vấn đề quan trọng làm nền cho nghiên cứu

Chương 2 và Chương 3

VẤN ĐỀ THỨ NHẤT: NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA THẾ GIỚI

Trong mục này, nhóm đề tài tâm đắc nhất là đã nghiên cứu kinh nghiệm hình thành và phát triển của Hongkong, và Singapore và Dubai để trở thành trung tâm

thương mại quốc tế của khu vực, và rút ra các bài học sau đây cho Thành phố Hồ Chí Minh:

• Phải xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng cho việc tự do hóa thương

mại: tiến tới thuế xuất nhập khẩu bằng 0; các rào cản phi thuế được bác bỏ; các nhà thương mại nước ngoài được phép vào hoạt động và được quyền hoạt động bình đẳng như các nhà thương mại trong nước

• Xây dựng bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả hỗ trợ cho các

doanh nghiệp kinh doanh thương mại; chống tham nhũng quyết liệt tạo môi trường tốt cho hoạt động kinh doanh

• Phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho hoạt động thương mại tốt: cảng

biển; sân bay; hệ thống kho tàng bến bãi

Trang 5

• Phát triển các dịch vụ thương mại: tài chính, ngân hàng, phát triển công

nghệ thông tin, bưu chính viễn thông

• Xây dựng môi trường mang tính cạnh tranh cao (cả Hongkong và Singapore

đều được quốc tế xếp hạng trong 10 nước có môi trường cạnh tranh cao, hấp dẫn các nhà đầu tư)

• Xây dựng mối liên hệ thương mại và hệ thống phân phối hàng hóa với các

loại hàng trong khu vực và trên thế giới

• Phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại đa phương và song phương để mở rộng

thị trường thuận lợi cho hoạt động thương mại (ký nhiều Hiệp định xây dựng FTA)

• Phát triển mạnh hoạt động kinh tế thị trường, xây dựng đồng tiền mạnh có

khả năng tự do chuyển đổi

• Coi trọng đầu tư vào nguồn nhân lực; tiếng Anh phải được đào tạo phổ cập

để mọi người dân; kể cả lao động phổ thông sử dụng thành thạo

VẤN ĐỀ THỨ HAI của Chương: nhóm đề tài đã làm rõ:

*Các khái niệm:

- Về thương mại quốc tế (khái niệm; đặc điểm)

- Về trung tâm thương mại quốc tế (khái niệm; phân loại; đặc điểm)

*Làm rõ đặc điểm trung tâm thương mại quốc tế khu vực:

Nghiên cứu các trung tâm thương mại quốc tế từ thời cổ xưa cho đến nay, Nhóm đề tài rút ra các đặc điểm cơ bản sau đây về trung tâm thương mại quốc tế mang tính khu vực

Thứ nhất – Về vị trí địa lý: Phải nằm trong vùng kinh tế có các nước đang

phát triển theo hướng “mở cửa” lấy thị trường bên ngoài làm động lực để phát triển kinh tế trong nước Vị trí trung tâm thương mại khu vực phải có điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho thương mại: phát triển vận tải hàng không; đường thủy; đường bộ… phát triển hệ thống kho bãi; phát triển công nghệ thông tin…

Thứ hai – Về khả năng phân phối và điều phối hàng hóa giữa các nước

Nơi trung tâm thương mại quốc tế khu vực phải có:

ƒ Các tập đoàn đa quốc gia và xuyên quốc gia về thương mại quốc tế (bán buôn và bán lẻ)

ƒ Các thương nhân có mối liên hệ thương mại với khắp toàn cầu; với các nhà cung cấp; với các đại lý thương mại; với các trung tâm giao dịch hàng hóa

Trang 6

ƒ Các hình thức thương mại chuyên như: chuyển khẩu; tạm nhập tái xuất khẩu; môi giới thương mại; thương mại điện tử là những phương thức kinh doanh chủ yếu giúp đưa nhanh hàng hóa từ người bán đến người mua ở các nước khác nhau

ƒ Là nơi có khả năng tập trung các thông tin thương mại: về thị trường; về cung cầu hàng hóa; về giá cả…

ƒ Là nơi có khả năng mua và cung cấp khối lượng lớn hàng hóa với giá cạnh tranh (với cả người mua và người bán)

Thứ ba – Đặc điểm về thu hút các doanh nghiệp quốc tế: nơi trung tâm

thương mại quốc tế mang tính khu vực phải có môi trường kinh doanh thuận lợi như:

ƒ Thành lập; phát triển; làm thủ tục phá sản doanh nghiệp dễ dàng

ƒ Các doanh nghiệp được đối xử công bằng; bình đẳng

ƒ Luật lệ đầy đủ; rõ ràng; công khai và ổn định

ƒ Có cơ sở hạ tầng tốt với chi phí mang tính cạnh tranh

ƒ Có trọng tài quốc tế có uy tín để giải quyết tranh chấp kinh tế (nếu có)

ƒ Có nguồn nhân lực có chất lượng cao

ƒ Có tỷ lệ người biết ngoại ngữ quốc tế lớn

ƒ Doanh nghiệp được tự do kinh doanh theo luật định, ít có sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước bằng những biện pháp hành chính

ƒ Nước chủ nhà ký được nhiều Hiệp định tự do thương mại với nhiều nước

Thứ tư – Đặc điểm về cơ sở hạ tầng để phát triển thương mại và thương mại dịch vụ quốc tế

Trung tâm thương mại quốc tế khu vực phải có:

ƒ Hệ thống cảng biển mang tính tổng hợp và chuyên dụng tốt; hiện đại… có khả năng thu hút các hãng vận tải lớn quốc tế vào hoạt động

ƒ Có sân bay quốc tế lớn và hiện đại, thu hút nhiều hãng hàng không quốc tế

ở nhiều khu vực đến hoạt động

ƒ Có hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm tốt, mở cửa liên thông với thị trường tài chính quốc tế

ƒ Có hệ thống kho tàng, bến bãi hiện đại phục vụ phát triển Logicstic ngoại thương

ƒ Có hệ thống thông tin liên lạc hiện đại; tốc độ nhanh

Trang 7

ƒ Có hệ thống khách sạn, nhà hàng đầy đủ, cao cấp phục vụ cho doanh nhân quốc tế

ƒ Giá cả dịch vụ cơ sở hạ tầng rẻ; mang tính cạnh tranh cao

Thứ năm – Đặc điểm về cơ chế chính sách có liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế:

ƒ Thành phố (tỉnh) nơi trở thành trung tâm thương mại quốc tế phải là nơi có nền kinh tế thị trường và được quốc tế thừa nhận

ƒ Thực thi chính sách tự do hóa thương mại hoàn toàn, thuế xuất nhập khẩu bằng 0; hàng rào phi thuế quan được dở bỏ; không phân biệt đối xử Nhà thương mại quốc tế và trong nước

ƒ Cơ chế tài chính tín dụng thông thoáng phù hợp với các thông lệ quốc tế; xây dựng đồng tiền mạnh có khả năng tự chuyển đổi

ƒ Thủ tục hải quan đơn giản, mang tính Hội nhập, miễn visa xuất nhập cảnh cho các thương gia

ƒ Chống tham nhũng triệt để, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh; chính quyền hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi

VẤN ĐỀ THỨ BA: CÁC GIAI ĐOẠN HÌNH THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ KHU VỰC

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển một thành phố trở thành trung tâm thương

mại quốc tế khu vực, Nhóm đề tài nhận thấy cần phải trải qua 3 giai đoạn chủ yếu sau đây:

- Giai đoạn ban đầu

- Giai đoạn phát triển

- Giai đoạn duy trì vị trí trung tâm thương mại quốc tế khu vực

(1) Giai đoạn ban đầu:

Đây là giai đoạn chủ yếu do chính quyền nhà nước tiến hành bao gồm các công việc:

- Xây dựng nền kinh tế thị trường đầy đủ và được quốc tế thừa nhận

- Xây dựng chiến lược biến Thành phố (địa phương) trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực với các phương án tổ chức thực hiện

- Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ đồng bộ; phù hợp với chuẩn mực quốc tế

Trang 8

- Quy hoạch cơ sở hạ tầng cho phát triển hoạt động thương mại: cảng; sân bay; đường bộ; hệ thống công nghệ thông tin; hệ thống kho tàng; nơi tiến hành hội chợ triển lãm…

- Trở thành trung tâm thương mại quốc tế của quốc gia; đây là điều kiện quan trọng để trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực

(2) Giai đoạn phát triển:

Đây là giai đoạn thu hút mạnh mẽ các Nhà đầu tư trong và ngoài nước vào

hoạt động kinh doanh thương mại cả thương mại hàng hóa và dịch vụ Các công việc cần tiến hành:

- Cần có một cơ chế đặc biệt hấp dẫn mang tính ưu đãi tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động: tự do thương mại xóa bỏ các rào cản cho hoạt động thương mại về thuế và các biện pháp phi thuế

Lưu ý: với các trung tâm thương mại quốc tế hình thành sau (muộn hơn) phải hấp dẫn, mang tính cạnh tranh thì mới lôi kéo được các thương nhân tới hoạt động

- Có chiến lược tiếp thị, lôi kéo các tập đoàn đa quốc gia

- Thể chế chính sách vận hành nền kinh tế mang tính hội nhập; ổn định; có cơ chế bảo vệ các nhà đầu tư

- Có chính sách khuyến khích phát triển các loại hình dịch vụ thương mại: môi giới thương mại; tài chính; ngân hàng; kho vận; công nghệ thông tin…

- Xây dựng chiến lược đào tạo và thu hút nhân tài trong và ngoài nước

- Ngôn ngữ tiếng Anh phải là ngôn ngữ phổ biến, chẳng những được sử dụng ở các đơn vị kinh doanh mà còn ở các cơ quan công quyền, nơi mà các nhà đầu tư làm các thủ tục hành chính có liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình

(3) Giai đoạn duy trì vị trí trung tâm:

Ở giai đoạn này, chính quyền Nhà nước vẫn tiến hành hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hoạt động

- Loại bỏ tham nhũng, biến các cơ quan công quyền trở thành các đơn vị dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động

- Kinh tế thị trường được phát triển tối đa có định hướng tích cực của Nhà nước

- Xây dựng môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao so với các trung tâm thương mại khác trong khu vực: về cơ chế chính sách về cơ sở hạ tầng, về nguồn nhân lực; các ngành dịch vụ…

Trang 9

Tóm lại, theo kinh nghiệm của các nước xây dựng thành công trung tâm

thương mại quốc tế là 3 giai đoạn kể trên phải được xây dựng như là chiến lược dài hạn, có chia nhỏ từng thời kỳ, có các biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể do những người có quyền lực cao nhất lãnh đạo với quyết tâm cao

VẤN ĐỀ THỨ TƯ của Chương 1: NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM CỦA HONGKONG, SINGAPORE VÀ BRUNEI ĐỂ RÚT RA CÁC BÀI HỌC PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA KHU VỰC CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Qua nghiên cứu kinh nghiệm sự phát triển trung tâm thương mại quốc tế mang

tính khu vực của Hongkong, Singapore và Brunei, nhóm đề tài rút ra 9 bài học kinh nghiệm sau đây cho việc đề xuất các giải pháp ở Chương 3:

1 Phải xây dựng cơ chế chính sách thông thoáng cho việc tự do hóa thương

mại: tiến tới thuế xuất nhập khẩu bằng 0; các rào cản phi thuế được bác bỏ; các nhà thương mại nước ngoài được phép vào hoạt động và được quyền hoạt động bình đẳng như các nhà thương mại trong nước

2 Xây dựng bộ máy Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu quả hỗ trợ cho các

doanh nghiệp kinh doanh thương mại; chống tham nhũng quyết liệt tạo môi trường tốt cho hoạt động kinh doanh

3 Phải xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cho hoạt động thương mại tốt: cảng

biển; sân bay; hệ thống kho tàng bến bãi

4 Phát triển các dịch vụ thương mại: tài chính, ngân hàng, phát triển công

nghệ thông tin, bưu chính viễn thông

5 Xây dựng môi trường mang tính cạnh tranh cao (cả Hongkong và Singapore

đều được quốc tế xếp hạng trong 10 nước có môi trường cạnh tranh cao, hấp dẫn các nhà đầu tư)

6 Xây dựng mối liên hệ thương mại và hệ thống phân phối hàng hóa với các

loại hàng trong khu vực và trên thế giới

7 Phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại đa phương và song phương để mở rộng

thị trường thuận lợi cho hoạt động thương mại (ký nhiều Hiệp định xây dựng FTA)

8 Phát triển mạnh hoạt động kinh tế thị trường, xây dựng đồng tiền mạnh có

khả năng tự do chuyển đổi

9 Coi trọng đầu tư vào nguồn nhân lực; tiếng Anh phải được đào tạo phổ cập

để mọi người dân; kể cả lao động phổ thông sử dụng thành thạo

Trang 10

VẤN ĐỀ THỨ NĂM: NHÓM ĐỀ TÀI CŨNG LÀM RÕ VAI TRÒ TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA KHU VỰC:

- Đối với nước chủ nhà

- Đối với các nước trong khu vực và thế giới

Và với những vai trò quan trọng của trung tâm thương mại quốc tế đã nêu trong đề án cũng khẳng định việc nghiên cứu đề tài xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao

CHƯƠNG 2:

PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG

TRỞ THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI

QUỐC TẾ KHU VỰC CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ở Chương 2, nhóm nghiên cứu đã nêu được các vấn đề:

2.1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LÀ TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM:

Với dân số 6,24 triệu người (chiếm 7,6% dân số của cả nước), nhưng Thành phố Hồ Chí Minh – là trung tâm kinh tế lớn nhất Việt Nam – chiếm 22,61% GDP của cả nước, rất ấn tượng là kinh tế tư nhân của Thành phố đóng góp 56,25% GDP (so với khu vực, kinh tế này có đóng góp cho cả nước); khối kinh tế FDI cũng đóng góp 34,39% so với sự đóng góp của khu vực này với cả nước Và tốc độ tăng trưởng của 2 khu vực kinh tế này đang tăng cao, điều này nó thể hiện phần nào kinh tế thị trường ở Thành phố Hồ Chí Minh phát triển cao hơn so với cả nước, đây là điều quan trọng để trở thành trung tâm thương mại quốc tế

Trang 11

*Về hoạt động xuất khẩu:

Bảng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước

ĐVT: Triệu USD; Tỷ lệ %

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU NĂM THÀNH PHỐ HỒ

CHÍ MINH CẢ NƯỚC

TỶ TRỌNG TPHCM SO VỚI VIỆT NAM

Nguồn: Sở Thương mại Thành phố Hồ Chí Minh

Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố chiếm đến trên 37% kim ngạch xuất khẩu của cả nước

• Cả nước có tình trạng nhập siêu lớn, từ 3,5-5 tỷ USD mỗi năm; nhưng qua bảng 2.6 ta thấy Thành phố Hồ Chí Minh luôn trong tình trạng xuất siêu từ 2 đến

gần 6 tỷ USD/năm

Ở Việt Nam, có 7 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD: dầu thô; may mặc; giày dép; thủy sản; gỗ; hàng điện tử + máy tính và linh kiện; gạo Thành phố Hồ Chí Minh tham gia xuất khẩu chủ yếu ở tất cả các mặt hàng kể trên (chiếm tỷ trọng ở mỗi mặt hàng chủ lực từ 15%-80%)

*Về hoạt động nhập khẩu:

Hoạt động nhập khẩu làm một mảng của hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh, không lớn như hoạt động xuất khẩu, năm 2005 chỉ là 6,371 tỷ USD bằng ½ kim ngạch xuất khẩu của Thành phố (12,132 tỷ USD); nhưng

so với Việt Nam thì kim ngạch nhập khẩu của Thành phố cũng chiếm 17,23% so với cả nước

Tóm lại, qua những phân tích kể trên minh chứng Thành phố Hồ Chí Minh là

trung tâm thương mại quốc tế của các tỉnh phía Nam nói riêng và của cả nước nói chung Tuy nhiên, hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố còn thua xa so với các trung tâm thương mại quốc tế của khu vực như Hongkong và Singapore, sau đây là một vài số liệu:

Trang 12

Bảng vài số liệu về hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh

so với Singapore và Hongkong năm 2004

STT CHỈ TIÊU KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HONGKONG SINGAPORE

3 Kim ngạch xuất khẩu tính trên đầu người (USD/người) 1.624,28 37.837,8 41.430,2

Nguồn: Niên giám thống kê năm 2005

Sở dĩ thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh còn quá nhỏ so với Singapore và Hongkong là vì Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ là trung tâm thương mại của khu vực miền Nam Việt Nam, chứ chưa phải là trung tâm thương mại quốc tế của cả khu vực Đông Nam Á và Đông Á, vì nhiều lý do mà nhóm nghiên cứu sẽ phân tích ở các mục dưới đây

2.2 NHỮNG ĐIỂM YẾU CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NHÌN DƯỚI GIÁC ĐỘ LÀ TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:

2.2.1 Điểm yếu của Thành phố nhìn dưới giác độ là trung tâm thương mại

quốc tế của Việt Nam:

Tuy Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam,

nhưng vẫn còn tồn tại lớn sau đây đe dọa sự phát triển hoạt động thương mại quốc

tế như là một trung tâm của các tỉnh Nam bộ:

*Thành phố chủ yếu chỉ là nơi chuyển tải hàng hoá của các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ ra nước ngoài

*Tính bị động và lệ thuộc trong xuất khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố rất cao, biểu hiện:

+ Gia công xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao;

+ Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Thành phố đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ở bên ngoài;

+ Các doanh nghiệp Thành phố không có cơ sở kinh doanh thương mại tại

nước ngoài;

+ Hoạt động xuất nhập khẩu của Thành phố còn phụ thuộc nhiều vào các văn phòng đại diện của các công ty nước ngoài đang hoạt động trên địa bàn Thành phố

Trang 13

*Ở Thành phố chưa có các tập đoàn thương mại lớn đóng vai trò làm cầu nối giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước với thị trường thế giới

Ngoài ra, số thương gia giỏi có khả năng bao quát thị trường; khả năng xây

dựng chiến lược thương mại mang tính toàn cầu còn quá ít, cũng là lực cản để hoạt động thương mại quốc tế có vị trí vững mạnh, đáp ứng yêu cầu hội nhập trong những năm tới

2.2.2 Những điểm yếu của Thành phố dưới giác độ là trung tâm thương

mại quốc tế của khu vực:

2.2.2.1 Cơ chế chính sách có liên quan đến kinh doanh thương mại quốc tế chưa

thông thoáng:

a Môi trường kinh doanh:

Môi trường kinh doanh của Thành phố Hồ Chí Minh có thể tốt so với Việt Nam, nhưng so với khu vực và thế giới chưa phải là môi trường lý tưởng để trở thành trung tâm thương mại – tài chính của khu vực (vì có một số lãnh thổ có môi trường kinh doanh vượt trội như Singapore (đứng thứ nhất); Hongkong (đứng thứ 5); Thái Lan (đứng thứ 17)…)

b Đánh giá về sự tự do kinh doanh của Thành phố Hồ Chí Minh:

Đánh giá về tiêu chí tự do kinh doanh tại Thành phố Hồ Chí Minh (không khác nhiều so với Việt Nam vì cùng một cơ chế quản lý chung), thì vẫn đứng thứ

hạng thấp, xếp 138 trong tổng số 157 quốc gia Trong khi đó, Hongkong đứng thứ

nhất; Singapore đứng thứ 2 về chỉ số tự do kinh tế

c Thành phố chưa có cơ sở pháp lý thông thoáng, cởi mở để trở thành trung tâm thương mại quốc tế:

Thành phố chưa có quy chế đặc biệt ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp… khuyến khích tự do hoá thương mại và dịch vụ quốc tế Điểm này Thành phố Hồ Chí Minh bất lợi so với lãnh thổ Hongkong và Singapore vì như trên đã đề cập, những nơi này có thuế xuất nhập khẩu gần bằng 0 Thêm vào đó, hai nơi này ký với hơn 10 quốc gia và lãnh thổ có nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc… thành lập các khu vực mậu dịch tự do mà mục tiêu của nó là thúc đẩy tự do hoá thương mại, biến các nơi này thành trung tâm thương mại quốc tế

2.2.2.2 Hoạt động tài chính – ngân hàng chưa mạnh để hỗ trợ cho Thành phố

trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

Tài chính và ngân hàng có mối quan hệ hữu cơ với hoạt động thương mại quốc tế

Trang 14

Sau 20 năm đổi mới cơ chế chính sách kinh tế thì hoạt động thương mại của Việt Nam nói riêng và của Thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước tiến dài,

nhưng hệ thống tài chính ngân hàng mới ở giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập

kinh tế quốc tế

Bằng những số liệu có so sánh với các trung tâm tài chính Singapore, Hongkong và Tokyo, nhóm nghiên cứu rút ra: Thị trường tài chính ở Thành phố Hồ Chí Minh còn quá nhỏ so với các trung tâm khác của khu vực Đây cũng là trở ngại để Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế

2.2.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển thương mại quốc tế còn yếu:

a Tồn tại lớn về hệ thống vận tải ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố:

*VẬN TẢI THỦY:

Thứ nhất, mật độ của cảng dày bất hợp lý:

Một nửa cảng nằm trên cửa sông Sài Gòn, nửa còn lại nằm rải rác trên sông Hiệp Phước, Nhà Bè Tại những nơi này, luồng, lạch nhỏ hẹp, nhiều khúc quanh không đảm bảo an toàn giao thông thuỷ khi lượng tàu ra vào lớn

Thứ hai, cảng nhỏ, thiếu cảng chuyên dụng, cảng gạo, cảng cá…, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa hiện đại ảnh hưởng đến giao nhận ngoại thương:

Cảng Sài Gòn được xem là cảng lớn nhất nhưng sản lượng chỉ trên 12 triệu tấn/năm (trong khi đó, nước Bỉ nhỏ bé có 3 cảng lớn, công suất của cảng nhỏ nhất cũng đạt trên 110 triệu tấn/năm)

Ngoài ra, thiếu cảng chuyên dụng lại thêm cơ sở vật chất kỹ thuật cảng chưa hiện đại làm tốc độ bốc dỡ chậm: một tàu gạo 10.000 tấn bình quân bốc 10-12 ngày, trong khi ở cảng gạo của Thái Lan, một tàu gạo tương tự chỉ bốc 10-12 tiếng (vì có hệ thống kho chuyên dụng tại cảng, có hệ thống bơm rót gạo lên tàu nhanh)

Thứ ba, chi phí lớn:

Do tàu vào cảng hẹp phải có hoa tiêu lai dắt, tốc độ bốc dỡ chậm, chỉ tàu nhỏ mới vào cảng được, tàu phải nằm chờ nhiều ngày mới bốc hoặc dỡ xong hàng dẫn tới vận tải quốc tế cao

Theo khảo sát của Hiệp hội hàng hải Việt Nam năm 2006, cước phí vận tải

container từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Hoa Kỳ đắt hơn so với từ Thái Lan đi Hoa

Kỳ 450-500USD/container hàng khô, và 750USD/container hàng đông lạnh Và

nguy hiểm hơn, mức chênh lệch trong chi phí vận tải đi các nước của Thành phố so với các nước trong khu vực ngày càng tăng

Trang 15

Thứ tư, vị trí của các cảng không thuận lợi:

Giữa Thành phố điều khiển vận tải bằng ôtô đến cảng gặp khó khăn do xe tải

bị cấm chạy trong giờ hành chính và bị cấm chạy trên một số đoạn đường, cộng vào đó giá xăng dầu hai năm qua đã hai lần điều chỉnh tăng làm phí vận tải container ra cảng với đoạn đường chỉ 10 km, container 20 feet là 600.000 đồng; 40 feet giá là 1.000.000 đồng

Ngoài ra, chưa kể đến hệ thống đường sắt và đường bộ được coi là sự nối

chuyến hàng container cho tàu biển chưa được quy hoạch hợp lý nên chưa hỗ trợ trong tiếp nhận và xử lý hàng container chuyên chở bằng đường biển; chưa cho phép phát triển hoạt động vận tải đa phương thức theo chuẩn mực quốc tế

*VẬN TẢI HÀNG KHÔNG:

Khu vực Nam bộ chỉ có một sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, đảm nhận vận tải 5% khối lượng hàng hoá xuất khẩu Những điểm bất hợp lý vận tải bằng đường hàng không ảnh hưởng đến xuất khẩu:

Thứ nhất, sân bay nằm ngay sát Thành phố nên việc vận chuyển hàng hoá đi

ngang Thành phố đến sân bay gặp khó khăn

Thứ hai, cước phí vận tải và giao nhận gia tăng ít nhất 15% trong vòng hai

năm qua (theo khảo sát của các Forwarder Thành phố Hồ Chí Minh) Điều này tất yếu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến giá xuất khẩu

*VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ:

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, ngoài hai phương tiện vận tải thủy và hàng không, thì khoảng 5% khối lượng hàng xuất khẩu được vận chuyển bằng đường ôtô để xuất bán sang các nước có chung đường biên giới với Việt Nam: Campuchia, Lào, Trung Quốc Vận tải bằng đường ôtô chủ yếu do tư nhân đảm nhận, nhưng khoảng ba năm gần đây, trạm thu phí mọc lên nhiều hơn, nạn mãi lộ cho cảnh sát giao thông tăng, giá xăng dầu tăng… làm phí vận tải tăng Theo khảo sát thì phí vận tải trái cây, cao

su, gạo xuất khẩu từ Thành phố Hồ Chí Minh đến biên giới Trung Quốc gồm cước phí vận tải và các lệ phí vận tải chiếm đến 30-40% giá xuất khẩu với bối cảnh hội nhập đang gia tăng, phí vận tải quá cao dẫn tới hàng hoá của Thành phố khó cạnh tranh chẳng những trên thị trường Trung Quốc mà ngay trên thị trường nội địa ở phía Bắc và Miền Trung

Trang 16

b Tồn tại về hệ thống kho bãi ảnh hưởng đến khả năng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

- Thứ nhất, hệ thống kho phát triển mang tính tự phát, không có quy hoạch,

nằm phân tán ở nhiều cơ quan, ban, ngành quản lý: Trung ương, Thành phố, Quận huyện, doanh nghiệp…

- Thứ hai, khai thác kho bãi phần nhiều mang tính bao cấp, ví dụ giá cho

thuê kho bãi do UBND phê duyệt: một thời gian dài biểu giá cho thuê kho bãi rất

thấp, không đủ bù đắp chi phí, kko đảm bảo tích lũy để phát triển

- Thứ ba, đa số chất lượng kho bãi thấp, không đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, đặc biệt nhu cầu xuất khẩu và các dịch vụ xuất khẩu

- Thứ tư, tình hình kinh doanh kho bãi vừa mang tính tự phát, vừa mang tính bao cấp làm giảm hiệu quả kinh doanh, Nhà nước bị thất thu ngân sách

- Thứ năm, hầu như chưa đơn vị nào áp dụng phương thức kinh doanh kho bãi hiện đại: phát triển kinh doanh logicstic, tham gia nối kết giữa thị trường Thành

phố với khu vực và thế giới

Tóm lại, cơ sở hạ tầng của hệ thống kho bãi lạc hậu, còn thua xa so với các nước trong khu vực như HongKong, Singapore và tạo nên trở ngại để biến Thành

phố thành trung tâm hậu cần dịch vụ và thương mại của các tỉnh phía Nam nói riêng và của Đông Nam Á nói chung

c Tồn tại của hoạt động Forwarder tại Thành phố Hồ Chí Minh: nhóm nghiên

cứu đề cập đến các vấn đề:

+Dịch vụ đại lý tàu biển

+Kinh doanh mua bán cước với hãng tàu

+Dịch vụ đại lý giao nhận xuất nhập khẩu

+Kinh doanh kho ngoại quan

Ở tất cả các lĩnh vực trên của hoạt động Forwarder, mặc dù tốc độ phát triển nhanh nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự phát triển, tác động không thuận lợi đến việc đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

d Internet và thương mại điện tử:

Trong quá trình toàn cầu hoá, Internet được xem là cơ sở hạ tầng quan trọng hỗ trợ thúc đẩy giao dịch thương mại phát triển với chi phí thấp, tiếp cận nhanh với các cơ hội kinh doanh của khu vực và trên thế giới

Trang 17

Năm năm trở lại đây, hệ thống Internet và hoạt động thương mại điện tử của Thành phố có những bước phát triển nhanh, hỗ trợ cho sự phát triển thương mại quốc tế của Thành phố Tuy nhiên, với cơ sở hạ tầng Internet hiện nay và hoạt động thương mại điện tử của Thành phố chưa đáp ứng để đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực Nhóm nghiên cứu tổng kết lại các điểm hạn chế cần phải khắc phục như sau:

Thứ nhất, sự phát triển thương mại điện tử của Thành phố tăng nhanh, nhưng

so với các nước trong khu vực còn nhiều hạn chế, biểu hiện:

-Ít cổng dẫn truyền Internet; tốc độ đường truyền chậm

-Chi phí sử dụng Internet còn cao so với các nước khác, khoảng 20-50% (JETRO) (Để phổ cập Internet, năm 2006 Singapore xây dựng cả trăm địa điểm sử dụng Internet không dây (wiless) miễn phí)

-Thiếu nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển công nghệ thông tin nói chung và thương mại điện tử nói riêng Theo khảo sát, hiện lực lượng công nghệ thông tin

chỉ mới đáp ứng 1/5 nhu cầu và chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế, ít người am hiểu bài bản về thương mại điện tử

Thứ hai, tốc độ ứng dụng thương mại điện tử trong các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế còn chậm

Chỉ 70% các doanh nghiệp có hoạt động thương mại quốc tế có nối kết Internet (trong khi đó, ở các nước trong khu vực là 100%) Trong số có kết nối mạng thì có đến gần 50% chỉ sử dụng những hoạt động điện tử đơn giản như gửi thư, nhận thư Các trang web của các doanh nghiệp có nội dung cũ, không bắt mắt, hiệu quả thể hiện thấp

Thứ ba, nhiều trang web công của Thành phố Hồ Chí Minh đã có cải tiến

nhưng chưa phục vụ có hiệu quả và mang tính chuyên cho các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh quốc tế Chưa có trang web nào hay như trang web của cơ quan xúc tiến thương mại của Thổ Nhĩ Kỳ (trang web www.yurdal.com )

Thứ tư, cơ sở pháp lý hỗ trợ cho giao dịch điện tử còn thiếu; chưa có luật giao

dịch thương mại điện tử riêng

Kết luận: hạ tầng để phát triển thương mại điện tử Thành phố Hồ Chí Minh

đã có những bước phát triển nhanh Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

Trang 18

Tuy nhiên, với sự hoạt động của hệ thống dịch vụ môi giới và tư vấn thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn có những tồn tại sau đây ảnh hưởng

cản trở đến việc đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

Hệ thống có chất lượng dịch vụ chưa cao, cho nên chưa được nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Thành phố hưởng ứng thuê dịch vụ

Hệ thống

Dịch vụ môi giới

và tư vấn công

Các văn phòng đại diện nước ngoài tại Việt Nam

Các DN Việt Nam lập chi chánh Văn phòng ĐDNN

Các doanh nghiệp dịch vụ môi giới và tư vấn

Hiệp hội các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam

Hiệp hội các ngành hàng

Trang 19

2.2.2.5 Đánh giá nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động thương mại quốc tế:

Sau 20 năm đổi mới (1986-2006), Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đào tạo lớn của khu vực phía Nam với 84 trường, trong đó 60 trường đại học, 19 trường cao đẳng, 27 trường trung học chuyên nghiệp Hiện có trên 300.000 người

đang theo học Nghiên cứu riêng về nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố, nhóm nghiên cứu đưa ra các nhận xét sau:

*Về thành công:

Đã hình thành một lớp thương gia, các nhà quản trị, kinh tế có trình độ chuyên môn và Anh ngữ làm trong các công ty dịch vụ thương mại quốc tế: buôn bán, tài chính, bảo hiểm, logistics, vận tải, giao nhận… Một số người được đào tạo bài bản ở nước ngoài, đội ngũ làm thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh đông về số lượng và được xem là có kinh nghiệm nhất nước

*Về những hạn chế:

Đội ngũ doanh nhân làm thương mại quốc tế còn yếu so với các nước trong khu vực, đặc biệt là so với Hongkong và Singapore: chưa có người có khả năng lãnh đạo bao quát hoạt động kinh doanh thương mại mang tính khu vực và toàn cầu

Là thành phố lớn nhất nước nhưng tỷ lệ người giao tiếp tiếng Anh thành thạo trong các công sở, các ngân hàng, các trung tâm thương mại còn ít

Tóm lại, nguồn nhân lực của Thành phố ở thời điểm hiện tại chưa đáp ứng

yêu cầu phát triển thương mại quốc tế

2.2.2.6 Tổng kết về khả năng trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực

của Thành phố Hồ Chí Minh:

(1) Vị trí địa lý +Nằm cách đều thủ đô

của các nước trong khu vực

+Nằm trung tâm vùng

kinh tế lớn nhất ở Việt Nam

-Cảng nằm sâu trong lục

địa

Trang 20

(2) Về giao thông vận tải Là tỉnh duy nhất có cả 5

phương tiện vận tải nối

kết với quốc tế: đường biển; đường sắt; đường hàng không; đường bộ

Đường sắt chưa nối với Đồng bằng Sông Cửu Long và với các nước Đông Nam Châu Á

(3) Về cơ sở hạ tầng

khác phục vụ cho thương

mại quốc tế: công ty tài

chính; ngân hàng; hệ

thống kho, bãi; công ty

môi giới; công ty pháp

(4) Khả năng phân phối

và điều phối hàng hóa

giữa các nước:

-do chính Thành phố sản

-Chưa có tập đoàn thương

mại quốc tế lập căn cứ điểm

(5) Thể chế chính sách

có liên quan đến thương

mại

Hệ thống luật điều tiết thương mại tương đối đầy đủ, ngày càng hoàn thiện theo tinh thần WTO

-Chưa có cơ chế riêng

mang tính hấp dẫn để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

-Một số cơ chế thương

mại quốc tế và dịch vụ hỗ trợ thương mại còn thiếu

(6) Thủ tục hành chính và

tham nhũng (quản lý nhà

nước; hải quan; thuế…)

Ngày càng cải thiện Vẫn chưa tác động tốt đến

thương mại quốc tế

(7) Nguồn nhân lực:

-ở cơ quan quản lý nhà

nước

-ở các doanh nghiệp dịch

vụ thương mại

-ở các nhà thương mại

Ngày càng nâng cao -Chưa chuyên nghiệp

-Tiếng Anh và các sinh

ngữ khác còn yếu

-Trình độ thương mại chưa

cao

Trang 21

CHƯƠNG 3:

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ XÂY DỰNG THÀNH PHỐ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA

KHU VỰC

3.1 MỤC TIÊU - QUAN ĐIỂM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

3.1.1 Mục tiêu các giải pháp:

(1) Duy trì, củng cố vị trí của Thành phố là trung tâm thương mại của Việt Nam (vì đây là cơ sở quan trọng để Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế) (2) Đề xuất dự án tiền khả thi để biến Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực vào năm 2025

3.1.2 Quan điểm đề xuất giải pháp:

Nhóm nghiên cứu đề xuất các chiến lược giải pháp dựa trên 5 quan điểm:

3.1.2.1 Quan điểm phải coi phát triển hoạt động thương mại quốc tế là phát

triển lợi thế so sánh của Thành phố:

Với quan điểm này, theo nhóm nghiên cứu, thương mại quốc tế của Thành phố

về lâu dài không đi theo hướng chế biến sản xuất hàng xuất khẩu, mà phát triển các dịch vụ thương mại quốc tế: dịch vụ môi giới hàng hoá; phân phối hàng;

logistics; trung tâm đấu giá hàng hoá; chuyển tải hàng…

Là nơi có nguồn nhân lực dồi dào và có môi trường hấp dẫn nhân tài đến làm

việc… Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy rằng nếu Thành phố phát triển mạnh

theo hướng chế biến hàng xuất khẩu thì sự phát triển mang tính lệ thuộc cao vì Thành phố không có nguồn nguyên liệu, thêm vào đó đòi hỏi khối lượng lớn lao động Ngoài ra, các ngành chế biến hàng xuất khẩu gây ô nhiễm môi trường hơn so với phát triển các ngành dịch vụ xuất khẩu

3.1.2.2 Quan điểm nhiều vấn đề mang ý nghĩa quyết định để Thành phố trở

thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

Những vấn đề này nằm ngoài tầm giải quyết của lãnh đạo Thành phố như: cơ chế chính sách thông thoáng về thương mại; về chính sách hải quan; về thuế… Cho

Trang 22

3.1.2.4 Quan điểm về tính cạnh tranh mang tính vượt trội:

Thành phố Hồ Chí Minh trong chiến lược phát triển trở thành trung tâm thương mại quốc tế đã đi sau so với các nước khác như Hongkong hoặc Singapore đến vài

chục năm Cho nên, Thành phố phát triển trong điều kiện: các trung tâm thương

mại – tài chính của khu vực đã hình thành, nếu môi trường kinh doanh thương mại của Thành phố Hồ Chí Minh không tốt, mang tính cạnh tranh vượt trội hơn thì khó lôi kéo các nhà thương mại quốc tế dịch chuyển, thay đổi địa điểm kinh doanh của mình

3.1.2.5 Quan điểm liên kết để phát triển trung tâm thương mại quốc tế của khu

vực:

Theo khảo sát của nhóm nghiên cứu, xét trên tất cả các tiêu chí về trung tâm thương mại – tài chính khu vực; về thể chế chính sách; cơ sở hạ tầng; tính cạnh tranh môi trường kinh doanh; quy mô kinh doanh; nguồn nhân lực… so với Singapore và Hongkong thì Thành phố Hồ Chí Minh phải vài chục năm nữa mới đạt ở mức hiện tại của các nước này (có chuyên gia nước ngoài đánh giá 100 năm nữa) Như vậy, về phương diện lý thuyết, Thành phố Hồ Chí Minh không thể thay thế vị trí và vai trò trung tâm thương mại – tài chính quốc tế của Singapore, Hongkong, nhưng theo nhóm nghiên cứu nếu xây dựng cơ chế tốt ở tầm Chính phủ thì việc liên kết để

trở thành một khu vực trung tâm thương mại quốc tế Singapore và Thành phố Hồ

Chí Minh có thể xảy ra sớm hơn

3.2 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP:

3.2.1Cơ sở mang yếu tố quốc tế:

3.2.1.1 Những dự báo mà đề án phải tính đến khi xây dựng các giải pháp:

¾ Vùng Đông và Đông Nam Châu Á sẽ trở thành khu vực thương mại tự do lớn nhất toàn cầu trong 10 năm tới:

Trang 23

• ASEAN xây dựng khối TỪ khu vực mậu dịch tự do (FTA – liên kết kinh tế bậc thấp) TRỞ THÀNH cộng đồng kinh tế (Economic Union – liên kết kinh tế bậc cao) vào năm 2020 hoặc sớm hơn vào năm 2015

• ASEAN và Trung Quốc sẽ xây dựng khu vực mậu dịch tự do (FTA) vào

năm 2010 (đã có văn bản thoả thuận) và khu vực mậu dịch tự do lớn nhất toàn cầu

này đã có những bước khởi động rất tích cực

Nhiều khả năng trước năm 2020, một siêu khu vực mậu dịch tự do ra đời,

bao gồm: ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, thậm chí Ấn Độ cũng có dự

kiến tham gia siêu FTA này

Tại diễn đàn Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tại Hà Nội tháng

11/2006, các nước đã bàn đến kế hoạch xây dựng APEC trở thành khu vực mậu dịch tự do (FTA) để thúc đẩy nhanh tiến trình toàn cầu hoá về thương mại, đầu tư

và dịch vụ giữa các nước thành viên vào năm 2020

¾ Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế lớn của thế giới, đe dọa vị thế kinh tế của nhiều nước: Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU… Cho nên, sẽ xuất hiện những

chiến lược phân tán sự tập trung kinh tế Và sự tìm kiếm (hoặc sự tất yếu hình

thành) các trung tâm thương mại quốc tế mới gần Trung Quốc sẽ xảy ra

¾ Các rào cản trong hoạt động thương mại, thuế quan và phi thuế quan sẽ giảm thiểu

3.2.1.2 Lộ trình cam kết mở cửa nền kinh tế Việt Nam:

Khi đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành

trung tâm thương mại quốc tế của khu vực, nhóm nghiên cứu đã quán triệt đầy đủ

lộ trình “mở cửa” nền kinh tế Việt Nam theo nội dung cam kết song phương và đa phương

3.2.2 Cơ sở thực tiễn:

¾ Đề án và các giải pháp thực hiện đề án xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực được nhóm nghiên cứu dựa vào phân tích thực trạng xuất nhập khẩu của Thành phố đứng trên giác độ là trung tâm thương mại quốc tế của Việt Nam và khu vực (phân tích ở Chương 2)

¾ Ngoài ra, đề án và các giải pháp mà nhóm nghiên cứu đưa ra được dựa vào:

• Phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ tháng 12/2006 về quy hoạch phát triển giao thông vận tải của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020

• Dựa vào kết quả nghiên cứu tư vấn của Công ty Nikken Sekkei (Nhật Bản) về quy hoạch xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị lớn của khu vực

Trang 24

3.3 NHỮNG CHIẾN LƯỢC VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ ĐƯA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRỞ THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ CỦA KHU VỰC:

3.3.1 Liệt kê SWOT:

Đây là cơ sở để xây dựng các định hướng chiến lược đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

3.3.1.1 Điểm mạnh cần phát triển (S):

S 1 – Thành phố Hồ Chí Minh đang là trung tâm thương mại quốc tế ở Việt

Nam

S 2 – Là nơi có dịch vụ tài chính tốt nhất Việt Nam

S 3 – Thành phố có gần đủa các loại hình vận tải phục vụ cho kinh doanh quốc

tế

S 4 – Có hệ thống kho lớn bắt đầu được hiện đại Đặc biệt ngày 29/6/2007, kho

ngoại quan vàng đầu tiên của Việt Nam được lập tại Thành phố Hồ Chí Minh

S 5 – Thành phố Hồ Chí Minh đang là nơi tập trung hơn 3000 văn phòng đại

diện nước ngoài - là những đầu mối nối kết hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ giữa trong và ngoài nước

S 6 – Thành phố là nơi thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài lớn

nhất Việt Nam

S 7 – Là nơi có nhiều tập đoàn kinh tế và các doanh nghiệp lớn của Việt Nam

đang hoạt động

S 8 – Đã hình thành thị trường lao động cao cấp, nhiều người trong số họ có

đẳng cấp quốc tế, có năng lực điều hành công ty đa quốc gia

S 9 – Thành phố đang xây dựng và hoàn thiện các trung tâm triển lãm quốc tế

– đây là cơ sở quan trọng để trở thành trung tâm thương mại quốc tế

S 10 – Hai khu chế xuất thuần túy duy nhất của Việt Nam đều đóng trên địa

bàn Thành phố và đang là những khu chế xuất hoạt động tốt nhất của khu vực, đang hấp dẫn các công ty đa quốc gia vào hoạt động

S 11 – Thành phố Hồ Chí Minh có đội ngũ lãnh đạo tâm huyết và được sự ủng

hộ mạnh mẽ của trung ương

Trang 25

3.3.1.2 Những điểm yếu quan trọng cản trở Thành phố trở thành trung tâm

thương mại quốc tế của khu vực (W):

W 1 – Môi trường kinh doanh thương mại và dịch vụ của Thành phố chưa tốt (so với các trung tâm thương mại khác của khu vực như Hongkong và

Singapore):

- Vẫn chưa có hoạt động kinh tế thị trường đầy đủ (còn có sự can thiệp của

các cơ quan quản lý nhà nước nhiều vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp:

cơ quan quản lý nhà nước như Bộ, UBND các cấp tham gia quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước…)

- Sự mở cửa "kinh tế" với thế giới chỉ mới trong giai đoạn đầu của lộ trình tự do hoá thương mại

- Sự hỗ trợ các nhà đầu tư, nhà kinh doanh thương mại của chính quyền Thành phố chỉ mới dừng lại chủ yếu ở giai đoạn ban đầu cấp giấy phép đầu tư

- Vẫn nảy sinh giữa chủ trương chính sách của Thành phố và của trung ương

gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động thương mại quốc tế nói riêng…

W 2 – Hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh so với Hongkong và Singapore quá nhỏ (kim ngạch xuất nhập khẩu của Thành phố chỉ

bằng 1/30 so với các nước này)

W 3 – Hiệu quả xuất khẩu thấp; trị giá gia tăng của sản phẩm xuất khẩu,

nhập khẩu qua địa bàn Thành phố thấp

W 4 – Phương thức kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu chưa đa dạng và còn lạc

hậu (gia công xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao)

W 5 – Cơ sở hạ tầng phục vụ cho kinh doanh thương mại quốc tế như: giao thông vận tải; hệ thống kho; Internet… so với các nước trong khu vực còn yếu, không thuận lợi, chi phí dịch vụ thương mại còn cao

W 6 – Hệ thống tài chính – ngân hàng, chứng khoán của Thành phố tuy tốt nhất so với cả nước, nhưng so với các trung tâm tài chính khác còn yếu, mới chỉ ở

giai đoạn đầu của quá trình phát triển phục vụ cho kinh tế thị trường; các hình thức dịch vụ còn ít

W 7 – Tỷ lệ các công ty đa quốc gia lớn đầu tư hoặc lập văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh còn ít Hoa Kỳ chưa có công ty thương mại nào đầu tư

vào Việt Nam Phải chăng là họ chưa cho rằng môi trường hoạt động thương mại của Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng chưa hấp dẫn?

Trang 26

W 8 – Tính cạnh tranh - sức hấp dẫn của môi trường kinh doanh của Thành

phố còn thấp (các chỉ số so với khu vực còn thấp)

W 9 – Tỷ lệ các hình thức kinh doanh thương mại hiện đại còn chiếm tỷ trọng thấp: thương mại qua siêu thị và đại siêu thị của Thành phố chiếm chưa đầy

20% doanh thu; thương mại điện tử mới trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, chưa phổ biến Điểm yếu này sẽ tác động đến khả năng thu hút khách du lịch quốc tế; đến thương mại điện tử quốc tế

W 10 – Số lượng văn phòng đại diện; các trung tâm thương mại của Thành phố ở nước ngoài còn quá ít, chưa là nơi hỗ trợ có hiệu quả cho việc phát triển hoạt

động thương mại quốc tế của Thành phố

W 11 – Dường như Thành phố Hồ Chí Minh chưa có trung tâm giao dịch

hàng hoá hoặc đấu giá hàng hoá mang tính khu vực và quốc tế

W 12 – Thành phố chưa có nơi tổ chức các hội chợ thương mại quốc tế thường

xuyên và có uy tín

W 13 – Số lượng nguồn nhân lực chưa đủ; chất lượng nguồn nhân lực còn yếu

để đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động thương mại và dịch vụ mang tính khu vực và quốc tế (trình độ Anh ngữ và năng lực làm thương mại quốc tế)

3.3.1.3 Những cơ hội cần xây dựng chiến lược để nắm bắt nhằm xây dựng

Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực (O):

O 1 – Việt Nam đã gia nhập WTO; Chính phủ Việt Nam quyết tâm thúc đẩy

thực thi các cam kết lộ trình mở cửa nền kinh tế Việt Nam:

- Xây dựng đầy đủ hệ thống pháp lý

- Quyết tâm xây dựng Nhà nước – pháp quyền

- Cải cách thủ tục hành chính theo hướng chuyển từ quản lý doanh nghiệp

sang phục vụ doanh nghiệp

- Xây dựng môi trường kinh doanh mang tính bình đẳng, minh bạch và ổn

định

O 2 – Sau APEC Hà Nội (tháng 11/2006), các công ty đa quốc gia hàng đầu

thế giới đã chú ý đến Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư hoặc kiếm cơ hội kinh doanh Tiếp theo sự kiện Tập đoàn Công nghệ thông tin Intel đang triển dự án trên 1 tỷ USD vào khu công nghệ cao Thành phố, thì ngày 05/02/2007, Công ty máy tính hàng đầu của Hoa Kỳ và thế giới IBM đã khai trương trung tâm dịch vụ toàn cầu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh… Công nghệ thông tin phát triển và tạo

Trang 27

O 4 – Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng được coi là điểm đến của các nhà đầu tư và các nguồn vốn đầu tư ODA quốc tế Các nguồn

vốn sẽ góp phần phát triển cơ sở hạ tầng cho hoạt động thương mại quốc tế phát triển; góp phần thúc đẩy tốc độ và kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh tăng cao

O 5 – Sự phát triển mạnh mẽ nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hoạt động thương mại quốc tế

3.3.1.4 Những thách thức cần chủ động đề xuất các giải pháp hạn chế các bất

lợi để Thành phố Hồ Chí Minh duy trì là trung tâm thương mại quốc tế của Việt Nam và trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực (T):

T 1 – Kế hoạch xây dựng các cơ sở hạ tầng thương mại mới của phía Nam (Việt Nam) làm giảm vai trò là trung tâm thương mại quốc tế ở Việt Nam của

Thành phố Hồ Chí Minh

Sự di dời cảng quốc tế đến khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu; xây dựng sân bay hàng hoá quốc tế lớn tại Long Thành (Đồng Nai); kế hoạch nâng cấp cảng Cần Thơ trở thành cảng xuất nhập khẩu hàng hoá lớn của Đồng bằng sông Cửu Long… sẽ tác động không thuận lợi đến vai trò là trung tâm thương mại quốc tế của Việt Nam và ảnh hưởng hạn chế đến việc phát triển Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

T 2 – Các nước và lãnh thổ lân cận, đặc biệt là Singapore, Hongkong và Dubai vẫn tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh doanh của mình để duy trì vai trò

trung tâm thương mại quốc tế của khu vực; trong khi đó, thứ hạng về môi trường kinh doanh của Thành phố ở mức quá thấp

T 3 – Thượng Hải và Thẩm Quyến của Trung Quốc đang có nhiều nỗ lực để

trở thành trung tâm tài chính - thương mại của khu vực Đông Bắc Á, điều này làm phân tán (suy giảm) khả năng trở thành trung tâm thương mại quốc tế khu vực của Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 28

T 4 – Việt Nam chưa được thừa nhận là nền kinh tế thị trường trong 12 năm tới (đến năm 2018) Điều này tác động không nhỏ đến phát triển hoạt động

thương mại quốc tế của Thành phố nói riêng và của Việt Nam nói chung

T 5 – Tăng tốc phát triển thương mại quốc tế nhanh sẽ gặp phải các rào cản

thương mại tinh vi hơn, quyết liệt hơn ở nước nhập khẩu: chống bán phá giá, các rào cản kỹ thuật…

Trên cơ sở 11 điểm mạnh; 13 điểm yếu; 05 nhóm cơ hội và 05 thách thức,

nhóm nghiên cứu đề xuất các chiến lược sau đây:

3.3.2 Các chiến lược để xây dựng Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực:

Từ các phân tích SWOT về khả năng xây dựng Thành phố trở thành trung tâm thương mại dịch vụ của khu vực nêu ở mục 3.3.1, nhóm nghiên cứu đề xuất các chiến lược sau đây:

3.3.2.1 Chiến lược khắc phục điểm yếu để phát huy điểm mạnh: BIẾN THÀNH

PHỐ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LỚN

Nội dung chiến lược:

• Xây dựng các khu dịch vụ logistics ở các khu vực có điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng thuận lợi, cụ thể nhóm nghiên cứu đề xuất 3 khu công nghiệp sau đây:

- Khu công nghiệp Hiệp Phước được Thành phố Hồ Chí Minh quy hoạch

2000ha, hiện chỉ mới sử dụng vài trăm hecta cho xây dựng cảng và liên doanh với Cộng hoà Liên bang Đức để quy hoạch xây dựng thành phố cảng Tại đây nên xây

dựng khu logistics khoảng 50ha với hệ thống kho và cảng hiện đại

- Khu công nghiệp Cát Lái nên dành 10ha xây dựng khu logistics

- Khu chế xuất Tân Thuận dành 10ha cho xây dựng khu logistics để phát huy

lợi thế về cơ chế là Chính phủ đã cho phép bổ sung công năng cho khu chế xuất

Tân Thuận: cho phép thành lập các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại:

dịch vụ logistics, dịch vụ vận tải, kho vận…

Sở dĩ nhóm nghiên cứu chọn 3 khu công nghiệp kể trên để quy hoạch phát

triển logistics là vì cả 3 đều nằm sát cảng và có cảng riêng phục vụ cho hoạt động kinh doanh thương mại Ngoài ra, có tuyến đường bộ nối liền với các khu vực khác của Thành phố và các tỉnh khác trong Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam

Trang 29

*Đối tượng dịch vụ của các công ty logistics:

+Các doanh nghiệp ở Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tây Nam bộ sử dụng nguyên vật liệu, linh kiện, vật tư nhập khẩu (doanh nghiệp trong nước và các nhà đầu tư FDI)

+Các doanh nghiệp của các nước trong khu vực sử dụng hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu, linh kiện của các trung tâm logistics hoặc của các công ty cung ứng của các tập đoàn lớn

+Các doanh nghiệp xuất khẩu có nhu cầu đưa hàng bán ra nước ngoài

+Các doanh nghiệp có nhu cầu đóng gói, vận chuyển hàng hoá…

*Nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng các khu logistics:

+Các công ty cơ sở hạ tầng bỏ vốn

+Kêu gọi các công ty logistics trong và ngoài nước vào hoạt động

+Khuyến khích xây dựng công ty cổ phần bằng cách phát hành chứng khoán

*Cơ chế ưu đãi:

+Thành phố có thể thực hiện trợ lãi suất khi doanh nghiệp vay vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng của khu logistics

+Doanh nghiệp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công ty logistics được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi

+Thành phố hỗ trợ xúc tiến đầu tư để lôi kéo các tập đoàn logistics lớn vào hoạt động

™ Thời gian thực hiện chiến lược BIẾN THÀNH PHỐ TRỞ THÀNH TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ LỚN (2007 – 2010)

™ Công việc chủ yếu thực hiện ở chiến lược này:

+Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển

+Xây dựng cơ chế phục vụ cho phát triển

™ Người chủ trì thực thi chiến lược: Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các Sở, Ban, ngành

™ Cơ quan hỗ trợ: Lãnh đạo Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

™ Kết quả thực thi chiến lược:

+Thành phố Hồ Chí Minh duy trì là trung tâm thương mại quốc tế của miền

Nam Việt Nam

+Tạo cơ sở hạ tầng và cơ sở pháp lý hình thành trung tâm thương mại quốc tế

của khu vực

Trang 30

3.3.2.2 Chiến lược phát triển điểm mạnh để nắm bắt cơ hội: XÂY DỰNG CÁC

TRUNG TÂM DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI – TÀI CHÍNH – DU LỊCH MỚI

Điểm mạnh lớn nhất của Thành phố Hồ Chí Minh so với Hongkong, Singapore và Dubai là vẫn còn có những khu vực (khu đất) có tiềm năng để phát triển dịch vụ

thương mại và tài chính, nhóm nghiên cứu chúng tôi đề xuất chiến lược: XÂY

DỰNG CÁC TRUNG TÂM DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI – TÀI CHÍNH – DU LỊCH MỚI

Có 2 nội dung lớn của chiến lược này:

(1) Xây dựng Cảng Sài Gòn và một phần Quận 4 và 2 trở thành trung tâm dịch vụ thương mại – tài chính – du lịch lớn nhất Việt Nam

a Cơ sở đề xuất:

- Cảng Sài Gòn chuẩn bị di dời

- Quận 2 và Quận 4 chỉ cách phố tài chính (Quận 1) một cái cầu

- Với cơ sở hạ tầng hiện tại của Cảng Sài Gòn có thể trở thành cảng hành

khách quốc tế

b Tổ chức thực hiện chiến lược: bằng các giải pháp:

*Xây dựng công ty cổ phần phát triển cơ sở hạ tầng Cảng Sài Gòn phục vụ

phát triển tài chính, thương mại và du lịch của Thành phố

Nhiệm vụ của công ty này:

- Xây dựng hoặc thuê xây dựng quy hoạch tổng thể và chi tiết cơ sở hạ

tầng phục vụ phát triển tài chính, thương mại và du lịch Lưu ý: quy hoạch của khu này phải dựa vào quy hoạch chung của Thành phố; thứ nữa, có thể thuê nước ngoài

xây dựng quy hoạch với sự phê duyệt của Ủy ban Nhà nước

- Xây dựng phương án tài chính để tổ chức triển khai quy hoạch

- Cho thuê dài hạn đất, các cơ sở hạ tầng… để các công ty trong và ngoài

nước vào hoạt động

- Xây dựng dự án khả thi cho tổng dự án và các dự án con và tìm kiếm đối

tác triển khai dự án

*Xác định hoạt động của quần thể Cảng Sài Gòn và các khu vực lân cận:

- Biến các kho giữ hàng (vốn là tài sản của các công ty thuộc hệ thống

Cảng Sài Gòn) dọc đường Nguyễn Tất Thành trở thành các trung tâm giao dịch tài

chính, chứng khoán, ngân hàng

Trang 31

- Xây dựng khu cảng trở thành trung tâm thương mại – du lịch – nhà hàng hấp dẫn đạt tiêu chuẩn quốc tế Biến nơi đây trở thành Hongkong nhỏ hoặc Dubai

với nhiều ưu đãi để thu hút các nhà đầu tư – dịch vụ trong và ngoài nước đổ vốn

vào kinh doanh

DỰ TRÙ KẾT QUẢ KHI THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC NÀY:

• Xây dựng khu phố tài chính – ngân hàng của Việt Nam và khu vực (phố Wall Việt Nam)

• Thúc đẩy sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế của Thành phố theo hướng phát triển thương mại – dịch vụ

• Giảm ô nhiễm, giảm sự quá tải về cơ sở hạ tầng như hiện nay do các xe container, xe tải hàng hoá chạy quá nhiều

• Biến vùng đất phức tạp như Quận 4 trở thành vùng kinh tế cao cấp với các công dân kinh doanh tài chính, chứng khoán, dịch vụ thương mại…

• Góp phần đưa Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực trong 25 năm tới

(2) Xây dựng một phần Khu chế xuất Tân Thuận trở thành khu thương mại tự do

a Cơ sở đề xuất giải pháp:

- Khu chế xuất Tân Thuận hiện hữu còn đất trống, ở sát cảng và gần khu vực

triển lãm Saigon (Saigon Exhibition and Convention Centre) tại khu Phú Mỹ Hưng

đã được Bộ Kế hoạch Đầu tư cấp giấy phép, có tổng vốn đầu tư 200 triệu USD

- Khu chế xuất Tân Thuận đã được đền bù giải tỏa sẵn sàng cho công cuộc

đầu tư

- Dự án đại lộ Đông Tây sẽ hòan thành toàn bộ vào cuối năm 2009, sẽ tạo ra

cơ sở hạ tầng nối kết giữa khu thương mại tự do Tân Thuận với các tỉnh trong khu

vực

b Tổ chức và cơ chế hoạt động tại khu thương mại tự do ở khu chế xuất Tân Thuận mở rộng (quy hoạch riêng):

*Các hoạt động trong khu thương mại tự do:

- Kinh doanh dịch vụ logistics

- Hoạt động thương mại xuất nhập khẩu

Trang 32

- Xây dựng khu triển lãm quốc tế hàng nông sản và hàng hoá công nghiệp

nhẹ: giày dép; đồ da; hàng dệt may; đồ gỗ… Trong khu triển lãm có xây dựng các

gian hàng giới thiệu sản phẩm của các ngành hàng (các hiệp hội ngành hàng thuê)

- Xây dựng khu đấu thầu và đấu giá hàng hoá và dịch vụ quốc tế Ưu tiên

xây dựng các sàn giao dịch hàng hoá mà Việt Nam đang có lợi thế: hồ tiêu, đứng đầu thế giới về xuất khẩu (chiếm gần 60% giá trị xuất khẩu tiêu của thế giới); các

mặt hàng xuất khẩu đứng thứ hai thế giới: điều nhân; gạo, cà phê…

- Hoạt động của các trung tâm tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phục vụ cho

kinh doanh thương mại

- Hoạt động của các trung tâm mua sắm miễn thuế nhằm thu hút khách du

lịch

- Hệ thống các nhà hàng khách sạn

- Phát triển các loại hình kinh doanh nhạy cảm: cá cược, casino

(Singapore sau một thời gian dài cấm kinh doanh, thì 2 năm trở lại đây cho phép phát triển casino, cá cược nhằm cạnh tranh thu hút các nhà đầu tư, các du khách

nước ngoài)

*Cơ chế hoạt động của khu thương mại tự do:

- Hàng hoá được miễn hoàn toàn thuế xuất nhập khẩu khi hoạt động thương

mại với nước ngoài

- Bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan: giấy phép, hạn ngạch…

- 5 năm đầu tiên khu thương mại đi vào hoạt động hàng xuất khẩu vào khu

thương mại tự do, thuế bằng 0, còn mua hàng từ khu thương mại vào nội địa phải chịu thuế nhập khẩu (nếu có) Đề xuất này kích thích khu thương mại tự do có điều kiện thuận lợi ban đầu trong triển khai, nhờ đó mà thu hút nhanh hơn các nhà đầu tư

trong và ngoài nước vào hoạt động

- 5 năm sau đó hoạt động thương mại giữa nội địa và khu thương mại tự do

là hoạt động ngoại thương

- Các doanh nghiệp hoạt động trong khu thương mại tự do được hưởng thuế

thu nhập doanh nghiệp ưu đãi là 10%

- Thủ tục hải quan và quản lý trong khu thương mại tự do được tổ chức

thuận lợi nhất theo hướng hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển

Trang 33

c Cách thức tổ chức xây dựng khu thương mại tự do ở khu chế xuất Tân Thuận:

Cần thực hiện các bước:

Bước 1: xin chủ trương của trung ương

Bước 2: tổ chức thi mang tầm cỡ quốc tế xây dựng quy hoạch tổng thể khu

thương mại tự do

Bước 3: góp ý và có quy hoạch hoàn chỉnh

Bước 4: xin giấy phép thành lập khu thương mại tự do + thành lập Ban quản

lý khu thương mại tự do

Bước 5: vận động Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng góp vốn đầu tư

DỰ KIẾN HIỆU QUẢ KINH TẾ – XÃ HỘI:

• Góp phần biến Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm thương mại quốc tế hấp dẫn

• Góp phần chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế của Thành phố

• Biến vùng Phú Mỹ Hưng trở thành nơi đô thị có tầm cỡ quốc tế

3.3.2.3 Chiến lược phát huy điểm mạnh để hạn chế các nguy cơ: XÂY DỰNG

MÔI TRƯỜNG KINH DOANH MANG TÍNH CẠNH TRANH CAO TẠI

(1) Xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng

a Mục tiêu giải pháp:

- Xây dựng môi trường kinh doanh mà các quy luật giá trị là những công cụ

chủ yếu điều tiết hoạt động kinh doanh của Thành phố

- Các khu vực kinh tế ngoài quốc doanh sẽ chiếm vị trí chủ đạo, thúc đẩy sự

phát triển kinh tế Thành phố

- Hạn chế tối thiểu sự can thiệp của các cơ quan quản lý vào sự hoạt động

của các doanh nghiệp

b Các biện pháp thực hiện:

b 1 Thành phố Hồ Chí Minh xin thí điểm đi đầu thử nghiệm xoá bỏ cơ quan chủ quản nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước

Trang 34

Với giải pháp này thì không một Sở, Ban, Ngành, kể các doanh nghiệp do

Đảng, các đoàn thể, quân đội, công an… còn quản lý bất cứ doanh nghiệp nào nữa Muốn làm tốt điều này, UBND chủ trì thực hiện các bước:

Bước 1: xin cơ chế trung ương để tiến hành quyết liệt trong 2007-2008 Việc

xoá bỏ cơ quan chủ quản đối với các doanh nghiệp nhà nước do Thành phố quản lý

Bước 2: song song với việc thành lập và củng cố tổng công ty quản lý vốn Nhà nước là thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, mà số vốn của Nhà

nước nắm chỉ ở mức tối thiểu

Bước 3: Tổng công ty quản lý vốn Nhà nước xây dựng cơ chế khuyến khích

thi tuyển hoặc thuê giám đốc trong và ngoài nước điều hành doanh nghiệp nhà nước

b 2 Xin thí điểm lập phương án tổ chức bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ

Với giải pháp này, chúng tôi kiến nghị Thành phố nên chủ động lập phương án ghép các Sở, Ban, Ngành theo chức năng Ở đây, nhóm nghiên cứu xin đi sâu

vào việc lập Sở Quản lý Kinh tế trên cơ sở ghép các Sở: Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở

Thương mại, Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp, Sở Du lịch, Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư…

Cơ sở đề xuất giải pháp:

- Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ cũng đang có phương án ghép Bộ (Bộ

Thương mại với Bộ Công nghiệp), làm cho bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ hơn

- Hiện tại, chức năng quản lý nhà nước còn trùng lắp, gây mâu thuẫn tác

động không thuận lợi đến các doanh nghiệp

- Yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trở nên cấp bách hơn bao giờ hết

Ích lợi của giải pháp:

- Chính sách “một cửa tại chỗ mang tính liên thông” quản lý nhà nước đối

với doanh nghiệp đi vào thực tiễn dễ dàng hơn

- Bộ máy quản lý nhà nước gọn nhẹ, dễ vận hành

- Giảm số công chức ăn lương Nhà nước Kích thích cán bộ công chức nhà

nước nâng cao trình độ và ý thức phục vụ doanh nghiệp

- Tránh tình trạng quá nhiều đầu mối ban hành cơ chế chính sách, giấy phép

con gây phiền hà cho doanh nghiệp

- Làm môi trường kinh doanh của Thành phố thêm hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước Môi trường đầu tư thuận lợi, mang tính cạnh tranh cao là

Trang 35

yếu tố quan trọng nhất làm cho Thành phố trở thành trung tâm thương mại

quốc tế của khu vực

(2) Xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, công khai

a Mục tiêu của giải pháp:

- Tăng tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh đáp ứng yêu cầu hội nhập

quốc tế

- Giảm hiện tượng tham nhũng; gây khó khăn cho doanh nghiệp chưa nắm

đầy đủ thông tin, cơ chế quản lý của Nhà nước

- Giảm chi phí về tiền bạc và thời gian cho doanh nghiệp

b Tổ chức thực hiện giải pháp:

*Nâng cao hiệu quả giao dịch Chính phủ điện tử:

- Hoàn thiện trang web của Thành phố và của các Sở, Ban, Ngành theo

hướng dễ tìm kiếm thông tin; cập nhật thường xuyên

- Mỗi Sở và UBND đều có bộ phận tư vấn và cung cấp thông tin theo địa

chỉ cho các doanh nghiệp

- Tăng cường sự giám sát của lãnh đạo UBND, các Sở, Ban, Ngành về sự

nối kết thông tin giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp (kể cả các

doanh nghiệp ngoài lãnh thổ của Thành phố Hồ Chí Minh)

- Xây dựng nguồn tài liệu mở cho doanh nghiệp sử dụng miễn phí (về hồ

sơ, thủ tục cấp giấy phép; hướng dẫn thuế; thủ tục hải quan; thủ tục cấp đất; xây dựng…; cung cấp thông tin về thị trường, về đối tác…) Muốn làm tốt được kiến nghị

này, đề nghị Sở Khoa học Công nghệ có đơn đặt hàng đối với Sở Công nghệ

Thông tin hoặc các trường đại học có nghiên cứu công nghệ thông tin chủ trì các đề tài có liên quan đến nâng cao hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh của các cơ

quan quản lý nhà nước

*Tăng tỷ lệ doanh nghiệp xuất nhập khẩu sử dụng thông quan điện tử:

Theo chúng tôi, UBND bàn với Cục Hải quan Thành phố chuyển mạnh từ

thông quan thủ công sang thông quan điện tử Muốn làm được điều này, cần giải quyết các vấn đề:

- Xây dựng tiêu chí các doanh nghiệp chuyển sang thông quan điện tử

- Đào tạo nguồn nhân lực cho hải quan giỏi về công nghệ thông tin, am hiểu

tường tận về nghiệp vụ hải quan điện tử

Trang 36

- Đầu tư thêm máy móc thiết bị đáp ứng yêu cầu kiểm hoá hải quan: chính

xác, nhanh gọn… góp phần chống buôn lậu nhưng cũng chống tham nhũng, tiêu cực,

không làm phiền các doanh nghiệp làm ăn chân chính

- Tổ chức tập huấn thường xuyên cho doanh nghiệp về cách thức thông

quan điện tử

*UBND và mỗi Sở, Ban, Ngành đều có hộp thư điện tử giải đáp thắc mắc,

yêu cầu của các doanh nghiệp, tiến tới các hộp thư này có thể thực hiện bằng 2 ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt

*Xây dựng cơ chế cạnh tranh trong việc phục vụ tốt các doanh nghiệp giữa các Sở, Ban, Ngành Vấn đề này theo nhóm nghiên cứu đề xuất:

- Cử cán bộ đầu ngành sang Singapore học hỏi

- Nghiên cứu tiêu chí đánh giá sự nỗ lực của các Sở, Ban, Ngành vừa làm

tốt công tác quản lý nhà nước vừa làm tốt công tác hỗ trợ doanh nghiệp phát triển

Tóm lại, một môi trường kinh doanh mang tính công khai, minh bạch góp phần

làm tăng tính hấp dẫn, góp phần thu hút các nhà đầu tư, giảm thiểu tham nhũng

(3) Đào tạo công chức nhà nước

“Cơ chế do con người xây dựng nên, cơ chế không thể thay đổi nếu như tư duy, đạo đức con người không thay đổi”

Công chức của Thành phố Hồ Chí Minh có những tồn tại lớn sau đây, tác

động hạn chế đến môi trường đầu tư, gây cản trở cho việc Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế trong tương lai gần:

- Đa số công chức quản lý chưa được đào tạo bài bản để làm công chức

- Tính chuyên nghiệp thấp

- Nhận thức vai trò hoạt động hành chính công trong quản lý nhà nước đối với

các doanh nghiệp còn hạn chế

Theo chúng tôi, đào tạo công chức trở nên cấp bách hơn bao giờ hết vì

công chức nhà nước là một bộ phận của môi trường kinh doanh và chính họ là những người góp phần thay đổi môi trường kinh doanh (thể chế, chính sách, thủ tục

hành chính, tính công bằng và minh bạch, tham nhũng…)

Trang 37

Các giải pháp đề xuất là:

*Tuyển chọn ra nước ngoài học tại các trường hành chính công; trường luật

nổi tiếng… Những người này trong 10-20 năm tới sẽ góp phần thay đổi về cách thức quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường

*Sử dụng nguồn vốn ODA đưa cán bộ ra nước ngoài học tập các khoá ngắn

hạn, nhưng theo nhóm cán bộ: quản lý nhà nước về đất đai; xây dựng; thương mại… Nên cử phiên dịch cho từng nhóm hoặc sử dụng sinh viên giỏi để giúp cho học viên học hỏi thấu đáo

*Liên kết với các trường nước ngoài thuê đào tạo tại chỗ

*Nhập khẩu mô hình quản lý hành chính công ở các nước và khu vực có môi

trường kinh doanh tốt: Singapore, Hongkong, Úc…

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC NÊU Ở MỤC 3.3.2.3:

Xây dựng môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao tại Thành phố được coi là chiến lược quan trọng, tạo ra không gian phát triển thương mại quốc tế, cộng với phát triển cơ sở hạ tầng và quy hoạch tốt và triển khai nhanh các khu dịch vụ – thương mại – tài chính sẽ làm cho Thành phố trở thành trung tâm thương mại quốc tế của khu vực

3.3.2.4 Chiến lược khắc phục điểm yếu để loại trừ và hạn chế khó khăn thách

thức: PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI Ở BÊN NGOÀI ĐỂ TỰ BIẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH TRUNG TÂM

Các giải pháp thực hiện chiến lược:

(1) Xây dựng các trung tâm thương mại quốc tế của Thành phố ở các thị trường lớn của khu vực và thế giới

a Mục tiêu giải pháp:

- Tạo ra cầu nối vững chắc giữa thương mại trong và ngoài nước để đưa hàng hoá Việt Nam qua dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh vào thị trường thế

giới và ngược lại, biến Thành phố là trung tâm phân phối hàng nhập khẩu đến các

doanh nghiệp đóng trên địa bàn phía Nam

- Quảng bá hoạt động kinh tế của Thành phố với thế giới: đầu tư; du lịch;

thương mại tài chính – đầu tư (dưới hình thức triển lãm; phòng trưng bày sản

phẩm…)

Trang 38

- Là nơi các doanh nghiệp Thành phố có thể thuê để đặt văn phòng đại diện

giao dịch kinh doanh

- Là nơi tổ chức hội thảo gặp gỡ các khách hàng

- Là nơi tổ chức hoạt động cung cấp thông tin về thị trường nước sở tại với

các doanh nghiệp của Thành phố như: thông tin về pháp luật; chính sách thuế; tình

hình cung cầu, về đối thủ cạnh tranh…

- Là nơi tổ chức bán lẻ hàng Việt Nam (siêu thị Việt Nam kết hợp với dịch

vụ ẩm thực Việt Nam)

b Cách thức tổ chức:

- Nhân rộng mô hình xây dựng trung tâm thương mại của Thành phố tại

Matxcơva (Nga)

- UBND làm cầu nối khuyến khích các doanh nghiệp của Thành phố liên

doanh với Việt Kiều, các nhà đầu tư nước ngoài đang làm ăn có hiệu quả tại Việt

Nam để xây dựng trung tâm thương mại quốc tế của Việt Nam tại nước ngoài

Lưu ý:

- Các trung tâm thương mại hoạt động như một doanh nghiệp, mà một phần

doanh thu có từ nguồn ngân sách xúc tiến thương mại và đầu tư của Thành phố; từ các hiệp hội ngành hàng; từ VCCI; từ tiền thuê văn phòng của các công ty mở văn

phòng đại diện

- Hoạt động đối ngoại của UBND cần được tăng cường để đạt được sự ủng hộ

của nước chủ nhà sở tại có ý nghĩa quan trọng để các trung tâm ra đời

- Cho phép học sinh Thành phố đang du học có thể làm bán thời gian tại các

trung tâm

c Các nơi kiến nghị mở ra các trung tâm thương mại quốc tế:

- Hoa Kỳ (Bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống)

Trang 39

(2) Khuyến khích các doanh nghiệp Thành phố đầu tư ra nước ngoài

a Mục tiêu giải pháp:

- Biến Thành phố trở thành nơi cung ứng nguyên vật liệu; thiết bị máy; nguồn nhân lực; hàng hoá cho các dự án đầu tư ra nước ngoài và là nơi tổ chức phân phối sản phẩm của các dự án này ở trong nước Ví dụ dự án đầu tư và khia

thác gỗ nguyên liệu tại Nam Phi, qua đầu mối của doanh nghiệp ở Thành phố phân

phối gỗ nguyên liệu đến các công ty chế biến gỗ tại Bình Dương, Đồng Nai…

- Giúp các doanh nghiệp thâm nhập sâu và bền vững vào thị trường các nước

- Giúp các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn khi khai thác lợi thế

so sánh của các nước khác

- Làm môi trường kinh doanh của Thành phố mang tính quốc tế cao hơn

b Những tồn tại:

- Việt Nam chưa có luật khuyến khích đầu tư ra nước ngoài

- Lĩnh vực này chưa được Nhà nước và UBND Thành phố quan tâm đúng

mức nên chưa nắm rõ khó khăn, thuận lợi để hỗ trợ các doanh nghiệp

- Doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài hiện vẫn trong tình trạng “tự bơi ra

biển”

c Những giải pháp:

- Sở Kế hoạch Đầu tư cần lập phòng quản lý nhà nước đối với hoạt động

đầu tư ra nước ngoài Chức năng của phòng, ngoài việc cấp giấy phép, còn cung cấp thông tin, phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước giải quyết khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp Hàng năm có báo cáo riêng với Ủy ban về tình hình

hoạt động và đề xuất các kiến nghị

- Nhà nước cần ban hành ngay luật hoặc cơ chế khuyến khích đầu tư ra

nước ngoài, vì đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam thâm nhập sâu

rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới

- Sở Ngoại vụ kết hợp với các Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Công thương, VCCI, Hiệp hội các doanh nghiệp xây dựng đề án tăng cường hợp tác với các đại sứ

quán của Việt Nam ở các nước, với các lãnh sự quán các nước đóng trên địa bàn Thành phố, các phòng thương mại các nước như JETRO (Nhật Bản); KOTRA (Hàn Quốc); AMCHAM (Hoa Kỳ); EUROCHAM (EU)… để hỗ trợ các doanh nghiệp Thành phố đầu tư thuận lợi ra nước ngoài (hỗ trợ thông tin; làm thủ tục; tìm kiếm cơ

hội; tháo gỡ khó khăn vướng mắc)

- Thành lập Hiệp hội các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài

Trang 40

(3) Giải pháp thứ ba để thực hiện chiến lược ở mục 3.3.2.4 – Khuyến khích các doanh nghiệp Thành phố đầu tư phát triển các khu thương mại cửa khẩu và các siêu thị bán buôn và bán lẻ tại Lào và Campuchia

a Mục tiêu giải pháp:

- Chẳng những biến Thành phố là trung tâm phân phối, điều hành hoạt

động thương mại của Việt Nam, mà còn trên toàn lãnh thổ các nước Đông Dương

- Cho phép các doanh nghiệp thương mại của Thành phố tận dụng các cơ chế ưu đãi của Nhà nước đối với kinh tế cửa khẩu ở biên giới và tận dụng cơ chế

chính sách mở cửa để hội nhập của Campuchia và Lào

- Mở rộng tầm ảnh hưởng của Thành phố Hồ Chí Minh lên toàn cõi Đông

Dương thông qua hoạt động thương mại

b Các biện pháp cụ thể:

- Với các trung tâm thương mại của các doanh nghiệp Thành phố đã xây dựng như Công ty Biti’s xây dựng tại cửa khẩu Lạng Sơn; Công ty Mai Linh đang

triển khai khu thương mại du lịch tại Lao Bảo (Lào)… thì Sở Công thương phối hợp

với các công ty này xúc tiến kêu gọi hợp tác khai thác để kinh doanh

- Ở các cửa khẩu khác thì Sở Công thương phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu

tư, Hiệp hội Công Thương, các công ty kinh doanh cơ sở hạ tầng tổ chức khảo sát, lên danh mục các cơ hội đầu tư và tổ chức xúc tiến kêu gọi các doanh nghiệp Thành phố đầu tư (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động

trên địa bàn Thành phố)

- Tổ chức thi thiết kế mẫu hình các trung tâm thương mại quốc tế cửa khẩu

(bao gồm cả các chức năng kho vận, logistics, du lịch, vui chơi giải trí) và tổ chức triển lãm giới thiệu cho các doanh nghiệp Công việc này có thể ủy quyền cho Hiệp

hội Kiến trúc sư Thành phố thực hiện

- UBND Thành phố nên tổ chức những đoàn công tác làm việc tại các tỉnh

biên giới có cửa khẩu và có nhiều tiềm năng phát triển thương mại dịch vụ để ký kết các biên bản hợp tác nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển thuận

lợi

- Khuyến khích các doanh nghiệp thương mại, sản xuất lớn của Thành phố

mở các cửa hàng, đại lý, siêu thị tại Lào và Campuchia Đây là những cửa hàng

chuyên bán hàng Việt Nam

Ngày đăng: 09/02/2015, 08:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thương mại, ngày 10/5/2000, “Dự thảo đề án tổ chức phát triển lưu thông hàng hoá và thị trường trong nước 2001-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo đề án tổ chức phát triển lưu thông hàng hoá và thị trường trong nước 2001-2010
2. Bộ Thương mại, ngày 10/5/2000, “Phác thảo phương hướng phát triển ngành thương mại trong thập kỷ tới 2001-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo phương hướng phát triển ngành thương mại trong thập kỷ tới 2001-2010
3. Bộ Thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2003, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển thị trường nội địa trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển thị trường nội địa trong điều kiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
4. Bộ Thương mại, tháng 5/2005, “Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát hoạt động phân phối tại một số nước Châu Âu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả nghiên cứu khảo sát hoạt động phân phối tại một số nước Châu Âu
6. Quyết định số 144A/2003 QD-UB ngày 11/8/2003 của UBND Thành phố “Quy hoạch phát triển hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển hệ thống chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
22. CIEM – UNDP “Chính sách phát triển kinh tế – kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc”, NXB Giao thông vận tải 3/2004, tập 1 và tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển kinh tế – kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải 3/2004
23. CIEM – SIDA “Hội nhập kinh tế – Áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước”, NXB Giao thông vận tải 9/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế – Áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải 9/2003
24. GS. TS. Hoàng Văn Châu và các tác giả, công trình nghiên cứu khoa học “Định hướng phát triển các ngành dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng phát triển các ngành dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ
26. PGS. TS. Bùi Tiến Quý và các tác giả “Phát triển và quản lý nhà nước về kinh tế dịch vụ”, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý nhà nước về kinh tế dịch vụ
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
27. Vũ Ngọc Anh “Các trở lực, hạn chế sự phát triển của trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh” Kỷ yếu hội thảo khoa học tháng 7/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trở lực, hạn chế sự phát triển của trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh
28. Bộ Thương mại, “Toàn bộ văn kiện cam kết của Việt Nam gia nhập WTO”, Nhà xuất bản Lao động xã hội 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Toàn bộ văn kiện cam kết của Việt Nam gia nhập WTO”
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội 2006
30. Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh “Tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, phương hướng và kế hoạch năm 2006” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Tình hình kinh tế xã hội Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005, phương hướng và kế hoạch năm 2006
31. ThS. Phạm Hữu Phương “Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm tài chính của cả nước và khu vực” Kỷ yếu hội thảo tháng 7/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm tài chính của cả nước và khu vực”
32. PGS. TS. Sử Đình Thành, đề tài nghiên cứu khoa học trọng điểm cấp bộ B-2005-22-97Tẹ “Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm thương mại quốc tế của cả nước trong bối cảnh hội nhập kinh teá quoác teá” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm thương mại quốc tế của cả nước trong bối cảnh hội nhập kinh teá quoác teá
33. Phạm Thị Ngọc Thu “Bì quyết hoá rồng của Singapore”, Tạp chí nghiên cứu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bì quyết hoá rồng của Singapore
34. GS TS Võ Thanh Thu “Những giải pháp phát triển các lọai hình hỗ trợ xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Thành phố năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp phát triển các lọai hình hỗ trợ xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
5. Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, phát hành tháng 4/2006 Khác
7. Nghị quyết 07-NQ/TW về hội nhập kinh tế của Bộ Chính trị ngày 27/11/2001 Khác
8. Chiến lược phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2001-2010 Bộ Thương mại Khác
9. Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ quy định về điều hành hoạt động xuất nhập khẩu giai đoạn 2001-2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước (Trang 11)
Bảng vài số liệu về hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh  so với Singapore và Hongkong năm 2004 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng v ài số liệu về hoạt động thương mại quốc tế của Thành phố Hồ Chí Minh so với Singapore và Hongkong năm 2004 (Trang 12)
Sơ đồ hệ thống dịch vụ môi giới và tư vấn xuất khẩu trên địa bàn Thành phố  Hoà Chí Minh - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Sơ đồ h ệ thống dịch vụ môi giới và tư vấn xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hoà Chí Minh (Trang 18)
Bảng 1.1: Vài nét về tình hình thương mại quốc tế của Hongkong - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 1.1 Vài nét về tình hình thương mại quốc tế của Hongkong (Trang 57)
Bảng 2.1: GDP của các khu vực kinh tế so với cả nước năm 2005 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.1 GDP của các khu vực kinh tế so với cả nước năm 2005 (Trang 79)
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2003-2005 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.3 Cơ cấu kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2003-2005 (Trang 80)
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng GDP của các khu vực kinh tế trên địa bàn Thành  phoá Hoà Chí Minh naêm 2002-2005 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.2 Tốc độ tăng trưởng GDP của các khu vực kinh tế trên địa bàn Thành phoá Hoà Chí Minh naêm 2002-2005 (Trang 80)
Bảng 2.5: Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.5 Kim ngạch xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước (Trang 81)
Bảng 2.4: Vài số liệu về thương mại nội địa và dịch vụ của Thành phố Hồ Chí  Minh so với cả nước - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.4 Vài số liệu về thương mại nội địa và dịch vụ của Thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước (Trang 81)
Bảng 2.6: Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Thành phố Hồ Chí Minh  thời kỳ 2001-2006 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.6 Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá của Thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 2001-2006 (Trang 82)
Bảng 2.7: Tốc độ phát triển xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so sánh với  cả nước - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.7 Tốc độ phát triển xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh so sánh với cả nước (Trang 82)
Bảng 2.10: Cách thức tìm đối tác xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của các  doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.10 Cách thức tìm đối tác xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản của các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (Trang 87)
Hình 2.1: Bảng xếp hạng các tỉnh, thành theo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp  tỉnh về môi trường kinh doanh ở Việt Nam năm 2006 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Hình 2.1 Bảng xếp hạng các tỉnh, thành theo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh về môi trường kinh doanh ở Việt Nam năm 2006 (Trang 90)
Bảng 2.12: Tình hình các định chế tài chính và ngân hàng của Thành phố Hồ  Chí Minh so với Việt Nam thời điểm tháng 12/2005 - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.12 Tình hình các định chế tài chính và ngân hàng của Thành phố Hồ Chí Minh so với Việt Nam thời điểm tháng 12/2005 (Trang 93)
Bảng 2.13: Một vài so sánh giữa 2 trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh  và Hà Nội (2005) - xây dựng thành phố hồ chí minh thành trung tâm thương mại quốc tế- vai trò, định hướng phát triển, chính sách và các giải pháp
Bảng 2.13 Một vài so sánh giữa 2 trung tâm tài chính Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội (2005) (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w