1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững

185 666 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 185
Dung lượng 6,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Việc nghiên cứu thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ được đề cập đến chất lượng nước, tình hình nhiễm mặn, nhiễm bẩn, nguồn hình thành trữ lượng, điển hình có tác giả Đoàn Văn Tí

Trang 1

TP.HỒ CHÍ MINH -[‘\ -

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIẺM THỦY ĐỊA HÓA CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHỤC VỤ QUI HOẠCH, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG

Cơ quan thực hiện : Sở Tài nguyên & Môi trường Tp.HCM

Chủ nhiệm đề tài : CN Nguyễn Thị Thu Hằng Đồng chủ nhiệm : ThS Nguyễn Văn Ngà

Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2007

Trang 2

TP.HỒ CHÍ MINH

-[‘\ -

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIẺM THỦY ĐỊA HÓA CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHỤC VỤ QUI HOẠCH, QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BỀN VỮNG

Sở khoa học & Công nghệ

Trang 3

Lời tựa

Thành phố Hồ Chí Minh với tốc độ phát triển lớn nhất nước, cho nên nước là một trong những nhu cầu cần thiết nhất Nước dưới đất là nguồn cung cấp nước sạch rất quan trọng, nhưng chưa được bảo vệ một cách đúng mức Tình trạng suy thoái nguồn nước là vấn đề mà thành phố đang phải đối mặt Tuy nhiên nhiều nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn rải rác và bỏ ngỏ Vì vậy đề tài nghiên cúu thủy địa hóa đã được giải quyết với mục đích phục vụ cho công tác quy hoạch quản lí tổng thể nguồn nước và bảo vệ môi trường bền vững

Kết quả của đề tài đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề sau:

• Làm sáng tỏ điều kiện địa chất thủy văn

• Xác lập được đặc điểm thủy địa hóa của ba tầng chứa nước chính (Pleistocen, Pliocen trên và Pliocen dưới)

• Tiến hành phân đới thủy địa hóa

Kết quả cho thấy theo phương thẳng đứng, vùng nghiên cứu có 4 dạng thủy hóa: ổn định, thuận, nghịch, hỗn hợp; theo phương nằm ngang từ bắc xuống nam hoặc đông bắc – tây nam, đa phần chất lượng nước có xu hướng biến đổi từ siêu nhạt -> nhạt -

> lợ -> mặn Bức tranh phức tạp về thủy địa hóa cho thấy vùng chủ yếu chịu ảnh hưởng quá trình xâm nhập mặn từ phía đông nam theo sông Nhà Bè; quá trình rửa lũa hòa tan trên con đường thấm của nước mưa cho nước dưới đất ở phía tây bắc, một phần đông bắc; quá trình hỗn hợp ven sông Sài Gòn và quá trình rửa nhạt không hoàn toàn của các quá trình biển tiến

• Đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn nitơ, sắt, vi sinh trong nước dưới đất

• Đánh giá khả năng nhiễm bẩn của tầng Pleistocen bằng phương pháp DRASTIC đã cho thấy vùng có khả năng nhiễm bẩn cao phân bố ở trung tâm thành phố, Củ Chi, Nhà Bè và vùng có khả năng nhiễm bẩn rất cao phân bố ở Phú Hòa Đông – Củ Chi, Linh Xuân – Thủ Đức, Đông Hưng Thuận – quận

Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lí, các trường học và làm cơ sở quy hoạch tổng thể quản lí tài nguyên nước của thành phố trong thời gian tới

Đề tài gồm có 162 trang thuyết minh, 26 biểu bảng, 8 hình vẽ, 12 bản đồ,

46 tài liệu tham khảo của các tác giả trong và ngoài nước

Đề tài được thực hiện dưới sự hướng dẫn của hai cố vấn TS Vũ Văn Nghi, PGS.TS Nguyễn Việt Kỳ cùng với những ý kiến đóng góp quan trọng và những hỗ trợ quý báu của các nhà khoa học: GS Nguyễn Kim Cương, TS.Vũ Văn Vĩnh, TS Paul Cao, ThS Bùi Trần Vượng, ThS Võ Thị Kim Loan với sự phối hợp thực hiện của các cán bộ chuyên môn thuộc Phòng quản lí tài nguyên Nước và Khoáng sản và Liên đoàn địa chất thủy văn – địa chất công trình miền Nam Nhân dịp này tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành

Trang 4

Ho Chi Minh city has the highest development rate in Viet Nam, thus, the water’s need becomes one of the highest priorities Groundwater is one of the most important natural resources, yet it’s unprotected The depletion of water resource is

sporadic and rare Thus, there is a great need for researches in the area of water conservation scheme and how to protect water supply long term in our country Our project has attempted to address the following area:

• Define hydrogeological condition

• Set up hydrochemical and geological characteristics of three main aquifers (Pleistocen, Upper Pliocen and Lower Pliocen)

• Separate hydrochemical geology

There are four forms of hydro-chemistry: stable, propitious, reverse, mixed; following the horizontal direction (parallel to the surface), from north to south, or northeast to southwest, almost water quality has a changed tendency from super un-salted -> un-salted -> brackish -> salted water Complex hydrochemical and geological map shows that the zone is influenced by salt contamination from the southeast along the Nha Be’s river The permeation pathway of rain water into underground water from northwest; part of the northeast; the mixing process along the bank of SaiGon’s river and the incomplete de-salting process due to ocean water transgression

• Assess nitrogen’s contaminated state, iron, micro-organism in underground water

• Assess polluted Pleistocen aquifer’s ability by DRASTIC method showed that the zones have high polluted ability distribute: the city center, Cu Chi and Nha Be In addition, the zones with very high polluted ability are in Phu Hoa Dong, Cu Chi, Cu Chi, Thu Duc, Dong Hung Thuan and District 12

• Preliminary examination of the source – by analyzing samples of chemical elements of the underground water in Kainozoi sediment

• Assess the effects of economical and social activities on the hydrochemical geology and propose water resource management solutions for HCMC

The result will be a basic and important guide to researchers, managements, education centers whose main’s interest is HCMC future water resource management plan

The project has 162 pages, 26 tables, 8 pictures, 12 maps, 46 reference documents of authors who live in the homeland and oversea

The research is done under the guidance of the two conlsultants: Dr Vu Van Nghi, Ph D ; Prof Nguyen Viet Ky, Ph D along with many highly valuable contributions of many scientists including Prof Nguyen Kim Cuong ; Vu Van Vinh,

Ph D ; Paul Cao, Ph D.; Bui Tran Vuong, M.S ;Vo Thi Kim Loan, M.S and with the help of many experts of Water Resource and Minerals Management division and the division of Hydrogeology and Engineering Geology for the South of Viet Nam

In this occasion, I would like to express my deep gratitude Without their help, this project would not be possible

Trang 5

MỤC LỤC

Mở đầu 1

Phần chung 5

Chương 1: Đặc điểm tự nhiên – kinh tế – dân cư 6

1.1 Vị trí địa lý 6

1.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng 6

1.3 Mạng lưới thủy văn – chế độ thủy triều 7

1.4 Đặc điểm khí hậu 8

1.5 Đặc điểm dân cư và hướng phát triển kinh tế 9

1.6 Kinh tế và hướng phát triển 9

1.7 Giao thông vận tải 10

1.8 Các nguồn tài nguyên 10

Chương 2: Lịch sử nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn, thủy địa hóa vùng nghiên cứu 12

2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 12

2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 12

Chương 3: Đặc điểm địa chất 19

3.1 Địa tầng 19

3.2 Đặc điểm kiến tạo 24

3.3 Lịch sử phát triển địa chất 27

Chương 4: Đặc điểm địa chất thủy văn 31

4.1 Tầng chứa nước Holoxen 31

4.2 Tầng chứa nước Pleistocen 32

4.3 Tầng chứa nước Pliocen trên 34

4.4 Tầng chứa nước Pliocen dưới 35

4.5 Đới chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi 37

Phần chuyên đề 39

Chương 5: Thủy địa hóa các tầng chứa nước chủ yếu thành phố Hồ Chí Minh 40

Trang 6

6.1 Cơ sở lý thuyết 40

6.2 Đặc điểm thủy hóa nước trên mặt 49

5.2.1 Nước mưa 49

5.2.2 Nước mặt 51

6.3 Đặc điểm thủy địa hóa nước dưới đất 56

5.3.1 Đặc điểm thủy địa hóa tầng chứa nước Pleistocen 56

5.3.2 Đặc điểm thủy địa hóa tầng chứa nước Pliocen trên 66

5.3.3 Đặc điểm thủy địa hóa tầng chứa nước Pliocen dưới 75

5.3.4 Sự phân đới thủy địa hóa các tầng chứa nước 87

5.3.4.1 Phân đới thủy địa hóa theo phương thẳng đứng 87

5.3.4.2 Phân đới thủy địa hóa theo phương ngang 88

5.3.5 Đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn nước dưới đất TpHCM 90

5.3.5.1 Tình hình nhiễm bẩn các hợp chất nitơ và sự phân bố 90

5.3.5.2 Tình hình nhiễm sắt và sự phân bố 96

5.3.5.3 Tình hình nhiễm vi sinh và sự phân bố 97

6.4 Một số nhận định về nguồn gốc hình thành thành phần hóa học nước dưới đất thành phố Hồ Chí Minh 98

5.4.1 Cơ sở nhận định nguồn gốc hình thành thành phần hóa học nước dưới đất98 5.4.2 Sơ bộ đánh giá sự hình thành thành phần hóa học của nước dưới đất 108

Chương 6: Đánh giá khả năng nhiễm bẩn của tầng chứa nước Pleistocen 115

6.5 Một số cơ sở lập bản đồ khả năng nhiễm bẩn nước dưới đất 115

6.6 Thông tin chung về hệ thống DRASTIC 116

6.7 Trình tự lập bản đồ khả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước Pleistocen thành phố Hồ Chí Minh 119

6.8 Kết quả 143

Chương 7: Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với thủy địa hóa thành phố 149

Chương 8: Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn nước của thành phố 157

Trang 7

8.2 Những thách thức đối với nguồn nước dưới đất thành phố Hồ Chí Minh 158

8.3 Đề xuất những giải pháp quản lý bảo vệ nguồn nước dưới đất 160

Kết luận 162

Tài liệu tham khảo 164

Phần Phụ lục 167

Trang 8

CÁC BẢN VẼ KÈM THEO

1 Đồ thị Piper của nước mưa Hình 5.1

2 Đồ thị Piper của nước sông Hình 5.2

3 Mối quan hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng qp

Hình 5.3

4 Đồ thị Piper của tầng Pleistocen Hình 5.4

5 Mối quan hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m42 Hình 5.5

6 Đồ thị Piper của tầng Pliocen trên Hình 5.6

7 Mối quan hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m41 Hình 5.7

8 Đồ thị Piper của tầng Pliocen dưới Hình 5.8

9 Bản đồ điểm số chiều sâu tầng chứa nước Pleistocen Bản đồ số 1

10 Bản đồ điểm số lượng cung cấp nước của tầng Pleistocen Bản đồ số 2

11 Bản đồ điểm số môi trường chứa nước của tầng Pleistocen Bản đồ số 3

12 Bản đồ điểm số môi trường đất phủ của tầng Pleistocen Bản đồ số 4

13 Bản đồ điểm số phần trăm độ dốc địa hình của tầng Pleistocen Bản đồ số 5

14 Bản đồ điểm số ảnh hưởng của đới thông khí tầng Pleistocen Bản đồ số 6

15 Bản đồ điểm số hệ số thấm của tầng Pleistocen Bản đồ số 7

16 Bản đồ khả năng nhiễm bẩn tầng Pleistocen Bản đồ số 8

17 Bản đồ thủy địa hóa thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000

18 Bản đồ thủy địa hóa tầng Pleistocen thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000

19 Bản đồ thủy địa hóa tầng Pliocen trên thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000

20 Bản đồ thủy địa hóa tầng Pliocen dưới thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000

21 Mặt cắt thủy địa hóa tuyến I-I, II-II, III-III,IV-IV, V-V

Trang 9

CÁC BIỂU BẢNG KÈM THEO

1 Bảng thống kê số liệu quan trắc nước mưa Bảng 5.1

2 Bảng thống kê số liệu quan trắc nước sông Bảng 5.2

3 Bảng thống kê các trạm quan trắc nước mặt Bảng 5.3

4 Bảng thống kê chất lượng nước mặt tại các trạm quan trắc Bảng 5.4

5 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pleistocen .Bảng 5.5

6 Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pleistocen theo đồ thị piper .Bảng 5.6

7 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen trên Bảng 5.7

8 Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pliocen trên theo đồ thị piper .Bảng 5.8

9 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen dưới Bảng 5.9

10 Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pliocen dưới theo đồ thị piper .Bảng 5.10

11 Thang điểm của các yếu tố DRASTIC .Bảng 6.1

12 Bậc điểm của các yếu tố DRASTIC .Bảng 6.2

13 Bảng cơ sở tính điểm số chiều sâu tầng chứa nước Bảng 6.3

14 Bảng điểm số chiều sâu tầng chứa nước và sự phân bố Bảng 6.4

15 Bảng điểm số lượng bổ cập và sự phân bố Bảng 6.5

16 Bảng mô tả đặc trưng môi trường chứa nước của tầng Bảng 6.6

17 chứa nước của tầng Bảng 6.7

18 Bảng điểm số môi trường chứa nước của tầng và sự phân bố Bảng 6.8

19 Bảng cơ sở tính điểm số môi trường lớp phủ Bảng 6.9

20 Bảng điểm số môi trường lớp phủ của tầng và sự phân bố Bảng 6.10

21 Bảng điểm số độ dốc địa hình tầng Pleistocen và sự phân bố Bảng 6.11

22 Bảng cơ sở tính điểm số môi trường lớp phủ Bảng 6.12

23 Bảng điểm số môi trường đới thông khí và sự phân bố Bảng 6.13

24 Bảng cơ sở tính điểm số hệ số thấm Bảng 6.14

25 Bảng điểm số hệ số thấm và sự phân bố Bảng 6.15

26 Bảng tổng hợp chỉ số DRASTIC của tầng Pleistocen Bảng 6.16

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tên đề tài: Nghiên cứu đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh phục vụ quy hoạch, quản lí tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững

2 Chủ nhiệm đề tài: CN Nguyễn Thị Thu Hằng

Đồng chủ nhiệm: ThS Nguyễn Văn Ngà

3 Cơ quan chủ trì: Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh

4 Tính cấp thiết của đề tài

- Nước dưới đất là loại tài nguyên động luôn biến đổi theo thời gian, không gian và chịu nhiều tác động của các yếu tố tự nhiên và con người

- Việc nghiên cứu thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ được đề cập đến chất lượng nước, tình hình nhiễm mặn, nhiễm bẩn, nguồn hình thành trữ lượng, điển hình có tác giả Đoàn Văn Tín đã nghiên cứu chi tiết hơn, đã nêu được quy luật phổ biến về thành phần hóa học, sự nhiễm bẩn các nguồn nước, những dị thường thủy hóa và biểu hiện nước khoáng, sơ lược về vấn đề đồng vị thủy văn, tuy nhiên việc giải thích những dị thường thuỷ hoá cũng chỉ dừng lại ở nguyên tố Fe và SiO2

và một số các khí CO2, CH4, H2S, chưa đi sâu vào việc tìm hiểu nguồn gốc của các thành phần hoá học có mặt trong nước và đặc biệt là chưa đánh giá được tác động hoàn cảnh bên ngoài đến nguồn nước Bên cạnh đó cũng có một số báo cáo nghiên cứu địa chất thuỷ văn một số vùng cụ thể, tuy nhiên cũng chỉ nêu bật những nét cơ bản về thuỷ hoá, chưa đi sâu giải thích nguồn gốc nước cũng như nguồn gốc hình thành thành phần hóa học nước dưới đất Trong khi đó, cùng với quá trình đô thị hoá, chất lượng nước biến động rất nhanh Như vậy bản chất nguồn nước, nguồn gốc hình thành thành phần hoá học nước dưới đất là chưa được cập nhật và làm rõ,

mà điều đó lại cực kì quan trọng trong công tác quản lí nguồn nước, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước bền vững

- Việc đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với thủy địa hoá Thành phố hiện nay vẫn chưa được đề cập một cách đúng mức

Đó là lí do chính để chúng tôi tiến hành nghiên cứu thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh

5 Mục đích và nội dung nghiên cứu

a- Mục đích:

Làm rõ đặc điểm thủy địa hóa của thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đưa ra những giải pháp quản lý nguồn nước một cách hợp lý, bảo vệ môi trường nói chung

và môi trường nước nói riêng một cách bền vững

b- Nội dung nghiên cứu:

Trang 11

™ Nghiên cứu thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh

- Làm rõ đặc điểm địa chất, địa chất thuỷ văn thành phố Hồ Chí Minh, tập

trung vào các tầng chứa nước đang khai thác mạnh: Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen

dưới

- Làm rõ đặc điểm thủy địa hóa các tầng chứa nước chính, tiến hành phân đới

thủy địa hóa, đánh giá hiện trạng nhiễm bẩn nước dưới đất thành phố

- Sơ bộ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành thành phần hóa học

của nước (khí tượng, thủy văn, địa hình, địa mạo, thành phần thạch học, mức độ

trao đổi nước, sự trao đổi cation, cấu trúc địa chất, cổ địa lý, sự phát triển kinh tế –

xã hội )

- Đánh giá khả năng nhiễm bẩn của tầng Pleistocen

- Đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với thủy địa hóa

thành phố

™ Đề xuất giải pháp quản lí, bảo vệ nguồn nước của thành phố

6 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu

a- Phạm vi của đề tài:

- Tập trung vào nghiên cứu đánh giá đặc điểm thủy địa hóa các tầng chứa

nước chủ yếu (Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen dưới)

- Sơ bộ nghiên cứu đánh giá khả năng nhiễm bẩn nước dưới đất ( tầng

Pleistocen) theo chỉ số DRASTIC

b- Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nội dung nghiên cứu trên, chúng tôi dựa trên số liệu thu thập

được từ các báo cáo, các công trình nghiên cứu và kết quả điều tra khảo sát kết hợp

với các ứng dụng tin học, kiến thức chuyên ngành để thành lập các dạng bản đồ và

lí giải nguồn gốc hình thành các thành phần hóa học nước dưới đất

Các phương pháp nghiên cứu đề tài:

- Phương pháp thu thập tài liệu: tận dụng toàn bộ tài liệu sẵn có liên quan

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: nghiên cứu các tài liệu đã thu thập được,

xem xét, đánh giá những gì đã làm được và chưa làm được Đề ra phương hướng

tiếp theo như tiến hành khảo sát thực tế, thu thập thông tin ngoài thực địa như khảo

sát, lấy và phân tích mẫu một số vùng trọng điểm về công nghiệp, nông nghiệp…

- Phương pháp điều tra: tiến hành khảo sát thực địa, lấy mẫu và phân tích mẫu

để đánh giá hiện trạng chất lượng nước trên địa bàn 8 vùng chịu ảnh hưởng của các

tác động kinh tế xã hội đến nước dưới đất

Trang 12

- Phương pháp lý thuyết: vận dụng lý thuyết đã biết để nghiên cứu các số liệu thu thập được, đưa ra những nhận định về nguồn gốc thành phần hoá học, và ứng dụng một số phần mềm tin học như Mapinfo, Aquachem, Visual Modflow, vẽ kĩ thuật Autocad để hỗ trợ cho công tác nghiên cứu

- Phương pháp bản đồ: lập và số hoá bản đồ, mặt cắt để minh hoạ đặc điểm thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá khả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước Pleistocen

- Phương pháp tương tự: thuỷ địa hoá có liên quan mật thiết với địa chất thuỷ văn, nên từ những nghiên cứu về địa chất thuỷ văn ta có thể dẫn đến những kết luận

có liên quan đặc điểm thuỷ địa hoá

- Phương pháp chuyên gia: tổ chức hội thảo để lấy ý kiến đóng góp cho các kết quả nghiên cứu được từ các nhà khoa học

- Phương pháp phân tích lịch sử tự nhiên: nghiên cứu quá trình hiện nay đang xảy ra để suy ngược lại về quá khứ

7 Khối lượng công việc đã thực hiện:

7.1- Thu thập các loại tài liệu của thành phố Hồ Chí Minh:

- Tài liệu địa chất, địa chất thuỷ văn, thuỷ địa hoá đã có trong vùng nghiên cứu và cập nhật các tài liệu mới

- Tài liệu chất lượng nước và tình hình ô nhiễm môi trường nước từ các đề án khai thác nước dưới đất hoặc từ các đơn vị hoạt động có liên quan

- Tài liệu quan trắc chất lượng nước dưới đất do Liên đoàn địa chất thủy văn – địa chất công trình miền Nam và Phòng quản lí tài nguyên Nước và Khoáng sản thực hiện Và một số tài liệu về chất lượng nước mặt lấy từ sông Sài Gòn – Đồng Nai, các kênh rạch do Phòng quản lí Môi trường, Chi cục bảo vệ môi trường quan trắc

- Tài liệu cổ địa lý khu vực phía Nam

- Tài liệu quan trắc về khí tượng thuỷ văn ở Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Nam Bộ

- Tình hình phát triển kinh tế – xã hội (đất đai, công nghiệp, nông nghiệp) (Báo cáo quy hoạch sử dụng đất, Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp)

7.2- Khảo sát chất lượng nước ở một số vùng trọng điểm:

a- Mục đích:

Khảo sát tình hình ô nhiễm chất lượng nước dưới đất ở một số khu vực trên thành phố, lấy mẫu nước ở một số vùng tập trung phát triển nông nghiệp, công nghiệp, nơi có cửa sổ thuỷ lực nhằm đánh giá thêm chất lượng nước dưới đất khu vực thành phố Hồ Chí Minh

b- Khối lượng công việc:

Chúng tôi tiến hành khảo sát trên 8 vùng:

Về nông nghiệp: vùng trồng lúa Củ Chi với diện tích khảo sát là 2km2, vùng chăn nuôi Củ Chi với diện tích khảo sát là 2km2

Về công nghiệp: KCN Vĩnh Lộc – Bình Chánh (2km2) với diện tích khảo sát

Trang 13

(1,58km2) với diện tích khảo sát tính thêm cho vùng lân cận, tổng là 3km2; KCN Tây Bắc Củ Chi (3,45km2) với diện tích khảo sát tính thêm cho vùng lân cận, tổng

là 6km2

Nơi có cửa sổ thuỷ lực như Bình Chánh, Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, quận 9… : chúng tôi chọn Gò Vấp, Hóc Môn và quận 9; Gò Vấp với diện tích khảo sát là 2km2, Hóc Môn với diện tích khảo sát là 2km2, quận 9 với diện tích khảo sát 2km2

Vậy tổng diện tích cần khảo sát trên những vùng trọng điểm là 24km2

Trên 8 vùng với diện tích là 24km2 cần khảo sát, chúng tôi lấy tổng tất cả là

200 mẫu trong đó có 100 mẫu hoá lý, 50 mẫu vi lượng, 50 mẫu vi sinh Lấy mẫu dàn trải trong vòng 2 tháng: tháng 5 và tháng 12

7.3- Công tác lập báo cáo tổng kết:

Công tác lập báo cáo tổng kết là tổng hợp và hệ thống hoá các tài liệu nguyên thuỷ một cách logic để luận giải đưa ra các số liệu, lập các bản vẽ, bản đồ, biểu đồ, biểu bảng, phụ lục… kèm theo với báo cáo thuyết minh để trả lời mục tiêu

b Tính toán, phân tích, nhận định các tài liệu đã tổng hợp để:

- Tìm hiểu đặc điểm thủy địa hoá vùng nghiên cứu

- Đánh giá khả năng nhiễm bẩn của tầng chứa nước Pleistocen

- Đưa ra các kiến nghị trong việc quản lí nguồn nước dưới đất phục vụ cho việc quản lí, quy hoạch, sử dụng, bảo vệ tránh các tác nhân gây ô nhiễm nguồn nước

c Thành lập các bản đồ, bản vẽ, biểu bảng theo đề cương đã duyệt

d Viết báo cáo thuyết minh

7.4- Công tác số hoá bản đồ:

Công tác số hoá bản đồ là đưa loạt bản đồ và mặt cắt thuỷ địa hoá cũng như bản đồ khả năng nhiễm bẩn đã lập được lên máy tính vừa để lưu trữ vừa để minh họa cho báo cáo

7.5- Công tác chuyên gia:

- Tổ chức 1 buổi hội thảo để lấy ý kiến về việc thành lập bản đồ thủy địa hóa thành phố Hồ Chí Minh và ba tầng chứa nước Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen dưới

và bản đồ khả năng nhiễm bẩn tầng Pleistocen

- Mời hai chuyên gia cố vấn trong suốt quá trình làm việc

8 Thời gian thực hiện:

Trang 14

- Bản đồ và mặt cắt thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh và của từng tầng chứa nước tỷ lệ 1/50.000 (Tầng Pleistocen, Pliocen trên, Pliocen dưới)

- Sơ đồ khả năng nhiễm bẩn tầng chứa nước Pleistocen tỷ lệ 1/50.000

Trang 16

Từ 100 38’00” đến 110 10’00” vĩ độ Bắc

Từ 1060 2’00” đến 1060 54’00” kinh độ Đông

Ranh giới phía bắc giáp tỉnh Bình Dương, tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, đông

và đông bắc giáp tỉnh Đồng Nai, đông nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, tây và tây nam giáp tỉnh Long An và tỉnh Tiền Giang, phía nam giáp biển Đông với bờ biển dài 15 km Thành phố Hồ Chí Minh có 24 quận huyện

1.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, THỔ NHƯỠNG

1.2.1 Địa hình:

Địa hình thành phố Hồ Chí Minh là sự chuyển tiếp hài hoà giữa đồi núi miền Trung và địa hình trũng thấp của đồng bằng sông Cửu Long

Vùng cao tập trung ở phía bắc và phía đông với cao độ tuyệt đối từ 10 – 25m

ở huyện Củ Chi, Hóc Môn đến 20 – 30m ở quận Thủ Đức và quận 9

Vùng trung bình, độ cao từ 5 – 10m, phân bố ở khu vực trung tâm thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Đức, toàn bộ quận 12, huyện Hóc Môn và phía tây huyện Củ Chi

Vùng thấp nhất có độ cao < 5m tạo thành một dải hẹp ven theo hoặc bao quanh địa hình đồi thấp ở phía bắc và phát triển thành diện rộng ở phía nam thành phố và bị phân cách bởi hệ thống kênh rạch, vùng có độ cao 1 – 2m thường bị ngập nước khi thuỷ triều lên cao Phân bố ở phía nam – tây nam và đông nam thành phố, thuộc các quận 7, 8, 9 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ

Trang 17

1.2.2 Thổ nhưỡng:

Vùng cao và vùng trung bình (5 – 25m): phát triển trên các trầm tích

Pleistocen (phù sa cổ) Trên chúng cũng đã hình thành đất xám, có thành phần cơ

giới chủ yếu là cát pha đến đất thịt, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy

nơi và tùy mùa biến động, sâu từ 1 – 2m đến 15m Đất chua, độ pH khoảng 4,0 –

5,0

Vùng trũng thấp (<5m): trầm tích cấu tạo nên các bề mặt là phù sa trẻ có

nhiều nguồn gốc khác nhau nên trên chúng đã hình thành nhiều loại đất khác nhau:

nhóm đất phù sa chiếm 7,8% diện tích đất thành phố, nhóm đất phèn chiếm 21,2%

và đất phèn mặn chiếm 23,6% Ngoài ra, có một diện tích nhỏ (0,2%) là "giồng" cát

gần biển và đất feralit vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò Vùng có liên

quan với đất phèn mặn do địa hình thấp trũng, hệ thống sông rạch tự nhiên mật độ

rất dày nên vùng thấp lại rất thuận lợi đối với phát triển giao thông đường thủy

1.3 MẠNG LƯỚI THỦY VĂN – CHẾ ĐỘ THỦY TRIỀU:

1.3.1 Thủy văn:

Theo báo cáo quy hoạch sử dụng nước thành phố năm 2001, thành phố có

mạng lưới thủy văn dày đặc thuộc hệ thống sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông

Nhà Bè

* Hệ thống sông Đồng Nai:

Bắt nguồn từ vùng ven rìa cao nguyên Di Linh có độ cao 800 – 1000m và đổ

ra biển ở cửa Soài Rạp Chiều dài tổng cộng theo dòng chính là 628km Diện tích

lưu vực là 38610 km2 Do có độ dốc đáng kể tại thượng lưu nên sông Đồng Nai

thích hợp cho các dự án thuỷ điện

- Sông Đồng Nai chảy qua địa phận thành phố Hồ Chí Minh từ phía đông

quận 9 tới phường Thạnh Mỹ Lợi gặp sông Nhà Bè dài khoảng 40km, rộng từ 200 –

300m

- Sông Sài Gòn: chảy vào thành phố đoạn từ xã Phú Mỹ tới Thạnh Mỹ Lợi

quận 2 gặp sông Nhà Bè Sông chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều Trước

năm 1984 ranh mặn trên sông Sài Gòn với hàm lượng Cl - Na 1g/l có mặt ở Thủ

Dầu Một và 4g/l có mặt ở cầu Lái Thiêu Sau 1984 có các hồ chứa nước ở thượng

lưu hoạt động thì tình hình này được cải thiện đáng kể Cụ thể, khi có hồ Trị An xả

2110 m3/s, giới hạn mặn của sông Sài Gòn đã được đẩy lùi, trước đây ranh mặn ở

trên ngã ba Hiệp Bình thì nay đẩy xuống 10km ngang ngã ba Cát Lái

* Hệ thống sông Nhà Bè:

Phía bắc Nhà Bè có mạng lưới thuỷ văn dày đặc như sông Cần Giuộc, sông

Chợ Đệm, rạch Cây Khô, Bà Phó, Ông Lớn và rất nhiều rạch và kênh nhỏ khác

- Sông Cần Giuộc gồm nhiều nhánh, trong đó có hai nhánh chính là rạch Cần

Giuộc và sông Bà Lào Hai nhánh chính của sông gặp nhau ở đông nam rồi chảy ra

ngoài vùng công tác Kết quả quan trắc cho thấy sông có chế độ bán nhật triều Về

Trang 18

thành phần hoá học của nước, kết quả phân tích cho hàm lượng Clo từ 425,4 – 5184,56mg/l, tổng khoáng hoá từ 0,83 – 9,28g/l, độ pH từ 6,9 – 8,32

Sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, nước sông có chất lượng kém, nước đục, mặn và rất bẩn, không thể dùng cho sinh hoạt và công nghiệp

- Sông Chợ Đệm ở phía tây thành phố, chảy về đông bắc, nối liền với rạch Cần Giuộc, kênh Đôi, và kênh Lò Gốm Sông Chợ Đệm dài khoảng 5 km, sâu từ 5 – 10m, rộng từ 80 – 120m Sông chịu chế độ bán nhật triều Kết quả phân tích mẫu nước cho thấy hàm lượng Clo từ 418,31 – 4564,19mg/l, tổng khoáng hoá từ 0,82 – 8,2g/l, độ pH từ 6,88 – 7,33

Chất lượng nước sông Chợ Đệm thay đổi theo mùa rõ rệt, mùa mưa nước nhạt hơn mùa khô Sông chịu ảnh hưởng của thuỷ triều, nước sông có chất lượng kém, nước đục, mặn và rất bẩn, không thể dùng cho sinh hoạt và công nghiệp Ngoài các con sông chính kể trên, trong vùng còn có các hệ thống kênh rạch rất phát triển và có đặc điểm thuỷ văn và chất lượng giống các con sông kể trên

* Kênh rạch của thành phố có hai hệ thống chính: hệ thống các kênh rạch đổ

vào sông Sài Gòn với hai nhánh chính là rạch Bến Cát và kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè; Hệ thống kênh rạch đổ vào sông Bến Lức và kênh Đôi, kênh Tẻ như rạch Tân Kiên, rạch Bà Hom, rạch Tân Hoá – Lò Gốm

1.3.2 Thủy triều:

Toàn bộ mạng lưới sông ngòi, kênh rạch trong thành phố đều chịu ảnh hưởng chế độ bán nhật triều, thủy triều thâm nhập sâu vào các kênh rạch trong thành phố, gây nên tác động không nhỏ đối với sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành Mực nước triều bình quân cao nhất là 1,18m Tháng có mực nước cao nhất là tháng 10 – 11, thấp nhất là các tháng 6 – 7 Về mùa khô, độ mặn 4%o có thể xâm nhập trên sông Sài Gòn đến quá Lái Thiêu, có năm đến tận Thủ Dầu Một và trên sông Đồng Nai đến Long Đại Dòng triều rất mạnh nên các cửa sông đều rộng và sâu Mùa mưa, ranh mặn bị đẩy lùi ra xa hơn và độ mặn bị giảm đi nhiều Phân tích biên độ dao động của thuỷ triều tại các trạm Bến Lức, Gò

Dầu Hạ (trên sông Vàm Cỏ Đông), các trạm Nhà Bè, Phú An, Thủ Dầu Một (trên

sông Sài Gòn) cho thấy biên độ dao động thuỷ triều dọc sông Sài Gòn thay đổi và

giảm dần từ cửa sông đến hồ Dầu Tiếng và biên độ dao động của thuỷ triều trên sông Vàm Cỏ Đông nhỏ hơn trên sông Sài Gòn rất nhiều Với chế độ dòng triều như vậy cho nên hầu như các ảnh hưởng và sự trao đổi dòng chảy giữa hai sông Sài Gòn

và Vàm Cỏ Đông rất yếu và đó cũng là nguyên nhân tạo ra các giáp nước (nơi dòng

chảy đổi chiều, tốc độ dòng chảy bằng 0 hoặc gần bằng 0) trên sông Bến Lức và

kênh Thầy Cai

Trang 19

và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể, nhỏ nhất là 1.392 mm (1958) Trong phạm vi Thành phố, lượng mưa phân

bố không đều, có khuynh hướng tăng dần theo trục tây nam-đông bắc Đại bộ phận các quận nội thành và các huyện phía bắc thường có lượng mưa cao hơn các quận huyện phía nam và tây nam, lượng mưa ở Thủ Đức 1944mm, ở Duyên Hải 1010mm

Độ ẩm tương đối cao, cao nhất 94 – 95%, thấp nhất 68 – 71%, trung bình là

78 – 79%

- Lượng bốc hơi lớn, thay đổi từ 1075,4 – 1738,4mm Lượng bốc hơi cao nhất vào cuối mùa khô từ 140,3 – 161,2mm Lượng bốc hơi thấp nhất vào cuối mùa mưa (tháng 9 và tháng 10) có từ 55 – 60mm Lượng bốc hơi trung bình từ 79 – 80mm

- Gió: hai hướng gió chính và thịnh hành là gió mùa tây – tây nam và bắc – đông bắc Gió tây – tây nam từ Ấn Độ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 đến tháng 10 Gió bắc – đông bắc từ biển đông thổi vào trong mùa khô Ngoài ra, còn có gió tín phong, hướng nam – đông nam, khoảng từ tháng 3 đến tháng 5

- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140Kcal/cm2/năm Nhiệt độ không khí trung bình 270C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,80C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,70C) Hàng năm có tới trên 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 – 280C

1.5 ĐẶC ĐIỂM DÂN CƯ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ:

Dân số thành phố tăng nhanh Dân cư chủ yếu là người Việt, các dân tộc còn lại như người Hoa chiếm tỷ lệ rất nhỏ Tỷ lệ tăng dân số là 1,83

Thành phố có 17 trường đại học và cao đẳng cùng nhiều viện và các trung tâm nghiên cứu Lực lượng chất xám chiếm 37% tổng số cán bộ khoa học trong cả nước Đội ngũ lao động lành nghề, năng động, sáng tạo rất đông đảo Hiện nay, thành phố

Hồ Chí Minh đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học

1.6 KINH TẾ VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỀN:

Đến nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều cơ sở, đầu mối buôn bán lớn, sầm uất cùng với các hoạt động dịch vụ phong phú, đa dạng Dịch vụ – thương mại đã chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu GDP (52%), phát triển đa dạng theo hướng hiện đại, định hướng tăng 9,5% hàng năm

Công nghiệp – xây dựng có tốc độ tăng trưởng cao, chiếm 46% tỷ trọng GDP (năm 2004) Ngoài các cơ sở tồn tại từ trước được nâng cấp cải tạo hay mở rộng, thành phố đã có 7 khu chế xuất, khu công nghiệp đi vào hoạt động, phát triển mạnh nhất là 2 khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động toàn ngành công nghiệp Riêng 3 ngành chế biến lương thực – thực phẩm, nước giải khát và dệt may đã chiếm 50% lực lượng lao động của thành phố Ngoài ra còn nhiều các cơ sở sản xuất lớn như xí nghiệp đông lạnh xuất khẩu, công nghiệp vật tư xây dựng, xí nghiệp giày da xuất khẩu, các xưởng cơ khí, chế biến hải sản cũng chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động toàn ngành công nghiệp

Trang 20

Về nông nghiệp gồm có trồng trọt, chăn nuôi Trồng trọt chủ yếu là cây lúa, hoa màu và rừng nước mặn Giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 1.408 tỷ VNĐ vào năm 1999

1.7 GIAO THÔNG VẬN TẢI:

Hệ thống đường bộ lan toả đi các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ theo dạng toả tia với các trục chính: Quốc lộ 1A, quốc lộ 22 và quốc lộ 13, quốc lộ 50, quốc lộ

51 tuyến đường sắt Bắc Nam

Hệ thống đường thuỷ: Dọc sông Sài Gòn là một cụm cảng kéo dài trên chục

km từ Nhà Bè lên đến cầu Sài Gòn với năng lực bốc dỡ lớn nhất quốc gia Hệ thống cảng Sài Gòn hiện tại có thể tiếp nhận tàu trọng tải 15 – 20 ngàn tấn, với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm và có khả năng mở rộng, nâng cấp lên đến 17 – 20 triệu tấn/năm

Thành phố Hồ Chí Minh hiện là đầu mối cuối cùng của đường sắt thống nhất bắc – nam

Sân bay Tân Sơn Nhất là một trong những sân bay quốc tế lớn trong khu vực Đông Nam Á; hiện tại có 12 đường bay trong nước, trên 20 đường bay quốc tế nối hầu hết các châu lục

1.8 CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN:

1.8.1 Tài nguyên đất:

Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, có 6 nhóm đất chính sau đây:

- Đất cát: Đất cát biển có diện tích 6.704 ha, chiếm 3,2% diện tích tự nhiên, phân bố ở Cần Giờ

- Đất mặn: Có diện tích 25.559 ha, chiếm khoảng 12,2% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung ở huyện Cần Giờ

- Đất phèn: Chủ yếu là đất phèn trung bình và phèn nhiều, có diện tích 57.613

ha, chiếm khoảng 27,5% diện tích tự nhiên, phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém ở nam Bình Chánh (cũ), Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và bắc Cần Giờ

- Đất phù sa: Có diện tích 26.397 ha, chiếm 12,6% diện tích tự nhiên, trong đó loại đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 2,5%, phân bố chủ yếu ở vùng nam Bình Chánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5 m Các chất dinh dưỡng về mùn, đạm, lân và kali rất giàu

- Đất xám: Có diện tích 40.434 ha, chiếm khoảng 19,3% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu trên vùng đất cao, đồi gò ở quận 9, Củ Chi, Hóc Môn, Thủ Đức,

quận 9 và phía bắc Bình Chánh (cũ)

- Đất đỏ vàng: Có diện tích 3.143 ha, chiếm 1,5% diện tích tự nhiên, phân bố

trên vùng gò đồi ở Củ Chi và Thủ Đức, quận 9 Đất hình thành trên các sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ và mẫu chất khác nhau Đặc điểm chung của nhóm đất này là chua, độ no bazơ thấp, khả năng hấp phụ không cao, khoáng sét phổ biến

là Kaolinit, axit mùn chủ yếu là fulvic, chất hoà tan dễ bị rửa trôi

Trang 21

1.8.2 Tài nguyên nước

- Nước mặt: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hạ lưu của hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn, giáp với biển Đông, nên nguồn nước ngọt của sông Đồng Nai là nguồn nước ngọt chính với diện tích lưu vực khoảng 45.000 km2, hàng năm cung cấp 15 tỷ m3 nước

- Nước ngầm: sẽ đề cập trong phần địa chất thủy văn

1.8.3 Tài nguyên rừng

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2005, thành phố Hồ Chí Minh có 33.857,86

ha đất lâm nghiệp; chiếm 16,16% diện tích đất tự nhiên

1.8.4 Tài nguyên biển

Thành phố Hồ Chí Minh duy nhất ở Cần Giờ là có biển với chiều dài bờ biển khoảng 15 km kéo dài từ tỉnh Tiền Giang đến giáp ranh tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với hai vịnh lớn nhất là vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái

1.8.5 Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn thành phố không nhiều, chủ yếu là khoáng sản rắn, tuy nhiên trữ lượng và chất lượng đạt yêu cầu khai thác sử dụng không nhiều Ngoài ra còn có vật liệu xây dựng như sét, gạch, ngói, cát, sỏi; phân

bố ở ngoại thành, tiềm năng khai thác ít, phù hợp với quy mô khai thác vừa và nhỏ

- Mỏ đất sét làm gạch ngói: phân bố ở Hóc Môn, Thủ Đức, Củ Chi

- Mỏ đá xây dựng: tập trung chủ yếu ở khu vực quận 9 và diện tích nhỏ ở ấp

Giồng Chùa (Cần Giờ)

- Mỏ cát đen: ở Thủ Đức chưa xác định trữ lượng

- Mỏ cuội sỏi: ở Thủ Đức và Củ Chi

- Mỏ cao lanh: phân bố ở Củ Chi, Hóc Môn và Linh Xuân – Thủ Đức

- Mỏ cát trằng: phân bố ở Linh Xuân – Đông Ba – Thủ Đức

- Mỏ than bùn: phân bố ở An Nghĩa – Gò Dầu – Cần Giờ

Ngoài các khoáng sản nói trên phải kể đến các nguồn nguyên liệu quan trọng cung cấp cho Thành phố từ các khu vực lân cận: dầu mỏ từ khu vực thềm lục địa

phía Nam (trữ lượng 3 – 4 tỷ tấn), bôxit từ các tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lăk, Gia Lai, Kon Tum và một phần tỉnh Bình Dương

Nhìn chung, các khoáng sản nói trên tuy đa dạng nhưng lại phân bố khá phân tán và chỉ có một số khoáng sản có thể đáp ứng một phần cho nhu cầu của Thành phố: nguyên liệu làm vật liệu xây dựng, sành sứ, thuỷ tinh, nguyên liệu từ dầu mỏ

và khí đốt, nguyên liệu từ bôxit Các khoáng sản khác như kim loại đen, kim loại

màu (trừ nhôm), than đá đều không có triển vọng hay chưa được phát hiện

Trang 22

Chương II

LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, THỦY ĐỊA HÓA VÙNG NGHIÊN CỨU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC:

Đầu thế kỷ XX, lĩnh vực thuỷ địa hoá mới được hình thành nhưng đã phát triển nhanh chóng nhất là ở Liên Xô trước đây Ở Liên Xô lần đầu tiên đã có viện Thuỷ địa hoá do giáo sư Karpinski P.A phụ trách và tiếp đó là viện sĩ Alokin O.A Viện này đã xuất bản tạp chí "Tài liệu thuỷ địa hoá" Năm 1948, cuốn sách "thuỷ hoá đại cương" của Alokin O.A – Liên Xô đã được công bố

Các nhà khoa học Xô Viết đã đi sâu giải quyết nhiều lĩnh vực như sự hình thành thành phần hoá học của nước dưới đất, thuỷ địa hoá các mỏ khoáng sản; nước khoáng, nước nóng, nước công nghiệp; ĐCTV đồng vị, vật chất hữu cơ trong nước,

họ đi sâu cả lý luận và thực nghiệm

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC:

2.2.1 Tình hình nghiên cứu địa chất, địa chất thủy văn trong nước:

- Giai đoạn trước năm 1975

Trong thời gian này đặc điểm địa chất – địa chất thủy văn đã được các nhà địa chất người Pháp, Nhật và Việt Nam nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là các công trình sau:

‚ Năm 1932: Các nhà địa chất người Pháp đã khảo sát trên diện tích hai tờ bản

đồ Sài Gòn và Nha Trang, tỷ lệ 1/500.000 Vùng nghiên cứu thuộc tờ Sài Gòn

‚ Năm 1937: F Saurin và I Bowet tiếp tục khảo sát tỷ mỉ hơn khu vực Sài Gòn

‚ Năm 1942: J.Fromaget cho phát hành tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1/500.000

‚ Năm 1962: F Saurin đã hiệu chỉnh và tái bản tờ bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1/500.000 Trong đó một số ranh giới địa chất đã được xác định lại

‚ Năm 1973: Theo yêu cầu của chính quyền Sài Gòn, ông Himuratate (người

Trang 23

khoan để nghiên cứu địa tầng tới độ sâu 120m Dựa vào kết quả điều tra đã thiết kế

70 lỗ khoan khai thác với công suất nhà máy 210.000m3/ngày

Ngoài ra trong thời gian từ 1962 đến 1975, chính quyền Sài Gòn cũng đã khoan nhiều lỗ khoan khai thác nước để phục vụ ăn uống, sản xuất với chiều sâu khai thác 40 đến 100m ở khu vực nội thành Sài Gòn

Tóm lại, trong thời gian này các công trình nghiên cứu còn sơ lược, chủ yếu là nghiên cứu địa chất Các công trình nghiên cứu địa chất thuỷ văn còn mang tính thực dụng tìm kiếm tầng chứa nước để khai thác ngay, chưa có công trình mang tính

hệ thống

- Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:

Sau này Việt Nam giải phóng, công tác điều tra nghiên cứu địa chất, địa chất thuỷ văn ở phía Nam nói chung và khu vực thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã được tiến hành mạnh mẽ và có hệ thống

Các công trình nghiên cứu gồm:

‚ Năm 1978 – 1982 tác giả Nguyễn Xuân Bao đo vẽ, biên hội, chỉnh lí thành lập bản đồ Địa chất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000, trong đó có vùng nghiên cứu

‚ Năm 1983 tác giả Trần Hồng Phú đã thành lập tờ bản đồ ĐCTV Việt Nam tỷ

lệ 1/500.000 Tác giả đã xếp vùng nghiên cứu vào phần rìa bồn actezi đồng bằng sông Cửu Long với 3 tầng chứa nước cơ bản: QI-III, N2-QI và N2

‚ Năm 1981 – 1984 tác giả Tô Văn Nhụ đã tiến hành khảo sát thăm dò vùng Hóc Môn, với mục tiêu trữ lượng 50.000m3/ngày Báo cáo đã làm sáng tỏ phần nào

về đặc điểm địa chất – địa chất thuỷ văn vùng

‚ Năm 1983 – 1988: tác giả Đoàn Văn Tín đã tiến hành lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1/50.000 thành phố Hồ Chí Minh Kết quả đã chi tiết hoá địa tầng, diện phân bố, khả năng chứa nước cùng đặc tính thuỷ hoá của các tầng chứa nước có mặt trong vùng

‚ Bản đồ địa chất tờ Đông Nam Bộ tỷ lệ 1/50.000 do tác giả Ma Công Cọ làm chủ biên

‚ Năm 1988: tác giả Vũ Văn Nghi lập báo cáo đánh giá trữ lượng nhà máy nước ngầm Hóc Môn Báo cáo đã được hội đồng xét duyệt trữ lượng Khoáng sản Nhà Nước thông qua, với cấp trữ lượng phê duyệt: cấp B = 46.000m3/ngày, cấp C1

= 9.150m3/ngày, cấp C2 = 47.850m3/ngày

‚ Năm 1991: tác giả Nguyễn Quốc Dũng lập báo cáo kết quả thăm dò sơ bộ vùng Củ Chi – Hóc Môn tỷ lệ 1/25.000 Báo cáo đã được hội đồng đánh giá trữ lượng khoáng sản thông qua, với cấp trữ lượng được phê duyệt: Cấp A+B = 53.000m3/ngày, cấp C1 = 30.000 m3/ngày

‚ Năm 1992: tác giả Bùi Thế Định lập bản đồ ĐCTV – ĐCCT tỷ lệ 1/200.000 Nam Bộ

‚ Năm 1993: tác giả Lương Quang Luân lập báo cáo “Kết quả tìm kiếm đánh giá nước dưới đất vùng Bình Chánh tỷ lệ 1/25.000”, với trữ lượng đã được Bộ Công nghiệp nặng phê duyệt cấp B = 33.420m3/ngày, cấp C1 = 9.080m3/ngày, cấp C2 = 165.027m3/ngày

Trang 24

‚ Năm 1995 tác giả Vũ Văn Nghi lập báo cáo xin phép khai thác nước dưới đất tầng N22 với công suất 5.000m3/ngày ở nhà máy bia Việt Nam

‚ Năm 1997: tác giả Trần Hồng Phú lập báo cáo kết quả điều tra địa chất đô thị thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50000

‚ Năm 2000, tác giả Nguyễn Hữu Chinh, báo cáo kết quả quan trắc quốc gia nước dưới đất Nam Bộ

Ngoài các công trình nghiên cứu kể trên, trong phạm vi TPHCM, còn có các

đề tài, các luận chứng kinh tế – kỹ thuật cung cấp nước cho một số vùng, cơ sở kinh

tế quan trọng của thành phố, do nhiều ngành, nhiều cơ quan của trung ương và địa phương đã và đang tiến hành như:

‚ Nhà máy nước ngầm Bình Trị Đông xây dựng năm 1997, công suất 9.000m3/ngày trong tầng chứa nước N22

‚ Nhà máy nước ngầm Gò Vấp, xây dựng năm 1999, với công suất 15.000

m3/ngày

2.2.2 Tình hình nghiên cứu thủy địa hóa trong nước

Thủy địa hóa học ở Việt Nam thực chất đã được đề cập đến trong một số công trình của các nhà địa chất người Pháp khi nghiên cứu một số nguồn nước khoáng, nước nóng ở Đông Dương và Việt Nam từ những năm cuối của thế kỷ XIX

và các năm đầu của thế kỷ XX Tuy nhiên lĩnh vực Thủy địa hóa học thực chất chỉ được bắt đầu nghiên cứu từ những năm đầu của thập kỷ 60 trong thế kỷ XX khi môn Thủy địa hóa học chính thức được đưa thành môn học của chuyên ngành Địa chất Thủy văn thuộc khoa Mỏ - Địa chất trường đại học Bách Khoa Hà Nội

Trước năm 1975, đất nước chia làm 2 miền, miền Nam thì các nghiên cứu về thủy địa hóa còn rất hạn chế, chỉ có một vài tài liệu công bố thành phần các nguồn nước khoáng và nước khai thác từ các giếng khai thác nước ngầm ở một số đô thị Miền Bắc, công tác điều tra cơ bản được đẩy mạnh, nghiên cứu các nguồn nước khoáng nước nóng, tìm kiếm các mỏ sunfua, các mỏ dầu khí Nhiều phương án tìm kiếm nước dưới đất được tiến hành như các phương án tìm kiếm thăm dò nước ngầm ở Hòn Gai, Cẩm Phả… Trong các phương án này đều tiến hành lấy và phân tích nhiều mẫu nước nhằm đánh giá chất lượng nước phục vụ cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt

Sau 1975, Thủy địa hóa được mở rộng trên phạm vi cả nước Các Liên đoàn ĐCTV miền Trung, miền Bắc và miền Nam được giao nhiệm vụ thành lập bản đồ ĐCTV tìm kiếm thăm dò nước dưới đất, đánh giá chất lượng nước làm nguồn cung cấp nước cho ăn uống sinh hoạt, công nghiệp từ các đô thị đến vùng nông thôn hẻo lánh

Nhiều công trình nghiên cứu về nước khoáng được công bố và các luận án tiến sĩ về nước khoáng cũng được bảo vệ thành công như các công trình của Cao Thế Dũng, Võ Công Nghiệp, Châu Văn Quỳnh, Ngô Ngọc Cát, Đỗ Tiến Hùng, … với các mục đích đánh giá chất lượng nước khoáng phục vụ an dưỡng chữa bệnh, đánh giá tiềm năng và khai thác năng lượng địa nhiệt và các mục đích khác…

Trang 25

Phương pháp thủy địa hóa tìm kiếm các mỏ khoáng sản vẫn được Hồ Vương Bính và các đồng nghiệp duy trì tuy nhiên những năm gần đây vấn đề này lại không được chú ý như trước (bằng chứng là có rất ít công trình đề cập đến vấn đề này) Vào những năm cuối của thập kỷ 70, một số bài báo, báo cáo về các vấn đề thủy địa hóa đã được công bố trong các hội nghị khoa học của trường Đại học Mỏ Địa chất

Năm 1980 trong báo cáo tổng kết đề tài cấp nhà nước “Điều kiện ĐCTV Tây Bắc Việt Nam” đã có tờ bản đồ thủy địa hóa tỷ lệ 1:500.000 do Nguyễn Kim Ngọc thực hiện

Năm 1985 trong báo cáo tổng kết đề tài “Nước dưới đất cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” do Vũ Ngọc Kỷ làm chủ nhiệm cũng đã thành lập bản đồ thủy địa hóa tỷ lệ 1:1.000.000, trong đó có một chương riêng nêu các đặc điểm thủy địa hóa lãnh thổ Việt Nam

Sự hình thành thành phần hóa học nước dưới đất ở đồng bằng Bắc Bộ, Nam

Bộ đã được chú ý nghiên cứu không chỉ trong các đề tài khoa học, bài báo khoa học

mà còn là đề tài luận án phó tiến sĩ của các nghiên cứu sinh: Hoàng Văn Hưng, Nguyễn Việt Kỳ, Đỗ Tiến Hùng, …Sự hình thành thành phần hóa học nước ngầm dải ven biển miền Trung cũng đã được quan tâm vào những năm cuối của thế kỷ 20

và đầu thế kỷ 21

Trong giai đoạn này một hướng mới trong nghiên cứu Thủy địa hóa đó là

“Địa chất thủy văn đồng vị” đã được Bùi Học thực hiện và sau đó là Vũ Kim Tuyến

đã bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ và hiện cũng đang lôi cuốn một nghiên cứu sinh khác nghiên cứu theo hướng này

Những năm gần đây nghiên cứu ô nhiễm càng được quan tâm, đặc biệt nghiên cứu ô nhiễm các hợp chất nitơ, arsen Các nghiên cứu về ô nhiễm đã có nhiều nét mới là chú ý đến các nguồn tác động trực tiếp đến nước ngầm như nghiên cứu tác động của các bãi chôn lấp chất thải, các nghĩa trang, nghiên cứu vai trò của các lớp lót đáy, các bãi chôn lấp chất thải; nghiên cứu đới thông khí và sự biến đổi thành phần của các lớp thông khí …

Lĩnh vực nghiên cứu Thủy địa hóa các mỏ dầu khí cũng được chú ý với các nghiên cứu của Tô Quang Nhụ, Hoàng Đình Tiến và mới đây Trần Văn Xuân cũng

đã nghiên cứu về thủy địa hóa mỏ dầu Bạch Hổ

Như vậy trong giai đoạn này (sau 1975) Thủy địa hóa đã được phát triển khá rộng trên nhiều mặt của ĐCTV mà không bó hẹp như các năm 60 –70 của thế kỷ

XX

- Đối với khu vực Nam Bộ:

‚ Năm 1983, cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế phối hợp với Viện Năng lượng nguyên tử quốc gia và sau đó có sự cộng tác của Liên đoàn địa chất thuỷ văn – địa chất công trình đã tiến hành nghiên cứu thuỷ văn đồng vị ở đồng bằng Cửu Long đã cho kết luận về tuổi và nguồn gốc nước dưới đất của các tầng chứa nước

‚ Năm 1986, hai đề tài cấp nhà nước của Trần Hồng Phú và của Trần Lã về tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng sông Cửu Long đã đánh giá được nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất

Trang 26

‚ Năm 1991, Vũ Văn Nghi và Hans Weslling đã tiến hành đánh giá tổng hợp tài nguyên nước dưới đất của đồng bằng sông Cửu Long thuộc dự án quy hoạch tổng thể vùng cùng với các công trình nghiên cứu của GS.Nguyễn Kim Cương, KS.Phạm Chín, PTS.Hoàng Văn Hưng cũng đã nghiên cứu về nguồn gốc hình thành nước của đồng bằng sông Cửu Long với nhiều quan điểm khác nhau Bùi Thế Định và các tác giả – Bản đồ ĐCTV Nam Bộ – năm 1991

‚ Chuyên khảo nước dưới đất đồng bằng Nam Bộ – Vũ Văn Nghi và các tác giả – Năm 1993

‚ Báo cáo đánh giá tiềm năng nước dưới đất TPHCM – Vũ Văn Nghi –Năm

1989

‚ Đặc trưng động thái nước dưới đất vùng đồng bằng Nam Bộ – Cục địa chất

và khoáng sản Việt Nam – Năm 1991 – 1997

‚ Năm 1996, TS Đỗ Tiến Hùng đã nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá và sự hình thành thành phần hoá học nước dưới đất đồng bằng Nam Bộ

‚ Báo cáo điều tra địa chất đô thị vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ – Trần Hồng Phú – Năm 1997 Báo cáo đã lập được bản đồ địa chất môi trường, bản đồ phân bố các nguyên tố vi lượng đất và bùn

‚ Năm 1998, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, cụ thể là một số tác giả thuộc Liên đoàn 8 đã nghiên cứu nước dưới đất đồng bằng Nam bộ

‚ Trong đề án "Phân chia địa tầng N&Q nghiên cứu cấu trúc đồng bằng Nam Bộ" do Liên đoàn 8 thực hiện, KS.Nguyễn Kim Quyên đã sử dụng các tỷ số thuỷ hoá trong nghiên cứu nguồn gốc nước dưới đất ở đồng bằng Nam Bộ…

‚ Đặc điểm thuỷ địa hoá nước dưới đất trong các tầng chứa basaltoid vùng Bàu Lâm – Xuyên Mộc định hướng sử dụng Chủ nhiệm Võ Thị Kim Loan, Huỳnh Trung, Huỳnh Ngọc Sang, Nguyễn Phát Minh, đại học Khoa học Tự nhiên TP Hồ Chí Minh, 1999

‚ Trần Văn Khoáng và nnk thuộc Liên đoàn ĐCTV – ĐCCT miền Nam nghiên cứu nguồn gốc nước dưới đất ở Nam Bộ, năm 2003

‚ PGS TS Nguyễn Việt Kỳ và TS Đỗ Tiến Hùng đã nghiên cứu “Cơ chế hình thành các đới nhiễm mặn nước dưới đất vùng bắc sông Tiền” năm 2003

Như vậy, đối với đồng bằng Nam bộ, đã đánh giá được chất lượng nước, hiện trạng ô nhiễm những nguồn nước dưới đất và tác động của việc khai thác nước dưới đất, có đề cập đến nguồn gốc trữ lượng với nhiều quan điểm khác nhau

- Đối với thành phố Hồ Chí Minh:

‚ Báo cáo " Kết quả bản đồ địa chất công trình – địa chất thuỷ văn thành phố

Hồ Chí Minh tỷ lệ 1/50.000" năm 1989 của Đoàn Văn Tín cơ bản đã nêu được quy luật phổ biến về thành phần hoá học, sự nhiễm bẩn các nguồn nước, những dị thường thuỷ hoá và biểu hiện nước khoáng, sơ lược về vấn đề đồng vị thuỷ văn

‚ Báo cáo thăm dò sơ bộ nước dưới đất vùng Củ Chi – Hóc Môn – Nguyễn Quốc Dũng – Năm 1991 Báo cáo đã nêu được thuỷ hoá tầng chứa nước Pleistocen, Pliocen trên tỷ lệ 1/25.000 Biểu đồ thuỷ hoá theo chiều sâu, biểu đồ thuỷ hoá nước

Trang 27

‚ Báo cáo tìm kiếm nước dưới đất vùng Bình Chánh TPHCM – Lương Quang Luân – Năm 1993 Báo cáo đã thành lập được bản đồ thuỷ hoá vùng Bình Chánh tầng Pliocen trên và tầng Pliocen dưới

‚ Báo cáo tổng hợp đánh giá tài nguyên nước ngầm vùng TPHCM – TS Vũ Văn Nghi – Năm 1993 Báo cáo đã đánh giá tài nguyên nước dưới đất, điều tra địa chất thuỷ văn và đánh giá chất lượng nước, phân loại theo qui mô và giá trị sử dụng nước dưới đất

‚ Báo cáo điều tra địa chất đô thị TPHCM – Trần Hồng Phú – Năm 1997

‚ Báo cáo kết quả đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn – địa chất công trình tờ Quang Trung – Quận 12 – Liên hiệp địa chất Nam Bộ – TS.Vũ Văn Nghi – năm

1998 Báo cáo đã thành lập được bản đồ địa chất thuỷ văn của vùng theo từng tầng

và tiến hành phân tích nhiều mẫu nước

‚ Báo cáo kết quả đánh giá điều kiện địa chất thuỷ văn – địa chất công trình tờ Nhà Bè – Quận 7 – Liên hiệp địa chất Nam Bộ – TS.Vũ Văn Nghi – năm 1998 Báo cáo đã thành lập được bản đồ địa chất thuỷ văn của vùng theo từng tầng và tiến hành phân tích nhiều mẫu nước

‚ Báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học đề tài cấp Bộ TPHCM:"Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước ngầm tầng nông TPHCM – Huỳnh Ngọc Sang và Võ Thị Kim Loan – Năm 1999

‚ Báo cáo:" Một số vấn đề liên quan đến việc khai thác nước chủ yếu tầng Pleistocen khu vực nội thành TPHCM" – Trịnh Hữu Tuấn – Năm 2000

‚ Báo cáo "qui hoạch và sử dụng nước ngầm Thành phố" (năm 2001) đã phân tích, tổng hợp chất lượng nước, lập được các ranh giới mặn nhạt của ba tầng chứa nước, đánh giá được xu hướng biến đổi chất lượng nước

‚ Báo cáo kết quả bước 1 thăm dò , khai thác nước ngầm – Giai đoạn 1 công suất 15000m3/ngày vùng Bình Hưng – Bình Chánh TPHCM – TS Vũ Văn Nghi – Năm 2003 Báo cáo đã thành lập được bản đồ thuỷ hoá tỷ lệ 1/10.000, bản đồ địa chất thuỷ văn khu vực tỷ lệ 1/25.000

‚ Báo cáo:" Những đánh giá sơ bộ về sự nhiễm phèn nước dưới đất khu vực TPHCM liên quan đến việc khai thác nước" – Nguyễn Việt Kỳ, Trịnh Hữu Tuấn

‚ Ông Nguyễn Kiên Chính thuộc trung tâm hạt nhân TPHCM đã dùng kĩ thuật đồng vị trong nghiên cứu cơ chế nhiễm mặn nước ngầm ở thành phố Hồ Chí Minh

‚ Ông Trần Hồng Phú và ông Nguyễn Chí Vũ đã có nghiên cứu về hiện trạng địa hoá môi trường thành phố Hồ Chí Minh

‚ Năm 2005, Nguyễn Kiên Chính thuộc Trung tâm hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh đã ứng dụng kỹ thuật đồng vị và mô hình số nghiên cứu cơ chế nhiễm mặn, tính toán dự báo sự thay đổi biên mặn nhạt ở các tầng nước ngầm hiện hữu khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Như vậy, thuỷ địa hoá thành phố Hồ Chí Minh đã được xem xét đến thông qua việc nghiên cứu chất lượng nước, nhiễm mặn, nhiễm bẩn một cách tổng quát Nguồn gốc hình thành các thành phần hoá học nước dưới đất của đồng bằng Nam

Bộ nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng vẫn chưa được nghiên cứu sâu, nguồn gốc hình thành nước dưới đất thì có nhiều quan điểm khác nhau; mặt khác

Trang 28

việc đánh giá tác động của các hoạt động kinh tế xã hội đối với đặc điểm thủy địa

hoá thành phố hiện nay vẫn còn đang bỏ ngỏ

Tóm lại: vùng thành phố Hồ Chí Minh là một trong những vùng kinh tế trọng điểm nên đã được nhiều cơ quan của Trung ương, địa phương, các nhà địa chất – địa chất thủy văn nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các giai đoạn trước đã tiến hành là tài liệu tham khảo quan trọng, đáng tin cậy để lập báo cáo này

Trang 29

Chương III

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT 3.1 CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT

Theo tài liệu Địa chất khoáng sản thành phố Hồ Chí Minh của Liên đoàn bản

đồ địa chất miền Nam thành lập do tác giả Vũ Văn Vĩnh làm chủ biên, hoàn thành năm 2002 cho biết trên hầu hết diện tích của thành phố thường có mặt đồng thời 2 tầng cấu trúc: tầng móng gồm các đá gốc cứng chắc nằm ở phía dưới và tầng phủ gồm các trầm tích gắn kết yếu và bở rời xếp thành các lớp nằm ngang hoặc gần nằm ngang trên chúng

3.1.1 Giới Mezozoi (MZ)

Các đá này lộ ra trên diện tích không lớn ở Long Bình – quận 9; Giồng Chùa – Cần Giờ Trên phần lớn diện tích, chúng bị phủ bởi các trầm tích Kainozoi ở Thủ Đức, quận 9, Củ Chi, Gò Vấp, Cần Giờ và dọc theo dải đồng bằng phía tây thành phố, từ Thái Mỹ – Củ Chi qua Tân Túc – Bình Chánh

3.1.1.1 Các thành tạo trầm tích tuổi Jura sớm:

Đó là các đá trầm tích thuộc hệ tầng Đraylinh, chủ yếu là cát kết, cát bột kết

đa khoáng xen kẽ với đá phiến silic, sét kết màu đen, xám đen, xám, đôi chỗ có cấu tạo phân dải, xâm tán carbonat và sunfur

3.1.1.2 Các thành tạo trầm tích núi lửa tuổi Jura muộn – Kreta sớm:

Trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, các thành tạo trầm tích – núi lửa

Jura muộn – Kreta sớm chính là hệ tầng Long Bình

Chỉ lộ ra trên mặt với diện tích rất hạn chế ở vùng đồi Long Bình – quận 9; ở Giồng Chùa – Cần Giờ Các đá này chiếm diện tích chủ yếu của móng đá gốc dưới tầng phủ Neogen – Đệ tứ trên địa bàn thành phố Đó là các sản phẩm của quá trình hoạt động núi lửa diễn ra trong các bồn trũng qui mô nhỏ Trong thành phần mặt cắt của các thành tạo này có các tập đá núi lửa thành phần bazan – andesit porfyrit, andesit porfyrit, andesit – dacit porphyr, dacit porphyr, ryodacit porphyr, felsit porphyr và các trầm tích gồm cát kết tuf, đá phiến sét, bột kết màu đỏ

3.1.1.3 Các thành tạo magma xâm nhập tuổi Jura muộn – Kreta sớm:

Trang 30

Hiện nay, các thành tạo này chỉ gặp trong một số lỗ khoan sâu vùng Cần Giờ như lỗ khoan LK.172 ở khu vực Nông trường Thành đoàn Cần Giờ (độ sâu 175 –180m); LK.821 xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ (độ sâu 148 – 152m) Các thành tạo xâm nhập có cấu tạo khối, kiến trúc hạt vừa Chúng có thành phần tương ứng với nhóm đá granodiorit Các kết quả phân tích thành phần hoá học cho thấy chúng tương đối giàu kiềm Natri

3.1.2 Giới Kainozoi

Bao gồm các tập trầm tích nằm ngang xếp chồng lên nhau, tuổi Neogen – Đệ

tứ, bề mặt trên cùng của các tập trầm tích hạt mịn: sét hoặc bột sét, giữa các sàn là các tập trầm tích hạt thô: cát, cát sạn sỏi

3.1.2.1 Hệ tầng Bình Trưng: gồm các thành tạo trầm tích Miocen muộn, bề

dày chung là 19,4m, phần dưới gồm cát, sạn sỏi chứa các mảnh dăm gắn kết yếu bởi bột sét màu lục, phần trên gồm sét bột kết màu xám, phân lớp mỏng (từ 0,5 đến 4,0cm), giữa các lớp có thực vật hóa than màu đen, bị phủ bất chỉnh hợp bởi các

trầm tích Pliocen muộn hệ tầng Bà Miêu, dày 8,0m

3.1.2.2 Hệ tầng Nhà Bè: gồm các thành tạo trầm tích Pliocen sớm không lộ ra

trên bề mặt địa hình Ngoại trừ phần diện tích quận 9, phần phía đông bắc Thủ Đức, chúng được thấy trong hầu hết các lỗ khoan sâu trên diện tích còn lại của thành phố Chúng bao gồm các trầm tích gắn kết yếu, phần dưới là cát, cát sạn sỏi lẫn sét bột màu xám, xám xanh, trắng xám, nằm phủ trực tiếp trên móng đá gốc dày đến hơn 100m; phần trên là sét, sét bột hoặc bột sét lẫn ít cát màu xám, xám trắng loang

lổ, dày trên dưới 10 mét bị các trầm tích tuổi Pliocen muộn phủ lên trên

Tổ hợp khoáng vật vụn tha sinh trong trầm tích gồm: thạch anh, felspat, mảnh đá, mica, ilmenit, turmalin, zircon, leucoxen, molybden, granat, anata, siatholit, sfen, amphibol, rutin, andalusit, cho thấy nguồn cung cấp vật liệu của hệ tầng là khu vực phát triển các đá phun trào trung tính và đá biến chất

Những đặc trưng về thành phần khoáng vật tự sinh: trầm tích có chứa carbonat, tổ hợp khoáng vật sét là montmorilonit, hydromica, caolinit

Theo thời gian, từ dưới lên, trầm tích có xu hướng mịn dần, lượng sỏi sạn giảm, bột sét tăng lên, trầm tích chuyển từ cụm tướng đồng bằng châu thổ – tiền châu thổ sang cụm tướng tiền châu thổ – biển nông

Kết quả nghiên cứu chi tiết cột địa tầng các lỗ khoan cho thấy:

- Theo hướng tây bắc – đông nam (từ Củ Chi đến Cần Giờ), các thành tạo của hệ tầng xuất hiện ở các độ sâu khác nhau theo xu hướng chìm dần về phía Cần Giờ, trầm tích chuyển từ cụm tướng đồng bằng châu thổ sang cụm tướng tiền châu thổ và biển nông

- Theo hướng đông bắc – tây nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh), chúng ta cũng bắt gặp những nét biến đổi tương tự và rõ nét: bề mặt nóc của các trầm tích Pliocen sớm chìm dần dạng bậc thang Trầm tích có độ hạt mịn dần, chuyển từ cụm tướng đồng bằng châu thổ sang cụm tướng tiền châu thổ và biển nông

3.1.2.3 Hệ tầng Bà Miêu và hệ tầng Trảng Bom: gồm các thành tạo trầm tích

Trang 31

bắt đầu bằng tập trầm tích hạt thô chủ yếu là cát sạn pha bột sét và kết thúc bằng tập trầm tích hạt mịn, hầu hết là sét bột phân lớp mỏng đến dày

Các trầm tích Pliocen muộn – Pleistocen sớm có chứa hàm lượng cao và khá

ổn định các nguyên tố Mn, Ca, Na, Mg, ngoài ra còn gặp di tích Tảo nước mặn và Trùng lỗ

Các trầm tích Pliocen muộn – Pleistocen sớm thể hiện sự biến đổi rõ ràng về môi trường trầm tích theo thời gian trong các mặt cắt lỗ khoan: tập dưới được hình thành trong môi trường châu thổ ngầm (delta front) và đồng bằng châu thổ trên cạn (delta plain) với các khoáng vật tha sinh thường gặp là thạch anh, felspat, mảnh đá,

ilmenit, turmalin, andalusit, zircon; tập trên hình thành trong môi trường sườn châu

thổ (prodelta) và biển nông ven bờ (margin marine) với sự có mặt của các khoáng vật tự sinh như siderit, carbonat

Hệ tầng Thủ Đức: gồm các thành tạo trầm tích Pleistocen giữa – muộn phủ

lên trên gần khắp diện tích của thành phố, nhưng chỉ lộ ra trên các đồi thềm cao 20 – 40m ở Thủ Đức, quận 9, 10 – 20 m ở Củ Chi, về cơ bản chúng thường bắt đầu bằng 2 phần, phần dưới gồm cát sạn sỏi màu vàng chứa sét bột màu trắng xám

Phần trên gồm chủ yếu là cát lẫn ít sạn pha sét bột màu đỏ gắn kết trung bình, dày

13m Tướng trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ

Tổ hợp khoáng vật vụn tha sinh trong mặt cắt này gồm: thạch anh, mảnh đá, felspat, turmalin, ilmenit, zircon, leucocen, rutin, phản ánh nguồn cung cấp là khu vực phân bố các đá biến chất và các đá magma trung tính

Trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, các trầm tích thuộc tầng Thủ Đức

có sự biến đổi nhanh về thành phần và tướng theo không gian và thời gian

Theo thời gian thành tạo, từ dưới lên trên, kích thước cấp hạt giảm, hàm lượng sét tăng, hệ số chỉ thị tướng trầm tích giảm dần: các trầm tích chuyển từ cụm tướng biển ven bờ (wave dominated macrofacies), cụm tướng đồng bằng châu thổ (delta plain macrofacies) lên cụm tướng trầm tích biển nông (margin marine macrofacies) và cụm tướng tiền châu thổ (delta front macrofacies)

Theo hướng tây bắc – đông nam, trầm tích thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ với bề mặt nóc lộ ra ở độ cao tuyệt đối 10 – 20m ở khu vực tây bắc Củ Chi; trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ chỉ gặp trong lỗ khoan ở độ sâu khoảng 5 – 9m ở khu vực Hóc Môn – nội thành; trầm tích thuộc cụm tướng biển ven bờ và biển nông được thấy từ khoảng sâu dưới 30m ở khu vực Nhà Bè – Cần Giờ

Theo hướng đông bắc – tây nam, trầm tích chuyển từ cụm tướng đồng bằng châu thổ với bề dày 27m tại Linh Xuân – Thủ Đức qua cụm tướng tiền châu thổ với

bề dày 35m ở phường 19 quận Tân Bình đến cụm tướng biển nông với bề dày 35 –40m ở An Lạc, Tân Túc, Bình Chánh

Hệ tầng Củ Chi: gồm các thành tạo trầm tích Pleistocen muộn lộ ra trên các

bậc thềm bậc II, nhưng chủ yếu bị phủ bởi các trầm tích có tuổi Holocen ở phía trên, gồm 2 phần, phần dưới cuội sỏi thạch anh, kích thước từ 1 đến 3cm, có cuội téctit mài tròn Trong chúng có chứa tảng lăn laterít, phần trên gồm cát bột, sạn màu xám bị phong hóa yếu loang lổ, nâu vàng, chiều dày 2,0 – 4m

Chúng được thành tạo trong thời kỳ biển tiến tương ứng với thời kỳ gian băng Riss – Wurm Trước thời kỳ này, toàn vùng đã được nâng lên bóc mòn, phong

Trang 32

hoá và bị chia cắt xâm thực Biển tiến Pleistocen muộn đã theo các phần trũng, thấp của địa hình tràn vào lãnh thổ thành phố Hồ Chí Minh, tích tụ ở đó các trầm tích có các nguồn gốc khác nhau như sông, sông – biển và biển

Theo hướng tây bắc – đông nam (từ Củ Chi đến Cần Giờ), bề mặt nóc của hệ tầng thấp dần: phân bố ở độ cao tuyệt đối 5 – 15m ở khu vực Củ Chi và 4 – 10m ở khu vực nội thành với các trầm tích thuộc cụm tướng trầm tích đồng bằng châu thổ – tiền châu thổ; -15 đến -16 m ở khu vực Nhà Bè – Cần Giờ với các trầm tích thuộc cụm tướng trầm tích biển ven bờ – biển nông

Theo hướng đông bắc – tây nam (từ Thủ Đức đến Bình Chánh), độ cao tuyệt đối nóc của hệ tầng có giảm dần: độ cao 5 – 15m tại khu vực Thủ Đức, 4 – 10 m ở khu vực nội thành với các trầm tích thuộc cụm tướng trầm tích đồng bằng châu thổ – tiền châu thổ và -22 đến -25 m ở khu vực tây nam Bình Chánh với các trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ – sườn châu thổ

3.1.2.4 Hệ tầng Bình Chánh gồm thành tạo trầm tích Holocen sớm – giữa

phát triển rộng rãi trong khu vực đồng bằng Nam Bộ Thời gian thành tạo của chúng tương ứng với thời kỳ biển tiến Flandrian trên thế giới

Các trầm tích này phân bố rộng rãi ở các phần đồng bằng, thềm thấp của thành phố, nhưng chỉ lộ ra trên địa hình chủ yếu ở Bình Chánh, nam Hóc Môn, khu vực các quận nội thành đến độ cao 2 – 5m Thành phần chủ yếu của tầng là bột – sét, bột – sét pha cát, ít gặp hơn là cát chứa sạn pha bột sét Tầng bột – sét của thành tạo này thường có màu xám xanh chứa di tích sò ốc, Trùng lỗ và Bào tử – Phấn hoa vùng đầm lầy ngập mặn Chúng được thành tạo trong điều kiện biển nông, vũng vịnh và tiền châu thổ

Theo thời gian từ cổ đến trẻ, kích thước trung bình cấp hạt giảm, hàm lượng bột – sét tăng, trầm tích phân bố tập trung về phía các cấp hạt nhỏ; tướng trầm tích chuyển từ cụm tướng đồng bằng châu thổ hoặc châu thổ phá hủy đến cụm tướng trầm tích sườn châu thổ hoặc sét biển nông Sự sắp xếp như vậy chứng tỏ ảnh hưởng của biển mạnh dần lên trong quá trình thành tạo các trầm tích Holocen sớm – giữa Nói một cách khác, từ đầu đến cuối thời gian thành tạo trầm tích Holocen sớm – giữa biển đã tiến vào sâu hơn trong đất liền, mở rộng phạm vi tích tụ và nhiễm mặn trên các vùng trũng thấp

Theo hướng tây bắc – đông nam, từ Củ Chi – khu nội thành đến khu Nhà Bè – Cần Giờ, kích thước cấp hạt giảm dần, tổ hợp cộng sinh tướng trầm tích chuyển từ cụm tướng tiền châu thổ sang cụm tướng sét biển nông ven bờ

Theo hướng đông bắc – tây nam, từ Thủ Đức đến Bình Chánh, chúng tạo thành các dải tích tụ dày mỏng xen kẽ nhau Sự xen kẽ này phản ánh hình thái địa hình trước khi thành tạo trầm tích (trước biển tiến Flandrian), đó là sự xen kẽ nối tiếp nhau giữa các thung lũng xâm thực sâu đến 20 – 22m (dải sông Sài Gòn và dải Bình Chánh) với các đường chia nước rộng thoải cao đến 5 – 30m giữa chúng

Khi biển tiến, ở phần địa hình cao chỉ có tích tụ với bề dày mỏng; ở phần địa hình thấp (dưới 5m) dọc theo các thung lũng xâm thực, ảnh hưởng của biển lên tới Thái Mỹ, Trung An, huyện Củ Chi Các tích tụ dọc theo các thung lũng xâm thực thường phản ánh sự tranh chấp ưu thế giữa các hoạt động của sông và biển Tại các

Trang 33

và nước ít bị nhiễm mặn, nhiễm phèn hơn so với phần đồng bằng thấp, trầm tích bị che phủ bởi nước mặn hoặc bị nhiễm mặn Các trầm tích này thường được chôn vùi gần bề mặt địa hình hiện tại, cho đến nay, chúng vẫn được coi là những vùng nước mặn hoặc nhiễm mặn với tầng đất yếu dày lộ gần trên mặt

3.1.2.5 Hệ tầng Cần Giờ: gồm thành tạo trầm tích Holocen giữa – muộn được

hình thành trong thời kỳ biển lùi, tiếp theo sau kỳ biển tiến Flandrian Chúng chiếm tới 60% diện tích của thành phố Tuy bề dày không lớn, nhưng đây là thành tạo địa chất trẻ nhất, lộ ra gần hoàn toàn trên bề mặt địa hình đồng bằng thấp với nhiều cụm tướng khác nhau

Trầm tích biển ven bờ phân bố thành các dải rộng gần song song với đường

bờ hiện tại ở Cần Giờ.Thành phần thạch học gồm phần dưới : Bột sét, bột sét pha cát màu xám, xám lục chứa vụn sò ốc, di tích Trùng lỗ, Tảo nước mặn và Bào tử –

Phấn hoa vùng ngập mặn, thuộc tướng sét biển nông Phần trên: cát pha bột màu

xám, nâu vàng, gắn kết yếu chứa di tích Tảo nước mặn, Bào tử – Phấn hoa và Trùng

lỗ, dày 2m

Các trầm tích thuộc cụm tướng châu thổ phá huỷ: phân bố chủ yếu ở cửa

sông Nhà Bè, chiếm phần lớn diện tích Cần Giờ Thành phần thạch học gồm phần

dưới: bột-sét màu xám đen mịn dẻo lẫn vảy mica, dày 8m Trầm tích được thành tạo trong môi trường vũng vịnh nửa hở Phần trên: sét màu đen chứa thực vật phân hủy,

dày 2m Các thông số độ hạt khác cho thấy trầm tích hình thành trong môi trường cửa sông thiếu hụt trầm tích, tướng bãi triều cao

Các trầm tích thuộc cụm tướng tiền châu thổ: phân bố chủ yếu ở Bình

Chánh, Nhà Bè và ít diện tích nhỏ ở Cần Giờ Thành phần thạch học gồm phần dưới: Sét màu xám đen chứa mùn thực vật, dày 1m Tập này phủ trực tiếp trên lớp sét màu xám xanh thuộc hệ tầng Bình Chánh Trầm tích thuộc tướng sét bãi lầy

ngập mặn ven biển Phần trên: bột sét, bột – sét pha cát màu xám đen, xám nhạt

Các trầm tích thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ: phát triển chủ yếu ở

phía nam Thủ Đức, dọc Sông Sài Gòn từ Củ Chi đến Thanh Đa Chúng bao gồm các trầm tích liên quan với hoạt động của sông ở phần hạ lưu gồm các tích tụ tướng lòng, tướng bãi bồi ven sông, bãi bồi phủ tràn và tích tụ đầm lầy ở các vùng gian sông

Như vậy, qua các kiểu cụm tướng trầm tích kể trên, với các tài liệu về Bào tử – Phấn hoa, Trùng lỗ, Tảo, các quan hệ địa chất, các đặc điểm địa mạo, các trầm tích của tầng Cần Giờ được xem như hình thành trong giai đoạn biển thoái kế tiếp

từ sau biển tiến Flandrian trong Holocen giữa đến nay với các tướng trầm tích thuộc các cụm tướng đồng bằng châu thổ, tiền châu thổ, cửa sông thiếu hụt trầm tích và biển nông ven bờ

Trang 34

3.2 ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO

3.2.1 Đứt gãy

Theo các tài liệu nghiên cứu địa chất khu vực của tác giả Vũ Văn Vĩnh – Trung tâm Viễn thám – GIS thuộc Liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam thì thành phố Hồ Chí Minh nằm trong phạm vi hoạt động hoặc chịu ảnh hưởng hoạt động của đới đứt gãy Vàm Cỏ Đông – sông Sài Gòn, đới đứt gãy Lộc Ninh – Thủ Dầu Một Ngoài ra, theo tài liệu trọng lực của Cao Đình Triều năm 2002, thành phố Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của hệ thống các đứt gãy phương vĩ tuyến như sau

- Đứt gãy sông Sài Gòn (F1) có phương tây bắc – đông nam, trên bề mặt chạy

dọc theo sông Lái Thiêu – rạch Gò Dưa về phía phường Cát Lái, quận 2 Trong suốt Pliocen – Pleistocen sớm, đứt gãy này luôn là ranh giới phân chia giữa vùng tích tụ các trầm tích thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ ở cánh đông bắc với các trầm tích thuộc cụm tướng châu thổ hoặc tiền châu thổ ở cánh tây nam Sau khi thành tạo các trầm tích Pleistocen muộn, có lẽ đứt gãy này vẫn tiếp tục hoạt động Dọc theo

nó đã hình thành một thung lũng xâm thực – kiến tạo với độ sâu xâm thực đến 20 – 30m dọc tuyến hoạt động của sông Sài Gòn hiện nay, để trên cơ sở đó, biển tiến Holocen sớm giữa có thể tiến sâu vào đến khu vực Trung An huyện Củ Chi Dư âm hoặc ảnh hưởng của đứt gãy này có thể còn kéo dài tới Holocen muộn, định tuyến đặt lòng của sông Lái Thiêu – rạch Gò Dưa, giới hạn phía đông bắc đai uốn khúc sông Sài Gòn, trực tiếp hoặc gián tiếp làm tiền đề thuận lợi thúc đẩy các quá trình xâm thực phá hủy, sạt lở bờ sông, trong đó có đoạn sạt lở mạnh như đoạn sông chảy

Trang 35

- Đứt gãy Hóc Môn – Bình Thạnh (F 2 ) kéo dài từ Tân Thạnh Tây – Củ Chi,

qua Đông Thạnh – Hóc Môn đến khu vực hội lưu sông Sài Gòn với sông Đồng Nai Biểu hiện hoạt động của đứt gãy trong các thời kỳ sau không rõ ràng

- Đứt gãy Bình Chánh – Cần Giuộc (F 3 ) có phương đông bắc – tây nam Cánh

đông bắc được nâng lên với độ chênh cao của bề mặt đá gốc là 80m, của trầm tích Pliocen sớm là 37m và Pliocen – Pleistocen sớm là 20m Trong suốt quá trình trầm tích, đứt gãy luôn là ranh giới giữa 2 vùng có các cụm tướng trầm tích khác nhau: cụm tướng trầm tích đồng bằng châu thổ hoặc tiền châu thổ ở cánh đông bắc, cụm tướng tiền châu thổ hoặc biển nông ở cánh tây nam

- Đứt gãy Hậu Nghĩa – An Thạnh (F 4 ) có phương á vĩ tuyến chạy ngang qua

khu vực thị trấn Củ Chi Do nâng hạ, cánh phía bắc được nâng lên, chênh lệch độ cao giữa 2 cánh của móng đá gốc là 47m, của nóc trầm tích Pliocen sớm là 24m, của tập sét bột thuộc trầm tích Pliocen – Pleistocen sớm: 6m

- Đứt gãy Đức Hòa – Long Thành (F 5 ) có phương á vĩ tuyến chạy ngang qua

khu vực thị trấn An Lạc và khu vực hợp lưu của sông Sài Gòn với sông Đồng Nai Hoạt động nâng hạ ở hai cánh của đứt gãy chỉ xảy ra trong khoảng thời gian từ Pleistocen muộn trở về sau Thời gian của sự kiện này có thể liên hệ với thời kỳ phun trào tương đối mạnh mẽ vào Pleistocen muộn thành tạo nên các đá phun trào thuộc hệ tầng Phước Tân, hệ tầng Cây Gạo, hệ tầng Sóc Lu ở khu vực phía đông thành phố Trong Holocen giữa và muộn, đứt gãy vẫn tiếp tục có ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển của các yếu tố địa hình, làm cho sông Đồng Nai đổi hướng đột ngột 900, từ hướng đông nam chảy định tuyến hướng tây và tây – tây nam trên chiều dài trên 10 km

- Đứt gãy Tam Thôn Hiệp (F6) có phương vĩ tuyến chạy qua khu vực Tam

Thôn Hiệp huyện Cần Giờ Đứt gãy có lẽ còn hoạt động cho tới Holocen giữa – muộn làm cho sông Soài Rạp và sông Lòng Tàu bị đổi hướng đột ngột và nhiều đoạn dòng chảy được định tuyến theo đứt gãy

- Đứt gãy Soài Rạp (F7) có phương kinh tuyến, chạy qua khu vực mũi Đèn

Đỏ, sông Nhà Bè – Soài Rạp Trong hệ thống đứt gãy khu vực, nó là một phần của đới đứt gãy Lộc Ninh – Thủ Dầu Một đi qua thành phố Hồ Chí Minh Dọc theo đứt gãy, khí phóng xạ Radon Rn và Thoron Tn thoát ra mạnh, đặc biệt ở những nơi xảy

ra nứt đất ở Bình Long, Thới Hòa, Đức Hạnh, Tân Uyên Điều này cho thấy đứt gãy tái hoạt động trong Holocen Đứt gãy đã làm thay đổi hướng chảy của sông Nhà Bè

từ đông nam sang hướng nam trong khoảng dài đến 35km

Các đứt gãy có vai trò quan trọng trong quá trình địa chất Trong quá trình địa chất, chúng có thể góp phần kiến tạo nên hoặc phá hủy, làm hư hại, biến đổi những phần khác nhau của lãnh thổ

Trang 36

3.2.2 Đặc điểm địa mạo, tân kiến tạo

Trên cơ sở phân tích hình thái, nguồn gốc đã phân chia 3 kiểu kiến trúc hình thái bậc III và 12 kiểu kiến trúc hình thái bậc IV trong phạm vi nghiên cứu

- Kiến trúc bậc III gồm:

‚ Đồng bằng xâm thực – tích tụ rìa võng Bến Cát – Thủ Đức

‚ Đồng bằng tích tụ – xâm thực rìa võng Củ Chi – Hóc Môn

‚ Đồng bằng tích tụ rìa võng Nhà Bè – Duyên Hải

Trang 37

Chúng phân bố ở khu vực Long Bình bắc Thủ Đức và đông bắc Củ Chi Bề mặt địa hình tạo nên dạng đồi lượn sóng, đỉnh rộng, sườn dốc thoải Trên bề mặt phát triển các quá trình rửa trôi, xói mòn

- Thềm bậc II có độ cao 5 –15m phân bố ở Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn, Sài

Gòn Chúng cũng phân chia thành 2 loại nguồn gốc: xâm thực và tích tụ – xâm thực Các bề mặt thềm bậc II thường bằng phẳng và hơi nghiêng về phía tây nam Các đất đá cấu tạo nên các bậc thềm trên là các trầm tích Pleistocen

- Thềm bậc I có độ cao 2 – 4m, đồng bằng có độ cao 1 – 2m, các bãi bồi cao

và đồng bằng ven biển có độ cao 0 – 1m, các giồng cát ven biển Các đất đá cấu tạo nên các địa hình trong các vùng tích tụ chủ yếu là các trầm tích Holocen Bề mặt địa hình hiện còn bị ảnh hưởng bởi các hoạt động thuỷ triều

3.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐỊA CHẤT

Theo tài liệu nghiên cứu địa chất hiện nay, lịch sử phát triển địa chất của thành phố đã trải qua 2 giai đoạn phát triển để tạo nên các tầng đất đá và các bề mặt địa hình cùng hàng loạt các yếu tố tự nhiên khác

3.1.1 Giai đoạn Mezozoi muộn (MZ 2 )

Trong Jura sớm, cách nay khoảng 200 – 175 triệu năm, ở Nam Trung Bộ đã hình thành một bồn biển nông được lấp đầy hầu như chỉ bởi các trầm tích lục nguyên Trong phạm vi thành phố Hồ Chí Minh, đó là các trầm tích được mô tả vào

hệ tầng Đray Linh, gồm đá phiến sét phân dải, đá phiến sét vôi, cát kết vôi, bột kết vôi Jura giữa là thời kỳ nâng lên xâm thực và bóc mòn Thời kỳ này có thể đã kéo dài đến Jura muộn

Quá trình chuyển động nâng hạ của vỏ trái đất và xâm thực bóc mòn kết thúc vào cuối Jura muộn – Kreta sớm (trong khoảng 100 – 150 triệu năm trước) đã hình thành trên diện tích thành phố những bồn trũng quy mô nhỏ với các trầm tích phun trào trong điều kiện biển nông gần bờ và các vũng vịnh, có mặt các thành tạo đá phiến sét vôi, silic – sét than, vôi – silic than, sét vôi, sét than phân lớp mỏng, nằm xen trong các đá phun trào trung tính

Bắt đầu từ khoảng xấp xỉ 100 triệu năm trước trở đi lục địa Đông Nam Á trở thành rìa lục địa tích cực Hầu khắp lãnh thổ trên đất liền và thềm lục địa Việt Nam ngày nay đều có biểu hiện của đai xâm nhập – núi lửa Kreta Sau đó các hoạt động căng dãn trên cung magma xảy ra trong khoảng 85 – 80 triệu năm tạo nên các bồn trũng như bồn trũng Đơn Dương được lấp đầy bởi môlát màu đỏ ở dưới và các phun trào cao nhôm ở phía trên Sau giai đoạn này, lãnh thổ được nâng lên bóc mòn, tham gia vào quá trình thành tạo "Bề mặt san bằng Đông Dương"

3.1.2 Giai đoạn Kainozoi (KZ)

Thời kỳ Miocen muộn:

Bề mặt san bằng Miocen muộn phát triển rộng rãi ở Nam Trung Bộ được nâng lên dạng vòm Đây chính là bề mặt móng đá gốc hiện nay Tích tụ tương quan với chúng, có lẽ là các trầm tích Miocen muộn đang xếp vào hệ tầng Bình Trưng Bề

Trang 38

mặt này đang bị các trầm tích của tầng Nhà Bè tuổi Pliocen sớm phủ lên ở hầu hết các quận nội thành, các huyện Bình Chánh, Củ Chi và Cần Giờ

Thời kỳ Pliocen sớm: thời kì này kéo dài từ khoảng 5,33 – 3,6 triệu năm cách đây

Vào thời kỳ này, một số đứt gãy trong hệ thống đứt gãy sông Sài Gòn hoạt động trở lại Khu đông bắc đứt gãy sông Sài Gòn, địa hình được nâng lên bóc mòn tựa như một hòn đảo nổi trong lúc đó rìa tây nam của đứt gãy này có tích tụ trầm tích nhưng bề dày chỉ đạt 10 – 25m Trên các phần diện tích còn lại các hoạt động trầm tích đã diễn ra ở quy mô lớn hình thành tầng trầm tích có bề dày tương đối ổn định: 75 – 100 – 120m

Thời kỳ Pliocen muộn – Pleistocen sớm: thời kì này kéo dài từ khoảng 3,6 – 0,7 triệu năm cách đây

Đầu thời kỳ này, trong khu vực các chuyển động hạ lún kiến tạo chiếm ưu thế

đã tạo nên một bồn trũng lớn bao trùm trên một khu vực rộng thuộc miền Đông và miền Tây Nam Bộ Trong bồn trũng này đã tích tụ các trầm tích Pliocen muộn – Pleistocen sớm Phần dưới của tầng là các trầm tích hạt thô chủ yếu thuộc tướng đồng bằng châu thổ, có khả năng chứa nước nhạt phong phú Phần trên của tầng là tập trầm tích sét bột chủ yếu thuộc tướng biển nông và tiền châu thổ

Sau thời kỳ thành tạo các trầm tích Pliocen muộn – Pleistocen sớm, vùng đất thành phố được nâng lên và trải qua các quá trình bóc mòn, xâm thực và phong hoá mạnh mẽ Do bóc mòn, bề dày tập sét thuộc hệ tầng Bà Miêu giảm còn 5 – 15 m ở vùng nội thành, huyện Hóc Môn, quận 2, quận 9, nam Cần Giờ Dọc theo trũng Kênh Xáng – Rạch Tra, quá trình xâm thực đã bóc trụi tập sét này tạo ra các cửa sổ thủy lực Qua các cửa sổ này, ô nhiễm trên mặt như ô nhiễm nước thải, rò rỉ từ bãi rác Đông Thạnh, Rạch Tra, Kênh Xáng có thể ảnh hưởng đến tầng chứa nước ở dưới sâu Quá trình bóc mòn, xâm thực đồng thời cũng là quá trình phong hoá Các tập sét bột bị laterit hoá có màu loang lỗ trắng đỏ, hoặc tím đỏ trắng loang lỗ dày một vài mét phân bố rộng rãi ở nhiều nơi

Thời kỳ Pleistocen giữa – nửa đầu Pleistocen muộn: tương ứng với khoảng 700.000 – 70.000 năm trước hiện tại

Vào đầu thời kỳ, mực nước biển bắt đầu dâng lên, trên diện tích thành phố xuất hiện tầng vật liệu trầm tích hạt thô đầu tiên thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ Đến gian băng Mindel – Riss, khi mực nước biển dâng cao chỉ còn khu vực Long Bình nhô cao chịu ảnh hưởng của quá trình bóc mòn Tại các khu vực Thủ Đức, Long Bình, quận 2, quận 7 và một phần phía bắc huyện Nhà Bè và Củ Chi diễn ra quá trình tích tụ các vật liệu trầm tích cát bột thuộc cụm tướng tiền châu thổ Trong khi đó tại khu vực Cần Giờ xuất hiện các trầm tích thuộc cụm tướng biển nông Các khu vực còn lại tích tụ vật liệu trầm tích thuộc cụm tướng biển ven bờ Cuối thời kỳ này, toàn vùng được nâng lên, bị bóc mòn xâm thực tạo thềm và phong hóa Kết quả của quá trình bóc mòn là đã tạo nên các đồi thềm nhô cao bị chia cắt tạo địa hình lượn sóng thoải, hoặc các vùng đồng bằng bóc mòn thấp trên nền các trầm tích của tầng Thủ Đức Các đồng bằng như vậy còn được thấy trên các khu vực đồi thềm Thủ Đức và Củ Chi hiện nay

Trang 39

Thời kỳ nửa sau của Pleistocen muộn: kéo dài trong khoảng từ 70.000 – 18.000 năm tính đến nay, tương ứng với khoảng thời gian từ đầu giai đoạn gian băng Riss – wurm đến hết băng hà Wurm

Giai đoạn đầu của thời kỳ này, xuất hiện các vật liệu trầm tích hạt thô lót đáy của tầng Củ Chi thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ ở khu vực Củ Chi, Thủ Đức, thung lũng sông Sài Gòn và cụm tướng tiền châu thổ khu vực trũng Lê Minh Xuân – Bình Chánh, khu vực Cần Giờ Sau giai đoạn này xuất hiện biển tiến sâu vào đất liền Các trầm tích chuyển từ tướng đồng bằng châu thổ sang cụm tướng tiền châu thổ có bột – sét tướng gian sông vịnh Trong các thung lũng và ven rìa khu vực nâng Củ Chi, Thủ Đức xuất hiện cát thạch anh hạt mịn tướng biển ven bờ Trong các khu vực trũng Lê Minh Xuân, Cần Giờ có mặt các trầm tích tướng biển nông gần bờ

Vào cuối thời kỳ này, các trầm tích Pleistocen muộn được nâng lên chịu bóc mòn, chia cắt, xâm thực Một số vùng như quận 2, dọc sông Sài Gòn, trũng Lê Minh Xuân, , các trầm tích Pleistocen muộn được bảo tồn kém, ít gặp hoặc có mặt với bề dày không đáng kể

Thời kỳ Holocen sớm – giữa: Thời kỳ này kéo dài khoảng 6.000 năm

Sau thời kỳ băng hà Wurm, cho đến khoảng 10.000 năm trước hiện tại đã bắt đầu xuất hiện các hoạt động trầm tích tạo các tập cát pha bột thuộc cụm tướng đồng bằng châu thổ Khu vực dọc theo thung lũng sông Sài Gòn, đoạn từ Bình Triệu đến

Củ Chi đã phát triển các trầm tích cửa sông Các khu vực Thủ Đức, Củ Chi, Hóc Môn – khu trung tâm thành phố được nâng lên và bị chia cắt bởi các lạch thoát triều Trong giai đoạn này, khu vực quận 2 và phần phía bắc của Nhà Bè cùng với các khu vực Bình Chánh, Cần Giờ có tích tụ các vật liệu trầm tích thuộc cụm tướng gian sông vịnh và biển nông Đến khoảng 6000 – 4500 năm tính đến nay, tương ứng với thời kỳ biển tiến cực đại Flandrian, khu vực Cần Giờ xuất hiện các trầm tích biển nông xa bờ với các di tích Trùng lỗ và các loài sống trôi nổi ngoài biển khơi Trên các khu vực còn lại, diễn ra quá trình tích tụ vật liệu hạt mịn tướng gian sông – vịnh Tiếp theo thời kỳ này là thời kỳ biển thoái thành tạo các trầm tích và các yếu

về phía đông nam thành phố đã được thấy ở Giồng Ông Tố, quận 2, và hàng loạt các giồng ở Cần Giờ Phủ lên các lớp trầm tích hạt mịn (sét –bột) của thời kỳ biển tiến là các lớp trầm tích thô hơn (thường gặp là cát, cát bột hoặc bột cát sét) Diện tích có độ cao dưới 1,2m thường bị ảnh hưởng của thủy triều và ngập lũ chiếm khoảng 90% diện tích phân bố của các thành tạo này Do vậy, trên bề mặt này, quá trình trầm tích vẫn xảy ra trong hiện tại với các trầm tích phần lớn có yếu tố đầm lầy dưới ảnh hưởng của thủy triều và lũ tràn

Trên bề mặt đồng bằng, các dòng sông và kênh rạch uốn khúc rất mạnh, tạo nên ở nhiều nơi các khúc uốn Các khúc uốn điển hình là khúc uốn Cù lao Bình Quới, Thủ Thiêm, Tân Thuận, Bình Khánh Điều này cho thấy, sông và kênh rạch

Trang 40

không chỉ phát triển với mật độ lớn, uốn khúc mạnh mà còn có nhiều chỗ đã được đổi dòng Cùng với quá trình hoạt động xâm thực ngang hình thành các mặt cắt trầm tích cù lao như đã mô tả, dọc theo sông cũng tồn tại 2 kiểu trầm tích: tích tụ đê ven sông do bồi tích phủ tràn và tích tụ đầm lầy gian sông Hiện tượng này không chỉ thấy ở vùng phía bắc mà còn thấy ở phía nam của thành phố

Trong khoảng 1.000 năm trở lại đây, xu thế biển tiến bắt đầu xuất hiện tạo quang cảnh cấu trúc châu thổ phá hủy Với sự chênh lệch độ cao không lớn giữa các vùng khác nhau thuộc đồng bằng nhưng do vị trí và xu hướng phát triển, vùng phía nam thành phố chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thủy triều nên các kênh rạch triều phát triển chằng chịt Phần lớn đồng bằng ở đây thuộc bãi triều cao Bãi triều thấp tích tụ nhiều bùn sét với bề nghiêng rất thoải và bề rộng tới 5 – 20km nằm về phía biển tính từ đường bờ hiện tại Đường bờ vẫn chưa ổn định và có xu hướng lấn vào đất liền trong hơn 50 năm qua

Ngày đăng: 09/02/2015, 06:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2]- Dr. Zhou Yangxiao. Design of Network density for groundwater monitoring, 2000 Khác
[3]- Địa hóa học. Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội, 1981 Khác
[4]- G.Castany, E. Groba, E. Romijn. Guidebook on Mapping Groundwater Vulnerrability, 1994 Khác
[5]- Sở Thuỷ lợi. Nghiên cứu dự báo trữ lượng nước ngầm phục vụ nông nghiệp khu vực TpHCM, 1985 Khác
[6]- Tuyển tập 31 tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường. Hà Nội, 2002 Khác
[7]- Vũ Ngọc Kỷ, Nguyễn Kim Ngọc, Tôn Sĩ Kinh, Nguyễn Thượng Hùng – Địa chất thủy văn đại cương – Năm 1985.II. Tài liệu lưu trữ Khác
[1]- Lê Huy Bá (1982), Những vấn đề về đất phèn Nam Bộ. Nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh Khác
[2]- Bộ xây dựng (2000), Kết quả thăm dò, khai thác và đánh giá trữ lượng nước dưới đất KCN Vĩnh Lộc Bình Chánh TPHCM Khác
[3]- Nguyễn Kiên Chính (2005), Ứng dụng kỹ thuật đồng vị và mô hình số nghiên cứu cơ chế nhiễm mặn nước ngầm khu vực thành phố Hồ Chí Minh Khác
[4]- Ma Công Cọ và Hà Quang Hải (1987), Báo cáo lập bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản TPHCM tỷ lệ 1/50.000 Khác
[5]- Phạm Thuần Công (2001). Một vài suy nghĩ về khả năng ô nhiễm Asen trong nước ngầm khu vực phía Nam Khác
[6]- Cục địa chất và khoáng sản Việt Nam (1997), Điều tra địa chất đô thị vùng kinh tế trọng điểm Nam Bộ Khác
[7]- Bùi Thế Định (1992), Báo cáo kết quả lập bản đồ Địa chất thủy văn – Địa chất công trình Nam Bộ 1/200.000 Khác
[8]- Đỗ Tiến Hùng (1996), Sự hình thành thành phần hóa học nước dưới đất và ý nghĩa của nó trong tiền đề tìm kiếm thăm dò và khai thác nước dưới đất trong các trầm tích Kainozoi ở đồng bằng Nam Bộ Khác
[9]- Đỗ Tiến Hùng, Bùi Trần Vượng (2004), Báo cáo nghiên cứu bổ sung, biên hội loạt bản đồ ĐCTV tỉnh Đồng Nai tỷ lệ 1/50.000 và qui hoạch quản lý khai thác, bảo vệ bền vững tài nguyên nước dưới đất Khác
[10]- Đỗ Tiến Hùng, Nguyễn Việt Kỳ (2003), Cơ chế hình thành các đới nhiễm mặn nước dưới đất vùng bắc sông Tiền Khác
[11]- Liên đoàn Địa chất thủy văn – Địa chất công trình miền Nam (1992), Kết quả lập bản đồ địa chất thủy văn và bản đồ địa chất công trình Nam Bộ tỷ lệ 1/200.000 Khác
[12]- Liên đoàn Địa chất thủy văn – Địa chất công trình miền Nam (2001), Báo cáo quy hoạch và sử dụng nước ngầm TPHCM Khác
[13]- Liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam (2002), Địa chất – khoáng sản thành phố Hồ Chí Minh Khác
[14]- Lương Quang Luân, Liên đoàn 8 (1993), Kết quả tìm kiếm, đánh giá nước dưới đất vùng Bình Chánh tỷ lệ 1/2500 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị bao gồm biểu đồ tam giác đều với chu vi tam giác là hàm lượng nitơ  tổng, ba đỉnh tam giác đại diện cho ba thành phần amonium, nitrit, nitrat có hàm  lượng cao nhất là 100%, hàm lượng của từng thành phần là đường thẳng song song  với cạnh  đối diện - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
th ị bao gồm biểu đồ tam giác đều với chu vi tam giác là hàm lượng nitơ tổng, ba đỉnh tam giác đại diện cho ba thành phần amonium, nitrit, nitrat có hàm lượng cao nhất là 100%, hàm lượng của từng thành phần là đường thẳng song song với cạnh đối diện (Trang 52)
Hình vẽ bao gồm một đồ thị biểu diễn hàm lượng các anion và một đồ thị biểu  diễn hàm lượng các cation theo độ tổng khoáng hóa - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình v ẽ bao gồm một đồ thị biểu diễn hàm lượng các anion và một đồ thị biểu diễn hàm lượng các cation theo độ tổng khoáng hóa (Trang 58)
Hình 5.1: Đồ thị piper của nước mưa - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.1 Đồ thị piper của nước mưa (Trang 61)
Bảng 5.2: Bảng thống kê số liệu quan trắc nước sông - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.2 Bảng thống kê số liệu quan trắc nước sông (Trang 61)
Hình 5.2 Đồ thị Piper của nước sông - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.2 Đồ thị Piper của nước sông (Trang 63)
Bảng 5.4: Bảng thống kê chất lượng nước mặt tại các trạm quan trắc - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.4 Bảng thống kê chất lượng nước mặt tại các trạm quan trắc (Trang 64)
Bảng 5.5: Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng  nước tầng Pleistocen - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.5 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pleistocen (Trang 70)
Hình 5.4: Đồ thị Piper của tầng Pleistocen - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.4 Đồ thị Piper của tầng Pleistocen (Trang 71)
Bảng 5.6: Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pleistocen theo đồ thị  Piper - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.6 Bảng phân loại nguồn gốc nước tầng Pleistocen theo đồ thị Piper (Trang 74)
Hình 5.5: Mối liên hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m 4 2 - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.5 Mối liên hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m 4 2 (Trang 78)
Bảng 5.7: Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng  nước tầng Pliocen trên - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.7 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen trên (Trang 80)
Hình 5.6: Đồ thị Piper của tầng  Pliocen trên - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.6 Đồ thị Piper của tầng Pliocen trên (Trang 81)
Hình 5.7: Mối liên hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m 4 1 - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Hình 5.7 Mối liên hệ giữa độ tổng khoáng hóa và loại hình hóa học nước tầng m 4 1 (Trang 87)
Bảng 5.9: Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng  nước tầng Pliocen dưới - nghiên cứu đặc điểm thuỷ địa hoá của thành phố hồ chí minh phục vụ qui hoạch, quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường bền vững
Bảng 5.9 Bảng thống kê hàm lượng các chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước tầng Pliocen dưới (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm