1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh

98 1,6K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 898,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài: - Đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới trồng rau ở ngoại thành thành phố, nghiên cứu ảnh hưởng của nhà lưới đến hệ sinh vật hại rau và sự sinh trưởng phát triển của

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN SỞ NÔNG NGHIỆP VÀ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CHI CỤC BẢO VỆ THỰC VẬT

BÁO CÁO NGHIỆM THU

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHÀ LƯỚI PHỤC VỤ SẢN XUẤT RAU AN TOÀN Ở NGOẠI THÀNH

TP HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: Ths Lê Minh Dũng Đơn vị chủ trì: Chi cục Bảo vệ thực vật Đơn vị quản lý: Sở Khoa học và Công nghệ

Tháng 9/2007

Trang 2

CHƯƠNG I MỤC ĐÍCH YÊU CẦU 3

CHƯƠNG II TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 4

CHƯƠNG III NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7

1 Nội dung 1 Khảo sát đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới ở

vùng trồng rau ngọai thành và nghiên cứu hệ sinh vật hại rau

trên các nhóm rau cải, rau muống, rau dền, mồng tơi, xà lách

trồng trong nhà lưới

7

2 Nội dung 2 - Nghiên cứu thiết kế và xây dựng mới mô hình nhà

lưới phục vụ sản xuất rau an toàn tại Thành phố Hồ Chí Minh

8

3 Nội dung 3: - Chuyển giao mô hình nhà lưới cải tiến 9

CHƯƠNG IV KẾT QỦA VÀ THẢO LUẬN 10

I KIỀU DÁNG THIẾT KẾ NHÀ LƯỚI TRỒNG RAU 10

1 Các mô hình nhà lưới trồng rau trên địa bàn thành phố 10

2 Khảo sát mẫu mã thiết kế nhà lưới ở các tỉnh Nam Bộ 13

3 Nhận xét về các mô hình nhà lưới trồng rau hiện nay 14

II ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ, ẨM ĐỘ TRONG NHÀ LƯỚI 17

2 Kết quả theo dõi nhiệt độ ẩm độ trong các mô hình trồng rau 18

III TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG RAU TRỒNG TRONG NHÀ

LƯỚI

21

1 Thành phần cây rau trồng trong nhà lưới 21

2 Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây rau trong nhà lưới 22

IV TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI RAU TRONG NHÀ LƯỚI 25

1 Nhận xét của nông dân về tình hình sinh vật hại rau trong nhà

lưới

25

Trang 3

2 Kết quả theo dõi sâu bệnh hại rau trong nhà lưới 26

V NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ TRỒNG RAU TRONG NHÀ

LƯỚI

36

1 Ý kiến của nông dân về hiệu quả sử dụng nhà lưới để trồng rau 36

2 Năng suất, hiệu quả trồng rau trong nhà lưới 37

VI THIẾT KẾ MÔ HÌNH NHÀ LƯỚI CẢI TIẾN 39VII ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ KỸ THUẬT TRỒNG

RAU ĂN LÁ AN TOÀN TRONG MÔ HÌNH NHÀ LƯỚI MỚI

40

1 Điều kiện nhiệt độ ẩm độ, ẩm độ 41

2 Tình hình sinh trưởng cây trồng 45

2 Phụ lục 2- Thiết kế mô hình thiết kế nhà lưới mới 75

3 Phụ lục 3- Chiếu cao các loại rau trong nhà lưới 76

5 Phụ lục 5- Hiệu quả kinh tế 83

Tài liệu tham khảo

Trang 4

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

1 Bảng 1 Diện tích các nhà lưới điều tra 10

2 Bảng 2 Thành phần cây trồng trong nhà lưới tại thành phố Hồ

17 Bảng 17 Năng suất, giá thành một số loại rau trong nhà lưới 38

18 Bảng 18 Hiệu quả sản xuất rau trong nhà lưới trong 1 năm 38

19 Bảng 19 Cường độ ánh sáng trong nhà lưới và bên ngoài ở mùa

Trang 5

28 Bảng 28 Năng suất các loại rau trồng ở các mô hình canh tác

khác nhau trong mùa mưa từ tháng 9 - 12/2006

55

29 Bảng 29 Năng suất các loại rau trồng ở các mô hình canh tác

khác nhau trong mùa khô từ tháng 3 - 6/2007

35 Bảng 35 Ước tính hiệu quả kinh tế trồng rau trong một năm

ở các mô hình canh tác trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

62

Trang 7

20 Đồ thị 15 Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7 giờ

Trang 8

Trang

1 Hình ảnh mô hình nhà lưới tỉnh Đồng Nai 89

2 Hình ảnh mô hình nhà lưới tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

3 Hình ảnh mô hình nhà lưới tỉnh Trà Vinh

4 Hình ảnh mô hình nhà lưới ở TP Hồ Chí Minh

5 Hình ảnh rau trồng trong mô hình nhà lưới mới

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Thông tin chung:

-Tên đề tài: Nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau

an toàn ở ngoại thành TP Hồ Chí Minh

- Chủ nhiệm đề tài Ths LÊ MINH DŨNG

- Cơ quan chủ trì đề tài: Chi cục Bảo vệ thực vật TP Hồ Chí Minh

- Kinh phí được duyệt: 239.550.000 đồng, trong đó:

+ Kinh phí từ Sở Khoa học Công nghệ: 200.000.000 đồng

+ Kinh phí từ Chi cục Bảo vệ thực vật: 39.550.000 đồng

- Kinh phí đã cấp: 180 triệu

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 07/ 2005 đến tháng 7/2007

2 Mục tiêu của đề tài:

- Đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới trồng rau ở ngoại thành thành phố, nghiên cứu ảnh hưởng của nhà lưới đến hệ sinh vật hại rau và sự sinh trưởng phát triển của rau trong nhà lưới để đề xuất mô hình nhà lưới để trồng rau an toàn có hiệu quả kinh tế và phù hợp với điều kiện thời tiết và trình độ canh tác của nông dân trên địa bàn Thành phố

- Là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đầu tư phát triển hệ thống nhà lưới trồng rau an toàn, góp phần mở rộng diện tích rau an toàn ở ngoại thành thành phố

3 Nội dung đề tài:

3.1 Khảo sát đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới trong sản xuất rau ở ngoại thành thành phố:

- Thống kê số lượng, kiểu mẫu nhà lưới trên địa bàn thành phố;

- Điều tra phỏng vấn 50 nông dân;

- Khảo sát nhà lưới trồng rau tại Bà Rịa- Vũng Tàu, Trà Vinh, Đồng Nai 3.2 Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, hệ sinh vật hại rau và tình hình sinh trưởng rau trồng trong nhà lưới

- Theo dõi nhiệt độ, ẩm độ, hệ sinh vật hại rau trong 9 mô hình: 3 mô hình nhà lưới kín, 3 mô hình nhà lưới hở, 3 mô hình bên ngoài

- Theo dõi tình hình sinh trưởng rau, năng suất rau trồng ở 9 mô hình: 3

mô hình nhà lưới kín, 3 mô hình nhà lưới hở, 3 mô hình bên ngoài

Trang 10

3.3 Nghiên cứu thiết kế và xây dựng 3 mô hình nhà lưới cải tiến: Củ Chi

2, Hóc Môn: 1

3.4 Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật trồng nhóm rau ăn lá an toàn trong

mô hình nhà lưới mới với 5 loại rau ăn lá rau cải, rau muống, rau dền, mồng tơi,

- Theo dõi tình hình sinh vật hại rau trên nhóm rau ăn lá trong nhà lưới

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của nhóm rau ăn lá trồng trong nhà lưới

3.5 Chuyển giao kết quả nghiên cứu mô hình Trung tâm Khuyến nông, Chi cục Bảo vệ thực vật ứng dụng mô hình thiết kế để chuyển giao cho nông dân

4 Sản phẩm đề tài:

4.1.Báo cáo hiện trạng sử dụng nhà lưới trồng rau an toàn của ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, đánh giá nhiệt độ, ẩm độ, tình hình sâu bệnh hại rau trong mô hình nhà lưới, đánh giá tình hình sinh trưởng các nhóm rau ăn lá chính trồng trong nhà lưới

4.2 Thiết kế và xây dựng 03 mô hình nhà lưới cải tiến

4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật trồng nhóm rau ăn lá an toàn trong

mô hình nhà lưới mới với 5 loại rau ăn lá: rau cải, rau muống, rau dền, mồng tơi,

xà lách

Trang 11

CHƯƠNG I MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Phát triển sản xuất rau an toàn là một trong những nhiệm vụ quan trọng của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn Những năm gần đây ngành nông nghiệp thành phố đã chỉ đạo, phối hợp cùng các sở ngành liên quan tìm giải pháp tác động, hỗ trợ phát triển sản xuất rau an toàn để phấn đấu đạt mục tiêu đến năm

2005 sẽ đạt 100% diện tích trồng rau ngoại thành cơ bản đều cho sản phẩm rau

an toàn

Trong sản xuất rau, rau ăn lá khó trồng được trong mùa mưa do điều kiện thời tiết không thuận, ngoài ra trên rau ăn lá có nhiều đối tượng sinh vật hây hại nặng Vì vậy, để có nhiều loại rau trồng, nâng cao hiệu quả và ngăn ngừa tình hình ngộ độc xảy ra trên rau ăn lá với sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hoạt động khuyến nông từ năm 2000 đã đưa mô hình nhà lưới trồng rau an toàn, chủ yếu sử dụng trồng rau ăn lá vào sản xuất song song với các biện pháp khác như chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, xúc tiến thương mại trong sản xuất rau an toàn của Thành phố

Qua thời gian sử dụng đã cho thấy các mô hình nhà lưới bước đầu có mang lại một số mặt thuận lợi như giúp phát triển được vùng sản xuất rau ăn lá chất lượng, hạn chế được côn trùng phá hại, giúp sản xuất rau ăn lá đạt hiệu quả cao Ngoài ra cũng từ các mô hình nhà lưới đầu tiên đã giúp cho bà con nông dân

tự học tập, nghiên cứu rút kinh nghiệm cải tiến phát triển hàng trăm nhà lưới mới, nhiều tỉnh bạn đã đến tham quan học tập mặt tích cực của hệ thống nhà lưới Thành phố về áp dụng Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực đó cũng còn những mặt hạn chế của các mô hình nhà lưới, quá trình triển khai nhà lưới trồng rau còn mới Vì vậy cần đánh giá rút ra được nhiều kinh nghiệm, đặc biệt những khiếm khuyết cần được có ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các mô hình nhà lưới trồng rau từ các tỉnh bạn, các hộ nông dân sản xuất giỏi có kinh nghiệm

để khẩn trương hoàn thiện thiết kế lại mô hình nhà lưới sao cho vừa tiện dụng, hiệu quả cho vùng rau của Thành phố, vừa thích hợp khả năng đầu tư của nông dân trồng rau ngoại thành

Mục đích của đề tài là:

- Đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới trồng rau ở ngoại thành, nghiên cứu ảnh hưởng của nhà lưới đến hệ sinh vật hại rau và sự sinh trưởng phát triển của rau trong nhà lưới để đề xuất mô hình nhà lưới để trồng rau an toàn có hiệu quả kinh tế và phù hợp với điều kiện thời tiết và trình độ canh tác của nông dân trên địa bàn thành phố

-Là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đầu tư phát triển hệ thống nhà lưới trồng rau an toàn, góp phần mở rộng diện tích rau an toàn ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

CHƯƠNG II TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

• Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo N.S Talekar, F.C Su, and M.Y.Lin (www: http://www.avrdc.org, 5/2003) trồng rau ăn lá rất phổ biến ở các nước châu Á, đây là cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Rau được trồng ở trên cánh đồng bình thường, nông dân thường

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại rau Tuy nhiên trong những năm gần đây, người tiêu dùng đã quan tâm đến dư lượng độc chất trong rau, đòi hỏi được cung cấp những sản phẩm an toàn Do vậy đã có nhiều biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại an toàn được áp dụng

Nông dân đã sử dụng nhà lưới để trồng rau nhằm hạn chế tác hại của sinh vật gây hại, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật Đa số nông dân dùng lưới để ngăn ngừa côn trùng với kiểu nhà lưới 1 cửa, mắt lưới lớn 1,6 mm Tuy nhiên, nông dân vẫn phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, và đôi khi mật số sâu hại còn cao hơn bên ngoài, do không xử lý đất nên nguồn sâu bệnh hại vẫn còn và một

số côn trùng có kích thước nhỏ vẫn vào được bên trong do mắt lưới lớn

Để trồng hạn chế sâu bệnh hại trong nhà lưới, thiết kế nhà lưới cần lưu ý các vấn đề:

-Xử lý đất bằng cách ngập nước

-Sử dụng lưới có mắt lưới nhỏ kích thước 0,8 mm

-Nhà lưới với cửa đúp

-Giữ nhà lưới luôn kín

-Áp dụng các biện pháp vệ sinh đồng ruộng, luân canh cây trồng

• Tình hình nghiên cứu trong nước

1 Tại thành phố Hồ Chí Minh

Từ năm 2000 đến nay đã có nhiều mô hình nhà lưới được ứng dụng trong sản xuất rau Theo kết quả điều tra của Trung tâm Khuyến nông thành phố, hiệu quả sử dụng nhà lưới trong trồng rau là tăng hệ số sử dụng đất, giảm chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và công lao động Trồng rau cải ngọt, cải xanh trong nhà lưới mang lại thu nhập cao hơn ngoài nhà lưới trên 40 triệu đồng/ ha/ năm

Hiện nay ở thành phố có các kiểu nhà lưới khác nhau

- Kiểu nhà lưới kín, kết cấu bằng sắt hoặc có trụ bê tông, có trang bị hệ thống tưới phun, sử dụng lưới có kích thước lỗ nhỏ 30 lỗ/cm2 Kiểu này có ưu điểm là khung sắt bền, hạn chế một số côn trùng gây hại, hạn chế mưa làm hư rau Tuy nhiên có hạn chế là lưới mau rách, do chiều cao thấp và lưới kín nên nhiệt độ bên trong nóng hơn

Trang 13

-Kiểu nhà lưới kín, dùng vật liệu bằng cây, lưới thưa kích thước lớn 10 lỗ/cm2 Ưu điểm là đầu tư thấp, mắt lưới thưa nên nhà lưới thoáng mát Tuy nhiên có hạn chế là phải gia cố thường xuyên

-Kiểu nhà lưới hở, kết cấu bằng khung sắt, trụ bê tông hoặc bằng cây, chỉ

có mái che, không có lưới che bên hông Ưu điểm đơn giản dễ làm, chủ yếu che mưa, che nắng, chi phí thấp.Nhưng hạn chế không ngăn được côn trùng, không

có lưới bên hông nên rau dễ bị đổ ngã khi có mưa, gió lớn

2 Ở các địa phương khác:

Phường Tân Phong, hành phố Biên Hòa (Đồng Nai) 2 năm nay có diện tích nhà lưới chuyên trồng rau tăng nhanh Bắt đầu là ông Nguyễn Vĩnh An, trú tại 93/81 44A, khu phố 8 thu đến 10 triệu đồng cho 1000 m2 rau trồng trong nhà lưới vào thời điểm sau Tết năm 2000 Trước đó, năm 1999, ông An đi tham quan nhà lưới tại Đà Lạt và về nhà ông đã tự thiết kế nhà lưới đơn giản bằng cột tre, nhưng không may cho ông, một cơn lốc đã kéo sập đổ Được sự động viên và giúp đỡ tận tình của cán bộ kỹ thuật khuyến nông, ông làm lại chắc chắn hơn, có cột bằng xi măng, khoảng cách giữa các cột được điều chỉnh phù hợp hơn nên đã qua 3 năm mà nhà lưới vẫn dùng tốt, liên tục trúng mùa, trúng giá đến nay

Khởi nghiệp sau ông An, ông Vũ Đức Hùng, khu phố 7 đã rút kinh nghiệm và đầu tư luôn một nhà lưới rộng đến 2.400 m2, với tổng chi phí 23 triệu đồng và thu được lợi nhuận, thu hồi vốn sau 1 năm Theo ông Hùng, nhà lưới hở

có tác dụng chống được dập nát do mưa to gió lớn, năng suất tăng hơn từ 20- 30% so với phương pháp che rau theo từng luống cố định mà nông dân vẫn hay làm Hiện tượng xói mòn đất giảm đi rõ rệt, đặc biệt là đất, cát không văng lên lá rau khi mưa to Vì vậy, rau trồng trong nhà lưới có chất lượng tốt, ít bị bệnh hơn trồng bên ngoài nhà lưới Năng suất rau trong nhà lưới trong mùa mưa có thể đạt

2 tấn/ 1000 m2, hiệu quả kinh tế rất cao nhờ giá thường cao hơn mùa khô 1,5-2 lần

Cũng như Biên Hòa, thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam) có diện tích nhà lưới trồng rau tăng nhanh, từ con số 0 vào năm 2000, nay đã có tới 20.000 m2 nhà lưới, trong đó có 50% có hệ thống tưới phun mưa hiện đại Quảng Ngãi mới chỉ

có 7.000 m2, nhưng sẽ phát triển nhanh trong thời gian tới khi cụm công nghiệp Dung Quất, Chu Lai hoạt động, có nhu cầu lớn về rau an toàn

Khác với 2 vùng đất mới trên, một số hộ trồng rau của Huyện Cần Giuộc (Long An) đã biết tự tạo nhà lưới cây tre đơn giản để trồng xà lách xoong từ năm

1992 và nay đã lan rộng ra, nhà lưới đã được đầu tư chắc chắn, cột bê tông, xà sắt và ngoài xà lách xoong, còn trồng nhiều loại rau ăn lá khác vào vụ nghịch Đến nay, toàn huyện đã có 250 nhà lưới, với diện tích mỗi nhà từ 1.000 – 2.500

m2 Cần Giuộc đang dần trở thành vùng rau chuyên canh rộng lớn cung cấp cho thành phố Hồ Chí Minh

Trang 14

Theo thí nghiệm của Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam tại Biên Hòa,

so sánh năng suất một số loại rau trồng trong nhà lưới và ngoài nhà lưới, năm

2003 tính cho 1000 m2/1 vụ như sau (số sau là năng suất ngoài nhà lưới): húng quế: 2,29 tấn/1,38 tấn; cải thìa: 1,82 tấn/1,09 tấn; xà lách: 2,08 tấn/1,25 tấn Đặc biệt một số rau trước đây không thể trồng vào mùa mưa như ngò rí, tần ô thì nay trồng mang lại hiệu quả cao, tần ô đạt 0,9 tấn/1000 m2/vụ và ngò rí đạt 0,67 tấn/1000 m2/vụ

TS Ngô Quang Vinh, Trưởng phòng cây thực phẩm Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam cho biết, ông đã giới thiệu một số mẫu nhà lưới, kể cả mẫu của nước ngoài để các địa phương và người trồng rau tự đánh giá và lựa chọn Với bản chất thông minh, sáng tạo, nông dân chúng ta đã có những cải tiến đáng kể

Ví dụ như dùng dây thép kéo căng thay cho xà sắt nhờ đó chi phí đầu tư thấp hơn nhưng không kém phần chắc chắn

Nhà lưới kín, hở

Hiện có 2 loại nhà lưới, loại kín có lưới ngăn hoàn toàn cả phía trên mái

và xung quanh, loại hở – lưới không che kín hoàn toàn mà hở toàn phần hay bán phần xung quanh Tùy theo mục đích và điều kiện cụ thể mà lựa chọn phù hợp

Về chi phí đầu tư, 1000 m2 nhà lưới hiện nay vào khoảng 7-8 triệu đồng, nếu thêm hệ thống tưới phun mưa vào khoảng 10-11 triệu đồng

Theo khuyến cáo của TS Ngô Quang Vinh, việc lựa chọn nhà lưới kín hay hở tùy thuộc vào mục đích nào được ưu tiên: chọn nhà lưới kín khi ưu tiên là ngăn ngừa côn trùng Chọn nhà lưới hở khi ưu tiên là hạn chế tác hại của mưa Nếu muốn dung hòa 2 mục đích trên cần nghiên cứu mẫu nhà lưới hở một phần mái

Trồng rau an toàn, được đầu tư tốt, nông dân có kinh nghiệm thì nên dùng nhà lưới kín Trồng rau mùa mưa, rau thường, đầu tư vừa phải, nông dân chưa có kinh nghiệm nên dùng nhà lưới hở Nhà lưới màu trắng thường nóng hơn nhà lưới màu đen, nhà lưới kín thường nóng hơn nhà lưới hở, nhưng có thể làm mát bằng việc tưới phun mưa (tự động)

Trang 15

CHƯƠNG III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nội dung 1- Khảo sát đánh giá hiện trạng sử dụng nhà lưới ở vùng trồng rau ngọai thành và nghiên cứu hệ sinh vật hại rau trên các nhóm rau cải, rau muống, rau dền, mồng tơi, xà lách trồng trong nhà lưới

Nội dung 1.1- Điều tra hiện trạng tình hình sử dụng nhà lưới trồng rau ở ngoại thành thành phố

a- Nội dung: Thống kê số lượng và các kiểu nhà lưới hiện có trên địa bàn theo quận huyện hiện đang sử dụng hiện nay:

+ Mẫu mã thiết kế, vật liệu sử dụng, thời gian sử dụng vật liệu (độ bền) + Chủng loại rau trong nhà lưới của các hộ nông dân,

- Điều tra nông dân sử dụng nhà lưới về những ưu điểm và khuyết điểm của hệ thống nhà lưới đang sử dụng

- Khảo sát mẫu mã thiết kế và hiệu quả sử dụng nhà lưới ở các tỉnh Nam

Bộ

b- Thời gian thực hiện: 3 tháng

c- Địa điểm: tại các huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, khảo sát nhà lưới một số tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai

d- Qui mô thực hiện:

- Thống kê số lượng: toàn thành phố

- Điều tra hộ mẫu: 50 hộ, mẫu phiếu điều tra theo phụ lục đính kèm

Phương pháp: Dựa vào số liệu thứ cấp theo báo cáo kết hợp khảo sát thực địa, điều tra phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên nông dân theo phiếu điều tra chuẩn

bị trước

- Khảo sát các tỉnh: 3 tỉnh

Nội dung 1.2- Nghiên cứu điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, hệ sinh vật hại rau, sinh vật có ích chính và tình hình sinh trưởng một số nhóm rau chính trồng trong nhà lưới

a- Nội dung: Do điều kiện bao lưới và trồng rau liên tục nên bên trong nhà lưới hình thành một hệ sinh thái khác so với ngoài đồng ruộng: Sự sinh trưởng, phát triển của cây rau; mức độ sâu bệnh xuất hiện trong nhà lưới cũng khác so với ngoài đồng ruộng Do vậy cần đánh giá tình hình sinh trưởng, tình hình sâu

bệnh của các kiểu nhà lưới so với bên ngoài Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm:

- Theo dõi diễn biến nhiệt độ, độ ẩm không khí trong và ngoài nhà lưới

- Đánh giá tình hình sinh trưởng của các nhóm rau cải, rau muống, rau

dền, mồng tơi, xà lách rau trong nhà lưới: năng suất, chất lượng

Trang 16

- Theo dõi sinh vật hại rau: Thành phần sinh vật hại, sự phát sinh phát triển của sinh vật hại rau và một số sinh vật có ích chính trong nhà lưới so với bên ngoài

- Đánh giá hiệu quả kinh tế trong sản xuất rau trong nhà lưới

b- Thời gian thực hiện: 12 tháng

c- Địa điểm: Huyện Củ Chi

d- Qui mô thực hiện: 9 điểm, gồm có nhà lưới kín: 3, nhà lưới hở: 3, ruộng bên ngoài: 3

Nội dung 2- Nghiên cứu thiết kế và xây dựng mới mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn tại Thành phố Hồ Chí Minh

Nội dung 2.1-Thiết kế và xây dựng mô hình nhà lưới mới

a- Nội dung:

Trên cơ sở đánh giá lại hiện trạng sử dụng và lấy ý kiến người dân, kết hợp với việc theo dõi ảnh hưởng của nhà lưới đến sinh trưởng phát triển của cây rau đề xuất cải tiến và thiết kế 3 kiểu nhà lưới kín : kiểu mẫu, vật liệu

b- Thời gian thực hiện: 3 tháng

c- Địa điểm: Huyện Củ Chi, Hóc Môn

d- Qui mô thực hiện:

- Số lượng nhà lưới: 03

Diện tích nhà lưới: 500 m2

Nội dung 2.2-Đánh giá hiệu quả mô hình thiết kế nhà lưới cải tiến

a- Nội dung:

- Theo dõi nhiệt độ, độ ẩm không khí, cường độ chiếu sáng…

- Đánh giá về mặt sinh trưởng và năng suất rau mùa mưa và mùa khô

- Theo dõi tình hình sinh vật hại rau trên nhóm rau ăn lá trong nhà lưới

- Đánh giá hiệu quả kinh tế của nhóm rau ăn lá trong mùa mưa, mùa khô b- Thời gian thực hiện: 12 tháng

c- Địa điểm: huyện Củ Chi, Hóc Môn

d-Qui mô: Bố trí 05 thí nghiệm với 5 loại rau ăn lá rau cải, rau muống, rau dền, mồng tơi, xà lách

Thí nghiệm được bố trí kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên (RBCD), với 4 nghiệm thức:

- NT1 : nhà lưới 1 (lưới màu trắng, lưới bên hông lỗ dày)

Trang 17

- NT2 : nhà lưới 2 (lưới màu trắng, lưới bên hông lỗ dày)

- NT3 : nhà lưới 3 (lưới màu trắng , lưới bên hông lỗ thưa)

- NT4: ngoài nhà lưới (đối chứng),

Diện tích ô : 50m2

-Thí nghiệm tiến hành 6 lần lặp lại - mỗi lần lặp lại là 1 lứa rau

Nội dung 3- Chuyển giao mô hình nhà lưới cải tiến

Tổ chức hội thảo đầu bờ lấy ý kiến người nông dân sử dụng, nhà quản lý

và các nhà khoa học

a- Nội dung

Sau khi thực hiện có kết quả bước đầu trong mô hình nhà lưới mới, tiến hành hội thảo lấy ý kiến của người sử dụng, của người thiết kế và nhà quản lý

Từ đó hoàn chỉnh mô hình và đưa ra những kết luận khuyến cáo phù hợp

Tổ chức hội thảo đầu bờ

b- Thời gian thực hiện: 2 ngày

c- Địa điểm: huyện Củ Chi

d- Qui mô: 70 người

Chuyển giao mô hình: Chuyển giao kết quả nghiên cứu cho Trung tâm NCKHKT và khuyến nông, Chi cục BVTV và cho nông dân

Trang 18

CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

I KIỀU DÁNG THIẾT KẾ NHÀ LƯỚI TRỒNG RAU

1 Các mô hình nhà lưới trồng rau trên địa bàn thành phố:

1.1 Diện tích, qui mô nhà lưới trồng rau:

Theo kết quả điều tra năm 2006 của Trung tâm Khuyến nông, tổng số nhà lưới trên địa bàn có 526 nhà lưới với tổng diện tích là 85,5 ha, trong đó ở huyện Hóc Môn có 189 nhà lưới, Củ Chi có 40 nhà lưới, Quận 12 có 297 nhà lưới Qui

mô, kích cỡ nhà lưới như sau:

Bảng 1 Diện tích các nhà lưới điều tra

Diện tích nhà lưới (m2) STT Quận, huyện Số nhà lưới

- Nhà lưới có diện tích nhỏ hơn 500 m2: có 9/152 nhà lưới, tỉ lệ 5,9 %

- Nhà lưới có diện tích từ 500 -1000 m2: có 32/152 nhà lưới, tỉ lệ 21,1 %

- Nhà lưới có diện tích >1000 m2: có 111/152 nhà lưới , tỉ lệ 73 %

Kết quả điều tra của Trung tâm Khuyến nông cũng cho thấy, nông dân sử dụng nhiều loại vật liệu nhà lưới khác nhau để làm nhà lưới tùy theo khả năng đầu tư

- Đối với trụ cột bằng tre gỗ có 90/152 nhà lưới chiếm 59,2 %, bằng cột bê-tông, sắt có 62/152 nhà lưới chiếm 40,8 % Tuy nhiên khung dàn làm bằng tre, gỗ có 45 cái chiếm 29,6 %, làm bằng sắt có 107 cái chiếm 70,4 %

- Có 86,2 % nông dân sử dụng chọn lưới có màu trắng, chỉ có 13,8 % nông dân chọn lưới màu đen

Qua kết quả trên cho thấy, do yêu cầu của sản xuất và hiệu quả của nhà lưới trồng các loại rau ăn lá nhất là sản xuất trong mùa mưa, nông dân ngày càng quan tâm đến mô hình nhà lưới, ngoài sự đầu tư hỗ trợ của chương trình khuyến nông, nông dân cũng tự đầu tư xây dựng các nhà lưới để chủ động sản xuất

1.2 Kiểu dáng, thiết kế mô hình nhà lưới:

Trang 19

a Nhà lưới kín, cột trụ bằng sắt, cây bằng ngang bằng tre, tầm vông:

Đầu năm 2000 - 2001 từ 17 mô hình nhà lưới đầu tiên của phòng Nông nghiệp huyện Hóc Môn đầu tư cho các hộ dân, sau đó được sự chỉ đạo của Sở Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Khuyến nông đã xây dựng các mô hình nhà lưới trồng rau ăn lá ở Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn đến năm 2002 được 27 cái, trong đó số lượng nhà lưới ở Bình Chánh 1, Hóc Môn 13, Củ Chi 13 Ðặc điểm của mô hình nhà lưới này như sau:

- Mô hình nhà lưới có diện tính bình quân 500 m2, cao từ 2- 2,5m

- Cột trụ bằng sắt, dàn khung ngang bằng tre, tầm vông Trong số nhà lưới này thì sau này có một số nhà lưới có kết cấu cột trụ bằng xi-măng để được chắc chắn hơn

- Lưới phủ kín toàn bộ, lưới sản xuất trong nước, mắt lưới nhỏ 32 lỗ/cm2

b Nhà lưới kín (hoặc có khe hở trên mái), kết cấu bằng sắt toàn bộ:

Năm 2003, Trung tâm Khuyến nông đã đưa ra mô hình nhà lưới cải tiến theo mẫu thống nhất gồm 2 kiểu, kiểu phủ lưới kín toàn bộ và kiểu 2 mái có khe

hở thông gió trên mái Tổng số 40 cái, trong đó Củ Chi: 32, Bình Chánh: 5, Quận 12: 2, Thủ Đức: 1 Ðặc điểm của nhà lưới này như sau:

- Mô hình nhà lưới có diện tính bình quân 500 m2, độ cao cột bên hông là

2 m, cột giữa 2,7 m

- Cả 2 kiểu đều kết cấu cột và khung bằng sắt toàn bộ

- Tuy nhiên vấn đề lưới vẫn sử dụng lưới dệt thường trong nước để hạ giá thành đầu tư lưới phủ kín toàn bộ, mắt lưới nhỏ 32 lỗ/cm2

c Nhà lưới hở, khung sắt cột trụ xi măng chỉ che lưới trên mái:

Do khí hậu nắng nóng, mưa nhiều, đôi lúc có gió mạnh ở vùng Củ Chi, đặc biệt là những khu vực đồng trống, người trồng rau đã đưa vào sử dụng dạng nhà lưới hở với đặc điểm:

- Diện tích nhà lưới từ 200 -1000 m2, độ cao của nhà lưới từ 2- 2,5 m

- Có trụ bằng bê tông, hoặc sắt, khung sắt

- Chỉ che lưới mái trên, bên hông để trống, lưới lỗ thưa (9 lỗ/cm2), vẫn dùng loại lưới sản xuất trong nước

d Nhà lưới giản đơn, khung bằng tre, cừ tràm:

Hiện nay, ở một số phường như Tân Thới Hiệp, Thới An, Hiệp Thành thuộc Quận 12, và xã Đông Xuân, Thới Tam Thôn thuộc huyện Hóc Môn…hình thành nhiều khu nhà lưới trồng rau dạng rất đơn giản do dân tự mua vật tư và tự làm Đặc điểm:

- Diện tích mô hình này là nhà lưới rộng từ 1.000 m2 trở lên, trong đó có thể sở hữu của nhiều hộ, chiều cao nhà lưới từ 2- 3 m

Trang 20

- Khung nhà lưới hoàn toàn bằng cây gỗ tràm, cừ

- Đa số lưới phủ kín hết cả trên mái và xung quanh, dùng lưới mắt lớn 9 lỗ/cm2, sử dụng lưới sản xuất trong nước

1.3 Đánh giá của nông dân về mô hình nhà lưới:

Chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn 50 nông dân theo mẫu phiếu câu hỏi sẵn, kết quả cho thấy:

Diện tích nhà lưới trung bình là 1.380 m2/hộ, trong đó diện tích nhà lưới nhỏ hơn 1000 m2 là 18/50, từ 2000 m2 có 12/50, như vậy nông dân có xu hướng nhà lưới mới làm rộng hơn Chiều cao nhà lưới nhìn chung còn thấp, chiều cao trung bình từ 2,2 –2,5 m, đa số làm mái phẳng

Nông dân xây dựng nhà lưới với kiểu dáng, vật liệu khác nhau, tùy theo nhận thức của nông dân về mục đích xây dựng nhà lưới, khả năng kinh phí đầu

tư của nông dân

Kết quả điều tra cho thấy có 23/50 hộ xây dựng nhà lưới kín có lưới che trên mái và xung quanh, và 27/50 nông dân sử dụng kiểu nhà lưới hở chỉ có lưới che trên mái, không có lưới che xung quanh Đối với nông dân xây dựng nhà lưới kín cho rằng xây dựng nhà lưới kín sẽ hạn chế được sinh vật hại, hạn chế được tác hại của mưa, gió đến sinh trưởng của cây rau Đối với những người nông dân xây dựng nhà lưới hở thì cho rằng nhà lưới hở sẽ thoáng mát hơn, do vậy năng suất rau không bị giảm đặc biệt trong mùa khô, thời tiết nóng

- Về màu sắc lưới, đa số nông dân sử dụng lưới màu trắng: có 41/50 nông dân sử dụng lưới màu trắng, do nông dân thấy rằng trồng rau trong nhà lưới màu trắng không bị giảm năng suất do đủ ánh sáng cho sự sinh trưởng phát triển của rau Do giá lưới sản xuất ở nước ngoài cao, vì vậy 100% nông dân sử dụng lưới được dệt tại trong nước do giá cả rẻ Tuy nhiên, qua điều tra cho thấy độ bền của lưới dệt trong nước cũng khác nhau tùy theo chủng loại, đặc biệt có những loại lưới chất lượng rất kém, có 17/50 nhà lưới có độ bền dưới 6 tháng, nhưng cũng

có 29/50 nhà lưới có độ bền trên 1 năm Theo nông dân, độ bền của lưới còn phụ thuộc vào kỹ thuật làm giàn mái, nếu không chắc chắn dễ bị rách do gió lớn

- Tùy thuộc vào khả năng đầu tư nên vật liệu làm nhà lưới cũng khác nhau Chỉ có 23/50 nhà lưới dùng có trụ tương đối chắc chắn bằng sắt hoặc đổ bê tông, trong đó có 16/50 nhà lưới sử dụng trụ bằng sắt , 7/50 dùng trụ bê tông Đa

số nông dân “nhập cư” sử dụng cột tre làm trụ (27/50 nhà lưới), nguyên nhân do vốn ít, làm nhà lưới với mục đích che mưa, che nắng, và do thời gian nông dân thuê ruộng cũng trong thời gian ngắn Trong 50 nhà lưới điều tra, chúng tôi cũng nhận thấy chỉ có 13 nhà lưới có dàn mái làm bằng khung sắt, còn lại bằng tre, dây kẽm Do vậy độ bền của nhà lưới cũng thấp, đặc biệt có 9 nhà lưới độ bền của các trụ chỉ dưới 1 năm, có nghĩa sau một năm trồng rau nông dân phải sửa chữa lại Như vậy qua điều tra chúng tôi thấy chỉ có 13 (26%) nhà lưới là được đầu tư sử dụng vật liệu chắc chắn có độ bền chắc lâu hơn

Trang 21

- Nông dân cũng có sử dụng hệ thống tưới phun để giảm công lao động, kết quả điều tra cho thấy có 19/50 hộ có sử dụng hệ thống tưới phun Tuy nhiên, nông dân cũng gặp khó khăn khi sử sụng hệ thống tưới phun như bị tắc nước, nước tưới không đều Ngoài ra một số nông dân áp dụng bón phân qua hệ thống tưới không đúng chủng loại phân, do vậy phân bón không tan hết gây hiện tượng tắc nghẽn đường ống và béc phun

Nông dân đề nghị nghiên cứu cải tiến về kiểu dáng, kích thước nhà lưới như sau:

- 42/50 nông dân đề nghị tăng chiều cao của nhà lưới, trong đó hầu hết đề nghị nhà lưới phải có chiều cao tối thiểu là từ 2,5 –2,7 m

- Có 35/50 nông dân đề nghị nghiên cứu cải tiến các trụ của nhà lưới để bền hơn, chắc chắn hơn

- Có 34/50 nông dân đề nghị nghiên cứu cải tiến dàn che mái, đảm bảo vừa chắc chắn vừa có chi phí phù hợp

2 Khảo sát mẫu mã thiết kế nhà lưới ở các tỉnh Nam Bộ:

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát mẫu mã thiết kế và hiệu quả sử dụng nhà lưới trong trồng rau ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Trà Vinh Kết quả khảo sát như sau:

2.1 Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Mô hình trồng rau nhà lưới bắt đầu từ năm 2000, đến năm 2003, có 03 nhà lưới với diện tích 7.500 m2 Đến nay diện tích nhà lưới của tỉnh đã 19,5969 ha

Có cả mô hình nhà lưới kín và mô hình nhà lưới hở

Kiểu dáng nhà lưới: Ban đầu có trụ sắt, trụ gỗ chủ yếu là cột trụ bê tông làm khung và dây kẽm đan néo đỡ lưới, chiều cao trung bình nhà lưới 2,5 m

Diện tích mô hình giới hạn nhỏ nhất trên 500 m2

2.2 Tỉnh Đồng Nai:

Hàng năm diện tích gieo trồng rau của TP- Biên Hoà khoảng 3.000 ha trong đó diện tích rau ăn lá chiếm 2/3 tổng diện tích trên Xuất phát từ hiệu quả kinh tế cao trong sản xuất rau mùa mưa cho nên những năm gần đây nông dân đã dùng nhiều biện pháp che chắn cho rau bao gồm các biện pháp sau:

- Che chắn rau theo luống không cố định

- Che chắn theo luống cố định

- Mô hình nhà lưới hở

- Mô hình nhà lưới kín

Mô hình nhà lưới hở và nhà lưới kín được đánh giá là hiệu quả nhất hiện nay ở Đồng Nai Chiều cao của mô hình nhà lưới nơi thấp nhất khoảng 2m càng

Trang 22

cao thì càng thoáng và dễ thao tác trong sản xuất như cuốc đất, tưới….Lưới để lợp khoảng 4 mm loại lưới này thoáng dễ trao đổi khí trong và ngoài nhà lưới, ngăn cản các loại bướm đẻ trứng trong vườn rau Mặc khác loại lưới này bền hơn các loại lưới khác có thời gian sử dụng 2-3 năm Sau 2- 3 năm thì mới thay lưới

và dây kẽm còn trụ sắt thì thời gian sử dụng còn dài hơn

Hiện nay có đến 70% trên 38 ha diện tích đất trồng rau ăn lá tại phường Tân Phong sử dụng nhà lưới Đúc kết kinh nghiệm từ các mô hình nhà lưới từ 3 năm qua nên hiện nay nhiều nhà lưới được xây dựng ngày càng kiên cố hơn, đẹp hơn thoáng hơn trước kia

3 Nhận xét về các mô hình nhà lưới trồng rau hiện nay:

Mô hình sử dụng nhà lưới trồng rau có hiệu quả trong thời gian qua, do vậy diện tích nhà lưới đã tăng lên Tuy nhiên, chúng tôi thấy các mô hình nhà lưới hiện nay có các ưu, nhược điểm như sau:

3.1 Kiểu dáng nhà lưới:

Hiện nay mô hình nhà lưới trồng rau có 2 dạng chính là nhà lưới kín: lưới phủ kín hoàn toàn cả trên mái và xung quanh, và dạng nhà lưới hở: chỉ che lưới trên mái, không có lưới che còn xung quanh

3.1.1 Đối với mô hình nhà lưới kín:

a Ưu điểm:

- Hạn chế được côn trùng phá hại trong thời gian đầu

- Hạn chế được mưa làm hư rau, giảm được nắng trong mùa khô giúp rau sinh trưởng tốt hơn

Trang 23

- Đơn giản dễ làm, do không cần cao nên giảm được vật liệu, giảm chi phí

- Thoáng mát hơn so với nhà lưới kín

b Nhược điểm sau:

- Không ngăn được côn trùng phá hại, thành phần mật số sinh vật hại tương tự như trồng ngoài nhà lưới nên người trồng dễ sử dụng thuốc không đảm bảo an toàn nếu không được kiểm tra giám sát kỹ

- Không có lưới hông thì khi có mưa gió lớn dễ làm rau bị đỗ ngã hư hỏng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng rau do mưa tạt, gió mạnh

3.2 Kích thước nhà lưới:

3.2.1 Diện tích:

Diện tích trung bình từ 500 -2000 m2 Diện tích các nhà lưới ở thành phố nếu được đầu tư hỗ trợ kinh phí trước đây đa số nhỏ khoảng 500 m2 Tuy nhiên, các nhà lưới do nông dân đầu tư hiện nay có kích thước lớn hơn từ 1000 -2000

m2, những nhà lưới lớn hơn 2000 m2 là do nhiều nông dân cùng chung vốn đầu

tư nhưng lại sử dụng các vật liệu mau hỏng như cừ tràm Điều này do nông dân nhận thấy rằng nhà lưới làm theo kiểu dáng cũ thấp, không thoáng do vậy cần làm rộng hơn để đảm bảo thoáng mát, mặt khác việc trồng rau trong nhà lưới có hiệu quả nên nông dân tiếp tục đầu tư nhà lưới lớn hơn

Đa số nhà lưới hiện nay nếu đầu tư chắc chắn, khung cột bằng sắt hoặc bê tông là những nhà lưới nhỏ, diện tích 500 m2 lại che lưới toàn bộ để tránh côn trùng, nên hạn chế sự thoáng mát trong nhà lưới so với nhà lưới kích thước lớn

và nhà lưới hở xung quanh

Hiện nay, nhà lưới trồng rau được xây dựng với nhiều vật liệu khác nhau:

- Các cột bằng bê tông, dàn che bằng sắt hoặc nông dân dùng dây kẽm, hoặc bằng tre, cừ tràm để giảm chi phí Tuy nhiên một số nhà lưới dù làm bằng trụ bê tông nhưng đổ móng không chắc chắn dẫn đến nghiêng đổ do không chịu đựng được gió lớn Việc thiết kế trụ cột bằng bê tông mái chỉ dùng dây kẽm đòi

Trang 24

hỏi làm cột dày hơn với khoảng cách 6 x 3 m, sẽ làm tăng chi phí cột ngoài ra gây khó khăn nếu áp dụng cơ giới hoá máy cày xới trong nhà lưới

- Bộ khung cột hoàn toàn bằng sắt sẽ chắc chắn hơn, tuy nhiên kích cỡ các cột sắt không giống nhau, sử dụng các cột sắt nhỏ thì nhà lưới không chống chịu được với gió Một vấn đề khác, nếu sử dụng sơn không tốt sẽ làm cột sắt nhanh

gỉ, hư hỏng

- Khung nhà lưới kết cấu bằng tre, tầm vông chủ yếu được nông dân “nhập cư” thuê ruộng sử dụng Chi phí giá thành thấp, tuy nhiên nhà lưới nhanh bị hư hỏng đổ ngã, phải sửa chữa thường xuyên Mặt khác cây làm khung nhà nhanh

hư hỏng và mỗi lần tu sữa rất khó vì ảnh hưởng đến rau đang trồng

3.3.2 Lưới:

Hiện nay, nông dân chủ yếu sử dụng lưới được dệt ở trong nước Do nhà lưới thấp nóng nên lưới mau lủng, rách, cụ thể những nhà lưới nào nằm ở vị trí nắng gắt, gió nhiều thì chỉ sử dụng được 8-10 tháng và đặc biệt là thường lưới bắt đầu rách từ nơi tiếp xúc trực tiếp giữa lưới và khung sắt do tiếp xúc nhiệt độ cao hơn Ðối với những nhà lưới nằm ở vị trí kín gió như một số hộ ở trong khu dân cư của ấp Ðình – xã Tân Phú Trung thì sử dụng được từ 12-18 tháng, đặc biệt là kết hợp với nhà lưới hở mái thì lưới có tuổi thọ cao hơn

Sử dụng lưới lỗ nhỏ làm nhiệt độ trong nhà lưới nóng và lưới mau lủng rách hơn do cản gió nhiều hơn Do vậy hiện nay đa số lưới có kích thước mắt lưới lớn 9 lỗ/cm2, tuy nhiên với lưới có kích thước mắt lưới lớn sẽ không giảm được mưa và không hạn chế được côn trùng gây hại có kích thước nhỏ

3.4 Hệ thống tưới:

Một số nhà lưới có hệ thống tưới, có ưu điểm đối với những mô hình trồng

và thu hoạch cùng thời điểm trong nhà lưới, giảm chi phí nhân công và làm mát nhà lưới nhưng không phù hợp với việc trồng nhiều đợt rau trong cùng một nhà lưới vì có lúc cần phơi đất 1 vài liếp để khô ráo thì bị ảnh hưởng, ngoài ra bép phun có lỗ nhỏ, lượng nước tưới phun ra không nhiều nên chỉ phù hợp với mùa mưa hay vị trí nhà lưới nơi đất thấp; còn đất gò cao, mùa nắng gắt do lượng nước tưới phun yếu nên thời gian tưới dài, hao phí điện nhiều

Nhận xét chung:

Kiểu dáng, qui mô kích cỡ nhà lưới hiện nay đa dạng, tùy thuộc mục đích

sử dụng, khả năng đầu tư, nông dân có thể xây dựng nhà lưới kín hay nhà lưới

hở Tuy nhiên chưa có thiết kế cụ thể về kích thước nhà lưới, kiểu dáng nhà lưới

Do vậy để nhà lưới sử dụng trồng rau có hiệu quả cao hơn, cần thiết kế nhà lưới khắc phục được tuy nhiên các nhược điểm của các mô hình nhà lưới hiện nay là:

Trang 25

- Trụ cột nhà lưới chưa có mô hình kích cỡ, khoảng cách trụ cột hợp lý, làm móng chưa chắc chắn, do vậy làm tăng chi phí, hoặc nếu trụ cột dày sẽ gây khó khăn khi áp dụng cơ giới hóa trong nhà lưới

- Khung, dàn mái nhà lưới sử dụng vật liệu khác nhau, một số nhà lưới sử dụng loại vật liệu sử dụng giá trị thấp nên mau hư hỏng, phải sửa chữa tốn công,

do vậy cần tính toán dàn khung chắc chắn với chi phí thấp

- Nhà lưới chưa thoáng mát, nhiệt độ trong nhà lưới cao hơn bên ngoài kể

cả nhà lưới hở do nhà lưới thấp, hoặc sử dụng lưới phủ kín kín với mắt lưới nhỏ

30 lỗ/cm2 Cần thiết kế nhà lưới với chiều cao hợp lý, đảm bảo độ thông thoáng giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt

- Để giảm giá thành nhà lưới, nông dân thường sử dụng lưới được dệt trong nước do vậy mau hỏng, mặt khác để nhà lưới thoáng hơn, nông dân sử dụng mắt lưới lớn 9 lỗ/cm2 nên không có tác dụng ngăn ngừa côn trùng Do đó cần tính toán sử dụng lưới với chi phí hợp lý, nhưng đảm bảo dược độ bền

II ĐIỀU KIỆN NHIỆT ĐỘ, ẨM ĐỘ TRONG NHÀ LƯỚI

1 Kết quả điều tra nông dân:

Qua kết quả điều tra nông dân cho thấy có 25 /50 (50%) nông dân cho rằng trong nhà lưới nhiệt độ nóng hơn do vậy làm giảm năng suất rau, 26/50 (52%) nông dân cho rằng trong nhà lưới độ ẩm cao hơn so với bên ngoài

Theo đánh giá của nông dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu mô hình nhà lưới có diện tích nhỏ nếu làm nhà lưới kín thì nhiệt độ trong nhà lưới trong mùa nắng cao hơn làm giảm năng suất một số loại rau như hành, ngò, rí

Còn theo ý kiến nông dân Đồng Nai cho rằng trong nhà lưới trong mùa mưa nóng ẩn có thể ảnh hưởng đến tình hình sâu bệnh trong nhà lưới Tuy nhiên khi nhà lưới hở thì độ ẩm và nhiệt độ không chênh lệch nhiều giữa bên trong và ngoài nhà lưới nên ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây rau

2 Kết quả theo dõi nhiệt độ ẩm độ trong các mô hình trồng rau khác nhau:

Chúng tôi đã tiến hành theo dõi ghi nhận nhiệt độ, ẩm độ 03 mô hình trong nhà lưới, ngoài nhà lưới, nhà lưới hở, mỗi mô hình 3 điểm tại Củ Chi và Hóc Môn, ghi nhận nhiệt độ và ẩm độ hàng ngày vào các thời điểm 7 giờ sáng,

12 giờ và 15 giờ, kết quả như sau:

1.1 Nhiệt độ:

Trang 26

20 22 24 26 28 30 32

Đồ thị 1 Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7 giờ

từ tháng 9/2005 - 6/2006 Qua kết quả tại đồ thị 1 cho thấy, nhiệt độ trung bình khoảng từ 22- 260C, tuy nhiên vào tháng 5, tháng 6 nhiệt độ bên ngoài nhà lưới tương đối cao khoảng

28 - 300C Nhìn chung vào thời điểm 7 giờ sáng, nhiệt độ giữa các mô hình bên trong, bên ngoài và nhà lưới hở không có sự sai khác đáng kể Tuy nhiên vào giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2006 chúng tôi lại ghi nhận có sự chênh lệch, nhiệt độ ở bên ngoài nhà lưới cao hơn từ 1- 20C Điều này có thể do trong nhà lưới vào sáng sớm ẩm độ trong nhà lưới cao hơn và do trong nhà lưới che mát nên làm cho nhiệt độ thấp hơn bên ngoài

Đồ thị 2 Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 12 giờ

từ tháng 9/2005 -6/2006

Nhìn chung, nhiệt độ vào thời điểm 12 giờ trưa rất cao, đây là thời điểm cao nhất trong ngày Vào mùa mưa nhiệt độ từ 31 -330C, mùa khô nhiệt độ cao hơn từ 34 -350C Nhiệt độ bên trong nhà lưới luôn luôn cao hơn bên ngoài nhà lưới từ 1- 2,50C , đặc biệt nhiệt độ bên trong nhà lưới ở mùa khô từ tháng 2 –

Trang 27

tháng 3 cao hơn bền ngoài từ 2- 2,50C Nhiệt độ trong nhà lưới hở (có mái che bên trên nhưng xung quanh không có lưới che) mặc dù nhiệt độ có thấp hơn nhà lưới kín, tuy nhiên vẫn cao hơn bên ngoài khoảng 0,5 – 10C do tác động của lưới che giữ nhiệt độ

Đồ thị 3 Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ

từ tháng 9/2005 - 6/2006 Qua kết quả đồ thị 3 cho thấy, vào thời điểm 15 giờ nhiệt độ vẫn còn rất cao từ 29 -350C, ở các tháng mùa mưa nhiệt độ từ 31 -330C, tháng mùa khô nhiệt

độ cao hơn từ 34 -350C Nhiệt độ bên trong nhà lưới cao hơn bên ngoài nhà lưới

từ 1- 2,00C Nhưng cũng có những tháng như tháng 11, tháng 4,5 nhiệt độ bên trong và bên ngoài nhà lưới không có sự chênh lệch nhiều, theo chúng tôi vào thời điểm 15 giờ, trong điều kiện thời tiết có mưa, hoặc gió nhiều thì nhiệt độ bên trong và ngoài nhà lưới sẽ không có sự khác biệt lớn Kết quả theo dõi cũng ghi nhận nhiệt độ ở nhà lưới hở cũng cao hơn bên ngoài nhà lưới

Tóm lại, nhiệt độ vào thời điểm 12 giờ trưa rất cao, đây là thời điểm cao nhất trong ngày, nhiệt độ bên trong nhà lưới ở mùa khô từ tháng 2 – tháng 3 cao hơn bên ngoài từ 2- 2,50C Nhiệt độ trong nhà lưới hở có thấp hơn nhà lưới kín, tuy nhiên vẫn cao hơn bên ngoài khoảng 0,5 – 10C do tác động của lưới che giữ nhiệt độ

Trang 28

chỉ đạt từ 80 -82 %, trong khi bên trong nhà lưới đạt 90 -92 % Ngoài ra thời điểm này nông dân thường chưa tưới nước, do vậy ẩm độ thấp

60 65 70 75 80 85 90 95 100

Đồ thị 4 Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7 giờ

từ tháng 9/2005 -6/2006

50 55 60 65 70 75

Đồ thị 5 Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 12 giờ

từ tháng 9/2005 -6/2006

Do nhiệt độ vào lúc 12 giờ trưa rất cao, do vậy ẩm độ thời điểm này rất thấp khoảng từ 50 -70 %, từ tháng 9- 11/2005 ẩm độ đạt 60 -70 %, nhưng vào mùa khô ẩm độ thời điểm này giảm dần từ tháng 12 - tháng 5 năm sau chỉ đạt từ

50 - 60% Ẩm độ trong nhà lưới luôn luôn thấp hơn bên ngoài nhà lưới trung bình từ 3 - 8 % Ẩm độ trong nhà lưới hở, mặc dù có cao hơn nhà lưới kín nhưng vẫn thấp hơn bên ngoài nhà lưới từ 1- 3 % Đây là vấn đề cần quan tâm do ẩm độ

sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây rau, đồng thời ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh vật hại rau

Trang 29

50 55 60 65 70 75 80

Đồ thị 6 Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ

từ tháng 9/2005 -6/2006 Qua kết quả ở đồ thị 6, cho thấy ẩm độ thời điểm 15 giờ có cao hơn so với lúc 12 giờ, tuy nhiên vẫn thấp hơn nhiều so với thời điểm 7 giờ sáng, do nhiệt độ cao Ẩm độ bên trong nhà lưới vẫn luôn thấp hơn so với bên ngoài nhà lưới từ 2 – 7 % do nhiệt độ cao làm khả năng bốc hơi nước cao

3 Nhận xét chung:

Đối với các mô hình nhà lưới nêu trên, vào lúc sáng sớm 7 giờ nhiệt độ bên trong nhà lưới so với bên ngoài không có sự khác biệt nhiều, nhưng khi trời nắng nhiệt độ bên trong nhà lưới luôn luôn cao hơn bên ngoài nhà lưới từ 2- 30C,

kể cả nhà lưới hở nhưng nhiệt độ bên trong vẫn cao hơn bên ngoài từ 1- 20C

Vào sáng sớm, ẩm độ bên trong nhà lưới cao hơn so với bên ngoài, tuy nhiên ở thời điểm buổi trưa và buổi chiều ẩm độ bên trong nhà lưới luôn thấp hơn bên ngoài từ 5- 8%

III TÌNH HÌNH SINH TRƯỞNG RAU TRỒNG TRONG NHÀ LƯỚI

1 Thành phần cây rau trồng trong nhà lưới:

Bảng 2 Thành phần cây trồng trong nhà lưới tại thành phố Hồ Chí Minh

Số

Thời gian trồng

Brassica sp

Brassica petsai Amaranthus viridis Basella rubra Ipomoea aquatica

Crucifera Crucifera Aste Crucifera Crucifera Amaranthaceae Basellaceae Convolvulaceae

Quanh năm Quanh năm Quanh năm Quanh năm Quanh năm Quanh năm Quanh năm Quanh năm

Trang 30

Mục đích chung của nông dân đầu tư nhà lưới để trồng rau ăn lá, các loại rau ăn lá được trồng phổ biến gồm rau cải các loại: cải xanh, cải ngọt, cải dún, xà lách, rau dền, mồng tơi Có nhiều hộ trồng tất cả các loại rau này, nhưng có những hộ chỉ trồng các loại rau cải Rau muống ít được trồng trong nhà lưới có thể do rau muống sinh trưởng phát triển không thuận lợi trong điều kiện nhà lưới

Ở các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai, Trà Vinh, nông dân trồng các loại rau trồng trong nhà lưới cũng chủ yếu là các loại rau ăn lá như cải bẹ trắng, rau cải xanh, cải ngọt, ngoài ra còn có hành, ngò rí

Về phương thức canh tác rau trong nhà lưới, qua kết quả điều tra chúng tôi thấy nông dân thường không trồng độc canh một loại rau, mà thường trồng xen canh các loại rau trong cùng thời điểm Kết quả điều tra cho thấy có 37/50 hộ thường trồng xen canh các loại rau ăn lá, để tiêu thụ được nhiều hơn do thương nhân thường muốn mua nhiều chủng loại rau khác nhau Ngoài ra, kết quả điều tra cũng chỉ ra có 13/50 hộ trồng trồng luân canh các loại rau ăn lá để hạn chế sự phát triển của sinh vật hại Do vậy vẫn còn nhiều trường hợp, nông dân trồng một loại rau cải liên tục đã làm cho bọ nhảy phát triển gây hại nặng, dẫn đến phải chuyển sang trồng các loại rau khác

Việc đầu tư nhà lưới đã giúp nông dân tăng vụ gieo trồng, hầu hết nông dân trồng rau ăn lá trong nhà lưới cả 2 mùa mưa và mùa khô

Kết quả điều tra cho thấy 100 % nông dân đều lên liếp trồng rau Tùy theo chủng loại rau, nông dân có thể gieo thẳng, hoặc cấy Tuy nhiên áp dụng kỹ thuật cấy sẽ làm tiết kiệm thời gian, tăng vụ gieo trồng và làm cho cây rau sinh trưởng phát triển tốt hơn, đều hơn

2 Đánh giá tình hình sinh trưởng của cây rau trong nhà lưới:

Chúng tôi đã tiến hành theo dõi tình hình sinh trưởng, năng suất rau của

5 loại rau trồng phổ biến ở 9 mô hình: 3 mô hình nhà lưới kín, 3 mô hình nhà lưới hở, 3 mô hình bên ngoài, với các chỉ tiêu chiều cao, số lá, thời gian điều tra

7 ngày/lần Kết quả như sau:

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

Nhà lưới

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

19 NST 32,9 30,9 35,0 30,8 8,5 8,9 8,7 9,3

Trang 31

Qua kết quả bảng 3, chúng tôi thấy đối với rau cải, cây tăng trưởng mạnh

về chiều cao từ giai đoạn 12 ngày sau trồng trở đi, đặc biệt trong nhà lưới kín, cây cải vươn cao nhanh khi cải trải lá và giao tán Đặc tính của rau cải trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng chiều cao thân chính không phát triển nhiều, nhưng khi cây bắt đầu trổ hoa thì thân chính mới vươn cao, nhưng với rau cải thông thường không phải là cải ăn ngồng thì khi cây ra hoa thì giá trị thương phẩm của rau không đạt Do vậy, sự phát triển chiều cao trong giai đoạn theo dõi (5-19 ngày sau trồng) là sự vươn dài của lá

Do thiếu ánh sáng nên rau cải trong ở nhà lưới phát triển cao hơn nhanh hơn so với rau trồng chỉ có mái che và ngoài đồng

Về động thái phát triển số lá, bên trong nhà lưới số lá trên cây ít hơn so với trồng trên ruộng Tuy nhiên giữa các mô hình nhà lưới không có sự khác biệt

Kết quả theo dõi chúng tôi thấy trong nhà lưới kín, do sự vươn nhanh của

lá nên rau cải có thời gian thu hoạch sớm hơn so với trồng bên ngoài, có thể thu hoạch vào thời điểm 19-22 ngày sau trồng

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

Nhà lưới

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

2.3 Mồng tơi:

Đối với mồng tơi, sự phát triển chiều cao thân giữa trong và ngoài nhà lưới có sự khác nhau rõ nét, rau mồng tơi trồng bên ngoài thường thấp hơn nhưng số lá trên thân chính nhiều hơn và có nhiều chồi nách phát triển Do sự

Trang 32

vươn cao của thân mồng tơi trong nhà lưới nên thời gian thu của mồng tơi có thể sớm hơn ngoài đồng từ 3-5 ngày

Bảng 5 Biến động chiều cao, số lá mồng tơi ở các mô hình

Ngoài ruộng

Nhà lưới

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

Nhà lưới

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

2.5 Xà lách:

Qua kết quả bảng 7 cho thấy, động thái phát triển chiều cao và số lá của rau xà lách trong các loại nhà lưới và ngoài đồng không có sự khác biệt lớn ở giai đoạn đầu từ khi cây hồi xanh đến 12 ngày sau trồng, sự sinh trưởng của chiều cao và số lá không có sự khác biệt Nhưng từ sau 12 ngày sau trồng, chiều cao xà lách trong nhà lưới vươn nhanh hơn ngoài đồng, tương tự như rau cải, số

lá xà lách trồng ngoài đồng nhiều hơn

Trang 33

Bảng 7 Biến động chiều cao, số lá xà lách ở các mô hình sản xuất khác nhau

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

Nhà lưới

hở

Mái che

Nhà lưới kín

Ngoài ruộng

3 Nhận xét chung:

Phần lớn rau trồng trong nhà lưới, phát triển chiều cao nhanh hơn trong giai đoạn cuối từ 12 sau khi gieo trồng trở đi, một phần do sự cạnh tranh ánh sáng khi cây giao tán nhau, đặc biệt là cây rau cải, một phần là do lưới phủ làm giảm bớt ánh sáng nhất là vào buổi chiều và sáng, đồng thời rau trồng có lưới che giúp cây hồi xanh nhanh hơn ngoài đồng Tuy nhiên số lá trên cây của một

số rau trồng trong nhà lưới thường ít hơn ngoài đồng có lẽ do sự vươn nhanh của cây làm ảnh hưởng đến sự ra lá, điều này thể hiện rõ nhât trên rau mồng tơi và rau dền ở giai đoạn đầu

Do rau là sản phẩm sử dụng tươi cần sự non mềm nên sự vươn nhanh chiều cao của rau trong nhà lưới giúp cây rút ngắn được thời gian thu hoạch Tuy nhiên cũng chính điều này nên khi thu rau trong nhà lưới cần thu sớm khi cây đạt chiều cao thương phẩm, nếu để trễ hơn cây dễ bị bệnh do điều kiện trong nhà lưới, đặc biệt là nhà lưới kín có ẩm độ và nhiệt độ cao

IV.TÌNH HÌNH SÂU BỆNH HẠI RAU TRONG NHÀ LƯỚI

1 Nhận xét của nông dân về tình hình sinh vật hại rau trong nhà lưới:

Về sinh vật hại rau trong nhà lưới, theo nông dân đánh giá, giai đoạn sâu bệnh gây hại nặng trên rau có 28/50 nông dân cho rằng giai đoạn cây rau phát triển thân lá, nhưng có 22/50 nông dân cho rằng sâu bệnh phát sinh phát triển trong nhà lưới gây hại trên rau trong suốt cả vụ từ khi gieo đến thu hoạch Vì vậy kết quả điều tra ghi nhận rằng 100 % nông dân đã áp dụng các biện pháp phòng trừ sinh vật hại rau trong nhà lưới Trong đó 20/50 áp dụng biện pháp canh tác như luân canh cây trồng, phơi đất để diệt sâu hại; 36/50 nông dân biết áp dụng biện pháp sinh học như các biện pháp sử dụng thuốc vi sinh; nhưng lại có tới

Trang 34

42/50 nông dân phải áp dụng biện pháp sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh hại rau

Do đó, mặc dù có đến 31/50 nông dân cho rằng nhà lưới có thể hạn chế được một số loài sâu hại như sâu tơ, sâu khoang, 38/50 nông dân cho rằng có thể hạn chế được bệnh thối nhũn, đốm lá do nhà lưới che mưa nên hạn chế sự phát triển của bệnh, nhưng thực tế sinh vật hại rau vẫn phát sinh, phát triển trong nhà lưới Vì vậy, kết quả điều tra cũng chỉ ra có 9/50 nông dân phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật từ 3- 7 ngày 1 lần, và đặc biệt có 32/50 nông dân cho biết khi thấy sâu bệnh hại rau xuất hiện là phải sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Ngoài ra, qua thăm hỏi nông dân ở các tỉnh và khảo sát thực tế chúng tôi thấy ở nhà lưới cũng xuất hiện các loài sâu bệnh hại rau, mật số sâu hại ở mô hình nhà lưới hở cũng tương tự như ở bên ngoài

2 Kết quả theo dõi sâu bệnh hại rau trong nhà lưới:

Chúng tôi đã tiến hành điều tra thành phần, diễn biến một số sinh vật hại phổ biến ở 03 mô hình trong nhà lưới, ngoài nhà lưới, nhà lưới hở, mỗi mô hình

3 điểm tại Củ Chi và Hóc Môn

Điều tra theo 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 4 cây (khi cây lớn hoặc cấy ra ngoài) hoặc khung 20 x 25 cm (cây còn trong vườn ươm)

+ Quan sát chung toàn bộ cây rau trên ruộng để ghi nhận tất cả các đối tượng sâu bệnh hại, thiên địch hiện diện trong nhà lưới và bên ngoài nhà lưới Ghi nhận giai đoạn phát dục của sâu hại

+ Thu thập các côn trùng phát hiện trên cây (trứng, ấu trùng, nhộng và côn trùng trưởng thành) Đối với những sâu hại chưa xác định tên thì cần thu thập mẫu sống để nuôi đến trưởng thành giúp cho việc định loại được dễ dàng và chính xác

* Các chỉ tiêu theo dõi:

- Bộ phận cây bị hại, cách phá hại

- Mức độ gây hại nặng hay nhẹ hoặc số lượng nhiều hay ít

- Mật số sâu bệnh hại và thiên địch

2.1 Thành phần sâu bệnh hại rau trong nhà lưới:

Kết quả điều tra ghi nhận được 10 loại sâu hại, 8 loại bệnh và 4 loại thiên địch tồn tại trong nhà lưới trên nhiều loại cây trồng khác nhau Đặc biệt bọ nhảy xuất hiện thường xuyên gây hại khá nặng ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây cải, quan trọng là chưa có biện pháp phòng trừ hiệu quả, hạn chế được khả năng gây hại Ngoài ra trên ruộng cũng phát hiện được sâu xanh, sâu tơ, sâu khoang mật số rất thấp, xuất hiện vào gai đoạn cây từ 10 – 15 ngày sau gieo, không làm ảnh hưởng đến năng suất

Thành phần thiên địch trong nhà lưới không phong phú chỉ có bọ rùa, nhện, đuôi

Trang 35

không thích hợp cho thiên địch phát triển Thiên địch xuất hiện chủ yếu ở những ruộng sản xuất bình thường

Ngoài ra, qua kết quả điều tra chúng tôi cũng ghi nhận các loại cây trồng như xà lách, mồng tơi và húng quế rất có rất ít sinh vật hại, năng suất khá cao nên phần lớn nông dân trồng luân canh các loại cây này sau thời gian trồng các loại cây họ cải

Bảng 8 Thành phần sâu bệnh hại rau trong nhà lưới tại thành phố Hồ Chí Minh

Noctuidae Noctuidae Yponomeutidae Agromyzidae Chrysomelidae Noctuidae Aphididae Pyralidae

Lepidoptera Lepidoptera Lepidoptera Diptera Coleoptera Lepidoptera Homoptera Lepidoptera

Pythium sp

Rhizoctonia sp

Cercospora canesceus Fusarium semitectum, Cercospora sp

Peronospora parasitica Meloidogyne sp

2.2 Diễn biến một số đối tượng sinh vật hại chính:

a Trên rau cải:

Từ kết quả theo dõi bảng 9 và bảng 10, chúng tôi nhận thấy sự xuất hiện của sâu hại tập trung cao vào mùa khô từ tháng 02/2006 đến tháng 4/2006, tập trung nhiều vào thời điểm tháng 11, sâu tơ có mật số biến động từ 2 – 3 con/cây Sâu ăn tạp xuất hiện rải rác ảnh hưởng không đáng kể

Mức độ gây hại của của các loài sâu hại không có sự khác nhau nhiều, mặc dù mức độ hại ở trong nhà lưới kín có thấp hơn một chút, còn mức độ hại của sâu hại rau giữa nhà lưới hở và bên ngoài không có sự khác biệt nhiều

Trang 36

Bảng 9 Mức độ gây hại của sâu hại trên cây cải trong các nhà lưới

Ghi chú: + : có xuất hiện, gây hại không đáng kể

+ + : xuất hiện ít, gây hại trung bình

+ + + : xuất hiện, gây hại nặng

+ + + + : xuất hiện, gây hại nặng ảnh hưởng năng suất

Bọ nhảy là đối tượng sâu hại quan trọng trong nhà lưới Qua theo dõi chúng tôi thấy bọ nhảy xuất hiện xuất hiện từ khi cây cải được 3 lá thật cho đến khi cây thu hoạch, càng về sau mật số bọ nhảy càng tăng dần trung bình là khoảng 3 – 6 con/cây, ở mô hình nhà lưới hở bọ nhảy xuất hiện cao nhất 16 con/m2, tỉ lệ lá bị hại và mức độ gây hại của bọ nhảy là 100% (Đồ thị 7a, 7b) Theo TS Nguyễn Văn Huỳnh (Đại học Cần Thơ, 2003) và thực tế điều tra đồng ruộng nhận thấy vào những lúc thu hoạch xong cải, trên ruộng không có nguồn thức ăn, bọ nhảy sẽ ký chủ trên cây cỏ màng màng (mầm ri), do đó đối với những nhà lưới và ruộng bên ngoài muốn phòng trừ tốt bọ nhảy ngoài việc phun thuốc bảo vệ thực vật còn phải làm vệ sinh đồng ruộng, nhổ bỏ cây ký chủ phụ của bọ nhảy Bên cạnh đó những ruộng rau trồng bên ngoài và xung quanh nhà

Trang 37

lưới có cỏ cũng là nơi trú ngụ của cào cào nhỏ xuất hiện và gây hại, mật số cào cào rất thấp 0,2 – 0,5 con/m2 Ngoài ra rầy mềm xuất hiện rất ít chỉ vào khoảng thời gian cuối mùa mưa ở tháng 12 khoảng 10 – 15 con/cây, mật độ tăng cao 40 – 70 con/cây Tuy xuất hiện cao nhưng vào giai đoạn thu hoạch nông dân không phun thuốc bảo vệ thực vật, chỉ phun nước và rửa sạch khi thu hoạch

0 2 4 6 8 10

Đồ thị 7a Diễn biến mật số bọ nhảy trên cây cải

Đồ thị 7b Diễn biến mật số bọ nhảy trên cây cải

từ tháng 02/2006 đến tháng 07/2006

Trang 38

Đồ thị 8a Diễn biến tỉ lệ hại của dòi đục lá trên cây cải

từ tháng 09/2005 đến tháng 01/2006

0 5 10 15 20 25

11/2 18/2 25/2 4/3 18/3 25/3 1/4 8/4 15/4 22/4 29/4 6/5 13/5 20/5 27/5 3/6 10/6 17/6 24/6 1/7 8/7 15/7 22/7 29/7

Ngày điều tra

Nhà lưới kín Nhà lưới hở Bên ngoài nhà lưới

Đồ thị 8b Diễn biến tỉ lệ hại của dòi đục lá trên cây cải

từ tháng 02/2006 đến tháng 07/2006 Kết quả đồ thị 8a, 8b cho thấy dòi đục lá xuất hiện tập trung và mật số cao vào mùa khô, xuất hiện ở mật số cao làm ảnh hưởng lá, chủ yếu tập trung ở những lá già và bánh tẻ và một phần năng suất

Trang 39

Đồ thị 9a Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải

từ tháng 09/2005 đến tháng 01/2006

0 10 20 30 40 50 60

11/2 18/2 25/2 4/3 11/3 18/3 25/3 1/4 8/4 15/4 22/4 29/4 6/5 13/5 20/5 27/5 3/6 10/6 17/6 24/6 1/7 8/7 15/7 22/7 29/7

Ngày điều tra

Nhà lưới kín Nhà lưới hở Bên ngoài nhà lưới

Đồ thị 9b Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải

từ tháng 02/2006 đến tháng 07/2006 Qua điều tra chúng tôi ghi nhận, các loại bệnh hại phổ biến trên cải là bệnh thối nhũn, bệnh chết rạp cây con, bệnh sương mai Bệnh thối nhũn xuất hiện nhiều vào giai đoạn cây gần thu hoạch, ở mô hình sản xuất bên ngoài bệnh xuất hiện từ giai đoạn vườn ươm đến thu hoạch Bệnh xuất hiện nhiều vào giai đoạn mùa mưa và ở những ruộng cải trồng dày, tỉ lệ bệnh trung bình từ 5 – 15

Trang 40

% Bệnh chết rạp cây con trong giai đoạn vườn ươm xuất hiện khá phổ biến

trong thời gian mùa mưa khoảng 10 % tập trung nhiều ở cả 3 mô hình

Ở đồ thị 9a và 9b, cho thấy bệnh sương mai trên lá cải xuất hiện tập trung

vào thời gian mùa mưa, tỉ lệ bệnh từ 20 – 100 %, nặng nhất vào tháng 11 Ở mô

hình sản xuất bên ngoài, tỉ lệ bệnh xuất hiện nhiều và nặng do ruộng ở bên ngoài

ảnh hưởng do mưa Tuy nhiên nếu trong nhà lưới trồng trồng cải liên tục cũng

ảnh hưởng , nhưng chỉ gây hại từ nhẹ đến trung bình không ảnh hưởng đến năng

suất do bệnh chỉ phát triển ở những lá gốc, tuy nhiên khi bệnh nặng tấn công lên

cả lá non

Bên cạnh đó, tuyến trùng trên cây cải xuất hiện rải rác trên đồng ruộng với

tỉ lệ bệnh từ 5 – 10 % Nông dân phòng trừ bằng cách nhổ bỏ, nhằm tránh cho sự

Đồ thị 10a Diễn biến tỉ lệ bệnh đốm lá trên cây rau dền

từ tháng 09/2005 đến tháng 01/2006

Ngày đăng: 09/02/2015, 05:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. N.S. Talekar, F.C. Su, and M.Y.Lin, 5/2003, How to grow leafy vegetable in the nethouse (www: http://www.avrdc.org) Sách, tạp chí
Tiêu đề: How to grow leafy vegetable in the nethouse
Tác giả: N.S. Talekar, F.C. Su, M.Y. Lin
Năm: 2003
2. Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, 1/2005, Dự án rau an toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới, Sở nông nghiệp và PTNT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án rau an toàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tác giả: Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Nhà XB: Sở nông nghiệp và PTNT TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2005
3. Cục Nông nghiệp, 2005, Giới thiệu mẫu một số nhà lưới đang được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, Nhà xuất bản Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu mẫu một số nhà lưới đang được áp dụng trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
4. TS. nguyễn Đăng Nghĩa, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, 1/2005, Một số tiến bộ kỹ thuật áp dụng cho việc trồng rau trong nhà lưới, Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới, Sở Nông nghiệp và PTNT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số tiến bộ kỹ thuật áp dụng cho việc trồng rau trong nhà lưới
5. TS Ngô Quang Vinh, Viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, 1/2005, Nhà lưới và trồng rau trong nhà lưới - Một số kinh nghiệm, Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới, Sở Nông nghiệp và PTNT TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà lưới và trồng rau trong nhà lưới - Một số kinh nghiệm
Tác giả: TS Ngô Quang Vinh
Nhà XB: Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới
Năm: 2005
6. TS. Dương Hoa Xô, Trung tâm Công nghệ Sinh học, 1/2005, Mô hình nhà lưới trồng rau hiện nay và đề xuất mô hình nhà lưới mới cho ngoại thành, Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới, Sở Nông nghiệp và PTNT TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình nhà lưới trồng rau hiện nay và đề xuất mô hình nhà lưới mới cho ngoại thành
Tác giả: TS. Dương Hoa Xô
Nhà XB: Báo cáo tham luận tại Hội thảo trồng rau trong nhà lưới
Năm: 2005
7. Trung tâm Khuyến nông, 2006, Báo cáo kết quả khảo sát hiện trạng nhà lưới trong sản xuất rau an toàn tại thành phố Khác
8. Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 12/2004, Một số thông tin về trồng rau trong nhà lưới Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 3. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 3. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ (Trang 27)
Đồ thị 6. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 6. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ (Trang 29)
Đồ thị 8a. Diễn biến tỉ lệ hại của dòi đục lá trên cây cải - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 8a. Diễn biến tỉ lệ hại của dòi đục lá trên cây cải (Trang 38)
Đồ thị  11a. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 11a. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống (Trang 42)
Đồ thị  11b. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 11b. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống (Trang 43)
Đồ thị 12. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 9 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 12. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 9 giờ (Trang 50)
Đồ thị 13. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 12 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 13. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 12 giờ (Trang 51)
Đồ thị 14. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 14. Diễn biến nhiệt độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ (Trang 51)
Đồ thị 15. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 15. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 7 giờ (Trang 52)
Đồ thị 17. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 17. Diễn biến ẩm độ trong và ngoài nhà lưới vào lúc 15 giờ (Trang 53)
Đồ thị  19a. Diễn biến dòi đục lá hại rau trên cây cải - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 19a. Diễn biến dòi đục lá hại rau trên cây cải (Trang 58)
Đồ thị 19b . Diễn biến dòi đục lá hại rau trên cây cải - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 19b . Diễn biến dòi đục lá hại rau trên cây cải (Trang 59)
Đồ thị 20a. Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 20a. Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải (Trang 59)
Đồ thị 20b. Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 20b. Diễn biến tỉ lệ bệnh sương mai trên cây cải (Trang 60)
Đồ thị  21a. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống - nghiên cứu xây dựng mô hình nhà lưới phục vụ sản xuất rau an toàn ở ngoại thành tp. hồ chí minh
th ị 21a. Diễn biến tỉ lệ bệnh rỉ trắng trên cây rau muống (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w