Công tác phòng ngừa được triển khai thực hiện với những nội dung trọng tâm là tuyên truyền giáo dục về chính sách pháp luật, các thủ đoạn dụ dỗ, lừa gạt của bọn tội phạm, qua đó nhằm nân
Trang 1Sở khoa học và công nghệ TP Hồ Chí Minh hội luật gia Thành phố Hồ Chí Minh
Báo cáo khoa học
đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố
(bỏo cỏo đó chỉnh sủa)
“thực trạng và giảI pháp phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố hồ chí minh”
Chủ nhiệm đề ài:
Tiến sỹ phan đình khánh
TP Hồ Chí Minh 2007
Trang 2chủ nhiệm đề tài:
chủ nhiệm đề tài: tiến sỹ phan đình khánh
Danh sách những người cùng tham gia thực hiện
TT Họ và tờn
Học vị/
Chức danh KH
Ngành chuyờn mụn Đơn vị cụng tỏc
1 Vừ Thị Kim Hồng Cử nhõn Luật Viện trưởng VKSND TP.HCM
2 Nguyễn Xuõn Yờm GS.TS Luật Bộ Cụng an
3 Dương Thanh Biểu Tiến sĩ Luật Phú viện trưởng VKSNDTC
4 Vũ Phi Long Cử nhõn Luật Phú chỏnh tũa HS – TAND TPHCM
5 Nguyễn Đắc Minh Th.sĩ Luật P.trưởng phũng VKSNDTP.HCM
7 Đồng Thị Ánh Cử nhõn Luật Chủ tịch Hội Luật gia TP
8 Phạm Vĩnh Thỏi Cử nhõn Luật Phú chủ tịch Hội Luật gia TP
9 Lờ Bớch Thọ Tiến sĩ Luật P.Hiệu trưởng Trường ĐHL.TP HCM
10 Hoàng Thị Thu Hà Tiến sĩ Tõm lý Trường ĐHSP TP.HCM
11 Hà Thỳy Yến Cử nhõn Luật P.Chỏnh ỏn TAND TP HCM
12 Nguyễn Văn Hậu Cử nhõn Luật Đoàn LS TP.HCM
13 Phan Thanh Long Tiến sĩ Triết học Bộ Cụng an
Trang 3Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong đề tài 4
Chương I Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và
trẻ em và đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
18
1.1 Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em 18 1.1.1 Khái niệm tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em 18 1.1.2 Đặc trưng pháp lý của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ
1.2.5 Mối quan hệ phối hợp của Cảnh sát điều tra tội phạm
về trật tự xã hội với các lực lượng khác trong phát hiện,
điều tra tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
43
Chương II Thực trạng tình hình tội phạm và hoạt động đấu
tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ
48
Trang 42.2.1 Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục và phát động
phong trào quần chúng tham gia đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
84
2.2.2 Công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ
nữ và trẻ em
87
2.2.3 Công tác đấu tranh triệt phá các tụ điểm tội phạm và
xây dựng xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị không có tội phạm và tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
2.3.2 Một số tồn tại, thiếu sót trong hoạt động phòng chống
tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
101
2.3.3 Nguyên nhân và bài học kinh nghiệm 108
Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
121
3.1 Dự báo tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em 111
Trang 5trên địa bàn thành phố
3.2 Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố
117
3.2.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng
chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố
124
3.2.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến công tác
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ
3.2.2.4 Tiếp nhận, xử lý tin báo về tội phạm mua bán phụ nữ
và trẻ em nhanh, có biện pháp ngăn chặn kịp thời
145
3.2.2.5 Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
149
3.2.2.6 Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống
tội phạm mua bán phụ nữ trẻ em trên địa bàn thành phố
163
Danh mục tài liệu tham khảo 168
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt trong đề tài
1 ANND : An ninh nhân dân
Trang 62 ANNT : An ninh trËt tù
3 ANQG : An ninh quèc gia
4.ASEANAPOL: Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam Á
13 INTERPOL : Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế
14 KSNDTC : KiĨm s¸t nh©n d©n tèi cao
15 LHPN : Liªn hiƯp phơ n÷
16 LPCMT : Luật phòng chống ma túy
17 MBPNTE : Mua b¸n phơ n÷, trỴ em
18 MDMT : Mại dâm, ma túy
19 NXB : Nhà xuất bản
20 PCTP : Phòng, chống tội phạm
21 PCMT : Phòng, chống ma túy
22 PCMD : Phòng, chống mại dâm
23 PGS.TS :Phã gi¸o s−, tiÕn sü
Trang 724 GS TS : Giaựo sử, tieỏn sú
25 TPCTC : Tội phạm có tổ chức
26 UNODC : Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp
quốc
27 XHCN : Xaừ hoọi chuỷ nghúa
28 TANDTC :Toà án nhân dân tối cao
Mở đầu
1-Lý do chọn đề tài :
Hơn 30 năm qua, từ ngày Thành phố Hồ Chí Minh được hoàn toàn giải phóng, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, nền kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã có những bước phát triển vượt
Trang 8bậc làm thay đổi bộ mặt của xã hội Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân cơ bản đã được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những
ảnh hưởng tích cực của nền kinh tế thị trường, mặt trái của nó đối với xã hội cũng diễn biến phức tạp đã làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội, trong đó tội phạm MBPN&TE
Trong những năm gần đây, nhất là từ khi Nhà nước chuyển đổi nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thì tình hình tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng trên địa bàn cả nước nói chung, thành phố
Hồ Chí Minh nói riêng Một bộ phận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ở trong nước để làm gái mại dâm, chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã trong đó thành phố Hồ Chí Minh là một địa bàn quan trọng Còn lại phần lớn phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, đến nhiều nước khác nhau với nhiều hình thức và mục đích khác nhau
Theo thống kê của Bộ Công an, tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ra chủ yếu qua các đường mòn và cửa khẩu, trên tuyến biên giới Tại phía Bắc, phụ nữ, trẻ em bị buôn bán tập trung ở các địa bàn biên giới giáp Việt Nam, được sử dụng làm mại dâm trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ hoặc làm vợ một cách bất hợp pháp Tại phía Nam, phụ nữ, trẻ em bị buôn bán chủ yếu làm mại dâm tại thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn, các tỉnh giáp biên giới Thành phố
Hồ Chí Minh còn là địa bàn trung chuyển để mua bán phụ nữ, trẻ em đi các nước trên thế giới và trong khu vực Ngoài ra, tình hình phụ nữ Việt Nam bị dụ dỗ, lừa gạt, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới hôn nhân, trẻ em Việt nam
bị bán ra nước ngoài trong những năm vừa qua cũng là vấn đề phức tạp và rất khó kiểm soát trên địa bàn cả nước và thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Tệ nạn mua, bán phụ nữ, trẻ em đã trở thành vấn đề nóng bỏng, nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của xã hội, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của Nhà nước, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, đe doạ sự thành công của Chương trình 3 giảm của thành phố Hồ Chí Minh Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự
Trang 9thật, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước, cấp uỷ và chính quyền thành phố
Tình hình trên là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, tập trung
ở một số vấn đề sau đây:
Về khách quan: Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều mâu thuẫn trong đời sống kinh tế - xã hội nảy sinh, nhất là sự phân hoá giàu, nghèo, tình trạng thất nghiệp Một số khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng
sa, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, dân trí thấp, nhiều phụ nữ, trẻ em và gia
đình họ ở trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhiều người bị lôi cuốn vào quá trình tìm kiếm công việc làm ở thành phố Hồ Chí Minh, ở các đô thị hay ở nước ngoài Mặt khác, do tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố xấu như các luồng văn hoá độc hại, các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý trong nước và khu vực: bọn tội phạm có tổ chức ở trong nước móc nối với tội phạm người nước ngoài khai thác lợi dụng các điều kiện này để hoạt động phạm tội
Về chủ quan: Nhận thức về tính nghiêm trọng, sự cần thiết và trách nhiệm phải tăng cường phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở nhiều cấp uỷ
Đảng, chính quyền, Ban ngành, đoàn thể cả nước nói chung, thành phố Hồ Chí Minh còn hạn chế Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em chưa được triển khai một cách toàn diện, đồng bộ; sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ cơ chế tổ chức bộ máy thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trong tình hình mới
Những năm qua, công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em luôn luôn gắn liền với công tác phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội nói chung Nhất là sau khi Chính phủ có Chỉ thị số 766/1998 ngày 17/9/1997 và ban
hành Nghị quyết số 09//1998/ NQ/- CP ngày 31/7/1998 về tăng cường công tác
phòng, chống tội phạm trong tình hình mới và sau đó ngày 14-7-2004 Chính phủ
ban hành Quyết định 130/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động
phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010, thì
công tác phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em đã được các ngành, đoàn thể, các cấp chính quyền thành phố quan tâm hơn và bước đầu đem lại một số kết quả
Trang 10Công tác phòng ngừa được triển khai thực hiện với những nội dung trọng tâm là tuyên truyền giáo dục về chính sách pháp luật, các thủ đoạn dụ dỗ, lừa gạt của bọn tội phạm, qua đó nhằm nâng cao nhận thức và tinh thần cảnh giác cho quần chúng nhân dân; thực hiện công tác qủan lý nhà nước về an ninh trật tự, quản lý các cơ sở kinh doanh như khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng, quản lý các hoạt động dịch vụ môi giới hôn nhân với người nước ngoài, cho nhận con nuôi người nước ngoài, xuất nhập cảnh,v.v nhằm kịp thời phát hiện ngăn chặn các hành vi phạm tội và các trường hợp phụ nữ, trẻ em bị mua bán Đối với những trường hợp phụ nữ, trẻ em bị mua bán ra nước ngoài đã trở về, các ngành chức năng như: Bộ đội Biên phòng, Công an, Lao động - Thương binh và xã hội, Hội LHPN, các đoàn thể đã phối hợp với chính quyền địa phương cơ sở giúp họ sớm
ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm, tái hoà nhập cộng đồng
Về công tác đấu tranh: Trước tình hình mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ta ngày càng nghiêm trọng, Bộ Công an và Công an Thành phố với vai trò nòng cốt trong đấu tranh chống tội phạm, phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian 2004-2006 đã phát hiện gần 200 nạn nhân là phụ nữ nghi bị mua bán ra nước ngoài và gần 100 đối tượng phạm tội mua bán phụ nữ và trẻ em, trong đó có những đường dây SEXTOUR đưa phụ nữ từ thành phố sang Hồng Kông, Ma Cao, Ôxtrâylia, Malaysia, Cămpuchia,v.v hành nghề mại dâm quy mô lớn
Về hợp tác quốc tế: trong những năm qua, việc hợp tác quốc tế phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em ngày càng được tăng cường Việt Nam đã tham gia nhiều văn kiện quốc tế có liên quan, ký kết các Hiệp định tượng trợ tư pháp song phương, đặc biệt đã có nhiều hoạt động phối hợp tích cực với các nước láng giềng trong đấu tranh chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em qua biên giới
Được sự chỉ đạo của Chính phủ, một số Bộ, ngành hữu quan đã phối hợp, triển khai trên địa bàn thành phố nhiều dự án về phòng, chống mua bán phụ nữ,
Trang 11trẻ em do các tổ chức quốc tế tài trợ như UNICEF, ILO, IOM, UNODC và nhiều
tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ khác
Mặc dù đã đạt được một số kết quả, nhưng nhìn chung công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em của các ngành, các cấp
từ Trung ương và thành phố còn chưa đồng bộ, thiếu cơ chế phối hợp Tỷ lệ điều tra khám phá các vụ án mua bán phụ nữ, trẻ em còn rất thấp so với thực tế đã xảy
ra Công tác điều tra cơ bản nắm tình hình chưa thường xuyên, chưa kịp thời Công tác phát hiện các vụ việc có liên quan còn mang tính thu động, hầu như dựa vào đơn thư tố giác của người bị hại hoặc gia đình của họ Công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu tạm trú, tạm vắng chưa tốt, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng sa Hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em chưa được bổ sung hoàn thiện, nhất là chúng ta chưa nắm được số lượng và thực trạng phụ nữ, trẻ em bị mua bán đang sống ở nước ngoài
Cán bộ làm công tác trong lĩnh vực này ở các ngành, các cấp chưa được thường xuyên cập nhật kiến thức cơ bản, thiếu các thông tin trong và ngoài nước;
tổ chức lực lượng và các trang thiết bị phục vụ công tác đấu tranh chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế hiện nay
Vì vậy việc nghiên cứu khoa học, đánh giá đúng thực trạng tình hình và đề
ra các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nhằm thực hiện tốt Chương trình hành động phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em của Chính phủ và phục vụ Chương trình 3 giảm của thành phố đã và đang là một vấn đề bức xúc Vì vậy việc lựa chọn đề tài nghiên cứu khoa học này có tính cấp thiết cao
2- Mục tiêu đề tài :
Đề tài xây dựng các luận cứ khoa học cho các giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới
3- Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực của đề tài :
Trang 12Vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, luôn luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chính sách của các Nhà nước, các Chính phủ trên thế giới
Trên thế giới bọn tội phạm lợi dụng các sơ hở trong quản lý xã hội để tổ chức buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài, trong nước vì mục đích thương mại, phục vụ hoạt động mại dâm đang gia tăng đột biến đòi hỏi Liên hợp quốc và Chính phủ các nước phải có những giải pháp cấp bách để ngăn chặn tội phạm này
Năm 2000 Liên hợp quốc đã ban hành Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia và 2 Nghị định thư kèm theo, trong đó có Nghị định thư về chống buôn bán người, tập trung vào chống mua bán phụ nữ và trẻ em Nhà nước Việt Nam đã ký cam kết tham gia Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia vào tháng 12-2000.Trên thế giới đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này của Liên hợp quốc, INTERPOL và nhiều nước khác dưới góc độ pháp luật, kinh tế, Khoa học an ninh về đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em
ở nước ta và nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm gần đây tình hình tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em xảy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng Một bộ phận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trong nước, chủ yếu từ các vùng nông thôn ra thành phố Hồ Chí Minh để làm gái mại dâm Một số bị mua bán từ thành phố Hồ Chí Minh ra nước ngoài như Hồng Kông, Ma Cao, ôxtrâylia, Malaysia và các nước khác Ngoài ra, tình hình phụ nữ Việt nam bị dụ dỗ, lừa gạt, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới hôn nhân, trẻ em Việt Nam bị bán ra nước ngoài qua hình thức cho, nhận con nuôi người nước ngoài trong những năm qua cũng là vấn đề rất phức tạp, gây ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, sự bền vững gia đình của nhân dân thành phố
Ngày 14-7-2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 130/2004/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010
Trang 13Đến nay ở nước ta đã có một số bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án nghiên cứu các vấn đề phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em Các công trình trên chủ yếu do các nhà khoa học, các cán bộ thực tiễn Bộ Công an, Viện KSNDTC, TANDTC, Hội LHPN Việt nam và một số cơ quan chức năng trung ương tiến hành Tuy nhiên chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu trên phạm vi thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em phục vụ Chương trình 3 giảm của thành phố
Trên thế giới và ở nước ta đã công bố một số công trình khoa học sau về
đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em :
- Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia Liên hợp quốc công bố năm 2000 Việt Nam ký tham gia từ 2-12-2000 Công ước có 2 Nghị
định thư về chống buôn bán người, chống di cư và nhập cư bất hợp pháp và Việt Nam chưa tham gia 2 Nghị định thư này
- Kỷ yếu Hội nghị quốc tế chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới do Tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế INTERPOL tổ chức, Bắc Kinh, Trung Quốc, 2000
- Kỷ yếu Hội nghị quốc tế chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới khu vực ASEAN Thái Lan, 2004
- Kỷ yếu Hội nghị khoa học về phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em Bộ Công an và Hội LHPN Việt Nam đồng tổ chức, Hà Nội 1998
- Tài liệu Hội nghị triển khai Chương trình hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của Chính phủ Hà Nội, 12-2004
- Sách “ Tội phạm có tổ chức, mafia và toàn cầu hoá tội phạm “ của GS.TS Nguyễn Xuân Yêm NXB Công an Nhân dân, Hà Nội 2003
- “ Tổ chức hoạt động điều tra các vụ án phạm tội buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới của lực lượng Cảnh sát Nhân dân Việt Nam “ Luận án Tiến sỹ Luật học của nghiên cứu sinh Trần Minh Hưởng Học viện Cảnh sát Nhân dân,
Bộ Công an, 2006
Trang 14- “ Đấu tranh phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em qua biên giới qua kênh INTERPOL Đề tài NCKH cấp Bộ Công an của Đặng Khang, Phó Chánh Văn phòng INTERPOL Việt Nam, 2001-2004
- Các tài liệu Hội nghị của Chính phủ triển khai Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em giai đoạn II ( 2007-2010), Hà Nội, tháng 4-2007
- Kỷ yếu Hội thảo Khoa học đề tài “ Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007
- Tham luận “ Thực tiễn và kinh nghiệm của lực lượng Công an từ thực hiện Chương trình 130/CP của Chính phủ tại Thành phố Hồ Chí Minh” của CATP Hồ Chí Minh tại Hội nghị của Chính phủ, tháng 4-2007
Những đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nói trên đều đề cập đến tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và công tác phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em Song phần lớn những nghiên cứu đó chủ yếu tiếp cận từ nhiều khía cạnh khoa học khác nhau như: Xã hội học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Khoa học hình sự trên địa bàn cả nước Cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
4- Nội dung nghiên cứu :
1- Nội dung nghiên cứu :
Dưới góc độ Tội phạm học, Xã hội học nhóm tác giả tập trung nghiên
cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó xác định những nguyên nhân làm phát sinh tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em; những nguyên nhân hạn chế, tồn tại của các cơ quan quản lý Nhà nước, các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các giải pháp, biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trước năm 2006, đồng thời đề xuất
Trang 15những giải pháp khả thi nhằm đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, có thể nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau Đề tài này chúng tôi tập trung nghiên
cứu dưới góc độ Tội phạm học, Xã hội học Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực
trạng, nguyên nhân, điều kiện Khái quát toàn bộ hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, từ đó hình thành các quan điểm lý luận chỉ đạo cho các hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau :
- Nghiên cứu các cơ sở lý luận về đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên thế giới, khu vực và ở nước ta
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ
em và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm này trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh của các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án và các ban, ngành chức năng
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất, giải pháp đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình mới
2- Giới hạn phạm vi khảo sát :
- Đề tài nghiên cứu, khảo sát tình hình và kết quả đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ( có so sánh với số liệu chung cả nước ) từ 1990, đặc biệt từ năm 1998 khi Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm đến nay
- Khảo sát hoạt động của 3 ngành Công an, Kiểm sát, Toà án thành phố trong đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em
- Khảo sát tập trung vào các quận nội thành, nơi đã và đang xảy ra nhiều
vụ tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em có quy mô lớn
Trang 163- Các giả thuyết khoa học :
Đề tài sử dụng các giả thuyết khoa học chính sau :
- Nghiên cứu mẫu : các vụ án tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em có quy mô lớn đã xảy ra trên địa bàn thành phố
- Nghiên cứu đánh giá mô hình 3 giảm của thành phố
- Đưa ra mô hình mẫu: xây dựng điểm các địa bàn không có tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em
5- Phương pháp luận nghiên cứu :
Để đạt được mục đích nêu trên, các tác giả đã dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các quan điểm cơ bản của Đảng, của Nhà nước về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, chính sách hình
sự của Nhà nước ta đối với các hành vi phạm tội mua bán phụ nữ và trẻ em để nghiên cứu đề tài này Ngoài ra các tác giả đã sử dụng các phương pháp: phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phỏng vấn v.v
Các tác giả đã nghiên cứu sử dụng các tư liệu của Viện Nhà nước và Pháp luật, những thông báo chính thức của Tổ chức Cảnh sát hình sự Quốc tế, Cơ quan phòng chống ma tuý và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), các báo cáo của Văn phòng Interpol Việt Nam, Cơ quan cảnh sát điều tra, Bộ Công an; các báo cáo tổng kết của Bộ Công an, Tòa án Nhân dân tối cao, Viện kiểm sát Nhân dân tối cao từ năm 1998 đến nay, các bản án đã có hiệu lực về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em, các bản kết luận điều tra của cơ quan Công an; các báo cáo sơ kết, tổng kết của các ngành: Công an Thành phố, Viện kiểm sát, Tòa
án nhân dân, TP Hồ Chí Minh từ năm 1998 đến nay
Những kiến nghị về các biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em được tác giả lựa chọn, nghiên cứu trên cơ sở các tài liệu và tham luận trong các cuộc tọa đàm, trao đổi và các cuộc hội thảo khoa học, diễn
ra trong phạm vi toàn quốc cũng như ở địa bàn TP Hồ Chí Minh bàn về phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Trang 17Là những cán bộ hoạt động thực tiễn trong ngành: Công an, Tòa án, Kiểm sát, đã từng quan tâm và nghiên cứu về phòng chống tội phạm, trước thực trạng tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ngày càng diễn biến phức tạp và rất nghiêm trọng trên địa bàn thành phố, chúng tôi rất trăn trở trước hiểm hoạ này, mong muốn tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm góp phần đề ra những giải pháp cơ bản để kịp thời đấu tranh, ngăn chặn tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
ở Việt Nam nói chung cũng như tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em đã và đang xảy ra trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng trong nền kinh tế thị trường theo
định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay
Đề tài lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu bằng nghiên cứu so sánh, nghiên cứu các mô hình mẫu bằng lựa chọn các vụ án tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em lớn đã xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng chủ yếu các nhóm phương pháp nghiên cứu khoa học sau : -Tham khảo, tóm tắt, nghiên cứu, trích dẫn, nhận xét các tài liệu trong, ngoài nước có liên quan
- Điều tra, khảo sát, mô tả, ghi chép, thống kê số liệu, biểu đồ
- Phân tích, đánh giá, nêu đề xuất, sáng kiến
Đề tài lựa chọn một số vụ án, đường dây SEXTOUR lớn trên địa bàn thành phố để nghiên cứu điểm Đề tài dự kiến lựa chọn các địa bàn trọng điểm
để khảo sát
Từ những điều nói trên việc nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh” là rất cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em hiện nay tại TP Hồ Chí Minh
6 ý nghĩa của đề tài
Đề tài khoa học này hy vọng sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai đoạn hiện nay
ở TP Hồ Chí Minh
Trang 18Đề tài khoa học này còn là một công trình khoa học đóng góp vào bộ môn Tội phạm học, Xã hội học, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự ở nước ta trong thời kỳ đổi mới Về mặt thực tiễn đề tài khoa học là một tài liệu phục vụ cho các ngành, các cấp ủy và chính quyền tại TP Hồ Chí Minh các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội, tham khảo, ứng dụng bổ sung cho những hoạt động trong việc tuyên truyền giáo dục, lãnh đạo, chỉ đạo v.v nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
7 Cơ cấu của đề tài
Đề tài bao gồm: Phần mở đầu, kết luận và 3 chương, tài liệu tham khảo Chương I: Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và
đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Chương II: Thực trạng tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở TP Hồ Chí Minh trong những năm gần đây
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
Chương 1 nhận thức chung về Tội PHạM MUA BáN PHụ Nữ và TRẻ EM
Và đấu tranh phòng chống TộI PHạM
MUA BáN PHụ Nữ Và TRẻ EM 1.1 Nhận thức chung về tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
1.1.1 Khái niệm tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em (MBPNTE ) đã có lịch sử xuất hiện từ lâu đời và hiện vẫn tồn tại, đang gây ra những nhối cho toàn xã hội Thế nhưng như thế nào là tội phạm MBPNTE thì chưa có khái nìệrn thống nhất Để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm MBPNTE, vấn đề nhận thức về khái niệm tội
Trang 19phạm MBPNTE có ý nghĩa rất quan trọng, là cơ sở lý luận, cũng là điểm xuất phát lý luận đầu tiên cho việc đưa ra các giải pháp đấu tranh, phòng ngừa tội phạm
Thuật ngữ "mua bán" theo nghĩa thông thường được hiểu là một hoạt động
thương mại, hoạt động trao đổi giữa hai bên mua và bán một giá trị hàng hoá nào
đó thông qua một loại phương tiện đặc biệt "hàng hoá của mọi hàng hoá" đó là
đồng tiền hay một vật phẩm nào đó được sử dụng làm vật ngang giá chung Bên mua muốn có được vật hoặc quyền sở hữu một vật phẩm nào đó của bên bán, thì phải trả cho bên bán một khoản tiền hay giá trị vật chất tương đương với giá trị của vật hay quyền sở hữu vật đó theo sự thoả thuận giữa hai bên
Trong nền kinh tế thị trường, sức lao động là một loại hàng hoá đặc biệt
"hàng hoá sức lao động" được mua bán trên thị trường hay còn được gọi là thị trường sức lao động Người mua và người bán thoả thuận với nhau thông qua một hợp đồng lao động đó là một hoạt động hợp pháp được xã hội thừa nhận Người mua được quyền sử dụng sức lao động của người bán một số giờ trong một ngày Còn người bán phải theo người mua vào nhà máy, hầm mỏ, công xưởng hoặc đồng ruộng của người mua để lao động dưới sự chỉ huy của người mua, hết giờ làm việc họ được hoàn toàn tự do thân thể, tự do sử dụng sức lao
động của mình
Còn hành vi mua bán phụ nữ, trẻ em là hành vi “mua đứt, bán đoạn”, người bị bán, bị mất quyền tự do, bị phụ thuộc hoàn toàn vào người mua do vậy hành vi MBPNTE ở đây không nằm trong phạm vi mua bán thuộc phạm trù kinh
tế như trên và không giống quan hệ mua bán như trên, nên cần được xem xét dưới góc độ pháp lý hình sự Xác định, làm rõ khái niệm "mua bán phụ nữ và trẻ em" thực chất là xác định hành vi khách quan và bản chất pháp lý của tội phạm
và là cơ sở cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử tội phạm
Mặc dù có rất nhiều văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ các quyền của phụ nữ và trẻ em, ngăn cấm hành vi buôn bán người, nhưng hầu hết các văn kiện pháp lý này đều không đưa ra khái niệm thống nhất về MBPNTE làm cơ sở pháp
lý cho hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm
Trang 20Năm 2000 một sự kiện pháp lý quan trọng đã diễn ra tại Palecmo, Xixil -
Italia Liên Hợp Quốc đã tổ chức ký kết Công ước đấu tranh chống tội phạm có
tổ chức xuyên quốc gia Công ước còn kèm theo hai Nghị định thư về chống buôn người và nhập cư bất hợp pháp
Nghị định thư về phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt
là mua bán phụ nữ và trẻ em ngày 15/1 l/2000 lần đầu tiên đã đưa ra được một
định nghĩa về "buôn bán người" tương đối toàn diện được cộng đồng quốc tế
thừa nhận (117 nước ký và 46 nước phê chuẩn) và được quy định tại Điều 3 như
sau: "Buôn bán người được hiểu là việc tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa
chấp và nhận người nhằm mục đích bóc lột bằng cách đe doạ dùng bạo lực hay các hình thức ép buộc, bắt cóc, lừa gạt, man trá, lạm dụng quyền lực hoặc vị thế
dễ bị thương tổn hay bằng việc cho hoặc nhận tiền hay lợi nhuận để đạt được sự
đồng ý của một người kiểm soát đối với những người khác vì mục đích bóc lột Hành vi bóc lột ở đây ít nhất là bóc lột vì mục đích mại dâm hoặc các hành vi bóc lột tình dục khác, các hình thức lao động hay dịch vụ cưỡng bức, nô lệ hay những hình thức tương tự nô lệ, khổ sai hay lấy các bộ phận cơ thể "
Theo định nghĩa tại Điều 3 của Nghị định thư thì các yếu tố cơ bản của hành vi mua bán người thành niên bao gồm:
1) Là hành vi tuyển mộ vận chuyển chuyển giao
2) Là phương thức: lừa gạt, cưỡng ép, dối trá hoặc lạm dụng quyền lực;
3) Nhằm mục đích bóc lột hoặc lạm dụng tình dục
Định nghĩa đã thừa nhận việc buôn bán người nói chung, mua bán phụ nữ
và trẻ em nói riêng không chỉ nhằm mục đích bóc lột tình dục mà bao gồm cả những mục đích khác như sử dụng vào việc lao động cưỡng bức, khổ sai, nô lệ và các hình thức tương lự như nô lệ, các hình thức này đã được luật pháp quốc tế quy định Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm "buôn bán người" ít được đề cập
do trên thực tế chưa thấy báo cáo nào có vụ việc buôn bán đàn ông, pháp luật Việt Nam chủ yếu đề cập đến việc MBPNTE Cụm từ "mua bán phụ nữ và trẻ em" được dùng khá phổ biến trong các vãn bản pháp luật của Nhà nước ta, nhưng cũng chưa có một định nghĩa chính thức, toàn diện thế nào là buôn bán
Trang 21hay MBPNTE mà các khái niệm này hoặc chưa được giải thích đầy đủ hoặc được giải thích nhưng chưa cụ thể và toàn diện
Dưới góc độ tội phạm học và pháp luật hình sự chúng ta thấy tội MBPNTE được quy định tại Điều 119 và Điều 120 của Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, nhưng tại hai điều luật này cũng chưa đưa ra định nghĩa thế nào là tội phạm MBPNTE Cho đến nay mới chỉ có một văn bản pháp lý đề cập đến định nghĩa về mua bán trẻ em, đó là Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/1 1/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn việc áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS năm 1985 Theo Nghị quyết này thì
"mua bán trẻ em" được hiểu là "Việc mua trẻ em vì mục đích tư lợi, dù là mua kẻ
đã bắt trộm hay mua rồi đem bán Hành vi mua trẻ em khi biết rõ là đứa trẻ bị bắt trộm (cũng bị xử lý về tội mua bán trẻ em" Từ định nghĩa trên chúng ta có thể cắt nghĩa tương tự khái niệm mua bán phụ nữ vì về cơ bản hai loại tội phạm này chỉ khác nhau về đối tượng tác động của tội phạm
Như vậy, "mua bán phụ nữ và trẻ em" được hiểu chung là việc chuyển giao phụ nữ và trẻ em từ một người hoặc một nhóm người sang một người hoặc một nhóm người khác để đổi lấy tiền hoặc lợi ích vật chất khác
Tại Việt Nam, quan niệm về buôn bán người từ sau ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa (1945) đến nay không bao gồm những hành vi vận chuyển, chứa chấp và giao, nhận người mà chỉ coi đó là những hành vi giúp sức, tạo điều kiện để buôn bán người Chính vì vậy, nhìn chung những người thực hiện hành vi nói trên tuỳ từng trường hợp mà họ phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng trong những trường hợp chứng minh được một người thực hiện hành vi vận chuyển, chứa chấp và giao,nhận người với mục đích mua bán thì hành vi của
họ sẽ cấu thành tội MBPNTE
Trong BLHS năm 1999 chúng ta hình sự hoá hành vi MBPNTE trong Điều
119 và Điều 120 BLHS, nhưng khái niệm MBPNTE cũng không được quy định
cụ thể mà chỉ mô tả dưới dạng khái quát "Người nào mua bán phụ nữ thì bị phạt
tù từ hai năm đến bảy năm" (khoản 1 Điều 119- BLHS); "Người nào mua bán,
đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em " (khoản 1 , Điều 120 BLHS) Trong Luật hôn nhân và gia đình cũng quy định "Nghiêm cấm lợi dụng việc kết hôn có yếu
Trang 22tố nước ngoài để mua bán phụ nữ, xâm phạm tình dục đối với phụ nữ" (khoản 3,
Điều 103), song trong Luật hôn nhân và gia đình cũng không quy định khái niệm thế nào là mua bán phụ nữ Một số nhà khoa học có đưa ra các khái niệm khác nhau về tội phạm MBPNTE;
Từ những phân tích trên chúng ta có thể khái niệm tội phạm MBPNTE như sau:
Tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự, thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến tự do thân thể, danh dự, nhân phẩm
của phụ nữ và trẻ em, thể hiện ở hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để
mua bán, trao đổi phụ nữ (trên 16 tuổi) và trẻ em (dưới 16 tuổi) như một thứ hàng hoá
Như vậy, khái niệm trên đã xác định tội phạm MBPNTE là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được hình sự hoá trong BLHS, do chủ thể có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và xác định hình thức lỗi được( thực hiện là cố ý, quan niệm phù hợp với đặc điểm pháp lý và đặc tính hình sự của loại tội phạm này Mặt khác, khái niệm mô tả khái quát hành vi phạm tội thể hiện ở hành vi khách quan là mua bán, trao đổi đối tượng là phụ nữ và trẻ em như một thứ hàng hoá Tuy nhiên để thực hiện hành vi mua bán, người phạm tội có thể thực hiện những hành vi đi liền trước hành vi có tính chất tiền đề, giúp sức cho hành vi mua bán diễn ra như thu gom "hàng", cất giấu, vận chuyển "hàng", song đây không phải là hành vi khách quan của tội phạm mà chỉ là những thủ đoạn không thể thiếu để thực hiện hành vi khách quan, nằm trong đặc điểm hình sự của loại tội phạm này Khái niệm cũng xác định rõ độ tuổi của đối tượng tác động của tội phạm là phụ nữ bao gồm những người có giới tính nữ trên 16 tuổi, và trẻ em dưới
Trang 23thể, danh dự, nhân phẩm của con người, thể hiện ở hành vi dùng tiền hoá lợi ích vật chất khác để mua bán, trao đổi phụ nữ (trên 16 tuổi) và trẻ em (dưới 16 tuổi) qua biên giới quốc gia như một thứ hàng hoá
Như vậy, khái niệm tội phạm MBPNTE qua biên giới được xây dựng trên cơ sở khái niệm tội phạm và tội phạm MBPNTE nói chung và đặc điểm hình sự riêng biệt qua biên giới của tội phạm Điều đó không có nghĩa là tội phạm MBPNTE qua biên giới và tội phạm MBPNTE trong nội địa chỉ khác nhau ở yếu
tố biên giới đơn thuần, mà từ yếu tố này sẽ có thể kéo theo nhiều yếu tố khác làm tăng thêm tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, làm phát sinh nhiều quan hệ quốc tế khác, như vấn đề tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm, quốc tịch gây khó khăn cản trở cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự cũng như việc xác định, truy tìm nạn nhân Đồng thời việc điều tra, tội phạm truy tố và xét xử không chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải căn cứ vào luật pháp quốc tế và pháp luật của nước liên quan Chính vì vậy trong tội mua bán phụ nữ (Điểm d, Khoản 1, Điều 119 BLHS) và tội mua bán trẻ em (Điểm đ, Khoản 2, Điều 120) BLHS) đều quy định
‘MBPNTE để đưa ra nước ngoài" là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam chưa quy định tội phạm MBPNTE qua biên giới là những tội phạm độc lập song việc quy định tình tiết
"để đưa ra nước ngoài" là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, điều này
đã thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta với loại tội phạm này
Qua việc nghiên cứu khái niệm tội phạm MBPNTE ban chủ nhiệm đề tài rút ra một số nhận xét sau: Mặc dù chưa có khái niệm toàn diện về "mua bán phụ nữ, trẻ em" thông qua một số quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam cũng như cách hiểu chung khi áp dụng thì khái niệm "buôn bán phụ nữ, trẻ em" trong pháp luật Việt Nam đã có nhiều điểm tương đồng với khái niệm trong Nghị định thư
về chống buôn bán người của Liên Hợp Quốc Tuy nhiên trong pháp luật Việt Nam có một số điểm khác với định nghĩa của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là việc xác định hành vi cụ thể của buôn bán người Pháp luật Việt Nam không viện dẫn
cụ thể những hành vi khách quan được viện dẫn trong định nghĩa của Nghị định
Trang 24thư về buôn bán người thể hiện sự buôn bán bao gồm: "tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp và nhận người vì mục đích bóc lột"
Như vậy thuật ngữ "buôn bán" được hiểu rộng hơn "mua bán" trong luật hình sự Việt Nam Vì Luật hình sự Việt Nam quy định "mua bán" là hành vi khách quan của tội phạm, chỉ được coi là hành vi khách quan của tội phạm đối với hành vi trao đổi “tiền - "hàng" còn những hành vi tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao phụ nữ và trẻ em chỉ là những hoạt động để thực hiện hành vi khách quan "mua bán" xảy ra, và với những vụ án đồng phạm thì vai trò của họ
có thể chỉ là người giúp sức Bên cạnh đó mục đích buôn bán cũng có những
điểm khác nhau Ví dụ: mục đích bóc lột là dấu hiệu bắt buộc trong định nghĩa của Liên Hợp Quốc về buôn bán người, nhưng theo pháp luật Việt Nam thì trong tội MBPNTE mục đích bóc lột không phải là dấu hiệu bắt buộc
Mặt khác, phạm trù "trẻ em" theo pháp luật của Việt Nam (Luật Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em) là người dưới 16 tuổi trong khi đó theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em và Nghị định thư chống buôn bán người thì trẻ em là người dưới 18 tuổi
1.1.2 Đặc trưng pháp lý của tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em
Tội phạm MBPNTE được quy định trong Điều 119 và Điều 120 BLHS, về cơ bản dấu hiệu pháp lý của hai tội này là giống nhau, chỉ khác nhau về đối tượng tác động (nạn nhân) và tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, vì vậy chúng tôi phân tích đặc trưng pháp lý chung của cả hai loại tội phạm Tuy nhiên, tại Điều 120 BLHS quy định cả hành vi đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em, song
ở đây chúng tôi không phân tích cấu thành tội đánh tráo trẻ em và chiếm đoạt trẻ
em mà chỉ đi vào phân tích cấu thành tội mua bán trẻ em và trong trường hợp hành vi đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em nhằm mục đích mua bán
-Tội phạm MBPNTE xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp và pháp luật quy định Bên cạnh đó, tội phạm MBPNTE còn xâm hại nghiêm trọng đến trật
tự, an toàn xã hội, gây hoang mang trong nhân dân, phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình đồng thời xâm phạm đến chính sách đối nội, đối ngoại của Đảng và Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Trang 25Đối tượng tác động của tội phạm mua bán phụ nữ là con người, có giới tính là nữ và có độ tuổi từ 16 tuổi trở lên Đối tượng tác động của lội phạm mua bán trẻ em bao gồm tất cả những người (cả nam giới và nữ giới) có độ tuổi dưới
16 tuổi
- Tội MBPNTE thể hiện ở hành vi dùng tiền hoặc các lợi ích vật chất khác mua bán, trao đổi phụ nữ và trẻ em như một thứ hàng hoá Tuỳ thuộc vào đối tượng của tội phạm mà hành vi cấu thành tội phạm mua bán phụ nữ điều 119) hay tội mua bán trẻ em điều 120)
Trên thực tế để thực hiện hành vi MBPNTE có thể bọn tội phạm thực hiện nhiều thủ đoạn khác để có được phụ nữ và trẻ em như thủ đoạn tìm kiếm, lừa gạt, thu gom, bắt cóc, chiếm đoạt, vận chuyển, cất giấu, tập kết phụ nữ và trẻ em nhưng đây chỉ là những hành vi nhằm thực hiện hành vi khách quan mua bán", bản thân những hành vi nêu trên không phải là hành vi khách quan của tội phạm
mà chỉ là những hành vi mang tính chuẩn bị, hành vi đi liền trước, hành vi giúp sức cho hành vi mua bán mà thôi
Đối với hành vi MBPNTE qua biên giới thì hành vi phạm lội có một dấu hiệu khách quan đặc trưng là dấu hiệu "qua biên giới" Như vậy, có thể hiểu việc MBPNTE nhằm đưa qua biên giới Việt Nam ra nước ngoài, yếu tố này được xác
định trên cơ sở đường biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam
Theo quy định tại Điều 1, Hiến pháp năm 1992 thì lãnh thổ của Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam bao gồm " đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời" Như vậy hành vi MBPNTE qua biên giới là MBPNTE nhằm đưa ra ngoài lãnh thổ của Việt Nam sang nước khác Chúng ta cũng cần lưu ý tội phạm MBPNTE qua biên giới không có nghĩa là bắt buộc việc mua bán đó phải diễn ra bên ngoài biên giới quốc gia hoặc đã xảy ra bên ngoài biên giới quốc gia, mà nó còn bao gồm cả những hành vi MBPNTE đã diễn ra trong nội địa nhưng "để đưa
ra nước ngoài" như trường hợp các đường dây buôn bán phụ nữ quốc tế đã thu gom phụ nữ các tỉnh Miền Tây và Miền Đông Nam Bộ đưa về thành phố Hồ Chí Minh và đưa xuất cảnh qua cửa khẩu quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất
Trang 26Hậu quả của tội phạm là người phụ nữ và trẻ em bị đưa ra để mua bán, trao đổi như súc vật hay những thứ hàng hoá khác, danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ bị chà đạp, cũng có thể họ sẽ bị bóc lột sức lao động, bị bóc lột tình dục, bị đày ải, bị đánh đập và có thể bị sử dụng vào những mục đích vô nhân
đạo khác Hậu quả của tội phạm không có ý nghĩa trong việc định tội danh nhưng nó là một trong những tiêu chí để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và là cơ sở để xem xét lượng hình phạt khi áp dụng đối với người phạm tội
Hành vi "mua bán" đã được thực hiện hay chưa không có ý nghĩa trong việc định tội danh mà chỉ có ý nghĩa trong việc xác định giai đoạn thực hiện tội phạm Tội phạm được coi là hoàn thành khi tội phạm thực hiện được hành vi mua bán, khi đó danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ, trẻ em chưa bị xâm hại Tất nhiên, việc làm rõ hành vi mua bán diễn ra là một vấn đề hết sức khó khăn vì việc giao, nhận tiền thường không được thực hiện công khai mà bằng các thủ
đoạn tinh vi thậm chí bản thân nạn nhân cũng có thể không nhận thức được thời
điểm mình bị mua bán Cho nên để xác định thời điểm hoàn thành của tội MBPNTE đòi hỏi phải xác định hành vi MBPNTE đã diễn ra hay chưa Về địa
điểm, với những vụ án MBPNTE qua biện giới thì việc mua bán có thể diễn ra trong nội địa, trên vùng giáp biên hoặc ở nước ngoài
Cần lưu ý: Hành vi MBPNTE mặc dù có sự đồng ý của nạn nhân vẫn cấu thành tội phạm, tuy nhiên có thể xem đó là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2, Điều 46 BLHS năm 1999
- Chủ thể của tội phạm MBPNTE có thể là công dân Việt Nam, người không quốc tịch, công dân nước ngoài có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 BLHS, không đòi hỏi dấu hiệu chủ thể đặc biệt
- Tội phạm MBPNTE được thực hiện với hình thức lỗi cố ý Người phạm tội nhận thức được hành vi MBPNTE là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn hoặc có ý thức bỏ mặc cho hậu quả xảy ra Với tội phạm MBPNTE qua biên giới thì người phạm tội có mục đích MBPNTE "để đưa ra nước ngoài"
Động cơ, mục đích chủ yếu của tội phạm MBPNTE là vì vụ lợi, song đó không
Trang 27phải là dấu hiệu bắt buộc, người phạm tội có thể thực hiện tội phạm vì nhiều
động cơ mục đích khác nhau như trả thù cá nhân, mua về để làm vợ, làm con nuôi
Qua nghiên cứu đặc trưng pháp lý của tội phạm MBPNTE chúng tôi thấy mặc dù so với quy định trong BLHS năm 1985 thì quy định trong Điều 119 và
Điều 120 BLHS năm 1999 đã cụ thể hoá hành vi phạm tội và hình phạt áp dụng với người phạm tội, tuy nhiên bên cạnh đó khi vận dụng vẫn còn những hạn chế cần khắc phục như: chưa có hướng dẫn cụ thể về các tội MBPNTE để đảm bảo
áp dụng thống nhất trong điều tra, xử lý, đặc biệt là hướng dẫn cụ thể về vấn đề
định tội danh Cần hướng dẫn cụ thể việc xác định tội MBPNTE ra nước ngoài khi xử lý một số lội phạm liên quan, như: "tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới" tại Điều 273 BLHS, và "tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép" ở Điều 274 BLHS; "tội tổ chức cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép" tại Điều 275 BLHS Do Bộ Công an và VKSNDTC, TANDTC chưa có hướng dẫn cụ thể đối với những trường hợp MBPNTE qua biên giới cho nên đã gây khó khăn cho Công an, Kiểm sát, Toà án các địa phương trong đó có các cơ quan pháp luật thành phố Hồ Chí Minh trong việc điều tra, xử lý loại tội phạm này Mặt khác, hình phạt áp dụng với tội mua bán phụ nữ còn nhẹ (cao nhất là 20 năm tù) chưa đủ độ nghiêm khắc để giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm
1.2 Hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ
em
1.2.1 Khái niệm phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE
Cũng như những hoạt động khác của con người, hoạt động phạm tội luôn luôn diễn ra trong những không gian, thời gian và trong những điều kiện hoàn cảnh nhất định Hoạt động của phạm tội là quá trình hoạt động vật chất, nó không những tác động làm biến đổi đối tượng tác động và môi trường nơi xảy ra tội phạm mà nó còn tác động vào chính chủ thể tội phạm, vào con người thực hiện những hoạt động đó Tổng hợp những biến đổi đó là những thông tin phản
ánh về tội phạm, những phản ánh này được thể hiện dưới hai dạng là những phản
ánh vật chất và những phản ánh tinh thần Những phản ánh vật chất thể hiện ờ
Trang 28những tài liệu, dấu vết, tang vật chứng, còn những phản ánh tinh thần thể hiện trong nhận thức, chủ quan, trí nhớ của những người tri giác nó (người làm chứng, người bị hại, bản thân người phạm tội) Những thông tin về tội phạm được phản
ánh thông qua quy luật hình thành dấu vết, ở môi trường xung quanh, ở hiện trường gây án Chủ thể của tội phạm với tư cách là một cá nhân phản ánh do vậy những đặc tính của cá nhân được phản ánh qua phương tiện gây án, thủ đoạn gây
án cũng như hành vi làm biến đổi môi trường xung quanh Vì vậy có thể nói quá trình thực hiện tội phạm tất yếu sẽ bộc lộ đối tượng xâm hại, và những yếu tố chủ quan của người phạm tội, sự bộc lộ này thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức cũng như bản chất và hiện tượng Tuy nhiên, mức độ phản ánh thông tin trong mỗi hoạt động phạm tội cụ thể lại khác nhau, nó phụ thuộc vào loại tội phạm được thực hiện, trình độ, khả năng của chủ thể cũng như phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội và những điều kiện khác trong môi trường phạm lội
Những quy luật của sự hình thành dấu vết và sự phản ánh thông tin về một
vụ tội phạm sẽ là cơ sở cho hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm nói chung và tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em nói riêng
Khi nghiên cứu về hoạt động phát hiện, hoạt động điều tra tội phạm nói chung và tội phạm MBPNTE nói riêng, trước hết chúng ta cần làm rõ những nội dung cơ bản của khái niệm thế nào là hoạt động phát hiện, hoạt động điều tra tội phạm
Hoạt động phát hiện tội phạm MBPNTE của lực lượng Công an nhân dân
và các cơ quan pháp luật là quá trình hoạt động của lực lượng CAND và các cơ quan pháp luật tiến hành các biện pháp công khai, bí mật theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm, thu thập thông tin, tài liệu phản ánh về sự việc, hiện tượng hoặc những con người có hành vi phạm tội MBPNTE, xác định có vụ án MBPNTE xảy ra (có dấu hiệu của tội phạm) làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự
và tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của bộ Luật tố tụng hình sự
Như vậy, phát hiện tội phạm MBPNTE được hiểu là việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, cách thức khác nhau để tìm ra (tri giác được) thủ phạm của những vụ án MBPNTE xảy ra trên thực tế, đang tồn tại khách quan nhưng vì các
Trang 29lý do khác nhau mà các cơ quan bảo vệ pháp luật chưa biết, chưa xác định được
Để điều tra làm rõ toàn bộ sự thật của một vụ án và trừng trị người phạm tội trước pháp luật, những câu hỏi đầu tiên đặt ra là các cơ quan bảo vệ phát luật có phát hiện được tội phạm xảy ra hay không? tìm kiếm những thông tin, tài liệu để xác định tội phạm và ngườic phạm tội Trong quá trình đó có thể sử dụng các biện pháp như: Biện pháp vận động quần chúng; công tác trinh sát bí mật, tuần tra kiểm soát, quản lý hộ tịch hộ khẩu Đồng thời tuỳ thuộc từng vụ án và
điều kiện hoàn cảnh cụ thể để vận dụng các biện pháp khác nhau cho phù hợp nhằm xác định chính xác tội phạm và người phạm tội
Hoạt động điều tra tội phạm MBPNTE là quá trình hoạt động của cơ quan
điều tra, tiến hành các biện pháp, chiến thuật nghiệp vụ và các biện pháp điều tra theo quy định của Luật tố tụng hình sự nhằm tìm kiếm, thu thập tin tức, tài liệu, chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội làm cơ sở cho hoạt động truy
tố, xét xử tội phạm và người phạm tội trước pháp luật
Thực chất của giai đoạn này là hoạt động của Cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp điều tra theo luật định để thu thập tin tức, tài liệu, chứng cứ làm rõ những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án MBPNTE, làm căn cứ để giải quyết vụ án được đúng đắn
Đây là giai đoạn cần thiết cho tất cả các vụ án hình sự Đối với vụ án MBPNTE sau khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, tuỳ thuộc từng vụ án cụ thể mà cơ quan điều tra tiến hành các biện pháp điều tra khác nhau như lấy lời khai người làm chứng, người bị hại, bắt người phạm tội, tiến hành hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng
Nhiệm vụ của hoạt động điều tra và kiểm sỏt điều tra các vụ án MBPNTE
là quá trình thu thập đầy đủ tài liệu chứng cứ làm rõ toàn bộ sự thật khách quan Kết quả điều tra vụ án MBPNTE là cơ sở cho hoạt động trong quá trình tố tụng của các cơ quan Công an, Kiểm sát, Toà án nhằm truy tố và xét xử tội phạm và người phạm tội theo đúng quy định của pháp luật
Tuy nhiên, cần nhận thức hoạt động phát hiện và điều tra các vụ án MBPNTE chỉ có tính độc lập tương đối, hay hoạt động này có quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, tuy những biện pháp, cách thức tiến hành có thể có
Trang 30những điểm khác nhau song đều nhằm xác định tội phạm, làm rõ hành vi phạm tội Chính vì vậy có những hoạt động vừa là biện pháp phát hiện tội phạm nhưng cũng được tiến hành trong quá trình điều tra vụ án và ngược lại những hoạt động
điều tra khám phá cũng chính là những hoạt động phát hiện, làm rõ tội phạm Bên cạnh đó hai hoạt động này còn có thể được tiến hành đồng thời, đan xen với nhau bổ trợ cho nhau
1.2.2 Nội dung và biện pháp phát hiện, điều tra tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em
1 2 2 1 Nội dung hoạt động phát hiện , điều tra tội phạm MBPNTE
Xuất phát từ những nhận thức lý luận về hoạt động phát hiện tội phạm
MBPNTE, chúng ta có thể xác định nội dung của hoạt động phát hiện tội phạm
MBPNTE chính là các những thông tin phản ánh về tội phạm MBPNTE bao gồm những thông tin, tài liệu phản ánh về hành vi phạm tội, về đối tượng phạm tội, hành vi hên quan đến tội phạm, về nạn nhân hoặc những thông tin khác có giá trị cho việc xác định có tội phạm MBPNTE đã và đang xảy ra Việc tìm kiếm những thông tin phản ánh về tội phạm MBPNTE qua biên giới có thể biểu hiện từ những hoạt động tìm kiếm nạn nhân thông qua những sự việc, hiện tượng có biểu
hiện như:
Thông tin về các Trung tâm giới thiệu việc làm, tuyển dụng phụ nữ ở lứa tuổi còn trẻ, đối tượng đang thất nghiệp, không đòi hỏi trình độ, bằng cấp với mục đích không rõ ràng;
- Thông tin về các trung tâm môi giới hôn nhân cho người nước ngoài với
số lượng lớn, có các biểu hiện bất minh về tài chính, giao dịch nhiều phụ nữ lấy chồng thông qua trung tâm nhưng khi theo chồng ra nước ngoài thì gia đình mất liên lạc hoặc nhắn tin về cho gia đình là bị người nước ngoài buôn, bán;
- Tại địa phương có nhiều phụ nữ, trẻ em đi lên các tỉnh biên giới làm ăn hoặc ra đô thị, thành phố để kiếm việc làm không thấy trở về và không có tin tức gì nghi là bị buôn bán;
- Tin tức về việc xuất hiện một số người lạ mặt tại địa phương, có dấu hiệu móc nối với các chủ chứa, các cơ sở Karaoke, dịch vụ massage, dịch vụ gội đầu,
Trang 31nhà hàng, khách sạn để tuyển phụ nữ, trẻ em lên vùng biên giới hoặc ra đô thị làm ăn, tìm kiếm việc làm;
Thông tin về việc xuất hiện những phụ nữ đã bị mất tích từ lâu hoặc bị bán
ra nước ngoài trở về quê hương gặp gỡ những phụ nữ chưa chồng, bỏ chồng, tình duyên dang dở, gặp bất hạnh trong cuộc sống hoặc những trẻ em nghèo, trẻ em lang thang, trẻ em trong các gia đình đông con gặp khó khăn rủ rê lên biên giới làm ăn, đi làm con nuôi ;
Thông tin trong các làng trẻ SOS, nhà trẻ sơ sinh, bệnh viện phụ sản có trẻ
em mất tích không rõ lý do hoặc có các biểu hiện nghi vấn khác;
Thông tin từ hoạt động nghiệp vụ của lực lượng Công an thông qua công tác kiểm tra, kiểm soát các loại giấy tờ xuất, nhập cảnh ở các cửa khẩu phát hiện giấy tờ giả mạo, hoặc các biểu hiện nghi vấn là phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài Hoặc nhiều phụ nữ và trẻ em làm thủ tục xuất cảnh ra nước ngoài nhưng hết thời hạn không thấy chở về;
Thông tin từ các hoạt động tuần tra, kiểm soát biên giới phát hiện có đối tượng dẫn dắt phụ nữ, trẻ em vượt biên trái phép có dấu hiệu liên quan đến MBPNTE qua biên giới;
- Tin tức thông qua các hoạt động quản lý hộ tịch hộ khẩu, tạm trú, tạm vắng phát hiện nhiều phụ nữ, trẻ em vắng mặt không lý do hoặc đang cư trú bất hợp pháp trên địa bàn, đặc biệt là địa bàn các vùng giáp biên giới, cửa khẩu không rõ mục đích, có nghi vấn;
- Tin báo từ các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, các ngành hữu quan và của công dân về sự việc có dấu hiệu mua bán phụ nữ và trẻ em;
- Thông tin về các đối tượng có tiền án, tiền sự về tội phạm MBPNTE hoặc tội phạm buôn lậu, kinh doanh mại dâm, chủ chứa có biểu hiện bất minh trong giao dịch với người nước ngoài, hoặc móc nối với những người thường xuyên buôn bán qua biên giới nghi là liên quan đến tội phạm MBPNTE
Trên cơ sở những nội dung thông tin về các vụ, việc hiện tượng trên lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về trật tự xã hội cần nghiên cứu, xác minh làm rõ bản chất của sự việc, hiện tượng, thông qua đó sàng lọc xác định có tội phạm MBPNTE xảy ra hay không
Trang 32Ví dụ: khi nhận tin báo tại địa bàn có nhiều phụ nữ, trẻ em mất tích, Cảnh sát điều tra cần phối hợp với Cảnh sát quản lý địa bàn làm rõ những vấn đề như:
Ai mất tích, lai lịch, nhân thân, độ tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, đặc
điểm nhận dạng, ra đi trong hoàn cảnh nào, đi cùng ai, đi theo tuyến nào, những
ai có thể biết những thông tin liên quan đến nạn nhân và đối tượng nghi vấn trên cơ sở đó tiến hành các biện pháp kiếm tra, xác minh nhằm xác định có tội phạm xảy ra hay không
Tất cả những sự việc, thông tin nêu trên chỉ mang tính phổ biến và có khả năng liên quan đến tội phạm MBPNTE, trong những trường hợp cụ thể các thông tin phản ánh về tội phạm MBPNTE qua biên giới có thể phong phú hơn đòi hỏi lực lượng Cảnh sát điều tra cần chú ý, linh hoạt phát hiện, khai thác
Đối với các vụ án MBPNTE qua biên giới tội phạm diễn ra thường rất phức tạp, liên quan đến nhiều mắt xích, nhiều đối tượng, là người Việt Nam, người nước ngoài, tội phạm lại trường diễn, cắt đoạn, ít để lại hiện trường cụ thể, liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố vì vậy khi tiếp nhận thông tin lực lượng Cảnh sát điều tra cần nghiên cứu, phân tích tỉ mỉ, toàn diện và sâu sắc tất cả những thông tin có liên quan tới vụ việc trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, phán đoán ban đầu về vấn đề có liên quan đến tội phạm MBPNTE qua biên giới
Từ đó định hướng cho các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh vụ án Những nhận định đó có thể là:
- Có hành vi MBPNTE xảy ra hay không, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm Tội phạm MBPNTE qua biên giới thường diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định vì nó là kết quả của nhiều hành vi liên quan chặt chẽ với nhau, hành vi sau là hệ quả của hành vi trước và nó có mối liên hệ mật thiết từ hành vi tìm kiếm nạn nhân, lừa gạt, dụ dỗ nạn nhân, đến việc vận chuyển, tập kết "hàng",
đưa qua biên giới, đến hành vi mua bán, trao đổi, quá trình đó có thể diễn ra trong một vài ngày, một vài tháng, thậm chí trong hàng năm, nhiều trường hợp chính bản thân nạn nhân cũng không thể nhận thức được mình bị bán vào thời
điểm nào Như vậy, thời điểm tiếp nhận thông tin ban đầu phản ánh về vụ án MBPNTE có thể ở thời điểm tội phạm đang xảy ra, đã xảy ra trong khoảng thời gian ngắn hoặc đã trải qua một khoảng thời gian dài, thậm chí đã hết thời hiệu
Trang 33truy cứu trách nhiệm hình sự Chính vì vậy quá trình điều tra, xác minh phải xác
định được thời điểm tội phạm bắt đầu được thực hiện, hành vi giao nhận tiền
"hàng" diễn ra từ thời điểm nào, nạn nhân hiện tại ở đâu thời điểm tội phạm bị phát hiện việc xác định thời điểm tội phạm được thực hiện có ý nghĩa quan trọng trong việc thu thập tin tức, tài liệu, chứng cứ chứng minh làm rõ tội phạm
và người phạm tội
- Trên cơ sở những thông tin phản ánh ban đầu về tội phạm có nhận định sơ bộ về các đối tượng nghi vấn liên quan đến tội phạm MBPNTE và tiến hành các biện pháp cần thiết để kiểm tra, xác minh về nhân thân của đối tượng đó, và các đối tượng có liên quan, làm rõ vai trò, vị trí của từng tên
- Nhận định về những tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh làm rõ về
vụ án MBPNTE cần thu thập trong từng vụ án cụ thể là gì, thu thập ở đâu, biện pháp thu thập Đặc biệt chú ý thu thập lời khai của nạn nhân, người làm chứng, thân nhân trong gia đình nạn nhân, hoặc giấy tờ xuất nhập cảnh giả mà bọn tội phạm sử dụng, những tài liệu xác định việc vận chuyển nạn nhân lên biên giới tập kết PNTE hai bên biên giới, địa điểm nơi vượt biên, nơi giao dịch
- Nhận định về phương thức thủ đoạn thực hiện tội phạm, từ thủ đoạn lựa chọn đối tượng tác động của tội phạm đến thủ đoạn lừa gạt, thủ đoạn vận chuyển, thủ đoạn đưa người qua biên giới, và thủ đoạn tiêu thụ "hàng"
- Nhận định về số nạn nhân bị mua bán, đặc điểm nạn nhân, tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, nơi bị bán, nơi bị đưa đến cũng như giá bán và mục
đích sử dụng của người mua, như mua về làm vợ, làm “Ô sin”, làm con nuôi hay hoạt động mại dâm
- Xác định số lượng đối tượng trong từng mắt xích là người Việt Nam, người nước ngoài , người không quốc tịch và những vấn đề cần có sự hỗ trợ của
Bộ đội biên phòng hay Cảnh sát của nước bạn về tương trợ tư pháp và truy bắt, dẫn độ tội phạm, truy tìm nạn nhân, đưa nạn nhân về nước
Nhận định về những tội phạm liên quan như xuất nhập cảnh trái phép, buôn lậu, chứa chấp, môi giới mại dâm, hiếp dâm hoặc cưỡng dâm nạn nhân, cố
ý gây thương tích
Trang 34Nội dung của hoạt động điều tra các vụ án MBPNTE qua hiên giới: mục tiêu điều tra cho thấy, hoạt động phát hiện và điều tra các vụ án MBPNTE qua biên giới có quan hệ tác động qua lại biện chứng với nhau, hoạt động phát hiện nhằm xác định có tội phạm MBPNTE xảy ra, còn hoạt động điều tra nhằm làm sáng tỏ nội dung vụ án, đảm bảo xử lý đúng người đúng tội, đúng pháp luật Trên cơ sở kết quả của hoạt động phát hiện tội phạm, xác định tội phạm MBPNTE xảy ra, và những nhận định ban đầu lực lượng Cảnh sát điều tra tiến hành các biện pháp điều tra cần thiết đảm bảo làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án MBPNTE qua biên giới theo những nội dung cơ bản trong Điều 63 BLTTHS:
- Có tội phạm MBPNTE xảy ra hay không, thời gian, địa điểm xảy ra vụ
án MBPNTE; Ai là người thực hiện hành vi MBPNTE, hình thức lỗi, người đó có năng lực trách nhiệm hình sự hay không, động cơ, mục đích phạm tội
- Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, những đặc
điểm về nhân thân của bị can
- Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho nạn nhân, gia đình và xã hội
Tóm lại, để phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE qua biên giới có hiệu
quả đòi hỏi lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH phải tổ chức tốt các hoạt động nghiệp vụ cơ bản để kịp thời phát hiện những hiện tượng, sự việc, những đối tượng có các biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm MBPNTE Từ
đó xác định những vấn đề cần chứng minh trong từng sự việc, hiện tượng cụ thể cho phù hợp
Những nội dung trên đây đã phản ánh tương đối toàn diện những vấn đề mang tính định hướng và những chỉ dẫn việc tổ chức thực hiện các biện pháp nghiệp vụ và các biện pháp điều tra tội phạm MBPNTE của lực lượng Cảnh sát
điều tra Tuy nhiên, những vấn đề nêu trên vẫn chỉ là những vấn đề mang tính phổ biến, trong quá trình hoạt động thực tiễn có thể nảy sinh nhiều tình huống phức tạp, đòi hỏi lực lượng Cảnh sát điều tra phải biết vận dụng sáng tạo thì hoạt
động phát hiện, điều tra loại tội phạm này mới đạt được hiệu quả
1 2 2 2 Những biện pháp phát hiện , điều tra tội phạm MBPNTE
Trang 35Biện pháp phát hiện, điều tra các vụ án MBPNTE là cách thức, phương pháp tiến hành nhằm làm sáng tỏ những nội dung của quá trình phát hiện, điều tra các vụ án MBPNTE Những biện pháp đó được thực hiện công khai, bí mật theo quy định của pháp luật Để phát hiện, điều tra các vụ án MBPNTE qua biên giới lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH phải vận dụng linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ, các biện pháp điều tra trinh sát và điều tra theo tố tụng
Các biện pháp phát hiện tội phạm MBPNTE: Để phát hiện tội phạm
MBPNTE lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH áp dụng nhiều biện pháp khác nhau trong đó những biện pháp cơ bản được áp dụng như: Biện pháp tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tố giác tội phạm; Biện pháp quản
lý hành chính và tuần tra kiểm soát; Công tác trinh sát bí mật Công tác quản lý xuất, nhập cảnh; Phối hợp với các lực lượng Cảnh sát, Cơ quan biên phòng các nước có chung đường biên giới để phát hiện tội phạm; Phối hợp với các ban, ngành liên quan và các tổ chức đoàn thể quần chúng để phát hiện tội phạm; Phát hiện tội phạm qua đấu tranh, khai thác mở rộng các vụ án đang điều tra, truy tố, xét xử; Phát hiện tội phạm thông qua việc tiếp nhận, xử lý tin báo từ quần chúng nhân dân, từ các phương tiện thông tin đại chúng ;
Phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE theo các chuyên án; Những biện pháp điều tra tố tụng thường được áp dụng trong quá trình điều tra các vụ án MBPNTE: Trong quá trình điều tra các vụ án MBPNTE qua biên giới lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH vận dụng linh hoạt nhiều biện pháp điều tra khác nhau tuỳ thuộc từng tình huống điều tra cụ thể, nhưng những biện pháp
được áp dụng mang tính phổ biến gồm: Tiếp nhận, xử lý tin báo về tội phạm; Khởi tố vụ án, khởi tố bị can; Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại; Bắt đối tượng phạm tội MBPNTE; Hỏi cung bị can; Đối chất; Nhận dạng; Trên đây là những biện pháp phát hiện, điều tra mang tính phổ biến, trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm MBPNTE qua biên giới, tuỳ từng tình huống điều tra cụ thể mà lực lượng Cảnh sát nhân dân vận dụng linh hoạt các biện pháp, chiến thuật điều tra cho phù hợp
1.2.3 Cơ sở pháp lý của hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE
Trang 36Trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và đấu tranh phòng chống tội phạm MBPNTE nói riêng, lực lượng CAND, Bộ đội Biên phòng
và các cơ quan pháp luật luôn luôn dựa trên đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng, chống tội phạm và những nội dung phòng, chống tội phạm trong từng giai đoạn luôn được thể hiện trong các Chỉ thị, Thông tư, Nghị quyết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của ngành Công an Những văn bản quy phạm này, quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các lực lượng chuyên trách và là cơ sở pháp lý làm căn cứ điều chỉnh các hoạt động nghiệp vụ của Lực lượng CAND trong đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE trong thời gian qua nói riêng Cụ thể là:
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: Tại khoản 1 Điều 33 quy định Cơ quan
điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 110 BLTTHS quy
định cơ quan điều tra Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân
và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong đó có tội phạm MBPNTE
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự ngày 20 tháng 8 năm 2004: Tại Điểm
a, khoản 1, Điều 1 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự quy định cơ quan điều tra của lực lượng CSND bao gồm cơ quan điều tra Bộ Công an, Cơ quan Cảnh sát
điều tra cấp tỉnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện; tại Điều 3 quy định Cơ quan điều tra tiến hành điều tra tội phạm, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để xác định tội phạm và: người đã thực hiện hành vi phạm tội Lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục ngăn ngừa; Điều 9 PLTCĐTHS quy định tổ chức của cơ quan Cảnh sát điều tra các cấp; Để hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự ('PLTCĐTHS) năm 2004; Bộ trưởng Bộ Công an đã ra thông tư số 12/2004/TT-BCA V19), ngày 23 tháng 9 năm 2004 và Chỉ thị số 13/2004/CT- BCA (C11) ngày 22 tháng 9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về triển khai thực hiện Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 trong Công an nhân dân
Trang 37Trong đó cơ cấu tổ chức của cơ quan Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH theo Chỉ thị số 13 của Bộ trưởng Bộ Công an thì được quy định như sau: Cấp cục có Cục Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH (ký hiệu là Cl4); Cấp tỉnh có Phòng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH (ký hiệu là PC14); Cấp huyện có Đội Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH Theo Quyết định số 1 88/2005/QĐ-BCA (X13) của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH thì cơ cấu tổ chức của Cục Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH gồm 10 phòng
trong đó Phòng 7 có nhiệm vụ "Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm mua bán
phụ nữ và trẻ em" điều 3, Quyết định l88) Bên cạnh những văn bản pháp lý quan
trọng quy định quyền năng tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra nêu trên, còn
có hệ thống những văn bản làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức tiến hành các biện pháp nghiệp vụ của lực lượng lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội trong phát hiện, điều tra các tội phạm MBPNTE, như: Đối với các hoạt động trinh sát xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật thì Bộ Công an đã có nhiều văn bản quy định trình tự, thủ tục, thẩm quyền như: Chỉ thị số 13/ 1998/CT/BCA (C11 ); Quyết định 658/QĐ-BNV C 1 2) ngày 1 0 tháng 1 0 năm 1998, sau đó Tổng cục Cảnh sát nhân dân đã có kế hoạch 2018/ 1998/KH-C11 (C12 ngày 27 tháng 11 năm 1998 hướng dẫn các đơn vị, địa phương thực hiện Trên cơ sở những văn bản trên, để khắc phục những hạn chế và đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ trưởng Bộ Công an đã ra chỉ thị
số 05/CT-BCA (Cl1) ngày 06 tháng 6 năm 2003 về việc "chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới"
và các Quyết định số 360/2003/BCA (C11) ban hành quy định về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Quyết định số 361/2003/QĐ-BCA (C11) ban hành quy định về công tác sưu tra và quy định về công tác xác minh hiềm nghi của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Quyết định 362/2003/QĐ-BCA (Cl1) ban hành quy định về công tác đấu tranh chuyên án của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Quyết định số 363/2003/QĐ-BCA(C11) ban hành quy định về công tác xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân
Trang 38Cùng với những cơ sở pháp lý nêu trên trong quá trình phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE, lực lượng CSND còn căn cứ vào các văn bản như: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 776/TTg ngày 17/9/1997 về phân công trách nhiệm thực hiện ngăn chặn việc đưa trái phép phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài; Nghị quyết 09/CP và Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 13O/2O04/QĐ-TTg, phê duyệt Chương trình hành động phòng, chống tội phạm MBPNTE từ năm 2004 đến năm 2010 Những văn bản này này là cơ sở pháp lý quy định nội dung cho hoạt dộng phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE qua biên giới của lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về trật tự xã hội
Bên cạnh đó trong hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE qua biên giới thì lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về trật tự xã hội còn phải căn cứ vào những quy định của luật pháp quốc tế về hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, phải tuân theo những nguyên tắc của luật pháp quốc tế và căn cứ vào nội dung những hiệp định tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm cũng như những hiệp định hợp tác song phương, đa phương và hợp tác khu vực mà Việt Nam đã tham gia ký kết Những văn bản này là cơ sở pháp lý cho lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về TTXH phối hợp với các lực lượng Cảnh sát nhân dân khác và Bộ đội Biên phòng của các nước trong hoạt động phát hiện,
điều tra tội phạm MBPNTE qua biên giới Trong những năm qua Việt Nam đã tham gia ký kết hầu hết các điều ước quốc tế về đấu tranh phòng chống tội phạm,
đặc biệt là Việt Nam đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm với
12 nước làm cơ sở pháp lý cho hoạt động phối hợp quốc tế trong phát hiện, điều tra tội phạm nói chung và tội phạm MBPNTE qua biên giới nói riêng
1.2.4 Chủ thể của hoạt động phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE
Chủ thể tham gia hoạt động phát hiện tội phạm MBPNTE:
1- Bộ Công an: là cơ quan chủ trì phối hợp với các Bộ, ban ngành liên
quan trong phòng ngừa, phát hiện, điều tra tội phạm MBPNTE Trong Bộ Công
an thì có sự phối hợp của các lực lượng cơ bản sau: Cảnh sát sát điều tra các tội phạm về TTXH; Cảnh sát quản lý hành chính về an ninh trật tự; Công an cửa khẩu; lực lượng an ninh quản lý xuất nhập cảnh và các đơn vị nghiệp vụ khác
Trang 392) Bộ Quốc phòng (Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng): có vai trò tuần tra,
kiểm soát biên giới kịp thời phát hiện, ngăn chặn tội phạm đưa phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài; phối hợp với lực lượng Cảnh sát nhân dân trong nước và các nước có chung đường biên giới để phát hiện, ngăn chặn tội phạm; vận động quần chúng nhân dân ở khu vực biên giới để kịp thời phát hiện tội phạm
3) Bộ Ngoại giao: chủ trì phối hợp với Bộ Công an, tiến hành các hoạt
động đối ngoại trong lĩnh vực hợp tác với nước ngoài để phát hiện, phòng chống tội phạm MBPNTE ra nước ngoài
4) Bộ Tư pháp: có nhiệm vụ phối hợp với các Bộ, ban ngành có liên quan
để phòng ngừa, phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý tội phạm, tuyên truyền pháp luật về phòng chống mua bán phụ nữ, trẻ em;
5) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: phối hợp với Bộ Công an, Bộ Tư
lệnh Bộ đội Biên phòng, Bộ Y tế, Uỷ ban dân số, Gia đình và Trẻ em, Trung
ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Uỷ ban nhân dân các cấp để hỗ trợ những nạn nhân bị mua bán và phòng ngừa tội phạm, phát hiện phụ nữ, trẻ em bị mua bán;
6) Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân: Phối hợp chặt chẽ với lực
lượng Công an và các lực lượng khác trong việc phát hiện, điều tra, truy tố, xét
xử tội phạm MBPNTE
7) Những lực lượng khác : Ngoài những lực lượng nêu trên hoạt động phát
hiện tội phạm MBPNTE còn có sự tham gia của các ban ngành liên quan như Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Uỷ ban dân số, Gia đình và Trẻ em;
Uỷ ban nhân dân các cấp; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Tổng Liên
Đoàn Lao động Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Hội Cựu chiến binh; Hội Nông dân Việt Nam và toàn thể quần chúng nhân dân tham gia phát hiện tội phạm
Trong hoạt động phát hiện tội phạm MBPNTE qua biên giới có sự tham gia của nhiều lực lượng, ban ngành, đoàn thể khác nhau nhưng lực lượng Cảnh sát nhân dân, Bộ đội Biên phòng được coi là lực lượng nòng cốt Trong lực lượng Cảnh sát nhân dân thì lực lượng Cảnh sát điều tra các tội phạm về trật tự xã hội
là lực lượng chuyên trách
Trang 40Chủ thể tiến hành hoạt động điều tra các vụ án MBPNTE:
Khác với chủ thể tham gia hoạt động phát hiện tội phạm MBPNTE, ở hoạt
động điều tra các vụ án MBPNTE lực lượng Cảnh sát nhân dân là chủ thể chính tiến hành các hoạt động điều tra từ khâu phát hiện tội phạm đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của BLTTHS làm
rõ toàn bộ vụ án MBPNTE, làm cơ sở cho việc truy tố, xét xử tội phạm Việc xác
định chủ thể tiến hành hoạt động điều tra các vụ án MBPNTE qua biên giới trên cơ sở những quy định của BLTTHS, PLTCĐTHS và những văn bản hướng dẫn thi hành
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 33 và Khoản 1, Điều 110 BLTTHS thì tội phạm MBPNTE thuộc thẩm quyền điều tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Năm 2004 Bộ trưởng Bộ Công an đã ra Thông tư số 12/2004/TT-BCA (V19), ngày 23 tháng 9 năm 2004 và Chỉ thị số 1 3/2004/CT- BCA (C11) ngày 22 tháng
9 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Công an về triển khai thực hiện PLTCĐTHS năm
2004 trong Công an nhân dân; Quyết định 188/2005/QĐ-BCA (X13) của Bộ trưởng Bộ Công an Những văn bản pháp lý trên đã xác định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của lực lượng Cảnh sát điều tra nói chung và Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH nói riêng Theo đó, lực lượng Cảnh sát
điều tra các tội phạm về TTXH là chủ thể có nhiệm vụ, thẩm quyền tiến hành hoạt động điều tra các vụ án MBPNTE qua biên giới;
Tại Quyết định số 188/2005/QĐ-BCA (X13) của Bộ trưởng Bộ Công an quy định Phòng 7 của Cục Cảnh sát điều tra các tội phạm về trật tự xã hội có
nhiệm vụ "Phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em"
điều3, Quyết định số 88) ở cấp tỉnh thẩm quyền điều tra các vụ án MBPNTE thuộc về Phòng Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH (PC14) và ở cấp huyện
là đội Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH
Theo những văn bản pháp lý nêu trên thì Cơ quan Cảnh sát điều tra các tội phạm về TTXH có nhiệm vụ, thẩm quyền điều tra các tội phạm về TTXH trong
đó có tội phạm MBPNTE qua biên giới, áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy
định để xác định tội phạm và người đã thực hiện hành vi phạm tội Lập hồ sơ, đề nghị truy tố; tìm ra nguyên nhân, điều kiện phạm tội và yêu cầu các cơ quan, tổ