Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, với tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu đang tăng nhanh, việc áp dụng công cụ “ra lệnh & kiểm soát” đang dần trở nên cứng nhắc, và trong một số trường
Trang 1TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Đề tài:”Nghiên cứu xây dựng một số công cụ kinh tế nhằm quản lý khí thải tại thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện từ tháng 3/2007 đến tháng 9/2008 Các nội dung nghiên cứu đã được thực hiện đầy đủ so với nội dung đề cương đã được phê duyệt:
1) Bổ sung phần tổng quan về tính tóan và áp dụng phí khí thải, thuế bảo vệ môi trường và giấy phép xả khí thải trên thế giới
2) Phân tích, đánh giá phương pháp tính và suất phí khí thải do Vụ Môi trường đề xuất
3) Hoàn thiện phương pháp luận tính phí khí thải và suất phí đối với thành
phố Hồ Chí Minh (Khảo sát bổ sung một số loại nguồn thải tại thành phố Hồ Chí Minh; Xác định đối tượng, thị trường và ước tính tổng số tiền thu được từ phí khí thải tại TP.Hồ Chí Minh và đề xuất phương hướng sử dụng nhằm hạn chế phát thải; Tính thử phí khí thải theo chi phí xử lý; Tính thử phí khí thải đối với nguồn thải di động (đánh trên nhiên liệu) theo tỷ lệ phí trên giá nhiên liệu; Đề xuất áp dụng suất phí khí thải, hệ thống tổ chức và phương thức thu phí khí thải tại TP.Hồ Chí Minh)
4) Nghiên cứu, đề xuất phương pháp luận tính thuế và suất thuế bảo vệ môi trường áp dụng cho thành phố Hồ Chí Minh : Thuế C, thuế S, thuế các chất CFC
5) Nghiên cứu đề xuất quy trình cấp giấy phép xả khí thải tại tại Việt Nam nói chung và tại TP Hồ Chí Minh nói riêng
6) Tổ chức hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia và các doanh nghiệp đối với các công cụ đề xuất
7) So sánh ưu, nhược điểm của 3 công cụ, xác định tính thực tế, khả thi và tác động của từng công cụ và đề xuất áp dụng công cụ phù hợp
Trang 2SUMMARY OF RESEARCH CONTENT
Project Title: Research and proposal of some economic instruments for air emissions management in Ho Chi Minh city
Coordinator: Ass Prof Dr Phung Chi Sy
Implementing Institution: Military Sub-Institute of Tropicalization and Environment
Duration: from March, 2007 to September, 2008
1 Objectives:
- To provide scientific and actual bases to propose some economic instruments for air emission management in Ho Chi Minh city (air pollution fees, environmental taxes, tradable permits)
- To propose application of appropriated economic instruments in the actual condittions of HCM in particular and in Vietnam in general
of fees in HCM city )
4) Research and proposal of methodology for calculation of the air pollution taxes and its rates applied for HCM city, including taxes on carbon (C), sulfur (S) and CFC
5) Research and proposal of procedures for the tradable air emission permitting in HCM in particular and Vietnam in general
Trang 36) Organizing the workshops to getting the expert’s comments and consultation about the proposed economic instruments, applied for air emission management in Ho Chi Minh city
7) Comparing advantages and disadvantages of 3 proposed instruments; evaluating the feasibility and impacts of each instrument (emissions fees, taxes and tradable permits) and proposing the appropriated instruments for air emission management in Ho Chi Minh city
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI 10
DANH SÁCH CÁC CÁN BỘ THAM GIA ĐỀ TÀI 12
PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU 13
MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CÔNG CỤ PHÍ VÀ THUẾ 14
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ VÀ HẠN CHẾ PHÁT THẢI KHÍ THẢI VÀO MÔI TRƯỞNG 16
1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ NHẰM HẠN CHẾ PHÁT THẢI KHÍ THẢI VÀO MÔI TRƯỜNG 16
1.1.1 Ảnh hưởng của việc xả thải khí thải đến môi trường 16
1.1.1.1 Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu 16
1.1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam: 17
1.1.1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam 22
1.1.1.4 Ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng 28
1.1.2 Sự cần thiết áp dụng công cụ kinh tế để hạn chế việc xả thải khí thải 30 1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 34
1.2.1 Quyển sở hữu rõ ràng khu vực thải - Định lý COASE 34
1.2.2 Thuế môi trường 36
1.2.3 Phí ô nhiễm môi trường 38
1.2.4 Hạn ngạch ô nhiễm - Giấy phép xả thải có thể mua bán 44
1.2.5 Ký quỹ - hoàn trả 49
1.2.6 Trợ cấp môi trường 51
1.2.7 Nhãn sinh thái 52
1.2.8 Sử dụng hỗn hợp các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường 52
I.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC 57
I.3.1 Tổng quan về áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý khí thải tại Việt Nam 57
I.3.2 Các văn bản pháp lý liên quan đến công cụ kinh tế quản lý môi trường tại Việt nam 60
CHƯƠNG 2 HOẢN THIỆN PHƯƠNG PHÁP LUẬN, ĐỀ XUẤT HỆ THỐNG TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC THU PHÍ KHÍ THẢI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 65
2.1 HIỆN TRẠNG CÁC NGUỒN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 65
2.2 ĐIỀU TRA BỔ SUNG MỘT SỐ NGUỒN GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 69
2.1.1 Công nghiệp có đốt nhiên liệu hóa thạch 73
2.1.2 Cơ sở sản xuất sản xuất kim loại 74
2.1.3 Cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng 75
2.1.4 Phương tiện giao thông 76
2.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ SUẤT PHÍ KHÍ THẢI DO VỤ MÔI TRƯỜNG – BỘ TN&MT ĐỀ XUẤT 77
2.3.1 Khái quát về phương pháp tính phí khí thải và suất phí khí thải do Vụ Môi trường – Bộ TN&MT đề xuất 78
2.3.2 Phân tích, đánh giá tính phù hợp của phương pháp tính phí và suất phí khí thải do Vụ Môi trường đề xuất 82
Trang 52.2.3 Thử nghiệm tính phí khí thải trong điều kiện thành phố Hồ Chí Minh
theo đề xuất của Vụ Môi trường 87
2.4 HOÀN THIỆN PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH PHÍ KHÍ THẢI ĐỐI VỚI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 89
2.4.1 Mục tiêu 89
2.4.2 Nội dung 90
2.4.2.1 Thử nghiệm tính suất phí theo chi phí xử lý 90
2.4.2.2 Thử tính phí môi trường đối với nhiên liệu dựa trên tỷ lệ phí/ giá thành nhiên liệu của các nước trên thế giới 93
2.4.2.3 Đề xuất phương pháp tính phí áp dụng cho thành phố Hồ Chí Minh 97 2.4.2.4 Đề xuất hệ thống tổ chức, phương thức thu và quản lý phí khí thải tại thành phố Hồ Chí Minh 98
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH THUẾ BVMT ĐỐI VỚI CÁC CHẤT CÓ KHẢ NĂNG GÂY Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI TP HỒ CHÍ MINH 104
3.1 SỰ CẦN THIẾT 104
3.2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN TÍNH THUẾ BVMT ĐỐI VỚI KHÍ THẢI 105
3.2.1 Thuế đối với Carbon 105
3.2.2 Thuế đối với Lưu huỳnh (S) 107
3.2.3 Thuế đối với các chất CFC 109
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH CẤP GIẤY PHÉP XẢ KHÍ THẢI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 111
4.1 CÁC TIÊU CHÍ TIẾP CẬN 111
4.2 XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT VỀ VIẾT BÁO CÁO XIN PHÉP XẢ KHÍ THẢI VÀO KHÔNG KHÍ 111
4.2.1 Các nội dung liên quan đến kê khai nguồn khí thải công nghiệp 111
4.2.1.1 Quy định phân loại nguồn khí thải công nghiệp trong kê khai 111
4.2.1.2 Các đặc trưng nguồn thải cần xác định trong kê khai 111
4.2.1.3 Chế độ xả thải 112
4.2.1.4 Công trình xử lý khí thải 112
4.2.2 Các nội dung liên quan đến đặc trưng vùng không khí tiếp nhận khí thải 112
4.2.2.1 Các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội 112
4.2.2.2 Chất lượng không khí 113
4.2.2-3 Tiêu chuẩn chất lượng không khí khu vực tiếp nhận khí thải 113
4.2.3 Các nội dung liên quan đến đánh giá tác động của nguồn thải vào không khí 113
4.2.3-1 Giới hạn đối tượng chịu tác động của khí thải: 113
4.2.3-2 Cơ sở xác định mức độ tác động của khí thải 113
4.2.3.3 Phương pháp xác định mức độ tác động của khí thải 114
4.2.4 Các nội dung liên quan đến biện pháp giảm thiểu và khắc phục ô nhiễm không khí do tiếp nhận nguồn khí thải 115
4.2.5 Đề xuất mẫu đơn xin phép xả thải khí thải vào không khí 115
4.2.5.1 Hình thức trình bày 115
4.2.5.2 Nội dung 115
4.3 ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH XÉT DUYỆT CẤP GIẤY PHÉP XẢ THẢI CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG ĐƯỢC 116
4.3.1 Giới hạn nhóm đối tượng xét duyệt cấp giấy phép xả thải khí thải 116
4.3.2 Các tiêu chí để xét duyệt cấp giấy phép xả thải khí thải 116
Trang 64.4 ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ TRAO ĐỔI GIẤY PHÉP XẢ KHÍ THẢI GIỮA CÁC
DOANH NGHIỆP 118
4.4.1 Cơ chế đối với cơ sở không sử dụng hết định mức cho phép xả thải (bên bán) 118
4.4.2 Cơ chế đối với cơ sở sử dụng quá định mức cho phép xả thải (bên mua) 119
4.4.3 Cơ chế đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi trường 119
4.5 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THỬ NGHIỆM TÍNH GIÁ TRỊ CỦA CÁC LOẠI GIẤY PHÉP XẢ KHÍ THẢI ĐỐI VỚI BỤI, SO2, NO2, CO, CO2 120
4.6 THỬ NGHIỆM XÁC ĐỊNH THỊ TRƯỜNG TRAO ĐỔI GIẤY PHÉP XẢ KHÍ THẢI TẠI TP.HỒ CHÍ MINH 121
4.7 ĐỀ XUẤT KHUNG PHÁP LÝ NHẰM TRIỂN KHAI PHƯƠNG THỨC TRAO ĐỔI GIẤY PHÉP XẢ KHÍ THẢI TẠI VIỆT NAM 125
4.7.1 Hiện trạng khung pháp lý của Việt nam về vấn đề triển khai phương thức trao đổi giấy phép xả khí thải 125
4.7.2 Đề xuất khung pháp lý để tiến hành triển khai phương thức trao đổi giấy phép xả khí thải tại Tp.HCM 127
CHƯƠNG 5 LỰA CHỌN, ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ KHÍ THẢI PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 129
5.1 PHÍ KHÍ THẢI 129
5.2 THUẾ BVMT 131
5.3 GIẤY PHÉP CÓ THỂ MUA BÁN 133
5.4 LỰA CHỌN ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ KHÍ THẢI TẠI TP HỒ CHÍ MINH 135
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 136
PHỤ LỤC 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 160
Trang 7DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT Bộ Tài Nguyên & Môi Trường
CFC Chlorofluorocarbon
FO dầu nặng (fuel oil)
GDP Tổng sản phẩm nội địa (gross domestic product)
OECD tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for
Economic Cooperation and Development)
S lưu huỳnh
SO2 sulphur dioxide
WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
USA Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (United States of America)
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam trong Thông báo Quốc gia lần 1
21
Bảng 1.2 Kịch bản biến đổi khí hậu tại khu vực Nam Bộ trong Thông báo Quốc gia lần 2 (kịch bản cao) 21
Bảng 1.3 Dự báo số dân tại một số địa phương VKTTĐPN bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng 1 m 23
Bảng 1.4 Dự báo số người nghèo tại một số địa phương VKTTĐPN bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng 1 m 24
Bảng 1.5 Khỏang cách từ các KCN tại VKTTĐPN đến khu vực ngập nước nếu mực nước biển dâng 1 m 25
Bảng 1.6 Đánh giá việc áp dụng phí phát thải 41
Bảng 1.7 Đánh giá việc áp dụng phí sản phẩm 43
Bảng 1.8 Đánh giá việc áp dụng giấy phép mua bán được 48
Bảng 1.9 Đánh giá việc áp dụng hệ thống ký thác – hoàn trả 50
Bảng 1.10 :Tình hình áp dụng phí khí thải tại một số nước trên thế giới 53
Bảng 1.11 :Tình hình áp dụng thuế BVMT đối với khí thải tại một số nước trên thế giới 54
Bảng 1.12 Các công cụ khuyến khích về kinh tế tại các nước OECD 56
Bảng 1.13 Hiện trạng áp dụng các công cụ quản lý khí thải tại Việt Nam 60
Bảng 2.1 Số lượng các cơ sở sản xuất chế biến & các phương tiện giao thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh 65
Bảng 2.2 Tải lượng của các chất ô nhiễm không khí chủ yếu của một số ngành công nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh (T/năm) 67
Bảng 2.3 Các loại hình sản xuất kinh doanh và các chất ô nhiễm chính 69
Bảng 2.4 Các nguồn sẽ điều tra bổ sung trong khuôn khổ đề tài 72
Bảng 2.5 Phương pháp đo và phân tích các chỉ tiêu khí thải 72
Bảng 2.6 Mẫu khí thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch 73
Bảng 2.7 Mẫu khí thải từ cơ sở sản xuất kim loại 74
Bảng 2.8 Mẫu khí thải từ cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng 75
Trang 8Bảng 2.9 Mẫu khí thải từ các phương tiện giao thông 76
Bảng 2.10 Suất phí khí thải đề xuất bởi Vụ Môi trường 79
Bảng 2.11 Mức phí khí thải đối với các phương tiện giao thông và các nguồn phát tán di động 79
Bảng 2.12 Hệ số ô nhiễm đối với Nhà máy Nhiệt điện theo WHO 80
Bảng 2.13 Hệ số phát thải của một số phương tiện giao thông vận tải 84
Bảng 2.14 Phí khí thải tính cho các phương tiện giao thông vận tải 85
Bảng 2.15 Lượng phát thải từ các nguồn cố định tại Tp Hồ Chí Minh 88
Bảng 2.16 Số phí thu được từ một số nguồn cố định tại Tp Hồ Chí Minh 88
Bảng 2.17 Kinh phí hệ thống xử lý khí thải lò hơi 91
Bảng 2.18 Chi phí vận hành hệ thống xử lý khí thải lò hơi 91
Bảng 2.19 Hệ số ô nhiễm của lò hơi đốt dầu FO 92
Bảng 2.20 Nồng độ các chất ô nhiễm của lò hơi đốt dầu FO 92
Bảng 2.21 Giá nhiên liệu tại một số nước trên thế giới 94
Bảng 2.22 Suất phí khí thải tính trên thành phần phát thải tương đương 95
Bảng 2.23 Mức phí khí thải đối với các nguồn di động tương đương 95
Bảng 2.24 Tỷ lệ phí khí thải trên giá nhiên liệu 96
Bảng 2.25 Phí khí thải trên giá nhiên liệu đề xuất đối với Tp.Hồ Chí Minh 96
Bảng 3.1 Biểu thuế Carbon tại một số quốc gia (2006) 106
Bảng 3.2 GDP năm 2006 của một số quốc gia 106
Bảng 3.3 Suất thuế giả định tại Việt Nam so sánh với một số quốc gia 106
Bảng 3.4 Biểu thuế S tại một số quốc gia(2006) 107
Bảng 3.5 GDP năm 2006 của một số quốc gia 108
Bảng 3.6 Suất thuế giả định tại Việt Nam so sánh với một số quốc gia 108
Bảng 3.7 Mức thuế CFC cơ bản 110
Bảng 3.8 Hệ số suy giảm tầng ôzôn của các chất CFC 110
Bảng 3.9 Thuế suất CFC đề xuất tại Việt Nam 110
Bảng 4.1 Bảng đơn giá và giá trị tài chính của giấy phép xả khí thải 121
Bảng 4.2 Khối lượng chất ô nhiễm khí thải của một số nghành công nghiệp tại TP.HCM 122
Bảng 4.3 Doanh số trao đổi giấy phép xả thải khí thải với mục tiêu giảm 10% lượng phát thải các chỉ tiêu ô nhiễm đến năm 2010 tại Tp.HCM 123
Bảng 4.4 Doanh số trao đổi giấy phép xả thải khí thải với mục tiêu giảm 30% lượng phát thải các chỉ tiêu ô nhiễm đến năm 2010 tại Tp.HCM 123
Bảng 4.5 Doanh số trao đổi giấy phép xả thải khí thải với mục tiêu giảm 50% lượng phát thải các chỉ tiêu ô nhiễm đến năm 2010 tại Tp.HCM 124
Bảng 5.1 Đánh giá tính phù hợp của các công cụ kinh tế 134
đối với Tp Hồ Chí Minh 134
Bảng PLI.1 Thuế năng lượng tại bang Maryland (USA) 141
Bảng PLI.2 Ảnh hưởng tới giá cả do thuế Carbon tại Italia 144
Bảng PLI.3 Hệ số tải lượng các chất ô nhiễm tại Úc 147
Bảng PLI.4 Mức phí khí thải của Đài Loan theo các năm 150
DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 4.1 Biểu đồ giá hạn mức giao dịch thương mại khí SO2 của Hoa kỳ 120
Trang 9“(command and control) thông qua các luật định, các qui định về tiêu chuẩn
xả thải…đã mang lại những hiệu quả to lớn trong việc quản lý ô nhiễm không khí Tuy nhiên, trong thời đại hiện nay, với tốc độ phát triển kinh tế toàn cầu đang tăng nhanh, việc áp dụng công cụ “ra lệnh & kiểm soát” đang dần trở nên cứng nhắc, và trong một số trường hợp đã gây ra một vài cản trở cho sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp Vì vậy, sự ra đời của các công cụ kinh tế (Economic Instruments) và việc triển khai áp dụng nó song song với các công
cụ “ra lệnh & kiểm soát” là một quá trình tất yếu trong quản lý ô nhiễm khí thải tiến tới sự phát triển bền vững
Trong những năm gần đây, trong đà phát triển kinh tế nhanh chóng của
cả nước, thành phố Hồ Chí Minh đã tăng cường áp dụng những biện pháp quản lý nhằm bảo vệ môi trường Tuy nhiên các biện pháp chủ yếu vẫn là sử dụng công cụ “ra lệnh & kiểm soát”, và việc áp dụng cứng nhắc chỉ một công
cụ này đã trở nên không còn thích hợp
Từ năm 2004, phí xả thải (một công cụ kinh tế) đã được áp dụng đối với nước thải tại thành phố Hồ Chí Minh đã mang lại ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý ô nhiễm nước thải Tại thành phố Hồ Chí Minh, tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2005 (từ tháng 12/1004 đến 6/2005), đã có 1.689 doanh nghiệp (trong khoảng 6.000 doanh nghiệp) đăng ký nộp phí xả thải nước thải công nghiệp với tổng số phí khoảng 3,3 tỷ đồng, và đã thu được khoảng 2,5 tỷ đồng của 827 doanh nghiệp Nguồn kinh phí thu được đã bổ xung đáng kể vào nguồn vốn tái bảo vệ môi trường tại thành phố và giảm thiểu áp lực của nguồn này đối với ngân sách nhà nước
Tuy nhiên cho đến nay, ngoài phí xả nước thải, các công cụ kinh tế khác nhằm quản lý ô nhiễm môi trường vẫn đang trong quá trình nghiên cứu, lấy ý kiến trong giới khoa học, doanh nghiệp… và chưa được triển khai vào thực tế Cụ thể là chương trình thu phí khí thải được phát triển từ kết quả nghiên cứu của đề tài :” Nghiên cứu xây dựng hệ thống phí khí thải tại TP Hồ Chí Minh” do PGS.TS Phùng Chí Sỹ làm chủ nhiệm (2004), đến nay vẫn đang được Vụ Môi trường – Bộ TN&MT tiếp tục đề xuất và hoàn thiện Nghị định trình Chính phủ
Trang 10Tầm quan trọng của các công cụ kinh tế trong quản lý bảo vệ môi trường đã được nhìn nhận và được rất nhiều nước phát triển cũng như các nước đang phát triển trên thế giới triển khai áp dụng
Bản chất của việc sử dụng các công cụ kinh tế chính là sử dụng sức mạnh của thị trường để bảo vệ môi trường Nguyên tắc cơ bản của các công
cụ kinh tế là “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (PPP – Polluter Pays Principle) Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là người gây ra ô nhiễm phải chi trả những chi phí cho việc phòng chống và kiểm soát ô nhiễm Việc chi trả cho những chi phí này được thể hiện dưới nhiều hình thức như : thuế, phí, lệ phí hoặc những chi phí cho việc xây dựng, lắp đặt các công trình xử lý chất thải Nguyên tắc này còn đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế: Các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường có chi phí sản xuất cao hơn và nó sẽ giúp các doanh nghiệp này không bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp không áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường
Bên cạnh đó việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường còn góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, ý thức giám sát công tác bảo vệ môi trường của mọi người dân Người dân sẽ quan tâm đến môi trường, sức khỏe và điều kiện sống của chính mình hơn Từ đó ý thức chung
về bảo vệ môi trường của toàn xã hội sẽ được nâng lên
Do vậy, việc triển khai thực hiện đê tài: “Nghiên cứu xây dựng một số công cụ kinh tế nhằm quản lý khí thải tại TP Hồ Chí Minh” là cần thiết và cấp bách, nhằm đúc kết các kinh nghiệm áp dụng công cụ kinh tế trên thế giới
và lựa chọn các công cụ phù hợp với điều kiện của thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tích cực vào việc giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường không khí tại thành phố
THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Nghiên cứu xây dựng một số công cụ kinh tế nhằm quản lý khí
thải tại TP Hồ Chí Minh”
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Phùng Chí Sỹ
Cơ quan chủ trì: Phân Viện Nhiệt đới Môi trường Quân sự
Thời gian thực hiện đề tài: Tháng 3/2007 đến tháng 9/2008
Kinh phí được duyệt: 210.000.000 đ (Hai trăm mười triệu đồng chẵn)
Mục tiêu:
- Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất một số công cụ kinh tế nhằm quản lý khí thải tại TP Hồ Chí Minh (phí khí thải, thuế
Trang 11môi trường đối với các nguyên liệu và sản phẩm có khả năng gây ô
nhiễm không khí, giấy phép xả khí thải có thể chuyển nhượng được )
- Đề xuất áp dụng công cụ phù hợp với điều kiện thực tiễn tại TP Hồ
Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung
Nội dung:
1 Tổng quan về tình hình áp dụng các công cụ kinh tế nhằm quản lý khí thải
trên thế giới : Bổ sung phần tổng quan về tính tóan và áp dụng phí khí thải,
thuế BVMT đối với các chất có khả năng gây ô nhiễm không khí, giấy phép
xả khí thải trên thế giới (các nước phát triển, các nước đang phát triển)
2 Phân tích, đánh giá phương pháp tính và suất phí khí thải do Vụ Môi
trường đề xuất
3 Hoàn thiện phương pháp tính suất phí khí thải và phí khí thải phù hợp với
điều kiện TP Hồ Chí Minh
4 Nghiên cứu đề xuất phương pháp tính thuế suất và tính thuế BVMT đối với
các chất có khả năng gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam nói chung và tại
TP Hồ Chí Minh nói riêng
5 Nghiên cứu đề xuất quy trình cấp giấy phép xả khí thải tại tại Việt Nam nói
chung và tại TP Hồ Chí Minh nói riêng (Bụi, SO 2 , NO 2 , CO, CO 2 ):
6 Tổ chức lấy ý kiến của các nhà quản lý, các nhà khoa học và doanh nghiệp
về việc áp dụng một số công cụ kinh tế để quản lý chất lượng không khí: tổ
chức hội thảo lấy ý kiến chuyên gia và doanh nghiệp
7 So sánh ưu, nhược điểm của 3 công cụ, xác định tính thực tế, khả thi và tác
động của từng công cụ và đề xuất áp dụng công cụ phù hợp
Sản phẩm:
• Báo cáo kết quả chi tiết của đề tài (3 bộ)
• Báo cáo tóm tắt và kiến nghị (3 bản)
• Tóm tắt tiếng Việt và tiếng Anh (1 trang A4 - 1 bản dạng file)
Formatted: English (U.S.)
Trang 12• CD-ROM lưu toàn bộ kết quả nghiên cứu của đề tài (3 bộ)
• Phiếu đăng ký kết quả nghiên cứu (3 bản)
• Bảng quyết toán kinh phí đề tài (3 bản)
DANH SÁCH CÁC CÁN BỘ THAM GIA ĐỀ TÀI
01 ThS.Nguyễn Thế Tiến Phân viện Nhiệt đới Môi
Trang 13PHƯƠNG PHÁP VÀ KỸ THUẬT NGHIÊN CỨU
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện
đề tài bao gồm:
- Học tập kinh nghiệm quốc tế: Phân tích các chương trình áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường đã được triển khai tại các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới, nhằm học hỏi những điều phù hợp với thực tế của Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng
- Thu thập, kế thừa các thông tin liên quan: Tìm kiếm, thu thập và tổng hợp các thông tin dữ liệu liên quan tới các công cụ kinh tế trong quản
lý môi trường từ các nguồn: Hệ thống văn bản hiện hành của nhà nước
và thành phố, nguồn tài liệu nước ngoài, nguồn dữ liệu trên internet Sử dụng các thông tin tổng hợp này để phân tích và lựa chọn các công cụ kinh tế phù hợp với điều kiện TP Hồ Chí Minh
- Phương pháp chuyên gia phân tích và thảo luận : Trên cơ sở các thông tin tổng hợp từ các nguồn dữ liệu liên quan, phương pháp phân tích và thảo luận sẽ được các chuyên gia thực hiện thông qua các hình thức như viết các chuyên đề nghiên cứu và hội thảo khoa học
- Phương pháp điều tra xã hội học : Đây là phương pháp không thể thiếu trong việc kiểm chứng tính phù hợp và khả thi của các phương án lựa chọn đề xuất Việc điều tra sẽ được thực hiện đối với các đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các công cụ kinh tế, cụ thể ở đây là một số đối tượng sẽ phải trả phí, thuế cho việc phát thải khí thải (Các chủ phương tiện giao thông vận tải, các doanh nghiệp có đốt nhiên liệu, các doanh nghiệp ngành sản xuất vật liệu xây dựng, các doanh nghiệp ngành luyện kim, gia công cơ khí)
- Phương pháp lấy mẫu, phân tích thực điạ : Khảo sát đo đạc các thông
số tại thực địa và lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm
- Phương pháp đánh giá nhanh và mô hình hóa : Thực hiện đánh giá tải lượng ô nhiễm, phạm vi và qui mô ô nhiễm không khí hỗ trợ cho quá trình phân tích đánh giá các thông tin dữ liệu thu thập, đo đạc
- Phương pháp phân tích lợi ích, chi phí : Áp dụng kỹ thuật phân tích lợi ích - chi phí (Cost-Benefit Analysis ~ CBA) để đưa ra quyết định lựa chọn giữa hai hay nhiều các đề xuất dự án loại trừ lẫn nhau Cơ bản mà nói, nếu lợi ích dự án đem lại có giá trị lớn hơn chi phí mà nó tiêu tốn,
dự án đó sẽ được coi là đáng giá và nên được triển khai
Trang 14MỘT SỐ KHÁI NIỆM VỀ CÔNG CỤ PHÍ VÀ THUẾ
Thuế và phí thực chất là một khoản tiền phải trả tính trên một đơn vị vật chất nào đó, ngay cả ở các nước phát triển trên thế giới khái niệm về phí
và thuế cũng không được phân định rõ ràng, một số nước nhìn nhận khoản
tiền phải nộp này là phí nhưng ở một số nước khác lại gọi đó là thuế (chẳng hạn ở Thụy Điển đánh thuế đối với lưu huỳnh trong nhiên liệu, nhưng ở Nhật Bản lại thu phí phát thải đối với lưu huỳnh đối với các nguồn thải tĩnh và động)
Ngay cả khái niệm có tính thuyết phục và dễ hình dung nhất để phân biệt Phí và thuế là :
- Phí là khoản tiền đánh vào sản phẩm đầu ra của quá trình (ví dụ : các chất ô nhiễm trong khí thải hay nước thải từ quá trình sản xuất công nghiệp )
- Thuế là khoản tiền đánh vào sản phẩm đầu vào của quá trình (ví dụ : các nguyên, nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất công nghiệp ) cũng bị lung lay, bởi sản phẩm đầu ra của ngành công nghiệp này lại là nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp khác (ví dụ : than đá, dầu mỏ là sản phẩm đầu ra của ngành công nghiệp khai thác khoáng sản nhưng lại là nhiên liệu đầu vào cho rất nhiều ngành công nghiệp khác ; hay khí Biogas từ quá trình phân hủy kỵ khí phân hữu cơ lại là nguyên liệu đầu vào của máy phát điện )
Có thể suy luận theo ngôn ngữ dân gian, phí là khoản tiền để trả cho
phần vật chất dư thừa nhưng không có giá trị sử dụng (lãng phí) hay có thể
còn gây hại (như khí thải, nước thải, chất thải rắn ), còn thuế là khoản tiền đánh vào những phần vật chất có giá trị sử dụng nhằm điều chỉnh tính
dư thừa trên thị trường (ví dụ : nhiều ô tô quá thì đánh thuế và tăng mạnh thuế đối với ô tô ) !!! Trên thực tế, luận điểm có tính hài hước này không thể được chấp nhận bởi thiếu căn cứ pháp lý cũng như tính khoa học Theo từ điển bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), người ta định nghĩa như sau:
- “Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội” [45]
- Không có định nghĩa về phí
Trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam và phạm vi nghiên cứu của đề tài này, nhóm nghiên cứu căn cứ trên Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam
Trang 15và các pháp lệnh về phí, lệ phí và thuế để đưa ra khái niệm về công cụ thuế
và phí, cụ thể như sau:
- ”Thuế là một khoản tiền hoặc hiện vật nhà nước thu trên của cải, tài sản của tổ chức và công dân nhằm đáp ứng nhu cầu cần thiết của sự nghiệp xây dựng và quản lí đất nước” [46]
- ”Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả khi được một tổ chức,
cá nhân khác cung cấp dịch vụ được quy định trong Danh mục phí ban hành kèm theo ” [44]
Trên thực tế, hai khái niệm nêu trên cũng rất rộng, trong quá trình triển khai đề tài này, nhóm nghiên cứu sẽ kết hợp với những thông tin bổ sung trong phần tổng quan về áp dụng các công cụ kinh tế trên thế giới để đưa
ra những đề xuất về phí và thuế phù hợp với tình hình chung
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN
LÝ VÀ HẠN CHẾ PHÁT THẢI KHÍ THẢI VÀO MÔI TRƯỞNG 1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI ÁP DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ NHẰM HẠN CHẾ PHÁT THẢI KHÍ THẢI VÀO MÔI TRƯỜNG
1.1.1 Ảnh hưởng của việc xả thải khí thải đến môi trường
1.1.1.1 Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu
Hiện tượng nóng lên toàn cầu do nồng độ các khí nhà kính (KNK) như
CO2, N2O, CH4 và một số loại khí thải khác gây ra đang ngày càng gia tăng trong khí quyển Các lọai khí thải này phát thải ra hàng ngày từ vô số các hoạt động của con người như: các quá trình tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch trong các họat động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các họat động giao thông, Con người thông qua các họat động của mình đã làm gia tăng nồng
độ các khí nhà kính nói trên và gây hậu quả là nhiệt độ trái đất ngày càng tăng nhanh, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu, gây ra sự biến đổi khí hậu Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến nhiều vấn đề quan trọng, bao gồm sự phát triển nền kinh tế - xã hội cũng như bảo vệ sinh thái và môi trường, năng lượng
và tài nguyên nước, an ninh lương thực và sức khỏe con người, Biến đổi khí hậu cũng liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của xã hội loài người Biến đổi khí hậu do con người gây ra sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng như mực nước biển dâng lên, bão xuất hiện thường xuyên hơn cùng với lũ lụt, hạn hán gây ra nhiều thiệt hại nặng nề về người và tài sản Biến đổi khí hậu cũng gây ra sự biến động dòng chảy sông, ảnh hưởng đến mùa sinh trưởng, phân bố cây trồng, cấu trúc mùa màng hàng năm và hệ sinh thái rừng, làm tăng nguy cơ diệt chủng của một số lòai động vật, thực vật quý hiếm, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm tăng dịch bệnh, đe dọa các công trình xây dựng, giao thông, hệ thống kinh tế-xã hội và các khu dân cư vùng ven biển
Trước những hiểm họa và thách thức nói trên đối với nhân lọai, Hội nghị các Bên của Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP)
đã thông qua Nghị định thư Kyoto tại COP-3 tổ chức ở Kyoto, Nhật Bản năm
Trang 171997 Một trong những nét nổi bật của NĐT Kyoto là các nước công nghiệp
đã cam kết giảm các mức phát thải KNK để ngăn ngừa sự nóng lên toàn cầu Hơn một trăm Quốc gia, trong đó có Việt Nam đã phê chuẩn NĐT Kyoto1 Một trong những đặc điểm quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa vào
áp dụng các cơ chế Kyoto, bao gồm: Đồng thực hiện (JI), Cơ chế phát triển sạch (CDM) và Mua bán phát thải (ET) Trong đó, có 2 hình thức phổ biến và được quan tâm nhiều nhất là :
1 Hình thức mua bán hạn mức khí thải giữa các nước phát triển, nước gây
ô nhiễm nhiều có thể mua hạn mức thải khí chưa dùng hết của các nước khác để được quyền phát thải vượt hạn mức cho phép Nước công nghiệp nào hạn chế hoặc giảm được lượng phát thải nhiều hơn mức mà Nghị định thư quy định cho họ, có thể bán tín dụng phát thải dư thừa cho nước công nghiệp khác có khó khăn hoặc quá tốn kém khi tiến
hành giảm phát thải trong nước của họ (Cơ chế buôn bán quyền phát thải – ET) 1
2 Hình thức mua quyền thải khí thông qua việc đầu tư vào những dự án môi trường ở các nước đang phát triển, như trồng rừng, bảo tồn đất, bảo
vệ đời sống hoang dã, tăng hiệu suất năng lượng, sử dụng năng lượng
tái tạo được, xử lý chất thải, các dự án tiết kiệm năng lượng, (Cơ chế phát triển sạch - CDM) 1
1.1.1.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Việt Nam 2 :
Theo nhận định của Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Môi trường, Việt Nam là một trong số những nước có thể bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu và mực nước biển dâng cao Nhận định này đã được đưa ra tại Diễn đàn quốc gia về thích ứng với hạn hán dựa vào cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Trang 18nông thôn phối hợp với Tổ chức Oxfam và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 3/5/2007
Theo thống kê, trong vòng 46 năm qua (từ năm 1960 đến năm 2006), Việt Nam có tới 34 năm có hạn hán (chiếm 74%) và đặc biệt trong những năm gần đây tình hình hạn hán ngày càng khốc liệt Nguyên nhân của tình trạng trên chủ yếu là do sự biến động của thời tiết, khí hậu ngày càng phức tạp và cực đoan; sự phát triển của kinh tế, xã hội và môi trường dẫn đến nhu cầu nước tăng nhanh, trong khi việc điều tiết các công trình thuỷ lợi của Việt Nam còn nhiều hạn chế, mặc dù đã có sự gia tăng đầu tư
Tại diễn đàn, đại diện các tổ chức quốc tế và các địa phương đã trao đổi về những giải pháp và hành động giải quyết các vấn đề nhằm quản lý hạn hán bền vững; hỗ trợ cộng đồng thích ứng với hạn hán trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu; và một số biện pháp khả quan nhằm giảm thiểu tác động của hạn hán
Trong những năm qua đã có một số nghiên cứu về biến đổi khí hậu tại Việt Nam bao gồm :
- Biến đổi khí hậu ở Châu Á: Việt Nam (Viện QHTL và Viện KTTV phối hợp với các cơ quan thực hiện (1992-1994) với sự tài trợ của ADB)
- Đánh giá tính dễ bị tổn thương của dải ven bờ Việt Nam do Tổng cục Khí tượng Thủy văn thực hiện với sự hỗ trợ của chính phủ Hà Lan
- Đào tạo về Biến đổi khí hậu (Pha 1) (Việt Nam là 1 trong những nước tham gia) do Viện KTTV thực hiện với sự tài trợ của UNDP/ UNITAR/ GEF (1994 – 1996)
- Chiến lược giảm nhẹ khí nhà kính với chi phí thấp nhất ở Châu Á do Viện KTTV thực hiện với sự tài trợ của UNDP, GEF và ADB (1995 – 1997)
- Kinh tế trong hạn chế phát thải khí nhà kính – Pha 1: Xây dựng phương pháp luận cho việc đánh giá giảm nhẹ Biến đổi khí hậu do Viện KTTV thực hiện với sự tài trợ của UNEP/GEF
Trang 19- Thông báo quốc gia đầu tiên cho Công ước Khung của Liên hợp quốc về BĐKH do Viện KTTV thực hiện với sự tài trợ của GEF/UNEP (2003)
- Nghiên cứu Chiến lược Quốc gia về CDM do Viện KTTV thực hiện với sự tài trợ của WB
- Phòng ngừa thảm họa liên quan đến Biến đổi khí hậu do Hội chữ thập đỏ
- Lợi ích của thích nghi với biến đổi khí hậu từ các nhà máy thuỷ điện vừa
và nhỏ, đồng bộ với phát triển nông thôn do Viện KTTVMT thực hiện với
sự tài trợ của DANIDA
- Xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam và Khu vực do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của SEA START
- Các kịch bản về Nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro thiên tai ở Việt Nam do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA
- Tác động của BĐKH đến tài nguyên nước và các Biện pháp thích ứng do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA
- Đánh giá thông tin về BĐKH của các Dự án do DANIDA tài trợ ở Việt Nam do Viện KTTVMT thực hiện với sự tài trợ của DANIDA
- Roger Few (2006): “Linking Climate Change Adaptation and Disaster Risk Management for Sustainable Poverty Reduction Vietnam Country Study”
- Peter Chaudhry và Greet Ruysschaert (2007): ”Biến đổi khí hậu và phát triển con người ở Việt Nam”
- Nguyễn Hữu Ninh (2007): “Flooding in Mekong River Delta”
Trang 20- Trung tâm KH CN KTTVMT (2007): “Nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho địa phương trong việc thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, góp phần thực hiện Công ước Khung của Liên hiệp quốc và Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu”
Các kết quả nghiên cứu ở trên đã bước đầu cho thấy tác động tiềm tàng của biến đổi khí hậu tới Việt Nam đang và sẽ ngày càng nghiêm trọng Cụ thể như sau :
- Việt Nam nằm trong số những nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
- Nếu mực nước biển dâng cao 1 mét, Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích đất đai, nơi cư trú của 23% số dân
- Biến đổi khí hậu cũng làm cho các trận bão thường xuyên xảy ra hơn với mức độ tàn phá nghiêm trọng hơn
- Nhiệt độ tăng và lượng mưa thay đổi sẽ ảnh hưởng nền nông nghiệp và nguồn nước
+ Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0.1oC/thập kỷ Trong một số tháng mùa hè, nhiệt độ tăng khoảng 0.1- 0.3oC/ thập kỷ
+ Mưa lớn thường xuyên hơn gây lũ đặc biệt lớn; Lượng mưa giảm trong mùa khô (VII-VIII) và tăng trong mùa mưa (IV-XI)
- Đường đi của bão dịch chuyển về phía Nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm;
- Lũ đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên hơn ở Miền Trung và Miền Nam;
- Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực của cả nước
- ENSO ảnh hưởng mạnh hơn đối với chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu của nhiều vùng ở Việt Nam;
- Mực nước biển dâng từ 2.5-3 cm/thập kỷ trong thế kỷ qua
Các kịch bản biến đổi khí hậu trong Thông báo Quốc gia lần 1 tóm tắt trong bảng sau
Trang 21Bảng 1.1 Kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam trong Thông báo Quốc
Thông báo Quốc gia lần thứ 2 của Việt Nam được xây dựng sẽ đưa ra
một số kịch bản biến đổi khí hậu giai đoạn 2010-2100 và các biện pháp thích
ứng với biến đổi khí hậu
Bảng 1.2 Kịch bản biến đổi khí hậu tại khu vực Nam Bộ trong Thông báo
Quốc gia lần 2 (kịch bản cao)
Với trên 3.000 km bờ biển, Việt Nam được coi là quốc gia có mức độ
dễ bị tổn thương cao hơn khi mực nước biển dâng do sự biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu có thể sẽ gây tác động xấu đến tất cả các thành phần môi
trường (đất, nước, không khí) và tất cả các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội
bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp, năng lượng, giao
thông, sức khỏe cộng đồng
Tất cả những điều nói trên đều dẫn đến một hậu quả tất yếu là gia tăng
nghèo đói, trước hết là ở cộng đồng nông dân và ngư dân đã nghèo sẵn hoặc
mới thoát nghèo, làm cho chiến lược Quốc gia về xoá đói giảm nghèo trở nên
khó thực hiện và có nguy cơ phá sản tại những vùng nhậy cảm nhất trước
Trang 22BĐKH Nghèo đói thường đi kèm mất ổn định, cũng như tạo ra tác động tiêu cực dây chuyền tới môi trường, xã hội và chính trị
Với mức dự báo BĐKH có thể làm cho 22 triệu người Việt Nam mất đất cư trú, cộng với sự gia tăng nghèo đói và dịch bệnh Dòng người tị nạn xâm nhập dần vào các đô thị it chịu ảnh hưởng của BĐKH, tạo ra các khu dân
cư kiểu “xóm liều, ổ chuột”, gia tăng lực lượng lao động giản đơn, bán hàng rong, tạo thành các nhóm dân lang thang trong đô thị, góp phần nông thôn hoá
đô thị và làm cho quy hoạch các khu vực đô thị trở thành không thể kiểm soát được
1.1.1.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam
Theo nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD),
TP Hồ Chí Minh nằm trong danh sách 10 thành phố bị đe doạ nhiều nhất bởi biến đổi khí hậu (bao gồm Calcutta và Bombay của Ấn Độ, Dacca của Bangladesh, Thượng Hải, Quảng Châu của Trung Quốc, TPHCM của Việt Nam, Bangkok của Thái Lan và Yangon của Myanmar)
Một số kết quả đánh giá sơ bộ của các chuyên gia ADB và Trung tâm Quản lý Môi trường Quốc tế (ICEM- Úc) trong thời gian chuẩn bị cho Dự án ADB “Tác động của biến đổi khí hậu tới các thành phố lớn châu Á- Nghiên cứu trình diễn tại TP Hồ Chí Minh” cho thấy một số tác động của biến đổi khí hậu (đối với kịch bản nước biển dâng 1 m) cần được xem xét và lồng ghép vào quá trình quy họach phát triển KTXH và quy họach phát triển ngành tại
TP Hồ Chí Minh và các tỉnh trong Vùng KTTĐPN như sau :
1) Diện tích đất bị ngập lụt do mực nước biển dâng 1 m :
- Đến năm 2010, 14.520 km2 (tương đượng 4,4% tổng diện tích Việt Nam)
bị ngập thường xuyên, trong đó ĐBSCL chiếm 85% diện tích bị ngập (tương đương 12.376 km2)
Trang 23- 39/64 tỉnh thành (chiếm 60% số tỉnh) và 6/8 vùng kinh tế trọng điểm sẽ bị
2) Số dân bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng 1 m :
- Trên 6 triệu người (chiếm 7,3% dân số cả nước) bị ảnh hưởng, trong đó
TP Hồ Chí Minh có 664.074 người (chiếm 12,1% dân số); Đồng Nai có
65.161 người (chiếm 2.9% dân số); Bình Dương có 20.870 người (chiếm
2.4% dân số), Bà Rịa-Vũng Tàu có 19.346 người (chiếm 2.2% dân số);
Tây Ninh có 1.865 người (chiếm 0.2% dân số của tỉnh) bị ảnh hưởng
(Xem bảng 1.3)
- Nhiều khu dân cư của TP.HCM sẽ bị đe dọa ngập nước
Bảng 1.3 Dự báo số dân tại một số địa phương VKTTĐPN bị ảnh hưởng
do mực nước biển dâng 1 m
TT Tên tỉnh/thành (người) Dân số
Số người bị ảnh hưởng (người)
Tỷ lệ số người bị ảnh hưởng (%)
01 TP Hồ Chí Minh 5.491.580 664.074 12.1
Trang 24TT Tên tỉnh/thành Dân số
(người)
Số người bị ảnh hưởng (người)
Tỷ lệ số người bị ảnh hưởng (%)
(Nguồn : Jeremy Carew-Reid) 3
3) Số dân nghèo bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng 1 m :
Số dân nghèo bị ảnh hưởng do ngập tại TP Hồ Chí Minh sẽ là 48.567 người (chiếm 0,9% dân số), tại Long An là 198.812 người (chiếm 14,1% dân số), tại Tiền Giang là 121.743 người (chiếm 7,2% dân số)
Bảng 1.4 Dự báo số người nghèo tại một số địa phương VKTTĐPN bị ảnh
hưởng do mực nước biển dâng 1 m
TT Tên tỉnh/thành (người) Dân số
Số người nghèo bị ảnh hưởng (người)
Tỷ lệ người
bị ảnh hưởng (%)
01 TP Hồ Chí Minh 5.491.580 48.567 0,9
(Nguồn : Jeremy Carew-Reid)
4) Doanh nghiệp bị ảnh hưởng do mực nước biển dâng 1 m :
- 20 tỉnh thành trên cả nước sẽ có các cơ sở sản xuất bị ngập nước, trong đó
Trang 25Bảng 1.5 Khỏang cách từ các KCN tại VKTTĐPN đến khu vực ngập nước
nếu mực nước biển dâng 1 m
Mức độ rủi ro ngập lụt
TT Tên KCN
Khoảng cách tới khu vực bị ngập nước (km)
Rất cao
(0-1 km)
Cao (1-20 km)
(Nguồn : Jeremy Carew-Reid)
5) Cơ sở hạ tầng : Kết quả đánh giá sơ bộ cũng cho thấy có 16% đường bộ
tại TP.Hồ Chí Minh sẽ bị ngập nước nếu mực nước biển dâng 1 m
Trang 26Nhận thức đúng tầm quan trọng của tác động biến đổi khí hậu, Chính phủ Việt Nam đã sớm ký Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) vào năm 1992 và Nghị định thư Kyoto vào năm 1998 Chính phủ đã giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan đầu mối quốc gia về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu và CDM
Giảm thiểu tác động của khí nhà kính bao gồm các giải pháp làm chậm quá trình biến đổi khí hậu bằng cách giảm phát thải khí nhà kính vào khí quyển Việt Nam được giới chuyên môn đánh giá là nước có tiềm năng CDM trong các ngành tiết kiệm năng lượng, trồng rừng, thu hồi khí rác thải và chăn nuôi…
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 130/2007/QĐ-TTg ngày 02/08/2007 về một số cơ chế, chính sách tài chính đối với các dự án đầu
tư theo cơ chế phát triển sạch tại Việt Nam
Cho đến nay, tại Việt Nam đã tổ chức nhiều dự án liên quan đến CDM như thực hiện kiểm kê khí nhà kính quốc gia, nghiên cứu chiến lược quốc gia
về CDM, tổ chức các khoá huấn luyện nâng cao năng lực thực hiện dự án CDM và nhận dạng các công nghệ tiềm năng cho CDM Trong giai đoạn 2001-2010, Việt Nam có thể giảm khoảng 80 – 120 triệu tấn CO2 Thế nhưng, trên cả nước, con số doanh nghiệp tham gia vào thị trường trên chỉ đếm trên đầu ngón tay Một số dự án CDM đã được các bên liên quan phê chuẩn và đi vào thực hiện như dự án thu gom và sử dụng khí đồng hành mỏ Rạng Đông, dự án nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng ở nhà máy bia Thanh Hoá và nhiều dự án tiềm năng khác như dự án thu gom khí CH4 và phát điện tại bãi rác Gò Cát, Thành phố Hồ Chí Minh; hay dự án của 2 Công
ty Nhật Bản là Mitsui và Marubena ở Mỏ than Mạo Khê
Thành phố Hồ Chí Minh có đến 800 doanh nghiệp có khả năng tham gia vào thị trường mua bán quota khí CO2 nhưng đến nay rất ít doanh nghiệp nào quan tâm đến nguồn lợi trên Theo thống kê chưa đầy đủ, trong năm 2008 tại TP Hồ Chí Minh sẽ có khoảng 10 dự án cơ chế phát triển sạch (CDM)
Trang 27được triển khai Các dự án bao gồm : Bãi rác Phước Hiệp 1; Các dự án CDM
về thay thế các chất dung môi trong việc làm lạnh; Trại chăn nuôi heo; Một số nhà máy, xí nghiệp; xử lý phân hầm cầu … Nguyên nhân của sự chậm trễ triển khai CDM là do Ban điều hành CDM quốc tế đưa ra phải giảm 10 tấn CO2/doanh nghiệp/năm là quá cao trong khi phần lớn doanh nghiệp nước ta
là doanh nghiệp vừa và nhỏ Hơn nữa, thủ tục để được Ban điều hành CDM thế giới chứng nhận khối lượng khí thải giảm được đạt yêu cầu quá phức tạp; công tác tuyên truyền về vấn đề này đến các doanh nghiệp chưa sâu rộng Điều dễ thấy là phần lớn các doanh nghiệp còn chưa hiểu biết nhiều về cách thức cũng như tự đánh giá khả năng của mình khi tham gia vào cơ chế phát triển sạch
Hội nghị về Công ước biến đổi khí hậu được tổ chức vào ngày 6/12/2007 vừa qua tại Bali, Inđônêxia nhận định Việt Nam sẽ thu được khoảng 250 triệu USD từ các dự án CDM trong vòng 4 năm tới (2008-2012), trong đó, Bình Dương có nhiều khả năng đạt mức thu cao
Sắp tới, Thành phố HCM sẽ đánh giá lại toàn bộ khả năng CDM và sẽ
có các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực này Thành phố sẽ mời chuyên gia môi trường của các nước đến để chia sẻ kinh nghiệm bảo vệ môi trường
và thực hiện các dự án CDM Thành phố sẽ cử 25 cán bộ đi nước ngoài học
về CDM để giúp Thành phố triển khai thành công chương trình này
Hình thức của các dự án CDM đã thực hiện ở Việt Nam và đa số các nước khác là các tổ chức, cơ quan, công ty ở các nước phát triển, thông qua các công ty cung cấp công nghệ, tìm đến các nước đang phát triển, có tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính để thực hiện dự án Phía các nước phát triển đầu tư vốn, công nghệ giảm phát thải và nhận được “chứng chỉ giảm phát thải”, thực hiện cam kết giảm lượng khí nhà kính đã ký trong nghị định thư Kyoto Như vậy, thị trường buôn bán phát thải có thể nói đang ở tình trạng một chiều, nghĩa là người mua chủ động tìm đến những địa chỉ có tiềm năng cung cấp sản phẩm mà họ cần Trong thời gian tới, sự phát triển về quy mô và
Trang 28chất lượng của thị trường sẽ thay đổi, và theo đó, hình thức buôn bán phát thải
sẽ thay đổi theo hướng cân bằng hơn, nghĩa là các nhà cung cấp sản phẩm chủ động tìm đến người tiêu dùng
Theo các nhà khoa học, GDP Việt Nam sẽ tăng liên tục trong các năm tới Để đạt được sự tăng trưởng này, nhu cầu về năng lượng cho công nghiệp, giao thông và các hoạt động khác sẽ tăng rất nhiều Việc sử dụng các loại nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ và khí thiên nhiên chắc chắn sẽ làm tăng lượng khí phát thải vào môi trường Do vậy, việc triển khai mạnh mẽ các
dự án CDM sẽ là yêu cầu cấp thiết
Trong thời gian tới, khi Việt Nam tham gia nhiều hơn vào quá trình CDM, các doanh nghiệp sẽ thực sự có cơ hội để tham gia vào thị trường này Trong quá trình kêu gọi đầu tư để thay đổi công nghệ và thiết bị sản xuất, các doanh nghiệp có thể tiếp nhận được những công nghệ hiện đại, thân thiện môi trường giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao vì nâng cao được hiệu quả sản xuất, đồng thời giảm được tác động đến môi trường
Đây là một hướng tiếp cận rất mới đối với Việt Nam và cả trên thế giới, nhưng lại là hướng phát triển tất yếu khi các cam kết trong Nghị định thư Kyoto được thực hiện và các nước tham gia vào quá trình CDM Tất nhiên, khi xuất hiện thị trường trao đổi chứng chỉ giảm phát thải CERs với các quy luật thị trường và các quy định khác có liên quan, sẽ còn rất nhiều vấn đề phải xem xét đến Tuy nhiên, có thể khẳng định đây là một hướng đi triển vọng và phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam trong hành trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
1.1.1.4 Ô nhiễm môi trường không khí và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Bên cạnh các khí thải gây nên hiệu ứng nhà kính, gây ra hiện tượng nóng lên của Trái đất, biến đổi khí hậu, các khí thải sinh ra từ các họat động giao thông, các hoạt động sản xuất hàng ngày (sử dụng các nguyên liệu hóa thạch
Trang 29truyền thống như than đá, dầu, khí đốt, ), các họat động của các Khu công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các Khu chế xuất, như : Bụi, CO2, NO2, SO2, THC thải trực tiếp vào bầu khí quyển của chúng ta ngày càng gia tăng và vượt gấp nhiều lần so với Tiêu chuẩn cho phép, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống con người (gây ra các bệnh nan y, các bệnh về đường hô hấp, ung thư và nhiều bệnh liên quan khác); là nguyên nhân gây nên hiện tượng mưa axit
Mưa axít là một sản phẩm phụ nguy hại của ô nhiễm không khí Khí sulfua điôxít và ôxit nitơrat thải ra sẽ tạo phản ứng với nước và ôxy trong không khí thành axít sulfuaric và axít nitơric có thể rơi xuống những vùng lân cận hoặc những vùng cách xa nơi gây ô nhiễm hàng ngàng dặm Mưa xít phá hủy mùa màng, tàn phá những cánh rừng, phá hỏng những cấu trúc của các tòa nhà, gây ô nhiễm nguồn nước sông, hồ, và đặc biệt gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người
Với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng gia tăng, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), từ đó sẽ kéo theo sự gia tăng nhiều hơn nữa trong việc phát thải các lọai khí thải này vào môi trường không khí của chúng
ta, gây nên hiệu ứng nhà kính, gây ô nhiễm môi trường,
Mặt khác, với tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày một cách nhanh chóng, nhất là đối với khu vực thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến sự gia tăng
về dân số kéo theo sự gia tăng về nhu cầu sử dụng các lọai xe gắn máy, ô tô các lọai, hàng loạt công trình mới quy mô lớn đang được xây dựng khắp thành phố cũng khiến nồng độ bụi, tiếng ồn gia tăng và vượt qua tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt nồng độ chì trong khí thải giao thông đang có xu hướng tăng nhanh
Trang 301.1.2 Sự cần thiết áp dụng công cụ kinh tế để hạn chế việc xả thải khí thải
Để bảo vệ và quản lý môi trường một cách hiệu quả, chúng ta cần phải triển khai thực hiện một cách đồng bộ các giải pháp như : tuyên truyền giáo dục và nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người đối với môi trường, hoàn thiện hệ thống luật pháp về bảo vệ môi trường và các công cụ kinh tế Mỗi một giải pháp có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, chúng có mối liên hệ chặt chẽ và tác dụng hỗ trợ lẫn nhau Trong đó, các công cụ kinh tế luôn giữ vai trò quan trọng điều chỉnh kinh tế vĩ mô theo hướng tích cực, có tác dụng buộc người gây ô nhiễm phải thực hiện các mục tiêu về môi trường bằng các phương tiện, chi phí hiệu quả nhất, kích thích sự phát triển công nghệ mới và tăng cường chuyên sâu về kiểm soát ô nhiễm trong khu vực tư nhân, khuyến khích công tác nghiên cứu và phát triển “sản xuất sạch”
Phần lớn những công cụ kinh tế đã kích thích những người gây ô nhiễm có khả năng hoàn thành các mục tiêu môi trường bằng những phương tiện có hiệu quả, chi phí - hiệu quả nhất Với những mức độ khác nhau, chúng sử dụng những nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền", và "người hưởng lợi phải trả tiền" Theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền, thì ở mức
độ ô nhiễm cao sẽ chịu phạt về tài chính cao hơn, còn ở mức độ thấp hơn thì chịu phạt ở mức thấp hơn, hoặc thậm chí còn được thưởng nữa Mục đích của nguyên tắc này là kết hợp các tiêu chuẩn với các phí, sẽ nhất thể hóa các chi phí về bảo vệ môi trường ở mức chi phí xã hội tối thiểu Theo nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền, thì người sử dụng phải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó, ví dụ trả tiền nước và các dịch vụ liên quan bao gồm cả chi phí xử lý nước Trong khi một số công cụ kinh tế ứng dụng các chi phí trực tiếp (Ví dụ: phạt dựa trên khối lượng chất độc thải ra, hệ thống trả phí theo từng thứ chất thải rắn, phí cho phép thải khí tính theo mức
độ thải khí ra, tiền ký quỹ có thể được hoàn trả cho các bao bì), các công cụ khác lại sử dụng các chi phí gián tiếp như thuế đánh vào đầu ra
Trang 31• Một số ưu điểm của các công cụ kinh tế như sau:
- Khuyến khích sử dụng các biện pháp chi phí hiệu quả để đạt được các mức
- Cung cấp tính linh động trong các công nghệ kiểm soát ô nhiễm
- Đáp ứng được yêu cầu của Chính phủ về một lượng lớn thông tin chi tiết cần thiết để xác định mức độ kiểm soát khả thi và thích hợp đối với mỗi nhà máy và sản phẩm (OECD 1989)
• Một số bất lợi của việc áp dụng các công cụ kinh tế:
- Không thể dự đoán được như trong phương cách pháp truyền thống, vì những người gây ô nhiễm có thể lựa chọn giải pháp riêng cho họ Nếu mức thu phí không thỏa đáng, một số người gây ô nhiễm có thể chịu nộp phí rồi sau đó vẫn tiếp tục gây ô nhiễm
- Đối với các nước đang phát triển, một điểm yếu khác của các công cụ kinh
tế (đặc biệt là giấy phép có thể bán được và các phí xả khí, nước thải) là chúng đòi hỏi phải có những thể chế phức tạp để thực hiện và buộc phải thi hành
- Khi áp dụng nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, không có lý do thỏa đáng nào khiến Chính phủ phải tham gia vào việc điều chỉnh sự tổn thất do ô nhiễm, trừ trường hợp buộc thực thi quyền bất động sản Tùy thuộc vào tình trạng ai là người sở hữu quyền bất động sản, hoặc người gây ô nhiễm sẽ phải trả cho nạn nhân chịu đựng tổn thất, hoặc là nạn nhân phải trả cho người gây ô nhiễm để anh ta không gây ô nhiễm nữa (Pearce
và Turner 1990)
Trang 32- Về lý thuyết, các công cụ kinh tế có khả năng kiểm soát ô nhiễm theo các
cơ chế thị trường, và do đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giảm bỏ các quy định pháp lý và giảm bớt sự tham gia của Chính phủ Nhưng trong thực tế, chúng không thể loại trừ được nhu cầu cần có các quy định, luật
lệ, cưỡng chế thi hành và các hình thức tham gia khác của Chính phủ Trong các nước công nghiệp hóa, không có một ví dụ nào cho thấy các công cụ kinh tế thay thế hoàn toàn cho việc điều chỉnh trực tiếp các hoạt động gây ô nhiễm Trong phần lớn các trường hợp, các công cụ kinh tế bổ sung cho các quy định trực tiếp, theo đó sẽ đóng góp cho việc hình thành các mục tiêu chính sách Ví dụ, trong các hệ thống kiểm soát dòng nước thải ra, biện pháp thu phí không loại trừ được nhu cầu điều chỉnh việc đổ nước thải bằng các giấy phép Trong buôn bán giấy phép thải khí, sự chấp thuận của cơ quan phụ trách chất thải đã được thay thế bởi sự chấp thuận của các cơ quan giao dịch thương mại (OECD 1989) Trong trường hợp các giấy phép có thể bán được và thu phí thải khí, thải nước, có sự lựa chọn rộng rãi hơn về địa điểm và phương thức giảm ô nhiễm, các hệ thống giám sát và thực thi thường là phức tạp và đắt tiền hơn các hệ thống mà các công cụ pháp lý cần đến (Moore et al 1989) Tuy nhiên, không phải là tất cả các công cụ kinh tế đều yêu cầu sự giám sát và thực thi đắt tiền Ví dụ: Cách ký quỹ bao bì nước giải khát, không đòi hỏi sự giám sát và thực thi đắt tiền Ngoài ra, khoản chi phí nước thải sinh họat nói chung là dựa trên mức tiêu thụ nước sạch, đã được giám sát tại phần lớn các nước trong khu vực
- Tác động trực tiếp của các công cụ kinh tế tới chất lượng môi trường không lớn, mặc những tác động gián tiếp (dành ra một số thu nhập nhờ các loại kinh phí thu được để phục vụ các hành động kiểm soát ô nhiễm) là tích cực (Halm 1989)
- Không phải lúc nào các cơ quan chính phủ, những người gây ô nhiễm và những nhà môi trường cũng ủng hộ phương cách áp dụng các công cụ kinh
Trang 33tế Các cơ quan hành pháp nói chung đã phản đối công cụ này bởi vì chúng làm cho chính phủ ít kiểm soát được chặt chẽ đối với những người gây ô nhiễm, và giảm khả năng dự đoán về lượng ô nhiễm thải vào môi trường
Ở các nước phát triển, một số nhà công nghiệp và những người gây ô nhiễm đã phản kháng các công cụ kinh tế như phí đánh vào khí thải, nước thải, vì họ khẳng định rằng họ có khả năng lớn hơn trong việc xây dựng các hệ thống xử lý và thực hiện các tiêu chuẩn so với trường hợp áp dụng các công cụ kinh tế
- Các công cụ kinh tế có tác dụng như một công cụ bổ sung vào các quy định pháp lý là kiềm chế phát triển công nghiệp Một số công cụ kinh tế (nhất là một số loại phí) đã đặt một gánh nặng tài chính vượt quá các chi phí để thực hiện đúng các quy định (OECD 1989) Hơn nữa, nếu áp dụng các phí cao ở một nước, thì các điều kiện môi trường ưu đãi hơn sẽ xuất hiện ở các nước có mức kiểm soát môi trường ít chặt chẽ hơn
- Không phải tất cả các loại ô nhiễm đều thích hợp với phương cách kích thích kinh tế Ví dụ: Các chất độc có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, thì các quy định trực tiếp là thích hợp hơn Hơn nữa, một số các nhà môi trường thực sự phản đối bất kỳ một nguyên tắc nào hàm ý có quyền gây ô nhiễm, mặc dù hệ thống pháp lý hiện hữu hoạt động trong khuôn khổ những giấy phép cho phép thải ra một lượng chất ô nhiễm mà người gây ô nhiễm không phải trả phí hoặc chỉ phải trả rất ít (Anderson et
al 1989)
Tuy sẽ gặp phải một số bất lợi khi triển khai áp dụng như đã phân tích
ở trên, nhưng trên thực tế việc sử dụng các công cụ kinh tế là cơ sở định giá đúng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong tự nhiên, đồng thời hạn chế được sự phung phí và ngăn chặn các nguyên nhân gây ô nhiễm và suy thoái môi trường Ngoài ra, quá trình áp dụng các công cụ kinh tế sẽ thúc đẩy triển khai các công nghệ phòng ngừa ô nhiễm, kiểm soát được các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, tạo điều kiện
Trang 34cho người gây ô nhiễm được quyền tự do lựa chọn các phương thức thích hợp
để đảm bảo duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với các yêu cầu về tiêu chuẩn môi trường
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Trên thế giới các công cụ kinh tế khác nhau (Quyền sở hữu rõ ràng khu vực thải – định lý Coase; Thuế môi trường; Phí ô nhiễm môi trường; Hạn ngạch ô nhiễm - giấy phép xả thải có thể mua bán được; Ký quỹ và hoàn trả; Trợ cấp môi trường; Nhãn sinh thái …) đã được áp dụng khá phổ biến trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Các công cụ kinh tế này đem lại sự mềm dẻo, chi phí - hiệu quả cho các biện pháp kiểm soát ô nhiễm và đã cho thấy được một
số tác động tích cực như: Các hành vi môi trường được điều chỉnh một cách
tự giác, làm giảm đáng kể việc phát thải các lọai khí thải gây ô nhiễm môi trường không khí; Các chi phí của xã hội dành cho công tác bảo vệ môi trường được sử dụng hiệu quả hơn; Khuyến khích việc nghiên cứu triển khai các công nghệ tiên tiến trên thế giới, để có lợi cho bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia
1.2.1 Quyển sở hữu rõ ràng khu vực thải - Định lý COASE
Các giao dịch đều gắn với một số loại chi phí nhất định Định lý Coase phát biểu rằng, khi chi phí giao dịch bằng 0, một kết cục hiệu quả sẽ xảy ra bất chấp việc chọn lựa các quy phạm pháp luật Khi xuất hiện chi phí giao dịch, kết cục hiệu quả có thể không xảy ra Vì vậy, quy phạm pháp luật được
ưu tiên chọn lựa là quy phạm tối thiểu hóa tác động của chi phí giao dịch Định lý Coase cho rằng, bằng cách xác định quyền sở hữu rõ ràng khu vực thải, thì dù người bị ô nhiễm có quyền sở hữu ở khu vực thải hoặc người gây ô nhiễm có quyền sở hữu ở khu vực thải cũng sẽ bàn bạc, đi đến giải quyết vấn đề ô nhiễm một cách hiệu quả nhất dưới góc độ kinh tế môi trường
Trang 35Một thí dụ: Một ông bác sĩ sống cạnh một ông sửa xe Ông sửa xe
thường xuyên xả khói bụi sang nhà ông bác sĩ Nếu ông bác sĩ kiện ông sửa xe
ra tòa, thì ắt hẳn tòa sẽ tuyên bố ông bác sĩ thắng kiện Nhưng điều đó chỉ làm cho ông sửa xe bị giảm sút doanh thu, mà chưa chắc đã làm cho ông bác sĩ kiếm thêm được tiền Cách hiệu quả hơn là hãy để cho cả hai thỏa thuận với nhau: nếu quả thật là mở phòng mạch có nhiều tiền hơn sửa xe, thì ông bác sĩ
sẽ bỏ tiền bồi thường cho ông sửa xe Ông sửa xe không phải làm việc mà vẫn
có tiền Còn nếu sửa xe kiếm được nhiều tiền hơn chữa bệnh, thì ông sửa xe
sẽ trích lợi nhuận của mình trả cho ông bác sĩ
Như vậy, công cụ này đơn thuần chỉ xác định quyền sở hữu rő ràng về khu vực thải thì người gây ô nhiễm và bị ô nhiễm sẽ "nội hóa" nghĩa là họ tự giải quyết vấn đề ô nhiễm Cách giải quyết này xem ra tương đối thuận lợi và
đỡ tốn kém Nhưng phương pháp này còn nhiều nhược điểm và mâu thuẫn khó có thể thực hiện:
- Trong cách giải quyết này cho rằng chi phí bàn bạc thỏa thuận giải quyết vấn đề ô nhiễm bằng không Điều này khó thực hiện trong thực tế Bởi vì bàn bạc giải quyết vấn đề ô nhiễm tốn rất nhiều thời gian và công sức, hơn nữa việc bàn bạc giải quyết vấn đề ô nhiễm lại không có phạm vi nhất định
và chủ yếu cho tương lai
- Không phải khu vực thải nào cũng phân biệt được quyền sở hữu rõ ràng, rành mạch
- Công cụ này chỉ có thể phát huy trong một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, điều kiện không phải lúc nào, ở đâu và môi trường nào cũng tồn tại
- Gây ra một ngịch lý là người bị ô nhiễm phải trả phí cho người gây ô nhiễm trong trường hợp quyền sở hữu khu vực thải thuộc về người gây ô nhiễm
Trang 36- Cuối cùng định lý Coase chỉ đúng khi chi phí giao dịch nhỏ Chi phí giao dịch là những chi phí mà các bên phải bỏ ra để đi đến thỏa thuận Thông tin không đầy đủ, một bộ phận được đặc quyền đặc lợi, thực thi kém là những lý do khiến các bên ngại thỏa thuận, ngại ra quyết định khi kinh doanh
1.2.2 Thuế môi trường
Thuế môi trường là loại thuế thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra ô nhiễm môi trường, từ các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng góp Công cụ thuế ô nhiễm môi trường được sử dụng nhằm : một mặt tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác hạn chế hoặc ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ngăn chặn các tác nhân gây ô nhiễm môi trường tại các khu đô thị và công nghiệp
Thuế môi trường có nhiệm vụ kích thích và điều chỉnh sản xuất và tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường, để từ đó thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng sạch nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người hoặc có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình sản xuất và sản phẩm mới giảm thiểu tiêu hao nguyên nhiên vật liệu và các chất thải từ quá trình sản xuất làm ô nhiễm môi trường, và tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
Trong một số trường hợp, Chính phủ đã dành khuyến khích về thuế cho các công nghiệp nào đặt các phương tiện của họ xa khu đô thị tập trung Phạm
vị mà những khuyến khích về thuế có thể được sử dụng cho các mục đích môi trường, tùy thuộc vào hệ thống đánh thuế riêng biệt Tuy nhiên, nói chung, những khuyến khích về thuế chỉ nên sử dụng ở nơi mà nó có thể được minh chứng rõ ràng rằng việc đầu tư cho chi phí giảm thiểu ô nhiễm hay di chuyển
xí nghiệp làm cho các công ty phải chịu những gánh nặng nghiêm trọng về tài chính Trong trường hợp phải di chuyển, kéo theo các chi phí giao dịch cao hơn nhiều và việc giải tỏa đất đai để dành cho các mục đích sản xuất cao hơn, thì khuyến khích về thuế tỏ ra là hợp lý hơn (Kosmo 1989)
Trang 37Cho đến nay, trên thế giới đã xuất hiện một số loại thuế môi trường hoặc các loại thuế có liên quan tới bảo vệ môi trường Trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thuế của nhiều nước trên thế giới, nội dung về bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng để đưa vào quy định trong các sắc thuế Đặc biệt, hiện nay tại các nước phát triển đang thực hiện cuộc cải cách “thuế xanh”
• Một số ưu điểm của công cụ Thuế môi trường:
- Thuế môi trường cấu thành vào giá hàng hoá, dịch vụ, nên có tác dụng kích thích và điều chỉnh sản xuất, tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường, thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng “sạch” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người hoặc có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình sản xuất và sản phẩm mới giảm thiểu tác hại đến môi trường
- Thuế dễ thu hơn so với phí do số lượng hàng hóa thường dễ giám sát hơn so với khí thải; cơ quan thu thuế nhà nước đã có sẵn tại mỗi quốc gia
- Xét trên khía cạnh kinh tế, thuế đánh vào các nguồn thu nhập từ lao động, vốn và tiết kiệm thường gây các ảnh hưởng tiêu cực hơn cho xã hội so với thuế ô nhiễm môi trường Tăng thuế đánh vào thu nhập (thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp) thường là một trong những nguyên nhân làm giảm động lực làm việc, giảm tiết kiệm, đầu tư Nhưng thuế ô nhiễm môi trường không gây tác động của thuế đối với tăng trưởng kinh tế, hơn nữa về lâu dài còn góp phần làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và nền kinh tế Điều này có nghĩa
là nguồn thu từ thuế ô nhiễm môi trường có thể được sử dụng để thay thế nguồn thu từ các loại thuế khác đối với thu nhập từ lao động và vốn Việc chuyển đổi đối tượng của các loại thuế: từ việc đánh vào “những cái tốt” của nền kinh tế (như lao động và vốn) sang “những cái xấu”
Trang 38(như ô nhiễm môi trường) sẽ phát huy được khía cạnh sinh thái học của thuế
• Thuế môi trường có hai nhược điểm chủ yếu như sau:
- Thứ nhất, do nó không có quan hệ trực tiếp với ô nhiễm, nên nó không tạo ra công cụ khuyến khích xử lý ô nhiễm Ví dụ : không có thuế môi trường nào tạo ra khuyến khích cho nhà máy điện lắp đặt và vận hành
hệ thống hấp thụ khí thải, vì nhà máy có hệ thống hấp thụ khí thải phải đóng thuế bằng với nhà máy không có hệ thống xử lý khí thải
- Thứ 2, đối với thuế đánh trên nguyên liệu đầu vào ô nhiễm, khi công ty thay nguyên liệu ít ô nhiễm hơn thì chi phí giảm một đơn vị ô nhiễm sẽ tăng cao hơn
1.2.3 Phí ô nhiễm môi trường
Phí ô nhiễm môi trường là khoản thu của Nhà nước, được sử dụng để bù đắp một phần các chi phí cho công tác bảo vệ và quản lý môi trường, đồng thời đảm bảo cung cấp dịch vụ trực tiếp cho người nộp phí Phí ô nhiễm đặt ra các chi phí phải trả để kiểm soát lượng ô nhiễm tăng thêm nhưng lại để cho mức tổng chất lượng môi trường là bất định Việc áp dụng chúng đặc biệt thích hợp khi có thể ước tính tương đối chính xác sự tổn thất do lượng ô nhiễm tăng thêm gây ra, thích hợp khi các nhà quản lý đòi hỏi phải đạt được
sự chắc chắn trong thực hiện được mức chất lượng môi trường (Anderson et
al 1989)
Có thể phân biệt các loại phí ô nhiễm theo hai loại : Phí phát thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường và Phí ô nhiễm môi trường đánh vào sản phẩm hàng hoá
• Phí xả thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường (Nước thải &
khí thải):
Trang 39Phí xả thải các chất thải gây ô nhiễm môi trường là loại phí do một cơ quan chính phủ thu dựa trên cơ sở xác định số lượng và/hoặc chất lượng chất
ô nhiễm do một số cơ sở công nghiệp thải vào môi trường
Nói chung, các phí xả thải được sử dụng cùng với các quy định, tiêu chuẩn
và các giấy phép Các quy định và tiêu chuẩn về mức được phép xả thải chất thải đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi khu vực,…được dựa trên nhiều yếu tố đặc biệt là phải xác định được tổng lượng khí thải gây ô nhiễm tối đa có thể cho phép xả thải vào môi trường cho từng vùng, từng khu vực được chỉ định là bao nhiêu và cần phải nhất quán với các giấy phép đã được cấp Nếu có những quy định khác nhau giữa các ngành, giữa các lĩnh vực sản xuất kinh doanh về mức phí phải nộp, thì cần phải có sự điều chỉnh cho thích hợp Các kế hoạch thu phí xả thải phải thống nhất trong toàn khu vực Để đảm bảo thực hiện hữu hiệu hệ thống này thì cần phải có sẵn hoặc phải tạo ra một
số điều kiện về thể chế, chính trị và kỹ thuật Thứ nhất, cơ quan chịu trách nhiệm (thường là một cơ quan khu vực) cần phải bao quát được các ranh giới
tự nhiên như đường phân thủy, phân không và có quyền lực pháp lý để áp đặt
và buộc những người gây ô nhiễm phải nộp các khoản phí Cơ quan này phải
có các phương pháp phân tích và các dữ liệu để xác lập được giá trị bằng tiền của những tổn thất gây ra bởi các chất ô nhiễm khác nhau hoặc phải có phương pháp để ước tính mức phí cần thiết để đáp ứng được các tiêu chuẩn môi trường, các nguồn lực đủ để giám sát sự xả thải của từng nguồn ô nhiễm,
tự giám sát với sự kiểm tra và cưỡng chế thực thi định kỳ, và quyền lực pháp
lý đối với việc sử dụng các khoản thu phí (Moore et al 1989) Khi các loại phí ô nhiễm và các giấy phép được sử dụng đồng thời, điều quan trọng là phải
có sự phối hợp chặt chẽ giữa hai công cụ này Các quy cách đối với sự xả thải
ô nhiễm cũng cần phải giống như đã nêu trong các giấy phép và trong bản tính toán các khoản thu Nếu như những quy cách này khác nhau thì sự buộc thực thi sẽ khó khăn hơn, vì rằng cả hai loại yêu cầu đều phải được kiểm tra
Trang 40và sát, trừ khi các giấy phép điều chỉnh một loại chất, còn các khoản thu (phí) lại điều chỉnh loại chất khác; nói chung, trường hợp này là không có
Về lý thuyết, các phí xả thải có một số ưu điểm như sau:
- Khuyến khích các cơ sở sản xuất giảm ô nhiễm với chi phí thấp hơn so với chi phí cần cho phương cách "Mệnh lệnh-Kiểm soát"
- Kích thích các cơ sở sản xuất đầu tư vào công nghệ kiểm soát ô nhiễm môi trường
- Tạo ra thu nhập để tài trợ và nâng cao các hoạt động buộc thực thi
- Các phí xả thải có thể bù đắp, ít nhất là một phần cho những chi phí không được thanh toán của các hoạt động bảo vệ môi trường công nghiệp nói chung thường là do xã hội khởi xướng Chúng bao gồm các chi phí của chính phủ liên quan đến việc xây dựng và cưỡng chế thi hành các quy định về môi trường cũng như những chi phí phát sinh từ những xả thải được phép nhưng vẫn còn gây ra tổn thất cho các tài nguyên thiên nhiên (Harin 1990)
Một số bất lợi chính khi áp dụng phí xả thải chất ô nhiễm liên quan đến những cân nhắc thực tế và chính trị:
- Công nghiệp luôn luôn thích kiểm soát, thông qua các tiêu chuẩn hơn là thông qua một hệ thống phí, vì rằng việc trả phí cho sự xả thải sẽ làm cho tổng chi phí đầu vào tăng cao
- Không có cách nào được chấp nhận về mặt khoa học hay chính trị để quy giá bằng tiền cho tổn thất ô nhiễm Việc định ra các phí còn phức tạp hơn vì địa điểm của các nguồn ô nhiễm riêng lẻ sẽ quyết định mức
độ tổn thất đối với chất lượng môi trường xung quanh, do vậy, đòi hỏi phải có những mức phí riêng cho từng cơ sở sản xuất Điều này dẫn đến
sự cạnh tranh giữa các khu vực để phát triển kinh tế bằng cách giảm phí, nghĩa là làm tổn hại đến các khu vực cố gắng cải thiện chất lượng môi trường