Do đó việc xây dựng một tiêu chuẩn tuyển chọn toàn diện cả về hình thái, thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý và khả năng chức phận của cơ thể vận động viên, theo một qui trình và tron
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bảng quyết toán (giám định giai đoạn 1) VI
1.1 Tổng quan về môn xe đạp thể thao 7
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến thành tích thi đấu trong XĐĐT 14 1.1.3 Hệ thống và các giai đoạn huấn luyện VĐV XĐĐT 18
1.2 Cơ sở lý luận về tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường 23
1.3 Đặc điểm tâm, sinh lý và phát triển thể chất lứa tuổi 13 - 15 54 1.3.1 Đặc điểm giải phẩu và cấu trúc cơ thể VĐV 13 – 15 tuổi 54
1.3.2 Đặc điểm phát triển các tố chất thể lực VĐV 13 – 15 tuổi 55
1.3.4 Đặc điểm tâm lý VĐV lứa tuổi 13 – 15 67
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 69
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 69 2.1.2 Phương pháp phỏng vấn, tọa đàm 69 2.1.3 Phương pháp kiểm tra chức năng 70
2.1.7 Phương pháp kiểm tra thần kinh – tâm lý 83 2.1.8 Phương pháp toán học thống kê 87
Trang 22.2.1 Đối tượng nghiên cứu 90
3.1 Xác định các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, tâm lý và chức năng cơ thể trong tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi 92
3.1.1 Tổng hợp các chỉ tiêu trong tuyển chọn và đánh giá trình độ
tập luyện VĐV XĐTT của các tác giả trong và ngoài nước 92
3.1.2 Phỏng vấn các huấn luyện viên, các chuyên gia, các nhà chuyên
môn nhằm xác định các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15
tuổi
99
3.1.3 Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính thông báo các chỉ tiêu tuyển
chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi (chỉ tiêu điều kiện) 102
3.1.4 Nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV
3.1.5 Thảo luận về các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, tâm lý
và chức năng cơ thể trong tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi 106 3.2 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chỉ tiêu tuyển chọn VĐV XĐĐT 13
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV XĐĐT 13 – 15 tuổi
3.2.3 Hướng dẫn cách sử dụng thang tuyển chọn VĐV XĐTT 13 – 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÓM TẮT NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 3Trong qui trình đào tạo tài năng đua xe đạp trẻ cho nước nhà không chỉ đề ra kế hoạch huấn luyện với các giáo án, các bài tập chuyên môn, các bài tập thể lực, các bài tập bổ trợ có hiệu quả cao mà việc tuyển chọn chính xác là việc làm rất quan trọng và cần thiết Thật vậy, tuyển chọn là khâu then chốt quyết định thành tích thể thao và tiết kiệm được kinh phí đào tạo cũng như công sức tập luyện của vận động viên Hiện nay ở nước ta việc tuyển chọn vận động viên xe đạp chưa được tiến hành theo hệ thống thống nhất, chưa có chuẩn mực chung và tiêu chuẩn tuyển chọn khoa học cho tất cả các độ tuổi Do đó việc xây dựng một tiêu chuẩn tuyển chọn toàn diện cả về hình thái, thể lực, kỹ thuật, chiến thuật, tâm lý và khả năng chức phận của cơ thể vận động viên, theo một qui trình và trong một hệ thống chặt chẽ, khoa học được coi là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết
Đề tài nghiên cứu đã xác định các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, chức năng thần kinh – tâm lý, chức năng sinh lý và xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam xe đạp đường trường tuổi 13 - 15 theo
ba mức độ khác nhau Góp phần tuyển chọn ban đầu các vận động viên trong toàn bộ qui trình huấn luyện nhiều năm của môn xe đạp đường trường
Trang 4SUMMARY OF RESEARCH CONTENT
In our country, the whole of training racers’ young talents process is not only to provide effectively training plan including lesson plans, specialised exercises, physical fitness exercises, supplemental exercises but racers-selection exactly is very important and indispensable, too Really, racers selection is a key to decide sport achievements and saving some things as training expenditure or racers’ efforts Nowadays, in our nation, the selections for racers are not carried out to an unity of system It hasn’t a general standard
to select scientifically racers at any age So, it’s very important and indispensable to build a selection system with the perfect standard for racers such as forms, physical finesses, techniques, psychology, and abilities of parts
of body
Topic of research determined the norms of form, physical fitness, technique, nervous functions, psychology functions, psychological functions… It also built a standard selection following three different levels for male racers
at ages 13 -15 All of them are going to contribute initially for selection racers
in whole of training process of road racing cycle
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT TẮT THUẬT NGỮ TIẾNG VIỆT
HLV Huấn luyện viên
VĐV Vận động viên
HLTT Huấn luyện thể thao
TDTT Thể dục thể thao
Trang 5TTTT Thành tích thể thao
LVĐ Lượng vận động
XĐTT Xe đạp thể thao
XĐĐT Xe đạp đường trường
Nxb Nhà xuất bản
VO 2 max Thể tích hấp thụ oxy tối đa (ml/ph)
VCO 2 max Thể tích khí cacbonic thở ra tối đa (ml/ph)
VO 2 max/kg Thể tích hấp thụ oxy trên trọng lượng cơ thể (ml/ph/kg)
DANH SÁCH BẢNG
1.1 Tỷ lệ được tuyển chọn và thời lượng phát dục của thiếu niên trong trường thể thao trẻ 35 1.2 Phân loại mối quan hệ về thể hình của bố mẹ với con cái (nhi đồng, thiếu niên) 36 1.3 Tỷ lệ chiều cao của trẻ em Việt Nam so với chiều cao người Việt Nam ở lứa tuổi 18 38 1.4 Độ di truyền một số tố chất thể lực 40
3.1 Hệ thống hoá các chỉ tiêu kiểm tra, đánh giá và tuyển chọn VĐV XĐTT của các tác giả trong và ngoài nước trang 98 Sau 3.2 So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các chỉ tiêu tuyển chọn
vận động viên nam môn xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi
Sau trang101 3.3 Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 13 tuổi
3.4 Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 14 tuổi
3.5 Hệ số tương quan cặp giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường qua hai lần kiểm tra – 15 tuổi
Sau trang103
3.6 Hệ số tương quan thứ bật giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận
động viên xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi với thứ hạng thi
Sau trang104
Trang 6đấu
3.7 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường – 13 tuổi
3.8 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường – 14 tuổi
3.9 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường – 15 tuổi
3.10
Hệ thống các chỉ tiêu (điều kiện) tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi trang105 Sau
3.11 Kiểm định tính chuẩn tập hợp số liệu từng chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường - 13 tuổi
3.12 Kiểm định tính chuẩn tập hợp số liệu từng chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường - 14 tuổi
3.13 Kiểm định tính chuẩn tập hợp số liệu từng chỉ tiêu tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường - 15 tuổi
3.14 Thang điểm tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường
theo từng chỉ tiêu – 13 tuổi
3.15 Thang điểm tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường theo từng chỉ tiêu – 14 tuổi
3.16 Thang điểm tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường theo từng chỉ tiêu – 15 tuổi
Sau trang122
3.17 Bảng điểm tổng hợp phân loại các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV
3.18
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 13
tuổi
3.19
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 14
tuổi
3.20
Hệ số tương quan giữa các yếu tố tuyển chọn vận động viên
xe đạp đường trường với nhau và với thành tích thi đấu – 15
tuổi
3.21 Tỷ trọng ảnh hưởng (β) các yếu tố tuyển chọn vận động viên xe đạp đường trường với thành tích thi đấu 13 – 15 tuổi
Sau trang124
3.22 Bảng điểm tổng hợp phân loại tuyển chọn VĐV nam XĐĐT 13 – 15 tuổi theo tỷ trọng ảnh hưởng 126
Trang 73.23 Kiểm nghiệm bảng điểm và phân loại các chỉ tiêu điều kiện tuyển chọn VĐV XĐĐT – 13 tuổi
3.24 Kiểm nghiệm bảng điểm và phân loại các chỉ tiêu điều kiện tuyển chọn VĐV XĐĐT – 14 tuổi
Sau trang130 3.25 Kiểm nghiệm bảng điểm và phân loại các chỉ tiêu điều kiện tuyển chọn VĐV XĐĐT – 15 tuổi trang131 Sau
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
1.1 Các yếu tố quyết định khả năng đào tạo VĐV quốc gia xuất sắc 25 1.2 Thành tích thể thao tương lai – chỉ số cuối 31 2.1 Mạng lưới Heath – Carter đánh giá Somaty của VĐV 76
DANH SÁCH HÌNH
1.1 Quá trình sinh trưởng phát dục của con người 34 1.2 Tỷ lệ phát dục các bộ phận trong cơ thể từ ấu nhi đến trưởng thành (theo A.A KNOPF, 1943) 37
2.2 Đạp xe 1000m xuất phát đứng (giây) 79
2.4 Test đạp xe thành hình số 8 giao nhau 82 3.1 Hệ thống đòn bẩy tạo lực khi đạp xe 107 3.2 Cách đo chiều dài chân, chiều cao ngồi và chiều dài đùi bàn đạp 110 3.3 Các cơ tham gia chính vào quá trình tạo lực 111 3.4 Trục và hướng quay các đoạn của chân khi nhấn pêđan 112
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tên đề tài:
“Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam 13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Chủ nhiệm đề tài: TS Huỳnh Trọng Khải
Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian thực hiện đề tài: 18 tháng (12/2005 – 6/2007) theo hợp đồng số : 369/HĐ – SKHCN ký ngày 28/12/2005
Kinh phí được duyệt: 170.000.000 đồng
Kinh phí đã cấp: 150.000.000 đồng (90.000.000 đồng theo thông báo số 292/TBKHCN ngày 13/12/2005 và 60.000.000 đồng theo thông báo số 18/TBKHCN ngày 12/02/2007)
2 Mục tiêu:
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn vận động viên nam 13 –
15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh .
- Xây dựng hệ thống (thang điểm) tuyển chọn vận động viên nam từ
13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh
4 Sản phẩm của đề tài:
4.1 Hệ thống các chỉ tiêu tuyển chọn VĐV nam XĐĐT 13 – 15 tuổi gồm:
Trang 9Chỉ tiêu điều kiện:
Các chỉ tiêu về hình thái: F%, dài chân A/ chiều cao đứng x 100, dài
đùi/ dài cẳng chân A x 100, dài bàn chân/ dài cẳng chân A x 100
Các chỉ tiêu về thể lực: bật cao tại chỗ (cm), bật cóc 20m (giây), tần
số đạp chân (vòng/1 phút), đạp xe 200m tốc độ cao (giây), đạp xe 1.000m xuất phát đứng (giây), đạp xe 4.000m xuất phát đứng (giây), đạp xe 20.000m xuất phát đứng (giây), lực đùi (KG), lực co duỗi cổ chân (w), lực
co duỗi cẳng chân (w)
Các chỉ tiêu về kỹ thuật: Đạp xe giữa hai cọc (10 cọc) (giây), đạp xe
thành hình số 8 giao nhau (giây)
Các chỉ tiêu về chức năng thần kinh và tâm lý: test phản xạ đơn (ms) Các chỉ tiêu về chức năng sinh lý: test công năng tim; dung tích
sống/ trọng lượng cơ thể (ml/kg); VO 2 max/kg (ml/ph/Kg)
Nhóm chỉ tiêu mở rộng:
Đánh giá hình thể Somaty
Test ổn định tiền đình
Loại hình thần kinh
Đánh giá của HLV về ý thức chiến thuật, tinh thần tập luyện và sự phát triển thể chất của VĐV:
- Tiềm năng phát dục của VĐV về hình thái và thực trạng thể chất, bao gồm chiều cao, sự cân đối và thực trạng sức khỏe
- Năng lực tiếp thu: Khả năng tiếp thu động tác (nhanh hay chậm) Tính nhịp nhàng, tiết tấu động tác, khả năng phối hợp động tác Tính lính hoạt của VĐV Kỹ thuật đạp xe (không gò bó, hợp lý và nhịp nhàng)
- Phẩm chất ý chí, nghị lực và tác phong trong tập luyện của VĐV Yếu tố di truyền từ cha, mẹ và truyền thống thể thao của gia đình
Trang 104.2 Bảng điểm tổng hợp phân loại theo tỷ trọng ảnh hưởng tuyển chọn VĐV nam XĐĐT 13 – 15 tuổi
Bảng điểm tổng hợp phân loại tuyển chọn VĐV nam XĐĐT
13 – 15 tuổi theo tỷ trọng ảnh hưởng
Tổng điểm Phân loại
13 tuổi 14 tuổi 15 tuổi
- Công thức (A) tính tổng điểm tuyển chọn VĐV nam XĐĐT 13 –
15 tuổi có tính đến tỷ trọng ảnh hưởng
∑
=
i
i10n
C
x
Trang 11Xe đạp là môn thể thao quần chúng gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân nên được nhiều người hâm mộ và ưa thích luyện tập Xe đạp là một trong những môn thể thao trọng điểm của Việt Nam, vì nó là môn thể thao truyền thống và có khả năng chiếm giữ thứ hạng cao trong khu vực và châu lục
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, môn xe đạp thể thao phát triển mạnh, tại đây có nhiều đội đua mạnh với số lượng người tham gia tập luyện thường xuyên ở hầu hết các quận huyện Ở các quận trọng điểm đều có hệ thống đào tạo VĐV chuyên sâu cho quận huyện nhà và Thành phố Ở Thành phố VĐVxe đạp được phân thành nhiều cấp như: năng khiếu trọng điểm quận/huyện, năng khiếu trọng điểm Thành phố, năng khiếu dự bị tập trung, đội tuyển trẻ cho tới đội tuyển Thành phố Tuy phong trào phát triển rộng như vậy, nhưng cho đến nay Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa xây dựng được cơ sở khoa học trong tuyển chọn và đào tạo VĐV xe đạp thể thao, mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm Công tác huấn luyện và tuyển chọn VĐV năng khiếu tất cả các tuyến ở các quận huyện chưa được tiến hành theo một hệ thống và tiêu chuẩn thống nhất
Do đó việc xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn cho các VĐV nam xe đạp đường trường (13 – 15 tuổi) ở Thành phố Hồ Chí Minh là rất quan trọng và cấp thiết Thật vậy lứa tuổi 13 - 15 là giai đoạn huấn luyện ban đầu trong toàn bộ qui trình huấn luyện nhiều năm của môn xe đạp đường trường Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng cho việc đặt nền móng cho (cơ sở) sức khỏe, thể chất và hình thành kỷ năng vận động chung cho các VĐV trẻ
Trong qui trình đào tạo tài năng thể thao cho nước nhà không chỉ đề ra kế hoạch huấn luyện với các giáo án, các bài tập chuyên môn, các bài tập thể lực, các bài tập bổ trợ có hiệu quả cao mà việc tuyển chọn
Trang 12chính xác là việc làm rất quan trọng và cần thiết Thật vậy, tuyển chọn là khâu then chốt quyết định thành tích thể thao và tiết kiệm được kinh phí đào tạo cũng như công sức tập luyện của vận động viên Tuyển chọn và đào tạo VĐV trong các môn thể thao luôn là những vấn đề bứt xúc, nó thu hút được sự quan tâm của nhiều chuyên gia, huấn luyện viên và các nhà khoa học nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau Bởi vì, thành tích thể thao tăng lên mạnh mẽ đạt tới trình độ mà không phải bất cứ người nào cũng có khả năng vươn tới được, do đó công tác tuyển chọn giúp tìm ra những người có năng lực và tài năng về thể chất, có khả năng đạt thành tích thể thao cao trong môn thể thao đó
Theo quan điểm hiện đại, để đạt thành tích thể thao cao trong môn thể thao nào đó thì nhất thiết phải tiến hành tuyển chọn theo yêu cầu của môn thể thao đó với mức độ phát triển các tố chất thể lực, trạng thái chức năng, đặc điểm hình thái cơ thể Chỉ có như vậy mới đảm bảo cho quá trình chuyên môn hóa thể thao lựa chọn Việc xác định, tuyển chọn đúng chuyên môn thể thao lựa chọn có ý nghĩa đặc biệt trong quá trình giảng dạy, huấn luyện đạt kết quả cao và có thể trở thành tài năng thể thao
Vấn đề về hệ thống lý luận và tuyển chọn thể thao được nghiên cứu từ những năm ở thập kỷ 60, hiện nay hệ thống tuyển chọn đã hình thành với nay đủ cơ sở lý luận Tuyển chọn các môn thể thao khác nhau được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu như: VônCốp, Harre, Philin, O.Zolin, Nabatnhicova, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Kim Minh, Trần Quốc Tuấn, Dương Nghiệp Chí và cộng sự v.v Tuy nhiên, việc tuyển chọn VĐV xe đạp chưa được tiến hành theo hệ thống thống nhất, chưa có chuẩn mực chung và tiêu chuẩn tuyển chọn khoa học cho
Trang 13tất cả các độ tuổi Do đó việc xây dựng một tiêu chuẩn tuyển chọn toàn diện cả về thể lực, tâm lý và khả năng chức phận của cơ thể vận động viên, theo một qui trình và trong một hệ thống chặt chẽ, khoa học được coi là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết
Từ đó chúng tôi chọn đề tài : “Xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV nam
13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh”
Mục tiêu nghiên cứu: Xác định chỉ tiêu và xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV nam 13 – 15 tuổi môn xe đạp đường trường, tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó cung cấp cho các huấn luyện viên những thông tin chính xác và khoa học trong tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường
Để thực hiện mục tiêu trên đề tài giải quyết hai nội dung sau:
Nội dung 1: Xác định các chỉ tiêu về hình thái, thể lực, kỹ thuật, tâm lý và chức năng cơ thể trong tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi .
Nội dung 2: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường 13 – 15 tuổi
Trang 14CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về môn xe đạp thể thao
1.1.1 Đặc điểm môn xe đạp thể thao
1.1.1.1 Đặc điểm nguyên lý động lực học và kỹ thuật môn xe đạp thể thao:
Xe đạp thể thao là môn thể thao có chu kỳ vận động bằng hai chân theo vòng tròn của đĩa xe, có loại hình thi trong sân và thi đường trường trên quốc lộ (đường nhựa), trong lòng chảo (Velodrom) và trên địa hình gồ ghề (việt dã) Các nội dung thi gồm tính thời gian (đường nhựa, lòng chảo), đua đồng đội (đường nhựa, lòng chảo, địa hình) Thời gian thi có thể là một ngày và nhiều ngày trên đường vòng khép kín, trên đường cao, đường thẳng quãng đua có quãng ngắn nước rút vài trăm mét yêu cầu tốc độ hết sức cao đến những đường đua dài trên 100km cần có sức bền tốc độ [23, tr 15]
Xe đạp thể thao là môn thể thao bồi dưỡng ý chí ngoan cường, quả cảm, phát triển các tố chất vận động: nhanh – mạnh, bền XĐTT thuộc môn hoạt động có chu kỳ trên 4 vùng cường độ LVĐ (lượng vận động) thi đấu, tập luyện lớn nhất là 50 km và 100 km trở lên [34, tr 140]
Trong khi đạp xe, phần thân trên gồm lưng, tay, ngực cơ bản ở trạng thái tĩnh, còn hai chân lại luôn luôn ở trạng thái vận động nên yêu cầu VĐV (vận động viên) phải giữ thăng bằng cũng như cảm giác không gian tốt Đặc biệt yêu cầu cao các chức năng về tim mạch, hô hấp, năng lực trao đổi năng lượng ưa khí và yếm khí tốt, nổi bật là sức mạnh rất tốt của đôi chân
Trong cuộc đua VĐV xe đạp phải tiêu hao năng lượng rất lớn, VĐV chỉ đạt thành tích cao nhất khi bản thân họ dự trữ đủ năng lượng cần thiết cho cuộc đua Do cuộc thi có thể là cự ly ngắn như 200m nước rút đến thi đấu đường trường 100km, kèm theo sự gắng sức nên năng lượng cung cấp cho đua xe đạp không giống nhau và tùy thuộc vào cự ly thi đấu mà quá trình cung cấp năng
Trang 15lượng có thể là yếm khí tạo acid lactic, yếm khí không tạo acid lactic và quá trình ưa khí [23, tr 15 – 16] Qua đó thấy, cự ly thi đấu càng dài lại kèm theo một gắng sức lớn thì khả năng tiêu thụ tối đa oxy rất quan trọng Sự tiêu thụ tối
đa oxy càng cao thì dung lượng, tiềm năng trong những vận động sức bền khi đua XĐĐT, càng lớn Cấu trúc nhịp điệu kỹ năng vận động của môn xe đạp không phức tạp bằng môn điền kinh, hoạt động kỹ năng chỉ động tác chuyển động vòng tròn lập lại ở chi dưới, nhưng khi tiến hành các động tác bứt rút thì tính phối hợp chi dưới phức tạp, tốc độ co duỗi cơ nhanh vượt bất kể môn nào hoạt động có chu kỳ, cho nên các bài tập đạp trên xe đạp được dùng trong các phương pháp luyện tập tần suất phối hợp chi dưới của môn chạy cự ly ngắn
Trong quá trình thi đấu môn xe đạp, VĐV phải ép vai về phía trước, nằm ngang lưng để giảm sức cản không khí và hai tay cùng nắm phần dưới tay cầm và giữ trọng tâm cơ thể cân bằng và đồng thời VĐV phải quan sát kịp thời các tình huống thay đổi trong khi đua và suy nghĩ chiến thuật, phản ứng kịp thời
Do vậy, VĐV luôn luôn ngẩng đầu quan sát động thái cuộc đua Duy trì trong thời gian dài như vậy, làm cho cơ lưng, cơ cổ cơ vai vào trạng thái tĩnh lực, nhưng chân dưới lại hoạt động theo trạng thái động lực
Đặc điểm mệt mỏi của VĐV xe đạp đầu tiên biểu hiện ở các phần hoạt động tĩnh lực, sẽ giảm khả năng hoạt động và sẽ phá vỡ tư thế có lợi như đã nói trên Do vậy VĐV xe đạp cần phải duy trì cường độ trung bình trong thời gian dài (cự ly trên 50 km) Trong quá trình tập, góc độ thân mình trong điều kiện giảm sức cản không khí, luôn luôn phải điều chỉnh lúc cao, lúc thấp VĐV hoạt động thay đổi để khi thi đấu khỏi bị mệt mỏi các nhóm cơ cổ, cơ tay và ức chế thần kinh trung ương Quan sát thấy:
Trang 16những VĐV đạp xuất sắc trong thi đấu luôn luôn lợi dụng phản xạ tư thế phần đầu, cố gắng điều chỉnh tư thế đầu và thân nhịp nhàng, hợp lý
Từ những đặc điểm trên, trạng thái hoạt động của VĐV XĐTT so với các VĐV của các môn thể thao khác có những đặc điểm khác sau đây:
Trọng lượng VĐV đè nặng thẳng đứng trên xe đạp trong quá trình đua gây lực ma sát, nên trong quá trình thi đấu môn XĐTT VĐV phải chịu ngoại lực tác động Ngoại lực quan trọng nhất là lực ma sát sản sinh ra khi bánh xe tiếp xúc với đất, khi VĐV chuyển động Lực ma sát này tính theo công thức:
Fmasát = Kn x r / h
Kn : Là tổng trọng lượng của xe đạp và cân nặng của VĐV
r : Là bán kính của bánh xe đạp
h : Là cự ly giữa bánh xe trước thực tế tiếp xúc với mặt đất và điểm chống lý thuyết mặt đất với bánh xe
Ngoại lực quan trọng nữa là sức cản của gió, VĐV xe đạp trong quá trình thi đấu phải chịu lực cản của không khí, gió ngược
Theo tác giả Hill – nhà sinh học – vật lý người Anh thì công thức sức cản của gió như sau: F = ½ P S Cd 2
V
Trong đó: F : Là sức cản của gió (Niutơn – N)
P : Là mật độ không khí (1,2 kg/ 3
gy )
S : Là tiết diện tiếp xúc thẳng góc vào vật thể (m2)
Cd: Là hệ số lực cản nghịch gió, hệ số này phụ thuộc vào hình thái cơ thể
V : Là tốc độ chuyển động của VĐV (m/gy)
Theo các nhà sinh cơ học thì sức cản của gió của VĐV xe đạp được tính theo công thức: F = 0.043 S V2
Trong đó 0.043 là giá trị gần đúng của ½ tích số P Cd
S : Là diện tích tiếp xúc chính diện đến cơ thể VĐV(m2)
Trang 17V : Là tốc độ VĐV xe đạp (km/giờ)
Chúng ta chú ý việc xác định diện tích tiếp xúc chính diện của VĐV
xe đạp tương đối khó khăn, vì hình thể VĐV xe đạp khác nhau và ngồi đạp
xe với tư thế khác nhau thì tiết diện tiếp xúc thẳng góc vật thể cũng thay đổi Theo nghiên cứu khi VĐV đứng diện tích tiếp xúc trực diện của VĐV với không khí chiếm 30 – 36% diện tích toàn bộ cơ thể, lúc đi bộ chiếm 31%, lúc chạy chiếm 26 – 28%, lúc cưỡi xe đạp chiếm 21%, nếu cưỡi tư thế cao chiếm 24% Diện tích cơ thể phụ thuộc vào chiều cao và cân nặng của VĐV[28, tr 7]
Theo các tác giả y học thì diện tích cơ thể được tính theo công thức:
S = 71,84 x W 0,432 x h 0,725
Trong đó: W là trọng lượng (Kg) và h : chiều cao (cm) [28, tr 9]
Những cơ sở nguyên lý khí động học trên, VĐV xe đạp phải chịu lực cản không khí rất lớn khi phải tiến hành thi đấu ngược gió Để giảm sức cản này trong quá trình thi đấu phải tập luyện sức bền, sức mạnh và thực hiện các kỹ thuật động tác: đẩy ép vai về trước, nằm ngang lưng để giảm sức cản không khí và hai tay cùng nắm vào phần dưới của tay lái, giữ trọng tâm cân bằng và đồng thời VĐV phải quan sát kịp thời các tình huống thay đổi trong đường đua và suy nghĩ chiến thuật, phản ứng kịp thời [34, tr 141]
VĐV xe đạp khi hoạt động có trạng thái bị hạn chế về kích thước xe đạp, nên khả năng hoạt động hẹp, khu vực hoạt động đùi cố định, nhưng nhiệm vụ là phải cưỡi xe lao về trước Do vậy huấn luyện kỹ thuật chuyên môn phải tỉ mỉ và kiên trì tập luyện mỗi một mắt xích kỹ thuật và các yếu tố tạo thành chúng Ngoài ra trong khi thực hiện các kỹ thuật trên đường đua phải chú ý đến tính ổn định tư thế đạp xe, tính nhịp điệu của động tác đạp xe và tính hợp lý điều khiển tốc độ Những yếu tố này rất quan trọng trong quá trình huấn luyện cũng như thi đấu môn XĐTT
Trang 18Môn XĐTT dùng sức người để điều khiển phương tiện, làm chuyển động lực, nên VĐV phải biết sử dụng hết các đặc điểm có lợi của chiếc xe để phát huy hết tiềm năng hoạt động của cơ thể Do vậy, sử dụng hợp lý chiếc xe đạp đua là vấn đề quan trọng của công tác huấn luyện và thi đấu môn xe đạp Ví dụ: sử dụng hợp lý sự chuyển động với độ dài khác nhau của giò đạp, bàn đạp [69, tr 903]
Không dùng sức tối đa là đặc điểm quan trọng nhất trong quá trình luyện tập và thi đấu Trong quá trình thi đấu trên đường trường quốc lộ, VĐV không nên dùng sức tối đa trừ khi thực hiện kỹ thuật xuất phát, ngay cả khi leo dốc nên dùng tần số để nâng cao tốc độ là chính, trong quá trình thi đấu môn XĐTT phần nhiều không nên dùng sức tối đa [28, tr 9 – 10] Mặt khác, trong cuộc đua VĐV phải luôn luôn giữ sức, phí sức sớm ảnh hưởng không tốt phần sau trong cuộc đua, vì vậy VĐV phải giữ sức tốt ngay khi có thể như: tranh thủ uống, ăn sớm ngay cả khi không cảm thấy đói và khát Hơn nữa VĐV trong quá trình đua phải có chiến thuật núp gió tốt và sử dụng hợp lý đĩa và líp để giúp VĐV đạp xe thoải mái và ít dùng sức nhất để giữ sức cho trường hợp cần thiết như: tấn công, đối phó với tấn công bứt tốp của đối thủ, trên những đoạn đường đèo và rút về đích [56, tr 165 – 166]
Theo Trịnh Phước Tiến (1998): “XĐTT là môn thể thao yêu cầu trình độ kỹ năng (năng lực kỹ thuật điều khiển dụng cụ) diễn ra trong thời gian dài Trong nhiều môn thể thao bất kể là chuyên nghiệp hay nghiệp dư, các VĐV đều cần đến sự hỗ trợ của các thiết bị phụ trợ, các loại máy móc để giúp VĐV luyện tập và phô diễn các kỹ năng Môn XĐTT là môn thể thao mà con người và máy móc gắn liền với nhau Lúc này chiếc xe đạp trở thành sự nối dài của
cơ thể, hai chân tiếp xúc với bàn đạp, hai tay giữ chặt tay cầm và phần xương chậu luôn luôn được đặt ở phần lõm vào của yên xe gần như mọi lúc” [68, tr
17 - 18] Do đó cũng như các môn thể thao có dụng cụ khác muốn có thành
Trang 19tích tốt các VĐV XĐTT phải thực hiện tốt các kỹ thuật trên dụng cụ của mình là chiếc xe đạp
1.1.1.2 Đặc điểm sinh lý và quá trình cung cấp năng lượng cho VĐV XĐĐT
Đặc điểm sinh lý của VĐV XĐĐT:
XĐĐT thuộc môn hoạt động có chu kỳ và dựa vào cường độ hoạt động của cơ bắp môn thể thao này hoạt động trên 4 vùng cường độ:
Vùng cường độ tối đa: thời gian diễn ra từ 10 – 30 giây (đua nước rút, hoặc nước rút về đích v.v.)
Vùng cường độ gần tối đa: thời gian diễn ra từ 45 giây đến 3 – 5 phút (đua 1.000m, tấn công bứt tốp v.v.)
Vùng cường độ lớn: thời gian diễn ra từ 7 – 50 phút (đua 20 km – 40
km cá nhân tính giờ, leo đèo v.v.)
Vùng cường độ trung bình: thời gian từ 1 giờ trở lên (đua xe đạp
đường trường và đua theo chặng v.v.)
Dù thi đấu trên đường lộ hoặc trong sân, VĐV xe đạp đều có tốc độ trung bình 8,3 – 16 m/gy Khi đua có tốc độ cao, yêu cầu các cơ quan cảm giác tinh tế và khả năng cân bằng các bộ phận
Trong quá trình huấn luyện, sự thay đổi tốc độ sẽ kích thích mạnh mẽ vào cơ quan cảm giác vị trí cơ thể và gây nên phản ứng sinh lý rất lớn Nhưng khả năng và mức độ phản ứng sinh lý này nhỏ dần và không cảm thấy khi trình độ huấn luyện của VĐV được nâng cao, bởi vì lúc đó năng lực cân bằng cơ thể đã được nâng cao, chức năng cơ quan tiền đình cũng được nâng cao, tính ổn định của cơ quan tiền đình là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ huấn luyện của VĐV XĐĐT Ngoài ra, VĐV XĐĐT yêu cầu có chức năng thị giác tương đối cao Bởi vì họ phải có trung tâm thị giác quan sát sự thay đổi phía trước, đồng thời phải có khả năng thị giác quan sát các đối thủ hai bên Các
Trang 20vận VĐV XĐĐT xuất sắc đều có khả năng phân tích tổng hợp nhanh chóng các tình huống xảy ra
Đặc điểm cung cấp năng lượng cho VĐV XĐĐT:
Đua XĐĐT là môn thể thao sức bền hoạt động trong thời gian dài, nên nhu cầu năng lượng cung cấp cho VĐV là rất lớn và liên quan mật thiết đến thành tích thi đấu của họ Để thực hiện chiến thuật có những đoạn VĐV cần phải bứt phá vượt đối thủ hoặc rút về đích, với cường độ vận động tối đa nên năng lượng cung cấp phải lớn và biến đổi tùy thuộc vào tốc độ trên đường đua Về các nguồn cung cấp năng lượng, có những đoạn chỉ cần sử dụng năng lượng
ưa khí nhưng cũng có đoạn phải huy động năng lượng yếm khí để tăng cường cung cấp năng lượng cho những pha đua tốc độ
Theo nghiên cứu của các tác giả (J.F.Mayer – G Peres 1982) khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mối quan hệ giữa các cự ly thi đấu của một số môn đua xe đạp và tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng ưa khí và yếm khí thì sức bền của VĐV XĐĐT chủ yếu do hệ năng lượng oxy hóa (glucose và axít béo) cung cấp, chiếm tỷ lệ 95% [6, tr 18] Tuy nhiên với những pha đua tốc độ năng lượng được cung cấp từ nguồn yếm khí là rất quan trọng Như vậy, đặc điểm riêng biệt của môn đua XĐĐT thì các nguồn năng lượng cung cấp chủ yếu cho VĐV trên đường đua biến đổi liên tục theo tốc độ của tay đua như: bắt đầu cuộc đua xuất phát để đạt
tốc độ cao VĐV phải huy động năng lượng từ nguồn yếm khí; tiếp theo là duy trì tốc độ VĐV được cung cấp năng lượng từ nguồn ưa khí; trong khi
đua có những đoạn phải tấn công, bức phá hoặc đi qua khu vực có địa
hình đồi, dốc cơ thể VĐV cần phải tăng cường thêm năng lượng từ nguồn yếm khí; và cuối cùng là rút về đích với cường độ vận động lớn, VĐV phải tăng cường nguồn năng lượng yếm khí để đạt tốc độ cao nhất Có
Trang 21thể diễn tả quá trình cung cấp năng lượng cho VĐV trong môn đua
XĐĐT như sau: yếm khí – ưa khí – yếm khí – ưa khí yếm khí
1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến thành tích thi đấu trong XĐĐT
TTTT của mỗi VĐV là kết quả thực hiện toàn bộ năng lực của người đó trong một môn thể thao nhất định TTTT luôn là hiện tượng đa nhân tố và phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân Những nhân tố và điều kiện cơ bản có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tiến triển của TTTT là:
Năng khiếu cá nhân VĐV và mức độ đào tạo để đạt thành tích Hiệu quả của hệ thống đào tạo thể thao, nội dung tổ chức và điều kiện đảm bảo cơ sở vật chất kỹ thuật
Các điều kiện xã hội đảm bảo cho thành tích phát triển
Trong những điều kiện như nhau, TTTT của mỗi cá nhân phụ thuộc vào năng khiếu và mức độ đào tạo của VĐV Năng khiếu của VĐV là tiền định Còn trình độ đào tạo thì luôn thay đổi nhờ kết quả của tập luyện Như vậy, trong những điều kiện không đổi, yếu tố ảnh hưởng quyết định đến TTTT của VĐV là sự đào tạo tác động có định hướng tới các yếu tố tiền định và phát triển các khả năng nhằm tạo nên sự tiến bộ trong thể thao [39,
tr 423]
Theo Diên Phong thì thành tích thể thao của VĐV là do năng lực thể thao quyết định Năng lực thể thao là bản lĩnh vốn có tốt nhất mà VĐV đạt được trong quá trình huấn luyện và thi đấu, là sự tổng hợp của năng lực về tố chất thể lực, năng lực về kỹ chiến thuật, năng lực về trí tuệ và năng lực về tâm lý [27, tr 59]
Theo D.Harre, các yếu tố xác định thành tích thể thao cá nhân bao gồm: các phẩm chất nhân cách, các tố chất thể lực, kỹ thuật – phối họp vận động, chiến thuật và các yêu cầu về cấu trúc cơ thể [9, tr 44] Mặt
Trang 22khác, ông đã chỉ ra lượng vận động tập luyện và lượng vận động thi đấu là những nhân tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp độ phát triển và độ ổn định của thành tích thể thao [9, tr 38]
Thành tích XĐTT là tập hợp các trạng thái sung sức, nghĩa là của khả năng về năng lượng sinh học, thần kinh – cơ, tâm lý và kỹ, chiến thuật Mỗi mặt này đều là những tố chất bẩm sinh (khả năng năng lượng sinh học, hình thái học, nhân cách, trực giác, v.v.) và phát triển nhờ tập luyện, huấn luyện và hoàn thiện
Ngoài ra những yếu tố cơ bản quan trọng khác có liên quan đến thành tích môn xe đạp thể thao là: động cơ thi đấu, mức độ khát vọng đạt thành tích, đặc điểm tâm lý và môi trường của VĐV [53, tr 129]
Theo Liên đoàn XĐTT Việt Nam thì những yếu tố đảm bảo cho việc đạt được thành tích môn XĐTT đều thuộc về các chỉ số về: sinh lý học (VO 2
max, giới hạn xuất hiện các cơ chế Lactac v.v.), tâm lý học (tập trung tư tưởng, cảm xúc ổn định v.v.), thần kinh vận động (thời gian phản ứng, khả năng phối hợp …), hay thuộc chiến lược (các bước tiến hành, các phương pháp thực hiện …) [50, tr 157]
Mặt khác theo Vesa Naukkarinen B.S thì thành tích của XĐTT thường được biểu hiện bởi tốc độ của các tay đua VĐV đua xe đạp phải vượt qua 2 loại lực cản để sinh ra chuyển động: lực cản lăn tròn và lực cản không khí
Lực cản lăn tròn đã được chỉ ra là phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể của từng cá nhân, áp lực căng phồng của lốp xe, và những đặc trưng của bề mặt đường đua và lốp bánh xe
Trang 23Sức cản không khí phụ thuộc vào khu vực phía trước của tay đua và chiếc xe đạp của anh ta, mật độ không khí, tình trạng của gió, và tốc độ
di chuyển (di Prampero, Cortili, Mognoni và Saibene) [64, tr 3]
Theo Burke hai dạng lực cản khí động lực học ảnh hưởng đến thành tích đua xe đạp là lực cản áp suất (tình trạng sức khỏe) và lực cản ma sát ở
da Lực cản áp suất sản sinh ra khi dòng không khí không thể theo kịp những diễn biến quá nhanh của một cơ thể chuyển động liên tục Sự phân cách này làm thay đổi sự phân bổ áp lực không khí lên cơ thể, gây ra một áp lực thấp ở những bề mặt phía sau và một áp lực cao ở những bề mặt phía trước, dẫn đến sản sinh ra lực hãm lại Do lực cản không khí chính là sự hạn chế chủ yếu lên tốc độ đua xe đạp, hầu hết các chiến thuật sử dụng trong các cuộc đua xe đạp đều dựa trên việc khai thác ảnh hưởng này Drafting (núp gió) theo sau rất sát một tay đua xe đạp khác, khiến cho tay đua đi trước này phải chịu một gánh nặng lớn gây ra do sức cản của gió và nó hoạt động đồng thời như một hàng rào chắn gió cho VĐV theo sát sau Chạy xe trong luồng không khí sinh ra phía sau một tay đua khác có thể giảm đáng kể lực cản khí động lực học Drafting không những chỉ giúp giảm được áp lực lớn ở bề mặt phía trước mà còn làm giảm áp lực thấp ở những bề mặt phía đằng sau Do đó drafting đã làm giảm con số tổng cộng về mặt đại số của những lực cản khí động lực học (Kyle & Burke, 1984) Drafting là một kỹ thuật quan trọng thường được các VĐV đua đường trường sử dụng trong thi đấu [64, tr 1 – 2]
Một trong những nhân tố vô cùng quan trọng được nhiều tác giả trong và ngoài nuớc quan tâm trong việc nâng cao thành tích cho các VĐV XĐTT thi đấu nhiều ngày liên tục là các biện pháp hồi phục nhanh gồm: dinh dưỡng, xoa bóp, thư giãn và giấc ngủ, sự chăm sóc và vệ sinh Trong đó
Trang 24dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng hàng đầu, dinh dưỡng phải được cung cấp đầy đủ để bù đắp cho sự tiêu hao năng lượng hoạt động cơ thể Mức calori trong một ngày phải đáp ứng được lượng năng lượng cần cho ngày hôm đó Vì thế, phải tính đến mức dinh dưỡng căn bản cân đối và đầy đủ cho một ngày thi đấu Đối với lượng đạm (protit), mỡ (lipit) và đường (gluxit) cần theo tỷ lệ họp lý Theo Bác sĩ Bùi Văn Đức thì các VĐV XĐTT cần ăn theo công thức: 4/7 gluxit : 2/7 lipit : 1/7 protit [11, tr 75] Cần lưu ý rằng mỗi gram protit và gluxit cung cấp cho cơ thể 4,1 kg calories, 1 gram mỡ cung cấp 9,3 kg calories
Theo John Forester [59, tr 362 - 363] các VĐV đua XĐĐT phải thi đấu nhiều ngày liên tục ngoài trời nên thời tiết (nóng, lạnh, mưa, nắng, gió v.v.) cũng ảnh hưởng đến thành tích của các tay đua
Irvin E.Faria (1998) cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích thi đấu của VĐV là: “Khả năng phân phối và sử dụng oxy (VO2max), kỹ thuật đua xe, các chiến thuật khi tham gia thi đấu, kinh nghiệm thực tế, động lực của cá nhân” [57, tr 118]
Theo Trịnh Phước Tiến [68] và Edmund R Burke, PHD [54].Trong các môn thể thao có dụng cụ, việc lựa chọn dụng cụ thi đấu quyết định thành tích thi đấu của VĐV Do đó, việc lựa chọn chiếc xe đạp để thi đấu cũng là một nhân tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến thành tích thi đấu của VĐV XĐTT
Ngoài ra, theo Loras S, CoWie, B.S [60, tr 2] các yếu tố bên ngoài như trang phục thi đấu (giảm lực cản của gió), sự yêu thích trang phục và các logo mà VĐV mang trên áo thi đấu, để quảng cáo (tạo tâm lý hưng phấn, lòng quyết tâm, tự hào) cũng ảnh hưởng đến thành tích thi đấu của VĐV
Trang 251.1.3 Hệ thống và các giai đoạn huấn luyện VĐV XĐĐT
1.1.3.1 Độ tuổi bắt đầu tập luyện môn xe đạp:
Việc xác định chính xác, hợp lý độ tuổi bắt đầu tập luyện ở môn thể thao chuyên sâu có ý nghĩa quan trọng, là tiêu chí cơ bản để phân chia giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm trên cơ sở các giai đoạn phát triển sinh học tự nhiên của con người Chuyên môn hoá thể thao muộn hoặc quá sớm đều có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của VĐV sau này gây khó khăn trong định hướng, mục đích huấn luyện và tuyển chọn tài năng trẻ [62, tr 19]
Tuyển tuyển chọn tập luyện ban đầu ở môn xe đạp thể thao cho tới nay vẫn chưa thống nhất, tuỳ theo tình hình cụ thể của từng quốc gia mà các nhà khoa học đưa ra có sự khác biệt nhất định Theo V.L.Philin thì tuổi bắt đầu tập luyện môn xe đạp thể thao là 10 tuổi [26, tr 20]; Lê Bửu – Nguyễn Thế Truyền là 12 – 13 tuổi, tuy nhiên tác giả cũng nêu độ tuổi này có thể cao hoặc thấp hơn 1, 2 tuổi; còn theo Diên Phong là 12 – 14 tuổi [27,
tr 348]; theo Harre là 10 – 12 tuổi [9, tr 27; theo Nguyễn Toán – Phạm Danh Tốn là 12 – 13 tuổi [39, tr 465]; theo Nguyễn Toán là 12 – 14 tuổi [40,
tr 45]
Ở Việt Nam, theo Liên đoàn xe đạp Việt Nam thì lứa tuổi bắt đầu tập luyện môn xe đạp là 10 – 12 tuổi [51, tr 1] Xe đạp thể thao là môn thể thao kỹ thuật phức tạp và phải tập luyện ngoài đường quốc lộ nên nguy hiểm, do đó độ tuổi bắt đầu tập luyện môn này sẽ bắt đầu trể hơn so với nhiều môn thể thao khác Hiện nay nền kinh tế của nước ta đang được từng bước nâng cao cùng với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là động lực mạnh mẻ cho trẻ em ngày càng đông tham gia tập luyện Thể dục Thể thao nói chung và xe đạp thể thao nói riêng Theo xu hướng trẻ hoá của
Trang 26thế giới hiện nay cùng với thực tế tuyển chọn tại nước ta, theo chúng tôi nên khuyến khích các em tham gia tập luyện từ 10 tuổi, điều này phù hợp với xu thế và đặc điểm các giai đoạn huấn luyện môn xe đạp thể thao ở Việt Nam và trên thế giới
1.1.3.2 Tuổi đạt thành tích thể thao cao của các VĐV xe đạp thể thao:
Theo Harre thì độ tuổi bắt đầu đạt thành tích thể thao cao ở môn xe đạp thể thao là từ 17 – 21 tuổi [9, tr 27]; theo Diên Phong, Phạm Danh Tốn – Nguyễn Toán cùng thống nhất với nhau theo Liên Xô củ thì độ tuổi đó là từ 19,4 – 22,7 tuổi và sau 5,7 năm tập luyện [27, tr 339, tr 346] [39, tr 46 – 47] [40, tr 501 – 502] Ở Việt Nam VĐV Trương Quốc Thắng vô địch Châu
Á năm 25 tuổi, VĐV Mai Công Hiếu huy chương vàng Seagames năm 26 tuổi
Căn cứ khoa học chủ yếu của sự phân định tuổi đạt thành tích thể thao cao là qui luật phát triển sinh học tự nhiên của con người, quy luật hình thành và phát triển thành tích thể thao Trên cơ sở phân chia các giai đoạn huấn luyện, độ tuổi bắt đầu tập luyện của các tác giả trong và ngoài nước và thực tiển thành tích thi đấu của các VĐV xe đạp thể thao ở nước
ta, có thể chia độ tuổi thành tích thể thao của xe đạp thể thao thành 3 nhóm sau:
Độ tuổi thành tích cao ban đầu: 17 – 21 tuổi
Độ tuổi thành tích cao nhất: 22 – 26 tuổi
Độ tuổi duy trì thành tích thể thao cao: 27 tuổi trở lên
Tóm lại, những độ tuổi đạt thành tích thể thao chủ yếu phản ánh những tiềm năng của cơ thể, mức độ phát triển những khả năng về chức phận và hình thái, cũng như độ chín mùi về sinh học của cơ thể Vì vậy, việc xác định độ tuổi bắt đầu tập luyện và tuổi đạt thành tích xuất sắc
Trang 27của các VĐV cũng là căn cứ để phân chia các giai đoạn huấn luyện trong qui trình huấn luyện nhiều năm
1.1.3.3 Hệ thống huấn luyện xe đạp thể thao:
Ngày nay muốn đạt được thành tích thể thao tốt VĐV phải bỏ ra một sức lực rất lớn, đòi hỏi họ phải trãi qua một quá trình huấn luyện và khổ luyện lâu dài nhằm cải tạo quá trình sinh học của cơ thể [27, tr 14] Hệ thống huấn luyện nhiều năm là quá trình đào tạo VĐV từ lúc mới bắt đầu tập luyện ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng đến khi trở thành VĐV có thành tích cao Do đó, thành tích thể thao phụ thuộc nhiều vào hiệu quả của hệ thống huấn luyện nhiều năm VĐV trẻ
Một trong những yếu tố thành phần của quy trình huấn luyện nhiều năm là hệ thống kiểm tra, đánh giá năng lực hoạt động thể lực, trình độ tập luyện của VĐV Trên cơ sở đặc điểm của các giai đoạn trong quy trình huấn luyện, đề ra chỉ tiêu, phương pháp và các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá lượng vận động, khả năng thích nghi, trình độ thể lực và trình độ tập luyện của từng VĐV theo định hướng, mục tiêu đào tạo của từng giai đoạn và của hệ thống Kết quả việc kiểm tra trên của VĐV trẻ không chỉ góp phần tuyển chọn, đào thải mà còn mục đích điều chỉnh trong quá trình huấn luyện nhằm đào tạo nên những biến đổi thích ứng về mặt sinh học cho VĐV [62, tr 14 – 15]
Việc phân chia các giai đoạn trong quy trình huấn luyện nhiều năm được nhiều chuyên gia và các nhà chuyên môn nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau Họ căn cứ vào sự phát triển sinh học tự nhiên của cơ thể con người, quy luật hình thành và phát triển của thành tích thể thao, đặc điểm của từng môn thể thao, thời gian bắt đầu tập luyện và lứa tuổi đạt thành tích thể thao cao nhất ở từng môn thể thao lựa chọn để phân chia
Trang 28các giai đoạn huấn luyện Tuy có khác nhau về tên gọi và sự phân chia các giai đoạn, nhưng các tác giả đều đảm bảo đặc điểm quan trọng nhất của sự phân chia các giai đoạn trong quá trình huấn luyện nhiều năm là tính kế thừa và liên tục của các nhiệm vụ huấn luyện Ngoài ra, phần lớn các tác giả đều đồng nhất với nhau quan điểm quy trình đào tạo VĐV gồm 5 giai đoạn: huấn luyện ban đầu, chuyên môn hoá ban đầu, huấn luyện chuyên sâu môn thể thao lựa chọn, hoàn thiện và đạt thành tích thể thao, cuối cùng là duy trì thành tích thể thao Tỷ lệ thời gian của từng giai đoạn phụ thuộc vào đặc điểm của từng môn thể thao và chỉ có tính chất tương đối
Theo tài liệu tổng kết công tác huấn luyện môn xe đạp nhiều nước, các tác giả Trung quốc viết trong quyển “Kim chí nam của công tác huấn luyện cho môn xe đạp Trung Quốc” cũng như các tài liệu tác giả người Nga và Pháp viết trong quyển “Xe đạp thể thao” (Nhà xuất bản Hà Nội – 1998) đều chia công tác đào tạo VĐV xe đạp thành 4 giai đoạn:
Giai đoạn nâng cao sự ưa thích và tiếp xúc môn xe đạp thể thao Giai đoạn huấn luyện chuyên sâu cơ bản
Giai đoạn huấn luyện nâng cao chuyên môn và phát huy khả năng cao nhất của cá nhân
Giai đoạn duy trì và kéo dài trình độ kỹ thuật chuyên môn [50] [68, tr 25 - 26]
Các tác giả người Pháp phân chia các giai đoạn huấn luyện nhiều năm môn xe đạp thể thao thành 4 giai đoạn: Huấn luyện ban đầu (10 – 12 tuổi), huấn luyện VĐV thiếu niên (13 – 15 tuổi), huấn luyện VĐV thanh niên (15 – 17 tuổi) và huấn luyện coureur chuyên nghiệp [66, tr 1]
Trang 29Ở môn xe đạp thể thao, trong chương trình huấn luyện VĐV xe đạp chương trình thể thao quốc gia Việt Nam (chương trình mục tiêu) đã chia quy trình huấn luyện nhiều năm cho VĐV trẻ gồm các giai đoạn sau:
Giai đoạn huấn luyện cơ bản ban đầu (10 – 12 tuổi):
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: củng cố tăng cường sức khỏe và rèn luyện thể chất cho VĐVthiếu niên; phát triển toàn diện các tố chất thể lực, chú trọng phát triển sức bền chung; đặt nền móng phát triển các chức năng của các hệ thống cơ quan trong cơ thể; bồi dưỡng khả năng nhịp điệu, hình thành các loại kỹ năng vận động; nắm vững yếu lĩnh chính xác các loại kỹ thuật cơ bản, các thao tác đạp xe, kỹ thuật ngồi
xe và các kỹ thuật điều khiển xe
Giai đoạn huấn luyện cơ sở (13 – 15 tuổi):
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này cùng với các nhiệm vụ huấn luyện ban đầu (giáo dục củng cố sức khỏe, phát triển thể lực toàn diện, tập luyện các kỹ năng vận động đa dạng v.v.) trong giai đoạn này có thêm nhiệm vụ mới là: tuyển chọn sơ bộ VĐV theo định hướng chuyên sâu và giáo dục cho các VĐV thiếu niên có niềm say mê và yêu thích ổn định đối với môn xe đạp thể thao Qua đó, hình thành sở thích vững chắc của VĐV đua xe đạp trẻ, định hướng cho nhiệm vụ tập luyện nhiều năm
Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hoá (16 – 18 tuổi):
Nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là: đặt nền móng chuyên môn chính cho TTTT sau này; nâng cao trình độ chuyên môn cho VĐV, phát triển thể lực toàn diện, chú ý phát triển sức bền chuyên môn, tốc độ và sức mạnh tốc độ; tiếp tục hoàn thiện và phát triển các chức năng của các hệ thống cơ quan trong cơ thể; hoàn thiện các kỹ thuật đạp xe, kỹ thuật ngồi xe và điều khiển xe; huấn luyện chuyên kỹ thuật cá nhân và hoàn thiện kỹ
Trang 30thuật môn tự chọn; huấn luyện viên cần trang bị cho VĐV chiến thuật và tâm lý để bắt đầu tham gia các cuộc thi đấu chính thức
1.2 Cơ sở lý luận về tuyển chọn VĐV xe đạp đường trường
Thực tế đào tạo và thi đấu thể thao cho thấy tầm quan trọng càng nổi bật năng khiếu, tài năng của các VĐV xuất chúng Nói cách khác, cộng tác tuyển chọn và đào tạo các tài năng trẻ trong thể thao càng trở nên bức thiết và cần đầu tư nhiều công phu và chất xám Có nhiều nhà khoa học thể thao đã khẳng định: Trong điều kiện bình thường và như nhau, khâu này đóng góp đến 60 -70% trong thành công của việc đào tạo nhân tài thể thao Và hơn nữa, thực chất mỗi nhà vô địch thế giới hay Olympic về một môn, nội dung thể thao nào đó cũng là hệ quả của sự chọn lọc muôn một từ hơn 5 tỉ người trên thế giới mà ra
Trước khi đi sâu ứng dụng vào từng môn thể thao cụ thể (mà ở đây là đua xe đạp), chúng ta cần nắm được những cơ sở chính, chung nhất về lý luận và phương pháp của vấn đề Hiển nhiên cần cố gắng tìm hiểu tổng hợp một số thành tựu nghiên cứu có liên quan của một số tác giả trong và ngoài nước để làm cơ sở định hướng, nền tảng chung cho quá trình ứng dụng vi phân về sau
1.2.1 Những cơ sở chung:
1.2.1.1 Năng khiếu và tuyển chọn VĐV trẻ:
Tuyển chọn thể thao nhằm phát hiện những năng khiếu đặc biệt về thể thao, chứ không phải chọn lựa những con người có sức khoẻ tương đối để đảm bảo làm được một công việc bình thường nào đó có hiệu quả Bởi vậy khó khăn chính là ở chỗ HLV, cán bộ nghiên cứu phải dự báo được những triển vọng thể thao (trong đó có thành tích cao nhất có thể đạt được) trong tương lai (có thể trên dưới 10 năm) của một em bé mà hiện
Trang 31nay tài năng ấy chưa hoặc rất ít bộc lộ, còn ở dưới dạng năng khiếu tiềm ẩn
Ai cũng rõ, một đứa trẻ không thể có ngay (bẩm sinh) tài năng thể thao nào đó, nhưng những đặc điểm giải phẩu – sinh lý và phần nào cả tâm lý (như về thần kinh) lại là những yếu tố cơ bản, tự nhiên quan trọng nhất làm nền từ rất sớm và lâu dài cho cà cuộc đời thể thao của VĐV (đặc biệt trong thời trẻ,
đang phát triển mạnh) Như vậy, “năng khiếu thể thao là sự kết hợp đặc biệt về chất những đặc điểm ưu việt về giải phẩu – sinh lý – tâm lý của từng cá nhân, để trên cơ sở đó có thể đạt được TTTT cao, trong điều kiện đào tạo hợp lý”ù
Khả năng đạt thành tích nhiều hay ít trong một môn thể thao nào đó tuỳ thuộc vào mức độ và chất lượng của sự kết hợp ấy Bởi vậy, bản thân những tư chất bẩm sinh về sinh học là chính trên mới chỉ là tiền đề tự nhiên cho một dạng năng khiếu nào đó còn đang lấp ló, phần nào có sự hứa hẹn cho sự phát triển mà thôi Muốn phát huy, hiện thực hoá, làm cho “ra hoa kết trái” những tiềm năng đó, con người phải được đào tạo, tự phấn đấu, rèn luyện hợp lý và gian khổ; không ai có thể làm thay Do
vậy, “tài năng thể thao lại là sự tổng hòa những đặc điểm rất đa dạng về hình thái, sinh lý, tâm lý … của con người kết hợp với điều kiện ngoại sinh cần thiết cùng sự tập luyên hệ thống, lâu dài gian khổ để đạt được những kết quả xuất sắc trong một môn thể thao chuyên sâu nào đó”
Trang 32Biểu đồ 1.1: Các yếu tố quyết định khả năng đào tạo VĐV quốc gia xuất sắc
Qua biểu đồ trên, đại thể ta có thể thấy được mối quan hệ giữa tư chất sinh học bẩm sinh với tài năng thể thao cùng những điều kiện đảm bảo đạt
được TTTT cao và động cơ, ý thức, tinh thần rèn luyện của từng cá nhân Và tất nhiên, theo những quan niệm ấy, việc lựa chọn những tiêu chuẩn và phương pháp tuyển chọn trong các giai đoạn khác nhau của hệ thống tuyển chọn cần phải dựa trên cơ sở phân tích cấu trúc của những TTTT
Nói cụ thể hơn, căn cứ vào độ tuổi và trình độ luyện tập ở giai đoạn đầu, cần quan tâm nhất đến việc phát hiện những tư chất bẩm sinh và tính tích cực vận động Sang giai đoạn hai, khi người tập đã có một trình độ luyện tập cơ bản cùng các yếu tố chuyên môn nhất định thì có thể đánh giá năng khiếu thể thao rõ hơn Còn đến giai đoạn ba, sẽ đánh giá
Trang 33khả năng hoạt động thể thao trên cơ sở kết hợp năng khiếu thể thao với khả năng tiếp thu trong luyện tập (nói riêng là kỹ năng và kỹ xảo trong vận động) Giai đoạn bốn có vai trò then chốt trong hình thành tài năng thể thao Và tài năng này sẽ được bổ sung củng cố trong giai đoạn năm Đến giai đoạn sáu, TTTT đạt đến mức cao nhất của quá trình hình thành tài năng thể thao Cần căn cứ vào các thang bậc, giai đoạn cơ bản như vậy mà chủ động đề ra các biện pháp và phương pháp tổ chức, đào tạo thích hợp để phát huy cao nhất những tiềm năng có thể của từng giai đoạn, tạo nên sự cộng hưởng tối ưu trong toàn bộ quá trình
Trong thực tiễn tuyển chọn, dễ gặp những trường hợp điển hình sau:
Thứ nhất, đối tượng tuyển chọn có năng khiếu thể thao, hiểu và đánh giá tương đối đúng năng lực của bản thân nên ham thích và rất tích cực luyện tập, nhờ đó đạt được thành tích cao
Thứ hai, đối tượng tuyển chọn có năng khiếu thể thao nhưng không ham thích do đánh giá sai năng lực bản thân, không có định hướng chuyên môn phù hợp do môi trường chuyên môn không thuận lợi như tác động của gia đình, điều kiện sống, phương pháp và phương tiện luyện tập hoăc do hoạt động nào khác hấp dẫn hơn Bởi vậy, năng khiếu thể thao rồi tài năng thể thao không những không bộc lộ mà còn bị thui chột
Thứ ba, đối tượng tuyển chọn không có năng khiếu thể thao, nhưng lại ham thích và tích cực hoạt động thể thao Do đó, tuy có tiến bộ, đem lại kết quả nhất định, nhưng thành tích chỉ dừng lại ở mức cao nhất của bản thân
Đó là 3 trường hợp điển hình, thường gặp mà ta cần phải suy xét xác thực để có biện pháp xử lý phù hợp
Trang 341.2.1.2 Dự báo triển vọng thể thao của VĐV trẻ theo quy luật phát triển TTTT
Muốn đạt được TTTT cao, cần phải nắm vững những quy luật phát triển thành tích của những VĐV theo từng đoạn tuổi TTTT càng cao, chúng ta càng phải xem xét chặt chẽ những cái đó để điều chỉnh những tiêu chuẩn, yêu cầu thời hạn tuyển chọn đã đề ra trước Như thế sẽ giúp ta năng động hơn; tránh bảo thủ, cứng nhắc, kinh nghiệm chủ nghĩa trong công tác này
Theo lý luận thể thao hiện đại củûa nhiều nước thể thao tiên tiến, có thể cơ bản phân quá trình hoạt động, được đào tạo thể thao chuyên môn của từng VĐV thành 3 đoạn tuổi, tương ứng với 3 đặc trưng ưu thế: đoạn tuổi bước đầu đạt TTTT tương đối cao ban đầu; đoạn tuổi khả năng tối
ưu (có thể đạt thành tích cao nhất); đoạn tuổi duy trì TTTT đã có
Thời gian đào tạo từ một VĐV trẻ có năng khiếu đến đạt TTTT cao ban đầu dao động trong khoảng 10 -15 năm hoăc lâu hơn Như thế có nghĩa có môn VĐV “thành tài” tương đối nhanh hơn Xét trên cấp bậc VĐV theo thành tích tuyệt đối, thời gian đào tạo cho nữ phải lâu hơn Chưa kể với một số môn thể thao mới và trình độ còn thấp như ở ta thì có khi lại ngắn hơn do hạ thấp tiêu chuẩn để động viên phong trào
Những hiểu biết về các đoạn tuổi chủ yếu có thể đạt được những thành tích TT nhất định trên phản ánh những tiềm năng của cơ thể, mức phát triển về chức phận và hình thái cũng như độ chin muồi về sinh học của cơ thể Nó có tầm quan trọng trong xây dựng cơ sở khoa học của các giai đoạn tuyển chọn, định hướng và chuyên môn hóa thể thao đúng và kịp thời cùng dự báo, xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp; hoặc không
Trang 35quá sớm hay muộn; không quá cứng nhắc hay tuỳ tiện, hoặc quá mức hay không đủ mức
1.2.1.3 Vai trò của các yếu tố di truyền và môi trường (tự nhiên và xã hội) trong tuyển chọn và đào tạo VĐV
Trước hết hãy bàn đến vai trò của yếu tố di truyền trong năng khiếu,
tài năng thể thao Thực tế đào tạo nhân tài nói chung và của môn thể thao nói riêng càng làm nổi bật tầm quan trọng to lớn của yếu tố này Vì vậy mà từ thập kỷ 70 thế kỷ 20 đã hình thành và phát triển mạnh môn di truyền học, nói riêng là về con người Môn di truyền nhân loại học nghiên cứu sự di truyền và biến dị, tức sự tương tự hoặc khác biệt về tính trội giữa các thế hệ trước (cả nam lẫn nữ) với các thế hệ sau Nói hẹp hơn, ngay trong lĩnh vực thể thao ngày nay cũng đã hình thành môn “di truyền học thể thao” Những thành tựu khoa học của nó đã ảnh hưởng sâu sắc tới lý luận và phương pháp tuyển chọn và đào tạo VĐV Bất kỳ người làm công tác tuyển chọn VĐV môn thể thao nào, giai đoạn nào cũng phải học hỏi những kiến thức cần thiết từ môn khoa học này; dùng nó làm một trong những nguồn sáng để soi rọi cho công tác đào tạo nhân tài của mình
TTTT của từng VĐV cụ thể là những kết quả của sự tác động tương hổ rất phức tạp giữa các yếu tố trên Xem ra sự tranh cãi chỉ còn ở mức độ, tỉ lệ của các và từng yếu tố ấy đến tài năng thể thao và những thành tích của nó như thế nào mà thôi Một số người thầy phần lớn chỉ nhấn mạnh vai trò học tập, lao động, giáo dục, huấn luyện, tập luyện … Ví dụ như “không thầy đố trò làm nên” hoăc “không có học sinh tồi, mà chỉ có thầy giáo dở”, nghĩa là mọi trẻ em phát triển bình thường đều có thể trở
Trang 36thành VĐV nổi tiếng Không ai phủ nhận ý thức, phẩm chất, tài năng cụ thể của từng người phải là kết quả của tác động huấn luyện, rèn luyện Nhưng mặt khác cũng thấy quan niệm này cường điệu đến mức coi giáo dục là vạn năng, vô tận
Ngày nay, dưới ánh sáng của khoa học hiện đại, người ta càng thấy yếu tố di truyền là tiền đề quyết định và yếu tố giáo dục, huấn luyện tuy rất quan trọng, không thể thay thế, nhưng có những giới hạn của nó, mà trước đây ta còn chưa nhìn rõ, đơn giản, trong khi đó lại coi nhẹ yếu tố di truyền Theo ý kiến của viện sĩ Astơrốp : “…… Những quy luật di truyền được hình thành nghiêm ngặt và rất khách quan Các quy luật ấy chỉ cho chúng ta biết giáo dục và huấn luyện không phải là vô hạn, những giới hạn ấy được chương trình hóa bởi di truyền” Có thể diển giải mối quan hệ trên về sự tác động qua lại của yếu tố môi trường và di truyền dưới hình thức hàm số toán học sau:
U (t + 1) là gia số của X tại thời điểm (t + 1) do tác động của môi trường như giáo dục, huấn luyện
Xét về quan hệ giữa giá trị ban đầu ( X t ) với giá trị cuối hay một thời điểm nào đó mà ta xét sau này (X t + U x ) theo lý thuyết tương quan, nếu thấy giữa chúng không có sự tương liên, tức là giá trị tăng tiến không
Trang 37phụ thuộc vào giá trị ban đầu, thì tương quan giữa giá trị ban đầu và giá trị cuối bằng thương số độ lệch chuẩn của chúng:
R t (t + 1) =
) 1 ( t +
S
St
Cần dự báo giá trị cuối theo độ tăng tiến (U x) Có khi giá trị cuối tương quan với giá trị ban đầu (X t ) hoăc với độ tăng tiến (U x ) hoặc với cả hai Do vậy, để dự báo NKTT ở trẻ em dựa trên cơ sở nghiên cứu sự ổn định của các chỉ tiêu cần phải căn cứ vào hệ số ổn định (tương quan giữa giá trị ban đầu với giá trị cuối sau một thời gian quan sát các chỉ tiêu nghiên cưú), tương quan giữa giá trị cuối với độ tăng tiến của chỉ tiêu sau một thời gian nhất định
Thông thường trước khi tuyển chọn, chúng ta cần biết đặc tính mẫu hình của VĐV cùng khả năng và sự đảm bảo độ chính xác trong dự báo chúng Nếu không rõ, mơ hồ, nếu chưa nói là sai, thì chẳng có hứa hẹn gì Có thể dùng những phát đồ sau để giải thích rõ thêm điều trên
Chúng ta cần tuyển chọn những VĐV trẻ có năng khiếu thể thao tốt (tốt nhất) – tiền đề quan trọng để đạt TTTT cao (xuất sắc) trong tương lai (bên phải trục AB) Sau khi lập test tin cậy và dùng đó để chọn được những VĐV tốt nhất đạt kết quả kiểm tra qua test (tốt nhất) phía trên dường CD) Như vậy, mọi VĐV được tuyển chọn sẽ chia thành 4 nhóm như sau:
Nhóm ở vùng I thực sự có năng khiếu thể thao và được chọn vào để tiếp tục tập luyện lâu dài
Nhóm ở vùng II (kém nhất) không có năng khiếu và bị loại trừ đúng
Nhóm ở vùng III cũng có năng khiếu thể thao nhưng bị loại trừ sai
Trang 38Nhóm ở vùng IV thực sự không có năng khiếu thể thao nhưng lại bị nhìn lầm và chọn vào để tiếp tục nâng cao
Biểu đồ 1.2 : Thành tích thể thao tương lai – chỉ số cuối
Từ đó, hiệu quả tuyển chọn sẽ là tỷ lệ giữa số lượng VĐV được chọn đúng với tổng số lượng VĐV được xem xét:
S t =
IV I
I +
Nói cho cùng, bất kỳ một tính chất nào của cơ thể đều tùy thuộc vào cả yếu tố di truyền lẫn môi trường Môi trường xung quanh không thuận lợi sẽ kìm hãm những khả năng di truyền tiềm tàng, làm cho không phát triển đầy đủ, thậm chí làm cho thui chột trong một cá thể nào đó Còn ngược lại, nó sẽ “gợi mở”, phát huy những năng khiếu (tiềm năng vốn có) thành những tài năng hiện thực với những thành tích cao nhất Ở trình độ thể thao rất cao hiện nay, bất kỳ ai, cho dù hết sức khổ luyện, được đào tạo trong điều kiện thuận lợi đến mấy, nhưng nếu không đáp ứng được yêu cầu của môn thể thao nài đó về đặc điểm di truyền thì cũng không thể trở thành nhà thể thao xuất sắc, chưa chưa nói đến nhà vô địch thế giới Đó là chưa kể biết bao những VĐV trẻ cũng đầy năng khiếu trên khắp thế giới
Trang 39đang gắng sức rèn luyện trong những điều kiện đầy đủ và hiện đại để tranh đua gay go, từ đó
chọn ra mỗi một nhà vô địch quốc tế trong từng môn, nội dung thể thao
Vai trò của thông tin di truyền (genotypy) với sự phát triển về hình thái, chức năng của con người trong hình thành năng lực thể thao được làm sáng tỏ nhờ sử dụng phương pháp sinh đôi Thực chất của phương pháp này là nghiên cứu 2 nhóm anh em sinh đôi trong những diều kiện sống chung hoặc riêng, theo tuổi và giới tính So sánh nhóm sinh đôi một trứng và 2 trứng hoặc là trứng khác nhau, kết quả cho thấy đặc điểm của nhóm một trứng giống hệt nhau về mặt di truyền, còn của nhóm trưng khác nhau thì không như thế So sánh các nhóm này cho phép xác định ảnh hưởng của di truyền và môi trường đến đặc điểm về tình trạng của những con người được nghiên cứu Và ở đây người ta nghiên cứu theo 3 hướng chính Một là quan sát theo hệ thống dọc, các cặp sinh đôi từ lúc còn nhỏ đến lúc trưởng thành Hai là nghiên cứu một lần từng cặp riêng rẽ Còn 3 là nghiên cứu lặp lại nhiều lần
1.2.1.4 Một số vấn đề về sự ảnh hưởng của yếu tố di truyền với năng khiếu thể thao của con người:
Năng khiếu thể thao phụ thuộc rất lớn vào những tư chất mang tính
di truyền có đặc điểm ổn định, ít thay đổi Vì vậy, khi dự báo năng khiếu thể thao cần chú ý trước hết đến những dấu hiệu tương đối ít thay đổi, những dấu hiệu có tác dụng chi phối thành công của hoạt động thể thao trong tương lai Vì vai trò của các dấu hiệu mang tính di truyền sẽ được lộ ra ở mức tối đa khi có những đòi hỏi cao đối với cơ thể người tập, nên để đánh giá hoạt động của VĐV trẻ cần dựa vào mức thành tích cao nhất
Trang 40Trong phạm vi hiểu biết của mình, chúng tôi chỉ có thể điểm một số nét, khía cạnh cơ bản của một vấn đề rất phong phú và rộng lớn này
Tiềm năng phát dục:
Sinh trưởng phát dục là một hiện tượng tự nhiên, có tính quy luật của
con người Cho dù quá trình này của từng người chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác nhau về di truyền và hoàn cảnh… tạo nên sự biến dị phổ biến nhưng cũng không vì thế mà vượt được khỏi quy luật chung
Phân tích cụ thể hơn, khái niệm sinh trưởng phát dục bao gồm 2 tầng hàm nghiã Sinh trưởng là quá trình biến đổi về lượng trong cơ thể con người (các tế bào ngày càng được sinh nhiều thêm, đồng thời các chất gian bào cũng tăng hơn, làm cho người ta ngày càng cao và năng) Đồng thời với quá trình biến đổi về lượng ấy, các cơ quan, tổ chức, hệ thống trong cơ thể cũng diễn ra sụ phân hoá về hình thái, dần thêm chuyên môn hóa về chức năng, tạo cho cgúng những biến hóa về chất và hoàn thiện chín muồi Đó chính là quá trình phát dục Như vậy STPD là một quá trình đồng nhất hai mặt Quá trình này cũng có nghĩa là quá trình từ lượng biến đến chất biến
Theo góc độ sinh học và y học, có thể phân quá trình này thành 8 đoạn tuổi (hình 1.1): thai nhi; trước khi ra đời; tuổi bú sữa; tuổi ấu nhi – từ 1 đến 6 – 7 tháng tuổi; tuổi nhi đồng 6,7 dến 11 – 12 tuổi; tuổi dậy thì từ 11, 12 đến 16 – 17 tuổi; tuổi thanh niên từ 17, 18 đến 23 – 25 tuổi; tuổi thành niên từ sau 25 đến trung niên; tuổi già từ sau giai đoạn trên Tốc độ sinh trưởng phát dục không phải là tăng đều, lên thẳng mà có lúc chậm, lúc nhanh, phát triển về trước cao hơn theo làn sóng khi thấp, lúc cao Xét từ góc độ và yêu cầu của công tác tuyển chọn VĐV trẻ (còn gọi