Những bất cập trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công ……….. 83 NHỮNG Ý KIẾN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ĐÃ ĐƯỢC THÀNH PHỐ VÀ TRUNG ƯƠNG THỰC HI
Trang 1SỞ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ SỞ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2004
(KHOA HỌC – XÃ HỘI – NHÂN VĂN)
TÊN ĐỀ TÀI:
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI TP.HỒ CHÍ MINH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Tháng 9-2007
Trang 2NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC ……… 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG … 4 1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách đối với người có công ……… 5
2 Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu ….……… 11
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ……… …… 13
I THỰC TRẠNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG ……….………….……… 14
1 Phân tích thực trạng (qua điều tra) ……….……….…… 14
2 Sự chung sức giúp đỡ của cộng đồng cho người có công ….……… 24
II THỰC TRẠNG VỀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG ……….…… 28
1 Thực trạng đời sống vật chất của hộ chính sách ….……….………… 28
2 Sự quan tâm của gia đình đối với người hưởng chính sách có công ……… 36
CHƯƠNG III: HỆ THỐNG CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI CỦA NHÀ NƯỚC VÀ SỰ HỖ TRỢ CỦA TOÀN XÃ HỘI ……….….……… 42
I CÁC CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC ……….…
42 1 Những chủ trương của Đảng ……… 42
2 Những chính sách, qui định của Nhà nước ……….…… 44
3 Những bất cập trong việc thực hiện các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với người có công ……… 49
II QUÁ TRÌNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH ……… 50
1 Hoạt động, chỉ đạo của cấp sở, ban, ngành có liên quan ……… 50
Trang 42 Hoạt động thực thi của phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận-huyện, phường-xã ……….……… 52 III CÁC GIẢI PHÁP MANG TÍNH XÃ HỘI HÓA ……… 53
1 Chương trình vận động xây dựng nhà tình nghĩa ……….………… 54
2 Chương trình ổn định đời sống thương binh, bệnh binh có tỉ lệ mất sức lao động từ 81% trở lên (thương binh, bệnh binh nặng) ở gia đình ……… 58
3 Chương trình xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa ……….……… 59
4 Chương trình tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa ……….……… 60
5 Chương trình chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sĩ già yếu cô đơn, phụng dưỡng Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, đỡ đầu con liệt sĩ mồ côi ……… 60
IV ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG HIỆN NAY ……….…… 61
1 Những mặt tích cực ……….……… 61
2 Những mặt khó khăn tồn tại ……….……….…….… 62
CHƯƠNG IV: CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ BỔ SUNG, ĐIỀU CHỈNH NHỮNG CHÍNH SÁCH CHĂM LO CHO NGƯỜI CÓ
I CÁC QUAN ĐIỂM CHUNG VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ………….……… 65 A- Các quan điểm chung ……….……… 65 B- Cơ sở thực tiễn ……….……… 66
II ĐỀ XUẤT VIỆC CHỈNH SỬA NHỮNG ĐIỀU CHƯA HỢP LÝ HOẶC CHƯA PHÙ HỢP VỚI HOÀN CẢNH CỤ THỂ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HỒ CHÍ MINH ……… 68
1 Mở rộng diện hưởng trợ cấp hàng tháng ……….……… 68
2 Về chế độ nhà ở, đất ở ……….……… 69
Trang 53 Điều chỉnh kịp thời mức trợ cấp ……… 69
4 Có chương trình đào tạo, sử dụng nhân tài, thực hiện việc nâng
trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp và tạo việc làm ………….…… 70 III ĐỀ XUẤT BỔ SUNG MỚI TRONG CHÍNH SÁCH NGƯỜI CÓ
CÔNG ……… 71
1 Sửa đổi chính sách “ưu đãi” thành chính sách “tôn vinh người có
công” ……… 71
2 Đề xuất bổ sung một số chính sách cơ bản ……….……….……… 71
3 Thực hiện chủ trương xây dựng quỹ “đền ơn đáp nghĩa” ……….… 75
4 Kinh tế phát triển hỗ trợ tạo điều kiện cụ thể và tích cực hơn
thực hiện chính sách người có công ……… 75
5 Nghiên cứu hệ thống chính sách đối với người có công trong xây
dựng đất nước ……… 77
6 Từng bước kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy thực hiện chính
sách người có công ……….……….……… 77
PHỤ LỤC ……… 83 NHỮNG Ý KIẾN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ĐÃ
ĐƯỢC THÀNH PHỐ VÀ TRUNG ƯƠNG THỰC HIỆN ……… 84 BẢNG TỔNG HỢP XỬ LÝ SỐ LIỆU ĐIỀU TRA HỘ GIA ĐÌNH
HƯỞNG CHÍNH SÁCH CÓ CÔNG ……….……… 86 TỔNG HỢP Ý KIẾN CÁC CHUYÊN GIA VỀ CHÍNH SÁCH ƯU
ĐÃI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG ……… 91 BÁO CÁO TỔNG HỢP CÁC MÔ HÌNH CHĂM SÓC NGƯỜI CÓ
CÔNG CÁCH MẠNG ……….……… 97 BIÊN BẢN HỘI THẢO ĐÓNG GÓP Ý KIẾN CHO ĐỀ TÀI ……….… 105 CÁC SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ MINH HỌA ……….……….… 110
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ……… 122
Trang 7CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI CÓ CÔNG
Trong lịch sử cận đại của dân tộc ta, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và bảo vệ Tổ quốc là một cuộc chiến tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, ác liệt… do kẻ thù gây ra Đã có biết bao đồng bào, đồng chí anh dũng hy sinh trong chiến đấu, công tác, trong đấu tranh chính trị trực diện với quân thù, hoặc bị địch bắt tra tấn tù đày dẫn đến tàn phế tật nguyền Hậu quả của cuộc chiến đối với dân tộc ta hết sức nặng nề
Chăm lo đời sống về vật chất và tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng là một trong những chính sách đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta Chính vì vậy, ngay từ những ngày đầu thành lập nước, trong điều kiện đất nước còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 20/SL ngày 16 tháng 2 năm 1947 ban hành chế độ hưu bổng, thương tật và tiền tuất tử sĩ, mở đầu cho sự ra đời hệ thống chính sách đối với người có công với cách mạng
Trong 60 năm qua, hệ thống chính sách ấy đã nhiều lần được bổ sung, sửa đổi qua từng thời kỳ cách mạng cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và đời sống chung của nhân dân Ngày 29/8/1994 Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa IX thông qua và ngày 11/9/1994, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 36/L-CTN công bố: “Pháp lệnh qui định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và ‘Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng” Các Pháp lệnh này và những văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ, của các ngành chức năng thể hiện sự cố gắng lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc thực hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta Các đối tượng có công được chăm sóc đầy đủ và toàn diện trên các lĩnh vực từ nhà ở, đất đai đến nuôi dưỡng, điều dưỡng, giáo dục, y tế… Những chính sách ấy thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã
Trang 8hy sinh xương máu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của nhân dân
Từ sau ngày giải phóng 30/4/1975, tuy còn gặp muôn vàn khó khăn thử thách, nhưng Đảng bộ và chính quyền thành phố Hồ Chí Minh đã khơi dậy và phát huy truyền thống dân tộc với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, vận dụng sáng tạo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, cố gắng thực hiện đầy đủ và kịp thời các chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng; phát động sâu rộng phong trào “đền ơn đáp nghĩa” trong nhân dân nhằm giúp đỡ các gia đình chính sách từng bước khắc phục khó khăn, cải thiện đời sống về vật chất cũng như về tinh thần
Tính đến tháng 8 năm 2007, thành phố có 171.111 người hưởng chế độ ưu đãi đối với người có công, gồm 16.745 thương binh, 2.436 bệnh binh, 14.486 người hưởng tuất liệt sĩ, 61.876 người tham gia hoạt động kháng chiến, 12.347 người có công giúp đỡ cách mạng, 2.051 Bà mẹ Việt Nam anh hùng (trong đó có 274 mẹ còn sống), 307 cán bộ lão thành cách mạng, 672 cán bộ tiền khởi nghĩa…
Thể hiện sự quan tâm, chăm sóc của Đảng, Nhà nước và cộng đồng, đến nay Thành phố đã cấp trên 12.000 căn nhà cho đối tượng là người có công, xây tặng 15.579 căn nhà tình nghĩa cho gia đình diện chính sách Toàn bộ số thương binh nặng được phường-xã, gia đình đón về nhà sinh sống; được ưu tiên cấp đất, cấp nhà, hỗ trợ vốn để kinh doanh, hỗ trợ học tập văn hóa, học nghề, giải quyết việc làm… Các đơn vị kinh tế, đoàn thể nhận phụng dưỡng suốt đời cho 274 Bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhận đỡ đầu chăm sóc thương binh nặng và cha mẹ liệt sĩ già yếu neo đơn
Những nỗ lực trong quá trình triển khai và thực hiện các chính sách
ưu đãi đối với người có công đã mang lại cho đối tượng hưởng chính sách cuộc sống vật chất, tinh thần ngày càng ổn định, tăng thêm niềm tin đối với Đảng và Nhà nước
Trang 91 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách đối với người có công
1.1- Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với người có công với cách mạng
- Thương binh, bệnh binh, liệt sĩ là những người con ưu tú đã vì Tổ quốc, vì nhân dân, vì cuộc sống hạnh phúc của mỗi chúng ta mà hy sinh xương máu Sự hy sinh này là vô giá, nên trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng phải biết ơn, phải báo đáp, phải chăm sóc với chính sách ưu đãi, đảm bảo cho họ được “yên ổn về vật chất, vui vẻ về tinh thần”
- Chính sách ưu đãi đối với người có công phải phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hài hòa với các mối quan hệ xã hội khác Nhưng trước hết, phải đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của những người mất hầu như hoàn toàn khả năng lao động, những người có nhiều cống hiến; đảm bảo việc phục hồi chức năng sinh hoạt, lao động và nghề nghiệp; đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho người hưởng chính sách và gia đình họ; tạo điều kiện để thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sĩ có việc làm phù hợp và làm việc có kết quả (qua những ưu đãi của Nhà nước về ruộng đất, vốn, thuế, về giáo dục và đào tạo, về việc làm, bao tiêu sản phẩm…)
- Chính sách đối với người có công phải được thực hiện trên cơ sở phát huy, vận dụng phương châm “Nhà nước, nhân dân và đối tượng cùng làm” Trong đó chính sách của Nhà nước (gồm chính sách của Trung ương và những ưu đãi của địa phương) đóng vai trò chủ đạo, vai trò đòn bẩy; phong trào “đền ơn đáp nghĩa” của nhân dân có vai trò quan trọng, thể hiện sự quan tâm của toàn xã hội với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” Bản thân người hưởng chính sách có vai trò quyết định trong việc nâng cao đời sống của mình và tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội từ chính sách ưu đãi của Nhà nước và sự tiếp sức của cộng đồng đem lại Thiếu sự nỗ lực này thì chính sách của Nhà nước có ưu việt, sự tiếp sức của cộng đồng dù có kịp thời cũng không đem lại kết quả mong muốn
Trang 101.2- Quan điểm chỉ đạo thực hiện và điều chỉnh bổ sung các chính sách ưu đãi đối với người có công với đất nước qua các thời kỳ cách mạng
1.2.1- Từ những chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ
được ban hành trong những ngày đầu Kháng chiến chống thực dân Pháp, sau năm 1954, chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ
đã được bổ sung, sửa đổi nhiều điểm hết sức cơ bản… (bằng các Nghị định
số 18/NĐ và 19/NĐ ngày 17/11/1954 của Liên Bộ Thương binh - Y tế - Quốc phòng -Tài chính và Điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật, Điều lệ ưu đãi bệnh binh, Điều lệ ưu đãi liệt sĩ ban hành kèm theo Nghị định 980/TTg ngày 27/7/1956 của Thủ tướng Chính phủ) mà các nội dung chủ yếu là:
- Chế độ phụ cấp thương tật 6 hạng (thay thế chế độ hưu bổng thương tật) qui định điều kiện, tiêu chuẩn và chế độ phụ cấp thương tật đối với thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật
- Định nghĩa liệt sĩ thay cho qui định về tử sĩ, theo đó bằng “Tổ quốc ghi công” do Thủ tướng Chính phủ cấp thay vì bằng “Tổ quốc ghi ơn” do Bộ Thương binh - Cựu binh hoặc bằng “Tổ quốc ghi công” do Bộ Quốc phòng cấp
- Qui định tiền tuất một lần và trợ cấp khó khăn cho gia đình liệt sĩ
- Qui định bổ sung chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ về việc làm, khám chữa bệnh, cung cấp phương tiện chuyên dùng, miễn giảm vé tàu xe…
- Qui định về cất bốc, qui tập mộ liệt sĩ, xây dựng nghĩa trang
- Qui định ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ
1.2.2- Ngày 30 tháng 10 năm 1964, Nghị định số 161/CP của Hội
đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tạm thời “Về các chế độ đãi ngộ quân nhân, quân nhân dự bị, dân quân tự vệ ốm đau, bị thương hoặc chết, trong khi làm nhiệm vu”ï đánh dấu sự ra đời của chính sách thương binh liệt sĩ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, với những nội dung chủ yếu là:
Trang 11- Qui định chế độ trợ cấp thương tật 8 hạng đối với quân nhân, quân nhân dự bị, dân quân tự vệ và công nhân viên chức bị thương trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc làm nhiệm vụ và được chia làm 2 loại: loại A (bị thương vì chiến đấu với địch hoặc anh dũng làm nhiệm vụ xứng đáng nêu gương cho đơn vị học tập) loại B (bị thương trong luyện tập quân sự, trong công tác, trong học tập, trong lao động xây dựng và sản xuất)
- Qui định chế độ tiền tuất liệt sĩ (gồm trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng)
Các nội dung ưu đãi về hưởng thụ văn hóa, giáo dục và đào tạo, dạy nghề, việc làm, y tế, tàu xe vẫn được thực hiện
Khi cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước mở rộng ra cả nước, chính sách thương binh liệt sĩ được bổ sung, sửa đổi gồm những nội dung chính sau:
- Bổ sung đối tượng là thương binh, liệt sĩ (thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã, …) bị thương, hy sinh trong khi làm nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu
- Qui định giải quyết việc làm cho thương binh: đào tạo, tuyển dụng, quy định các cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm tiếp nhận thương binh vào làm việc theo tỷ lệ 5% biên chế của mình
- Sửa đổi một số điểm trong chính sách đãi ngộ thương binh, gia đình liệt sĩ cho phù hợp với hoàn cảnh và tính chất toàn dân, toàn diện với cuộc kháng chiến chống Mỹ
- Xác định và cụ thể hóa phương châm “Nhà nước, nhân dân và đối tượng cùng làm” công tác thương binh liệt sĩ và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân đối với công tác thương binh liệt sĩ
- Phát động phong trào toàn dân chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ
Như vậy trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ở miền Bắc đồng thời tồn tại hai hệ thống trợ cấp:
Trang 12 Thương binh, liệt sĩ thời kỳ Kháng chiến chống Pháp vối chế độ phụ cấp thương tật 6 hạng đối với thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật và chế độ trợ cấp khó khăn đối với thân nhân liệt sĩ
Thương binh, liệt sĩ thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ với chế độ trợ cấp thương tật 8 hạng đối với quân nhân, quân nhân dự bị, dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, lực lượng vận tải, cán bộ chủ chốt xã, y tế xã… bị thương và chế độ trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ (trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng)
1.2.3- Sau ngày 30/4/1975, cùng với các chính sách xã hội khác,
chính sách thương binh liệt sĩ đã có sự kế thừa, phát triển và thành hệ thống hoàn chỉnh được thực hiện trong cả nước:
- Ở các tỉnh phía Nam thực hiện chính sách thương binh, liệt sĩ theo Nghị định số 08/NĐ-76 ngày 17/6/1976 của Hội đồng Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, trong đó qui định đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh liệt sĩ, chế độ trợ cấp và các chế độ ưu đãi đối với những người tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến đãø bị thương hoặc hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ
- Ở các tỉnh phía Bắc, Nhà nước chủ trương tiếp tục giải quyết một số vấn đề chưa hợp lý về chính sách thương binh liệt sĩ do lịch sử để lại, như điều chỉnh một số trường hợp là thương binh, thân nhân liệt sĩ thuộc diện hưởng trợ cấp một lần trước đây sang hưởng trợ cấp hàng tháng, thống nhất chế độ tiền tuất liệt sĩ đối với thân nhân liệt sĩ các thời kỳ (Thông tư số 24/TBXH ngày 19/3/1984 của Bộ Thương binh và Xã hội), thực hiện chế độ trợ cấp đối với thân nhân của nhiều liệt sĩ (Thông tư số 17/TBXH ngày 7/11/1983 của Bộ Thương binh và Xã hội)
- Ban hành Quyết định bổ sung đối với người có công giúp đỡ cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977 của Hội đồng Chính phủ, chế độ đối với bệnh binh; Quyết định số 78/CP ngày 13/4/1978 của Hội đồng Chính phủ)
Trang 13- Qui định đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế (Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 của Hội đồng Chính phủ)
- Bổ sung, sửa đổi về xác định đối tượng, căn cứ hưởng trợ cấp, … và thực hiện thống nhất chính sách thương binh liệt sĩ trong cả nước (Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Chính phủ)
1.2.4- Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với những giải pháp tình thế
để tháo gỡ khó khăn, ổn định đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ, xử lý những phát sinh và trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh qui định danh hiệu vinh dự Nhà nước
“Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng (goi chung là Pháp lệnh
ưu đãi người có công với cách mạng) Ngày 29/4/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP hướng dẫn thi hành hai Pháp lệnh
Mặc dù một số vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu giải quyết, nhưng với việc ban hành hai Pháp lệnh nêu trên, lần đầu tiên nội dung ưu đãi thương binh, liệt sĩ và người có công đã được pháp luật hóa, đời sống thương binh và gia đình liệt sĩ được cải thiện và tạo tiền đề để đẩy mạnh công tác chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thể hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước đối với người có công trong thời kỳ đổi mới Pháp lệnh đã kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, những điểm ưu việt trong các chính sách đối với người có công trong thời kỳ trước và khắc phục những mâu thuẫn, bất hợp lý để phát triển thành hệ thống tương đối hoàn chỉnh, hiệu lực pháp lý cao, tạo
ra cơ sở luật pháp để tổ chức thực hiện Hai Pháp lệnh này đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, được nhân dân đồng tình, đối tượng chính sách phấn khởi, tăng thêm niềm tin đối với Đảng và Nhà nước
1.2.5- Ngoài những chính sách nhằm nâng cao đời sống vật chất
cũng như tinh thần cho các gia đình chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn
Trang 14thể hiện lòng biết ơn của đất nước đối với những người đã anh dũng hy sinh trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc
Để ghi nhớ công ơn của những người con quê hương hy sinh vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì tự do và cuộc sống yên bình của mọi
người, nhiều xã-phường đã lập nhà bia ghi tên liệt sĩ Nhà bia ghi tên liệt
sĩ được đặt tại các trung tâm văn hóa của xã-phường hoặc trong khuôn viên di tích… Nhiều địa phương xây dựng bia, tượng, phù điêu ghi nhớ những sự kiện lịch sử oai hùng
Vào các ngày lễ-tết, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và nhân dân địa phương tới đây để thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ Nguồn kinh phí xây dựng nhà bia là do ngân sách và nhân dân trong xã-phường đóng góp
Do đáp ứng yêu cầu bức xúc của nhân dân và nguyện vọng chính đáng của các gia đình liệt sĩ, nên việc xây dựng nhà bia ghi tên liệt sĩ đã nhanh chóng phát triển ở các địa phương và trở thành công trình văn hóa lịch sử của đất nước Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay cả nước đã có 2.108 nhà bia được xây dựng ở cấp xã-phường, trong đó một số tỉnh xây dựng được nhiều nhà bia như: Thanh Hóa (350 nhà bia), Hà Tĩnh (174 nhà bia), Hà Tây (158 nhà bia), Nghệ An (117 nhà bia), Thái Nguyên (107 nhà bia)…
Thành phố Hồ Chí Minh tính đến tháng 6 năm 2006, đã có 57 nhà bia ghi danh liệt sĩ Đây là một trong những công trình trọng điểm của thành phố để chào mừng ngày lễ lớn của dân tộc Đặc biệt, thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng Đền Bến Dược tại huyện Củ Chi (là một trong những vùng căn cứ cách mạng nổi tiếng trong thời Kháng chiến chống Mỹ), nhằm giáo dục truyền thống cách mạng, đạo đức uống nước nhớ nguồn cho thế hệ mai sau Đây thực sự đãø trở thành một địa điểm thiêng liêng và nổi tiếng, là điểm đến của nhiều đoàn khách tham quan trong và ngoài nước khi đến thành phố
1.3- Trách nhiệm xã hội đối với người có công
Trang 15Đảng và nhà nước ta luôn định hướng, động viên, khuyến khích, ủng hộ phát động các phong trào quần chúng cùng tham gia chăm sóc người có công, qua đó tạo sức mạnh tổng hợp ở cộng đồng dân cư Sự giúp đỡ chăm lo này là nguồn động viên tiếp sức cho các đối tượng chính sách vươn lên làm chủ bản thân mình, làm chủ cuộc sống, tiếp tục đóng góp cho xã hội Phương châm: “Nhà nước, nhân dân và đối tượng cùng làm” (Nhà nước có vai trò chủ đạo, cộng với sự hỗ trợ vô cùng quan trọng của nhân dân và nhất là sự nỗ lực của chính bản thân đối tượng chính sách mang tính quyết định) là phương thức tổ chức vững chắc trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công vừa qua
Các tổ chức đoàn thể quần chúng phải đóng vai trò quan trọng trong các phong trào đền ơn đáp nghĩa Người Việt Nam luôn sống với đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, và có truyền thống “lá lành đùm lá rách”, luôn ghi nhớ sự hy sinh to lớn của các liệt sĩ, gia đình có công, do vậy các đoàn thể và nhân dân đã và tiếp tục là lực lượng tiên phong đóng góp vật chất và tinh thần cho phong trào này Sự quan tâm hỗ trợ chăm lo của cộng đồng dân cư cũng rất đa dạng, trong từng khu phố, xóm ấp, bà con luôn thể hiện tinh thần tương trợ giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn; những gia đình chính sách, thương binh, liệt sĩ, Bà Mẹ Việt Nam anh hùng luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ đầy nghĩa tình này
Tuy nhiên, ngoài sự giúp đỡ, quan tâm của Nhà nước, đoàn thể và cộng đồng dân cư, chính bản thân đối tượng và gia đình chính sách phải có những cố gắng, nỗ lực vượt khó – đây là nhân tố quyết định nhất Dân tộc ta luôn có quan niệm gia đình đóng vai trò quan trọng bậc nhất, là cái nôi để từng thành viên trong gia đình cùng chung sống, lớn lên, phát triển Sự nỗ lực phấn đấu, giúp đỡ giữa các thành viên trong gia đình luôn là nguồn động viên lớn nhất đối với những người hưởng chính sách, tạo môi trường sinh hoạt, lao động tiếp tục đóng góp cho xã hội
2 Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1- Đối tượng nghiên cứu
Trang 16Hiện nay, thành phố có 172.696 người hưởng chế độ ưu đãi đối với
người có công, trong đó có 47.132 người hưởng trợ cấp hàng tháng Trong
chuyên đề nghiên cứu này chỉ tập trung vào 5 đối tượng chính sách có công mang tính tiêu biểu phổ biến (số người chiếm tỷ lệ lớn) bao gồm:
- Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp hàng tháng : 10,15%
- Người có công giúp đỡ cách mạng : 7,06%
- Người hoạt động kháng chiến đã hưởng trợ cấp : 37,42%
Đây là 5 diện lớn mang tính tiêu biểu, đại diện cho các diện chính sách khác trên địa bàn Thành phố
Trang 172.2- Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu trên một số phường-xã có tính tiêu biểu: là vùng căn cứ kháng chiến cũ, có nhiều diện chính sách; là vùng sâu, vùng xa nơi mà đời sống diện chính sách còn gặp khó khăn Nhóm tác giả thực hiện việc điều tra sâu tại 11 phường-xã của 7 quận-huyện với tổng số 600 hộ diện chính sách, chia ra như sau:
- Phường Phú Hữu, quận 9 : 50 phiếu
- Phường Long Trường, quận 9 : 50 phiếu
- Phường Long Phước, quận 9 : 50 phiếu
- Phường An Phú Đông, quận 12 : 50 phiếu
- Xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh : 100 phiếu
- Xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi : 100 phiếu
- Xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè : 50 phiếu
- Xã Phước Kiển, huyện Nhà Bè : 50 phiếu
- Xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn : 50 phiếu
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu tiếp xúc ghi nhận các phản ánh từ thực tiễn, qua theo dõi việc thực hiện chính sách ở các cơ quan thi hành chính sách như Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, các quận-huyện trên địa bàn nghiên cứu; các phản ánh từ báo chí, hội nghị tổng kết và dư luận xã hội
Trang 18CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Hơn 30 năm qua kể từ ngày Thành phố được giải phóng, trong điều kiện đất nước sau chiến tranh, đời sống của đa số cán bộ nhân dân thành phố không tránh khỏi khó khăn thiếu thốn Trong đó, số thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng, mặc dù được Nhà nước và xã hội chăm lo, song có lúc gặp nhiều khó khăn bức xúc, ngay cả những vấn đề cơ bản như việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe, học hành Công tác thực hiện chính sách đối với người có công luôn đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết kịp thời Phát huy truyền thống quý báu của dân tộc ta “uống nước nhớ nguồn”, “ăên quả nhớ người trồng cây”, Đảng bộ và Chính quyền thành phố đã vận dụng tích cực phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, “Trung ương và địa phương cùng lo” Thành phố và quận-huyện đều có quỹ dự phòng để đảm bảo thực hiện các chế độ chính sách do nhà nước quy định cấp phát cho các đối tượng có công Đồng thời, các đoàn thể quần chúng liên tục phát động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế - xã hội tích cực tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng Pháp lệnh ưu đãi người có công đã khắc phục được một số bất hợp lý về tương quan giữa các mức trợ cấp hàng tháng, như sự khác biệt giữa mức trợ cấp thương binh hưởng lương và thương binh hưởng sinh hoạt phí, giữa thương binh đang công tác và thương binh về gia đình
Tuy nhiên, phong trào chăm sóc người có công với cách mạng còn chưa đồng đều do phụ thuộc chủ yếu vào sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể của mỗi địa phương Nguồn hỗ trợ huy động từ cộng đồng xã hội, tuy đã rất cố gắng nhưng không thể đảm bảo về vật chất cho số lượng lớn người có công, đặc biệt là ở các địa phương có đông đối tượng chính sách, các vùng sâu vùng xa,
Trang 19vùng căn cứ cách mạng Mặt khác, chế độ trợ cấp chính sách ở mức thấp không thực sự là nguồn hỗ trợ cơ bản của những người có công (hầu hết
bị hạn chế về sức khỏe, kiến thức làm ăn, về việc làm và học hành cho con em mình) Chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng vẫn chưa theo kịp những thay đổi với mức chung của xã hội
I THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG
1 Phân tích thực trạng (qua điều tra)
Để có cơ sở phân tích hiện trạng đời sống thực tế của những người có công đang hưởng chính sách có công trên địa bàn thành phố, nhóm nghiên cứu đề tài khoa học đã tổ chức thực hiện cuộc điều tra ở 600 hộ gia đình có công, mà đại diện là:
- Gia đình có công cách mạng : 142 hộ
- Gia đình có người hoạt động kháng chiến : 67 hộ
- Gia đình có người là thương binh : 108 hộ
- Gia đình có người là bệnh binh : 48 hộ
Cụ thể ở khu vực nội thành là 50 hộ thuộc hai phường 11 và 12 quận 6; 200 hộ ở khu vực đô thị mới là bốn phường Phú Hữu, Long Phước, Long Trường của quận 9 và phường An Phú Đông - quận 12; 350 hộ thuộc khu vực ngoại thành: xã Vĩnh Lộc A - huyện Bình Chánh, xã An Nhơn Tây - huyện Củ Chi, xã Bà Điểm - huyện Hóc Môn, xã Hiệp Phước, Phước Kiển - huyện Nhà Bè Đây là những địa phương mà số lượng gia đình có công chiếm tỷ lệ cao so với những địa phương khác
Các tiêu chí khảo sát bao gồm: tình trạng nhà ở, các loại tiện nghi sinh hoạt, điều kiện sản xuất kinh doanh và thu nhập đời sống của các gia đình chính sách này Tuy mẫu nghiên cứu nhỏ, chỉ chiếm tỷ lệ 0,34% so tổng số người diện có công, nhưng phần nào thể hiện được thực trạng đời sống của những người có công đang hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước
Trang 20Kết quả khảo sát được thể hiện như sau:
1.1- Về tình trạng nhà ở của người có công
1.1.1- Về cấu trúc nhà ở
Đơn vị tính: %
Cấu trúc nhà ở Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Nhà kiên cố 32 36,5 7,71
- Nhà bán kiên cố 48 55 79,14
- Nhà cấp 4 12 5 6,57
- Nhà tạm bợ 8 3,5 2,85
1.1.2- Tình trạng sở hữu nhà ở
Đơn vị tính: %
Tình trạng sở hữu Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Nhà trong diện giải tỏa 08 0,5 0,28
1.1.4- Diện tích sử dụng của các căn hộ gia đình có công
Đơn vị tính: %
Diện tích nhà ở Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
Trang 21- Dưới 100 m2 40 37 42,18
Số liệu trên cho chúng ta có nhận định rằng: Đại bộ phận người có
công đều có nhà cửa ổn định, trong khu vực nội thành và khu đô thị mới
tỷ lệ nhà kiên cố trên 30%, riêng khu vực ngoại thành số nhà bán kiên cố chiếm tỷ lệ cao 79,14% so với tổng số hộ điều tra ở khu vực ngoại thành Số nhà tạm bợ tuy chiếm tỷ lệ thấp, ở nội thành chiếm tỷ lệ 8%, khu vực đô thị mới chiếm tỷ lệ 3,5%, ngoại thành chiếm tỷ lệ 2,85% trong tổng số hộ được điều tra trong khu vực Tuy nhiên, một số bộ phận người có công chưa đủ điều kiện để xây dựng cho mình một căn nhà bán kiên cố, nếu không có sự trợ giúp của nhà nước và các hoạt động tích cực của các đoàn thể quần chúng
Về tình trạng sở hữu nhà, đa số diện chính sách có công đều sở hữu
căn nhà của mình, số ở nhà thuê hoặc ở nhờ nhà bà con chiếm tỷ lệ rất
thấp, ở nội thành chiếm 10%, ở khu đô thị mới chỉ có 0,5%, riêng ở ngoại thành thì không có hộ nào phải thuê nhà hoặc ở nhờ Khu vực nội thành hầu như không có nhà tình nghĩa hoặc nhà tình thương do không có đất để xây dựng Khu đô thị mới và ngoại thành, số được cấp nhà tình nghĩa, nhà tình thương chiếm tỷ lệ cao, khu đô thị mới có đến 38% được cấp nhà tình nghĩa và 4% được xây nhà tình thương, khu vực ngoại thành có 22,57% được cấp nhà tình nghĩa và 1,14% được cấp nhà tình thương
Qua kết quả trên và theo dõi chung, chúng tôi nhận định rằng khu vực nội thành khó cấp nhà tình nghĩa, nhiều địa phương lúng túng khi có nguồn quỹ để xây dựng nhà tình nghĩa cho gia đình có công nhưng không có đất để xây dựng nhà Cần phải có chính sách riêng cho khu vực nội thành trong vấn đề cấp nhà tình nghĩa cũng như xây dựng nhà tình thương
Qua kết quả khảo sát, chúng ta thấy số hộ gia đình có công có diện tích sử dụng dưới 30 m2 chiếm tỷ lệ cao, khu vực nội thành có đến 18%, khu đô thị mới chiếm 5,5%, khu vực ngoại thành chiếm 10,57% Điều này
Trang 22cho thấy một bộ phận không nhỏ gia đình có công chưa có khả năng cải thiện nhà ở của mình
Tình trạng nhà ở của phần đông gia đình chính sách cũng như các hộ dân nghèo khác bị xuống cấp trầm trọng do không được duy tu, bảo dưỡng, nhất là đối với những nhà tình nghĩa, nhà tình thương do chất lượng xây dựng kém vì kinh phí có hạn Theo kết quả điều tra, ở nội thành có đến 35%, khu đô thị mới chiếm 23,5% và ngoại thành có trên 13% nhà diện có công được điều tra bị hư hỏng cần phải có sự giúp đỡ của nhà nước để sửa chữa lại Trong nhiều năm qua, phong trào vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa đã được các tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố tích cực hưởng ứng Từ nguồn quỹ này, các quận-huyện đã dành một phần lớn cho việc sửa chữa, chống dột nhà ở của các gia đình có công Tuy nhiên, việc sửa chữa chống dột được tổ chức làm đại trà cho các gia đình chính sách có công, neo đơn, nên hiệu quả không cao (Nhân kỷ niệm 30 năm ngày giải phóng miền Nam, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo rà soát nhà tình nghĩa hư hỏng và đã sửa chữa toàn bộ nhà hư hỏng
do quận-huyện đề nghị với kinh phí: 8.513.395.000 đồng)
Trong thời gian tới, cần có giải pháp cụ thể hơn, nên điều tra khảo sát cụ thể về tình trạng nhà ở của các diện chính sách người có công; tập trung nguồn lực giúp đỡ cho những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, chưa có chỗ ở ổn định hoặc nhà bị hư hỏng nặng, nhất là những gia đình chính sách neo đơn, có khó khăn về tài chính…
1.2- Tiện nghi sinh hoạt
1.2.1- Điện sinh hoạt
Đơn vị tính: %
Điện sinh hoạt Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Đường điện riêng 92 94 86,28
- Câu nhờ 8 5,5 13,42
- Không có điện 0,5 0,28
Trang 23Ngành điện chưa có chính sách riêng trong việc cung cấp điện sinh hoạt cho các gia đình có công cách mạng, một số hôï vẫn còn câu nhờ điện qua hộ khác, từ đó họ phải trả tiền điện với giá cao, một số hộ không có điện để sinh hoạt
1.2.2- Nước sinh hoạt
Đơn vị tính: %
Nước sinh hoạt Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Sử dụng nước máy 82 24 4,85
- Nước giếng 10 63 91,42
- Nước đổi 8 0,5 1,14
Nước sinh hoạt cũng là nhu cầu cấp thiết của người dân, người trong diện có công vẫn còn ở khu vực không được cung cấp nước sạch hoặc phải sử dụng nước ao hồ tự nhiên Vấn đề này cần phải được các cấp chính quyền xem xét và giúp đỡ cho các hộ chính sách
1.2.3- Tiện nghi sinh hoạt
1.3- Điều kiện tổ chức sản xuất kinh doanh
Trang 24Đối với các hộ gia đình có công ở khu vực đô thị mới và ngoại thành, một số hộ có đất, có ruộng-vườn nên có điều kiện để cải thiện thêm cuộc sống, như tổ chức sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và trồng trọt Tuy nhiên, với số diện tích đất, ruộng, vườn, ao hồ bình quân cho mỗi hộ gia đình ở khu đô thị mới và ngoại thành thì người lao động chỉ trồng trọt là chính, số hộ tham gia sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất thấp; thống kê ở 500 hộ ngoại thành và khu đô thị mới, các gia đình có công chỉ có 37 trâu, đàn bò thịt chỉ có 125 con, 60 con bò sữa Về phương tiện sản xuất tiểu thủ công nghiệp chỉ có 30 máy may, 3 máy vắt sổ Điều này cho thấy các hộ gia đình có công phần đông tham gia làm việc trong khu vực nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp
1.4- Về lao động, trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ
Căn cứ số liệu của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố đến cuối tháng 12/2005, các đối tượng chính sách người có công do Thành phố quản lý có 172.696 người chiếm tỷ lệ khoảng 3% dân số thành phố Phân tích các số liệu cho thấy những đặc điểm về lao động, trình độ văn hóa và chuyên môn nghiệp vụ của những người có công tại thành phố như sau:
Trang 251.4.1- Đa số người có công có độ tuổi cao và người ngoài tuổi lao
động như cán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, anh hùng lực lượng vũ trang, nhân sĩ trí thức, bà mẹ Việt Nam anh hùng, các đồng chí tử tù, người hoạt động kháng chiến Trong tổng số thương binh thì thương binh chống Pháp và Mỹ chiếm tỷ lệ 76,67% (15.145/19.754), số này phần lớn tuổi đã cao
- Số người có công trong độ tuổi lao động (nam từ 15 - 60 tuổi, nữ từ 15 - 55 tuổi) chiếm tỷ lệ khoảng 52% (88.520 người) thấp hơn nhiều so với tỷ lệ số người trong tuổi lao động của dân số thành phố hiện nay là 66,18%
Trong tổng số người có công tại Thành phố ở độ tuổi lao động có 17% (khoảng 15.000 người) thuộc đối tượng mất sức lao động, bệnh tật
do thương binh, tai nạn lao động đang hưởng chính sách
Như vậy, trong tổng số người có công tại Thành phố, số người trong tuổi lao động có khả năng tham gia được việc làm có thu nhập chỉ khoảng 58.000 – 60.000 người, trong đó các đối tượng là con, em trong độ tuổi thanh niên thuộc đối tượng có công có 19.000 – 20.000 người
1.4.2- Người có công tại thành phố trên 70% cư trú tại các quận ven
và ngoại thành có trình độ học vấn thấp (chỉ tính đối với những người có công trong trong tuổi lao động); bao gồm tốt nghiệp cấp III: 20,67%; tốt nghiệp cấp II: 21,23%; tốt nghiệp cấp I: 34,27% và chưa tốt nghiệp cấp I: 23,83% Trình độ văn hóa bình quân của người có công, đặc biệt nhóm người trong độ tuổi lao động hiện nay có tăng so với các năm trước, nhưng vẫn còn khoảng 60% văn hóa trình độ dưới cấp II Trình độ học vấp thấp cùng với đặc điểm về tình trạng sức khỏe, thương tật là hạn chế rất lớn đối với người có công trong việc học nghề và có việc làm thu nhập ổn định hoặc có việc làm tại các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố
1.4.3- Theo số liệu chưa được đầy đủ về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ của những người có công trong tuổi lao động, chỉ có khoảng 20% đã qua đào tạo (tỷ lệ này thấp so với tỷ lệ lao động đã qua đào tạo
Trang 26nghề của thành phố hiện nay là 32%) Trong số người đã qua đào tạo, 5% có trình độ đại học, 40% trình độ trung cấp và 45% trình độ công nhân lành nghề, sơ cấp Tuy nhiên, điều đáng quan tâm là trên 50% người có công trong độ tuổi lao động đã qua đào tạo nghề, chỉ học các trường lớp ngắn hạn của các trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề của quận-huyện, chưa có điều kiện tiếp cận chương trình đào tạo dài hạn của các trường công nhân kỹ thuật, trường trung cấp hệ chính qui của nhà nước với các ngành nghề chuyên môn kỹ thuật lành nghề và bậc cao Vì vậy, một số người sau khi học nghề tìm được việc làm thuộc các ngành nghề đơn giản, thu nhập không cao như: dịch vụ sửa chữa nhỏ, sản xuất gia công may, giày da, chế biến nông sản, hải sản, thực phẩm… Một bộ phận tự tạo việc làm tại chỗ ở những ngành nghề dịch vụ đơn giản như sửa xe, cắt tóc, uốn tóc, may, thêu
Nhìn chung, trong những năm qua, được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính quyền thành phố, thực trạng về lao động, trình độ văn hóa chuyên môn nghiệp vụ của người có công tại Thành phố (chủ yếu đối với những người còn trong độ tuổi lao động) được cải thiện, nâng lên theo sự phát triển kinh tế-xã hội chung của cả nước và Thành phố Nhiều người đã đạt trình độ học vấn cao, tay nghề chuyên môn giỏi, làm việc có thu nhập cao và ổn định, một số người làm kinh tế giỏi và góp phần phát triển kinh tế địa phương Tuy nhiên số lượng người có công được tạo điều kiện về học tập văn hóa, nghề nghiệp, việc làm vẫn còn chiếm tỷ lệ thấp, đại bộ phận cần được sự quan tâm đầu tư hỗ trợ của nhà nước về nâng cao văn hóa, nghề nghiệp phù hợp yêu cầu phát triển thị trường lao động của thành phố hiện nay và các năm tới
1.5- Tình trạng về việc làm
Số hộ và người có công có việc làm và thu nhập đạt mức sống trung bình và khá chiếm tỷ lệ 64% Số hiện có hoàn cảnh mức sống khó khăn chiếm tỷ lệ 36%, đặc biệt số người có hoàn cảnh khó khăn cần trợ giúp chiếm tỷ lệ 21,83% (khoảng 35.000 – 37.000 người, 9.000 hộ/42.000 hộ gia đình hưởng chính sách) Trong đó:
Trang 27+ 6,67% hộ gia đình có lao động không việc làm; 11,16% thiếu vốn làm ăn; 5,33% gặp thiên tai mất mùa; 1,66% thiếu ruộng đất canh tác Tính chung, những người có công gặp khó khăn về việc làm (không có việc làm, việc làm không đầy đủ, việc làm thu nhập thấp) chiếm tỷ lệ khoảng 25%, đây là tỷ lệ cao so với tình trạng lao động thất nghiệp của thành phố (6,50%) và tình trạng thiếu việc làm của lao động thành phố (10%)
+ Điều đáng quan tâm đặc biệt về thực trạng lao động việc làm của người có công tại Thành phố là trong tổng số 21,83% số hộ gia đình người có công có hoàn cảnh mức sống khó khăn cần trợ giúp thì 69,46% hộ có người bệnh nặng; 19,08% hộ có nợ nần; 6,87% hộ thiếu lao động sản xuất Đối với những hộ này ngoài hỗ trợ về chính sách việc làm đời sống còn phải tính toán thêm một số biện pháp hỗ trợ khác
Trang 281.6- Tình trạng thu nhập của gia đình có công
Đơn vị tính: %
Thu nhập của hộ Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Trợ cấp của Nhà nước 20,59 21,45 15,58
- Thu nhập từ khoản trợ cấp của nhà nước chiếm tỷ trọng trên 20% trong tổng thu nhập của các hộ gia đình, tuy nhiên đối với khu vực ngoại thành có thấp hơn, chỉ chiếm 15,58%
- Thu nhập từ tiền lương chiếm tỷ trọng cao trong khoản thu nhập của các hộ gia đình: khu vực nội thành chiếm 56,15%, khu vực đô thị mới chiếm 45,40%, riêng khu vực ngoại thành chiếm 36,18% Điều này cũng phù hợp vì tiền lương, tiền công khu vực ngoại thành trả thấp hơn khu vực đô thị, một phần do giá cả sinh hoạt của ngoại thành thấp hơn
- Riêng các khoản thu nhập khác ở ngoại thành chiếm tỷ trọng cao nhất là 17,06% trong tổng thu nhập của các hộ
Bình quân thu nhập đầu người/tháng: 432.000 đồng
1.7- Chi tiêu bình quân
Đơn vị tính: %
Thu nhập của hộ Nội thành Khu đô thị mới Ngoại thành
- Ăn uống 52,68 53,69 47,94
Trang 29Bình quân chi tiêu đầu người/tháng: 388.000 đồng
1.8- Một số vấn đề về cơ cấu thu nhập và chi tiêu bình quân
- Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình và người có công là từ lao động mà có chiếm tỷ lệ 70,80% (bao gồm đi làm việc hưởng lương tỷ lệ 43,12% và tự làm việc trong hộ gia đình để có thu nhập chiếm tỷ lệ 27,68%) Nguồn thu nhập từ trợ cấp nhà nước chỉ chiếm tỷ lệ 18,30% và các nguồn hỗ trợ khác bao gồm sự giúp đỡ của địa phương, tổ chức xã hội chỉ chiếm tỷ lệ 6,38%
- Bình quân thu nhập đầu người/tháng của hộ gia đình chính sách có công là 432.000 đồng phản ảnh thực tế đại bộ phận còn trong hoàn cảnh khó khăn, thu nhập còn thấp, nằm trong mức chuẩn nghèo giai đoạn
2 (2004-2010) của thành phố
- Bình quân chi tiêu đầu người là 388.580 đồng/tháng, cho thấy chi tiêu rất tiết kiệm (theo thống kê 2003, mức chi tiêu bình quân một người/tháng tại thành phố là 570.000 đồng và mức thu nhập bình quân của người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế: 800.000 đồng/người/tháng)
Việc làm, thu nhập, đời sống của những người hưởng chính sách có công không chỉ tính trên bản thân cá nhân họ mà có liên quan đến gia
Trang 30đình họ Vấn đề chủ yếu làm cho đời sống họ khó khăn chính là khả năng lao động (sức lao động, trình độ chuyên môn, tay nghề ) và khả năng giải quyết việc làm Kết quả khảo sát từ 1.509 người là thương binh còn khả năng lao động và con liệt sỹ trưởng thành cho thấy:
- Số người cần vay vốn để tạo việc làm : 14%
- Số người vừa cần học nghề, cần việc làm, cần vay vốn : 12% Điều này cho thấy nhu cầu bức xúc của những người thuộc diện có công còn khả năng lao động là việc làm, học nghề, vay vốn tạo việc làm
Cho đến thời điểm này, đa số thương binh, bệnh binh, con liệt sĩ, con thương binh còn khả năng lao động được ưu tiên sắp xếp việc làm trong các cơ quan hành chính Nhà nước, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và một số cơ sở sản xuất của thương binh và người tàn tật; hàng chục tỷ đồng được huy động từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm, quỹ Xoá đói giảm nghèo và các nguồn vốn tín dụng ưu đãi khác được ưu tiên dành cho các đối tượng chính sách để hỗ trợ cho họ tổ chức sản xuất làm ăn, cải thiện đời sống Thành phố Hồ Chí Minh hiện có một doanh nghiệp dành cho thương binh và diện chính sách là Công ty 27/7 thuộc Sở Lao đông-Thương binh và Xã hội Qua khảo sát có gần 200 thương binh, con liệt sĩ không có trình độ, tay nghề đang vừa học nghề vừa lao động làm việc tại đây với mức thu nhập hàng tháng từ 700 ngàn đến 1 triệu đồng Hiện nay, các đối tượng chính sách không có tay nghề, sức khỏe hạn chế đang rất cần có nhiều mô hình như Công ty 27/7 để được thu nhận, tạo việc làm có thu nhập cải thiện đời sống, do công tác dạy nghề hướng nghiệp, giải quyết việc làm đối với người có công hiện chưa đáp ứng với nhu cầu và phù hợp với cơ chế cạnh tranh trên thị trường lao động
Qua khảo sát, hầu hết các gia đình chính sách có công còn trong độ tuổi lao động đều cố gắng làm ăn và ngày càng ổn định cuộc sống gia đình, hàng ngàn tấm gương thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ tự lực, tự cường, phấn đấu vươn lên trong lao động sản xuất như anh Phan Văn
Đu là thương binh 1/4 cụt cả 2 tay vừa tham gia công tác địa phương, vừa
Trang 31Để thực sự giúp cho các gia đình chính sách có công vượt qua khó khăn trong cuộc sống, có mức sống bằng mức sống trung bình của dân địa phương, các xã-phường cần phải vận động toàn dân cùng góp sức thực hiện công tác chăm lo thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công giúp đỡ cách mạng hoặc vận dụng chính sách hợp lý hỗ trợ để bản thân họ phấn đấu vươn lên từng bước nâng dần mức sống Tuy nhiên, ở một số nơi, cấp ủy Đảng và chính quyền chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công, chưa đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, một bộ phận gia đình chính sách còn gặp nhiều khó khăn (nhất là ở nông thôn vùng sâu, vùng xa căn cứ cách mạng trước đây) Mặc dù tính đến thời điểm này, thành phố đã đạt chỉ tiêu 100% diện chính sách có mức sống bằng hoặc hơn so với người dân cùng địa phương, và có sự chênh lệch về mức sống trong diện chính sách ở nông thôn và thành thị
2 Sự chung sức giúp đỡ của cộng đồng cho người có công
2.1- Đối tượng thuộc diện ưu đãi người có công theo Pháp lệnh ưu
đãi rất lớn, riêng tại thành phố khoảng 158.000 người, nhu cầu của đối tượng rất đa dạng nên chính sách Nhà nước tuy ngày càng được bổ sung,
Trang 32hoàn thiện nhưng cũng không qui định hết; có những vấn đề chưa qui định hoặc không cụ thể như: thuế, nhà ở, ưu tiên giao đất, tạo việc làm, học hành Qua tham khảo, một số tỉnh bạn cũng chưa hình thành được một qui chế riêng để có điều kiện chăm sóc Vì vậy, việc chăm sóc giúp đỡ của nhân dân, của chính quyền phường-xã, đặc biệt là cộng đồng nơi cư trú đối với các đối tượng gia đình chính sách có vai trò hết sức quan trọng
Công tác chăm sóc, giúp đỡ các gia đình chính sách tại thành phố luôn chú trọng phát huy sức mạnh tổng hợp với phương châm “Nhà nước, nhân dân và đối tượng cùng làm”, trong đó Nhà nước có vai trò chủ đạo, sự hỗ trợ của nhân dân là vô cùng quan trọng và sự nỗ lực của đối tượng có vai trò quyết định Nhờ vậy, so sánh với các tỉnh lân cận có nền kinh tế phát triển, hầu hết thương bệnh binh nặng tại thành phố đều được cấp nhà tại nội thành ở những vị trí thuận lợi trong việc làm ăn (mặt tiền đường, gần chợ…) và tặng nhà tình nghĩa ở ngoại thành, được giao đất nhiều hơn, ưu tiên vay vốn để có điều kiện canh tác, nuôi trồng, được trợ cấp từ nguồn kinh phí trung ương và thành phố, được các đơn vị kinh tế đỡ đầu chăm sóc, vợ con được tạo công ăn việc làm, hỗ trợ học văn hóa, học nghề, cho vay vốn sản xuất Trên 95% thương bệnh binh nặng về gia đình có cuộc sống cải thiện rõ rệt, một số trở nên khá giả Đây là thế mạnh của Thành phố mà các tỉnh thành khác chưa có được hoặc chưa sánh kịp
- Bên cạnh đó, việc chăm sóc bố mẹ, vợ liệt sĩ già yếu, cô đơn, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, đỡ đầu con liệt sĩ mồ côi chưa đến tuổi trưởng thành là một chương trình đền ơn đáp nghĩa được Đảng và Nhà nước chủ trương phát động nhiều năm qua Người dân thành phố vốn rất nhạy bén với công việc từ thiện, do vậy đã thu hút được hàng triệu tấm lòng, hàng trăm tập thể, tạo thành được phong trào đi sâu vào từng tổ dân phố, từng ấp, đến từng gia đình với các hình thức phong phú
đa dạng:
Tổ chức kết nghĩa đỡ đầu, phụng dưỡng suốt đời 274/2.051 bà mẹ Việt Nam anh hùng với mức từ 200 ngàn đến 500 ngàn đồng/mẹ Ngoài việc vận động phụng dưỡng 100% bà mẹ Việt Nam anh hùng trên địa
Trang 33bàn, thành phố còn nhận đỡ đầu 508 bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Bến Tre và 200 bà mẹ Việt Nam anh hùng của tỉnh Quảng Ngãi
Nhận đỡ đầu thương bệnh binh nặng, con liệt sĩ mồ côi chưa đến tuổi trưởng thành, phân giao cho từng xí nghiệp, đơn vị một vài người, để đơn vị tự chăm lo cho đối tượng chính sách Hàng tháng xí nghiệp, đơn vị tự cấp đều đặn cho đối tượng chính sách bằng một suất lương của đơn vị Các ngày lễ, Tết đều có quà, đối tượng chính sách đau ốm thì chăm sóc như CB-CNVC của đơn vị mình Nhiều đơn vị còn tổ chức dạy chữ, dạy nghề và khi con liệt sĩ trưởng thành thì nhận vào bố trí việc làm Việc làm này được sự đồng tình ủng hộ của cán bộ – công nhân viên chức của đơn vị
2.2- Từ những kết quả nêu trên, chúng ta có thể khẳng định được
rằng phong trào chăm sóc người có công trên địa bàn thành phố trong những năm qua đã phát triển một cách sâu rộng cả trong và ngoài phạm
vi Thành phố và đã đạt được nhiều thành tích có ý nghĩa và đáng được trân trọng Tuy vậy, hiện nay ở nơi này, nơi khác cá biệt vẫn còn những trường hợp chưa tốt, chưa chu đáo, chưa trọn vẹn trong việc thực hiện các chế độ, chăm sóc đời sống cho các gia đình chính sách, còn có những đối tượng diện chính sách có công gặp hoàn cảnh khó khăn bất hạnh, nghèo khó nhưng lại chưa được hưởng các chính sách ưu đãi, cụ thể như:
UBND tỉnh Bến Tre qua báo cáo tổng kết công tác chính sách có công trên địa bàn tỉnh: “Khi nói đến phong trào Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công thì chúng tôi vô cùng cảm động và biết ơn sự hỗ trợ chí tình của Thành ủy, UBND, UB MTTQ, các cơ quan đoàn thể, doanh nghiệp và nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã đóng góp rất lớn về vật chất và tinh thần cho Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bến Tre trong việc chăm sóc người có công và xóa đói giảm nghèo, đã đóng góp phần rất lớn cho Bến Tre trong phong trào chăm sóc người có công trong thời gian qua - bằng những việc làm thiết thực và đầy ý nghĩa đã giúp người có công ổn định cuộc sống về vật chất cũng như tinh thần”.
Trang 34+ Thực hiện việc chăm sóc đối với những người có công đã mất sức lao động, thực tế không ai nuôi dưỡng (bởi vì họ tuy còn con cái, người thân nhưng đều rất nghèo không nuôi nổi cả bản thân và gia đình vợ chồng mình thì làm sao có thể cưu mang thêm những người thân khác dù người đó là cha mẹ mình, nên phó mặc cho nhà nước vì là diện chính sách có công) Một số vấn đề liên quan:
Trước đây, thành phố căn cứ biên bản đề nghị của Hội đồng xét duyệt chính sách tại các xã-phường, quận-huyện để giải quyết cho các đối tượng này do quá khó khăn được hưởng định suất nuôi dưỡng, nhưng qua thanh tra Bộ đã khuyến cáo không được giải quyết (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chỉ có diện chính sách có công cô đơn mới được hưởng định suất nuôi dưỡng, còn người còn con nhưng quá nghèo thì không được, phải hưởng định suất thường)
Trong khi đó, ở Trung tâm nuôi dưỡng người có công Thị Nghè (thành phố Hồ Chí Minh) hiện còn thừa trên 100 giường nhưng tiêu chuẩn vào lại quá khắt khe, do vậy có người thật sự cần nuôi dưỡng chăm sóc thì không vào được mặc dù chỉ được 210.000 đồng (ngân sách nhà nước) cho 1 tháng ăn uống tại đây Riêng suất ăn uống với định mức như trên là mức ăn của người nghèo đói chứ không thể là mức ăn của người có công cần nuôi dưỡng; do đó cần xem xét lại định mức sao cho hợp lý với ý nghĩa thực sự chăm sóc người có công
+ Đối với các đối tượng là con liệt sĩ đã trưởng thành, bị tàn tật không còn khả năng lao động nhưng không do bẩm sinh, theo quy định của nhà nước thì không được hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc chế độ ưu đãi khác Chúng ta thử nghĩ nếu người mẹ qua đời (là vợ liệt sĩ cũng đã già yếu) thì các người con liệt sĩ sẽ không thể tự sống được khi Trung ương chưa có chính sách ưu đãi gì cho đối tượng này Đây là vấn đề cũng cần phải có giải pháp để tháo gỡ Hiện tại thành phố có một số em là con liệt sĩ mồ côi cả cha mẹ bị tàn tật không do bẩm sinh đang phải sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội nơi mà đối tượng tàn tật lang thang nào cũng được vào
Trang 35+ Đối với đối tượng là người có công giúp đỡ cách mạng được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, được hưởng trợ cấp 80.000 đồng/tháng từ nguồn ngân sách thành phố (ngân sách trung ương là 278.000 đồng nhưng bị cắt từ tháng 8/2000 do không đủ tiêu chuẩn Huân chương kháng chiến) Các tỉnh, thành trong cả nước thực hiện theo qui định của trung ương không trợ cấp như Thành phố (bằng ngân sách địa phương)
Đối với chính sách này, chúng tôi nghĩ trước tiên cần xác định là những cá nhân và gia đình tự nguyện nuôi chứa cán bộ, cất dấu vũ khí, tài liệu mật hoặc làm giao liên trong vòng kiểm soát của bộ máy kềm kẹp của chế độ cũ từ trước cách mạng tháng 8/1945 và trong hai cuộc kháng chiến đều là việc làm hết sức dũng cảm, hết sức nguy hiểm Họ xứng đáng được hưởng chế độ ưu đãi mức độ nào đó không chỉ đạt mức Huân chương kháng chiến
- Một thực tế cần nêu nữa là xác định mức độ đóng góp của người có công không chỉ căn cứ vào thời gian giúp đỡ cách mạng dài hay ngắn mà còn phải quan tâm đến hiệu quả của việc giúp đỡ đó để làm cơ sở cho việc công nhận khen thưởng Nếu quy định như hiện nay thì còn nhiều người chưa được hưởng chính sách của nhà nước Tại thành phố Hồ Chí Minh có 2.260 người dân có công giúp đỡ cách mạng, trong đó có 61
Trong thực tế tại thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định này đã có đến hàng ngàn cơ sở cách mạng bị bể, hàng ngàn người bị địch bắt bớ tù đày tra tấn rất dã man, tan nhà nát cửa Và lại có hàng ngàn gia đình khác, hàng ngàn người dân khác lại tiếp tục nuôi chứa cán bộ, tự nguyện tiếp tay với cách mạng đương đầu với mọi nguy hiểm có thể ập đến bất cứ lúc nào Nhờ vậy, hàng vạn cán bộ của các ngành các giới, các binh chủng mới bám trụ được trong nội thành để liên tục hoạt động, liên tục bị tổn thất và liên tục phát triển để đến ngày 30/4/1975 cả thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định có sự nổi dậy phối hợp với đại quân làm nên đại thắng mùa Xuân 1975 Trước đây kinh tế đất nước còn khó khăn chúng ta còn cưu mang được, nay kinh tế phát triển không lý nào để họ có cuộc sống nghèo đói.
Trang 36người sống cô đơn, già yếu được tặng thưởng Huy chương không được hưởng trợ cấp từ nguồn ngân sách trung ương Cũng do cảm nhận sâu sắc sự hy sinh cống hiến của người dân có công nuôi dấu giúp đỡ cách mạng, Đảng bộ, Chính quyền, nhân dân thành phố bằng những việc làm thiết thực đã chăm sóc đời sống vất chất và tinh thần đối với 2.260 con người này với mức 80.000 đồng/tháng và các khoản ưu đãi khác
(Vào thời điểm 8/2000 có 5.412 người có công giúp đỡ cách mạng, trong đó có 169 người sống cô đơn già yếu Nay còn 2.260 người, trong đó có 61 người sống cô đơn già yếu, giảm số lượng là do bổ sung được Huân chương và một số đã từ trần)
Theo nghị định 54/2006/NĐ-CP của Chính phủ đang áp dụng (và trước đó là Nghị định 69/2003/NĐ-CP), đối tượng này chỉ được hưởng trợ cấp một lần bằng 1 triệu đồng và không được hưởng chế độ ưu đãi nào nữa; và nếu thành phố thực hiện đúng theo quy định hiện hành thì 2.260 đối tượng này sẽ ra sao, khi đa phần họ không còn khả năng lao động, nhất là 61 người già yếu cô đơn Đây là bài toán chưa có lời giải, chúng tôi mạnh dạn nêu lên khi mà thành phố còn đang cưu mang từng đó con người mà trước đây đã không ngại hy sinh gian khổ để giúp đỡ cách mạng
(Theo Pháp lệnh số 26/2005/UBTVQH đối tượng này được mua bảo hiểm y tế suốt đời, khi từ trần thân nhân được hưởng trợ cấp mai táng phí)
II THỰC TRẠNG VỀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI CÓ CÔNG
1 Thực trạng đời sống vật chất của hộ chính sách
1.1- Thực trạng về nhà ở của hộ chính sách
1.1.1- Chúng ta đã biết phong trào xây dựng nhà tình nghĩa tại
thành phố Hồ Chí Minh là một trong những phong trào đền ơn đáp nghĩa có tính xã hội mang lại những kết quả thiết thực góp phần chia sẻ khó khăn trong đời sống của những gia đình có công với Tổ quốc, đặc biệt các gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ gặp khó khăn bức xúc về nhà ở Cho
Trang 37đến nay thành phố đã xây dựng được 15.579 căn nhà tình nghĩa các đối tượng thuộc diện theo tinh thần công văn số 3079 của Ủy ban nhân dân thành phố (cha, mẹ, vợ liệt sĩ, thương binh 1/4, 2/4, bệnh binh 1/3, 2/3) đã
cơ bản hoàn thành
Đây là một chương trình hợp lòng dân nên đã nhanh chóng lan tỏa cả chiều rộng lẫn chiều sâu Chương trình góp phần khơi dậy truyền thống “uống nước nhớ nguồn” có tác dụng giáo dục lòng yêu nước truyền thống cách mạng cho những người còn sống, nhất là đối với lớp trẻ, thanh thiếu niên ngày nay Chương trình giúp mọi người nhận thức một cách sâu sắc rằng, để dành được độc lập tự do, biết bao người phải hy sinh tính mạng hay một phần thân thể Từ đó, nâng cao ý thức trách nhiệm bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nền độc lập tự do cho đất nước, nâng cao lòng tin của người dân đối với Đảng, với nhà nước Chương trình thu hút được các tầng lớp nhân dân, từ các cụ già đến các cháu thiếu nhi, công nhân, nông dân, trí thức, công thương, các bậc chức sắc tôn giáo, đồng bào Hoa, Việt kiều… đã tạo được tình đoàn kết gắn bó giữa các tầng lớp nhân dân, “tinh thần nhường cơm sẻ áo”, tương thân tương trợ với nhau Chương trình góp phần không nhỏ vào việc an cư cho các gia đình chính sách nghèo khó, từ đó ổn định dần cuộc sống
Tuy nhiên, chương trình tuy có sâu rộng nhưng chưa phủ đều khắp Một số đơn vị nhà nước đóng trên địa bàn thành phố nhận thức chưa sâu, chưa thấy hết trách nhiệm của người đang sống đối với người đã hy sinh xương máu cho mình được hưởng hòa bình hạnh phúc ngày nay nên chưa tham gia, hoặc tham gia chiếu lệ Một số đơn vị liên doanh với nước ngoài tham gia ít so với tiềm lực, tỷ lệ số doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hưởng ứng thấp so với lực lượng đang có trên địa bàn thành phố Bên cạnh những phường-xã tích cực tuyên truyền vận động trong nhân dân trên địa bàn dân cư, thì vẫn còn có những phường-xã
e ngại vận động từng hộ gia đình mà chỉ vận động một số điểm hay một số mạnh thường quân
- Về tổ chức thực hiện: khi bắt đầu cuộc vận động, Ban chỉ đạo có hướng dẫn quy trình xét chọn để lập danh sách các gia đình được tặng
Trang 38nhà tình nghĩa Cách làm công khai dân chủ và gia đình chính sách tự bình xét theo thứ tự trước sau Nhưng về sau, khi đến thời điểm cao trào, có lúc có nơi làm chưa đúng, không bình nghị công khai, quận-huyện, thành phố thiếu kiểm tra, do đó tạo nên thắc mắc cho các gia đình chính sách do thiếu sự công bằng Công tác phổ biến hướng dẫn chủ trương chưa thấu đáo, gây ngộ nhận là các gia đình chính sách đều được cấp nhà tình nghĩa Đã nảy sinh tâm lý ỷ lại, trông chờ ở một bộ phận gia đình chính sách, biểu hiện như có khả năng tự xây nhà nhưng không làm, chờ cấp nhà tình nghĩa mới bỏ thêm tiền vào để xây dựng to đẹp hơn, hoặc có gia đình đang ở chung với con cháu khá giả nhưng lại tách hộ để đòi nhà tình nghĩa Về chỉ đạo, thiếu điều tra khảo sát, dự đoán số lượng gia đình chính sách cần được cấp nhà tình nghĩa, chưa lập kế hoạch một cách khoa học để giải quyết yêu cầu thực tế, do đó dẫn đến tình hình lúc mở rộng, lúc thu hẹp diện chính sách được cấp nhà tình nghĩa, gây khó khăn cho cơ sở ảnh hưởng đến kết quả của phong trào
Hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở các cấp tuy tích cực vận động phong trào nhưng lại làm chưa tốt vai trò giám sát, phát huy quyền làm chủ trong việc xét chọn lập danh sách, cũng như kiểm tra chất lượng nhà tình nghĩa mà chủ yếu vẫn là ngành Lao động – TBXH và chính quyền Có nơi chưa mạnh dạn đấu tranh khi thấy việc lập danh sách chưa thật công bằng hoặc chất lượng nhà tình nghĩa chưa đảm bảo mà hậu quả là không ít căn nhà tình nghĩa sau một thời gian ngắn đã hư hỏng, phải khắc phục mới sử dụng được
Và thực tế những hạn chế nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào hiện nay Qua khảo sát, hiện vẫn còn nhiều hộ chính sách ngoài diện quy định của Công văn 3079 đang gặp khó khăn về nhà ở Việc xây dựng nhà tình nghĩa hiện nay chủ yếu là dựa vào sự đóng góp của nhân dân thông qua “quỹ đền ơn đáp nghĩa” và việc tặng “nhà tình nghĩa” của các cơ quan đơn vị Hiện tại, một số địa phương, cơ sở thiếu điều kiện thuận lợi để giúp gia đình chính sách Đáng chú ý là ở các địa phương kinh tế chưa phát triển, đông đối tượng, vùng sâu, vùng căn cứ kháng chiến cũ Hiện tại, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố cùng Sở
Trang 39Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức khảo sát xây dựng kế hoạch và được Thành ủy chấp thuận cho phép mở rộng đối tượng được nhận nhà tình nghĩa để vận động nhưng không hiệu quả Vì vậy, cần phải có những giải pháp khả thi và nhất là cần phải có sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước
Như phần trên chúng tôi đã nêu, nhà tình nghĩa xây dựng cho diện chính sách có công theo tinh thần công văn 3079 của UBND thành phố đã
cơ bản hoàn thành Đối tượng chủ yếu là các diện chính sách ở ngoại thành và chúng ta hỗ trợ xây dựng ngay trên nền đất của họ, còn lại các diện chính sách ở nội thành hiện ở nhà tạm bợ trong khu vực giải tỏa, nhà trên kênh rạch, nhà thuê của tư nhân, nhà ghép hộ thì việc hỗ trợ bằng hình thức vận động xây dựng nhà tình nghĩa cũng không hiệu quả vì không có quỹ đất Tuy chưa có số liệu đầy đủ về các đối tượng này, nhưng đây cũng là vấn đề bức xúc cần quan tâm chia sẻ
- Riêng đối tượng chính sách được tạm cấp nhà thuộc sở hữu nhà nước được hỗ trợ theo Quyết định 118/TTg ngày 27/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với cách mạng cải thiện nhà ở
Qua hơn 8 năm thực hiện và giải quyết quyền lợi cho các đối tượng được hưởng, thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động tích cực triển khai chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có công trong kháng chiến, góp phần vào việc ổn định tình hình chính trị trên địa bàn thành phố Tuy nhiên, vẫn còn những điều bất hợp lý:
- Chưa giải quyết hỗ trợ đối với những người thuộc diện nhưng chưa đến tuổi hưởng trợ cấp (Nghị định 147/2005/NĐ-CP ngày 30/11/2005 của Chính Phủ không còn quy định độ tuổi hưởng trợ cấp, nhưng không hồi tố
Về mục tiêu này (mở rộng đối tượng) thì Bình Dương và Đồng Nai lại có ưu thế hơn thành phố Hồ Chí Minh do có quỹ đất, đồng thời thực hiện chính sách hỗ trợ bao nhiêu % tiền xây dựng nhà tùy theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người Do vậy đã nhanh chóng hoàn thành mục tiêu này.
Trang 40cho những trường hợp đã mua nhà trước ngày Nghị định có hiệu lực thi hành)
- Đối với những trường hợp không đủ khả năng tài chính để hóa giá nhà thuộc sở hữu nhà nước thì không thể sửa chữa nhà tốt hơn được
1.1.2- Chính sách cải thiện nhà ở cho cán bộ cách mạng lão thành
theo Quyết định 20/2000/TTg của Thủ tướng Chính phủ là một chính sách lớn rất nhạy cảm Các địa phương quận-huyện của Thành phố đều cố gắng tổ chức thực hiện thận trọng, chu đáo nhằm đạt độ chính xác, đúng mực Thành phố đã lập Tổ tư vấn quán triệt chính sách chế độ và thực hiện báo cáo thống kê từ quận-huyện lên thành phố, gặp gỡ hướng dẫn giải thích cho những người thuộc diện được hưởng thụ chính sách, có sự phối hợp giữa các cơ quan, các ngành có liên quan dưới sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, Chính quyền Vì vậy, quá trình thực hiện luôn nhận được sự đồng tình ủng hộ của các cán bộ lão thành cách mạng và của nhân dân Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng nổi lên những tồn tại vướng mắc cần tháo gỡ:
- Một số quận-huyện khi triển khai thực hiện còn lúng túng, do cán bộ thực hiện chưa nắm vững chính sách nên việc giải thích hướng dẫn cho người được hưởng hỗ trợ chưa đạt yêu cầu
- Việc chuẩn bị quỹ đất, quỹ nhà ở để tiến hành chuyển đổi cho một số người thuộc diện được hỗ trợ nhưng nhà ở đang thuê thuộc diện không được bán tiến hành còn chậm, chưa đảm bảo được yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và nguyện vọng của người được hỗ trợ
- Việc “truy công nhận” đối với những người hoạt động cách mạng trước năm 1945 đã hy sinh chưa được thực hiện, căn cứ để hỗ trợ việc cải thiện nhà ở cho thân nhân của họ (thân nhân chủ yếu của liệt sĩ) cũng là những bức xúc mà thành phố và trung ương chưa có hướng giải quyết
1.2- Thực trạng về công tác giáo dục đào tạo cho con em diện chính sách
Hiện nay trên địa bàn thành phố có trên 2.672 học sinh, sinh viên là đối tượng chính sách được hưởng chế độ ưu đãi về giáo dục đào tạo với