1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản ' chống bán phá giá' ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp việt nam

33 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 541,07 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, việc nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu các vụ kiện bán phá giá và chủ động đối phó khi bị kiện bán phá giá có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Thành p

Trang 1

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN

“CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU

CHO CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:

GS TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN

THƯ KÝ KHOA HỌC:

GS.TS.VÕ THANH THU

CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU:

1 PGS.TS NGUYỄN ĐÔNG PHONG

2 TSKH TRẦN TRỌNG KHUÊ

3 ThS TRẦN NHẬT MINH

4 ThS Luật sư NGUYỄN VĂN THANH

5 ThS KIM NGỌC ĐẠT

6 ThS NGÔ HẢI XUÂN

7 Th.S CAO THỊ VIỆT HƯƠNG

Trang 3

1 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

Cùng với tiến trình tăng tốc để đưa nhanh nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế khu vực

và thế giới, thì hoạt động xuất khẩu của Việt Nam gia tăng mạnh: kim ngạch xuất khẩu bình quân mỗi năm tăng 18-20%; nhiều mặt hàng có thứ hạng xuất khẩu cao của thế giới (hồ tiêu đứng đầu thế giới, gạo đứng thứ hai, đứng thứ ba về xuất khẩu cà phê, cao su, điều nhân, đứng đầu trong 10 nước về xuất khẩu thủy sản, gỗ, hàng dệt may, giày dép, thủ công mỹ nghệ) Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam: chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, là trung tâm xuất khẩu hàng đầu nhiều mặt hàng chủ lực của Việt Nam Cùng với tiến trình tăng tốc xuất khẩu, thì một trong những nguy cơ mới xuất hiện làm cản trở hoạt động xuất khẩu, thậm chí mất thị trường xuất khẩu, đó là hiện

tượng bị kiện bán phá giá ở nước nhập khẩu và nếu bị thua kiện thì bị áp thuế nhập khẩu rất cao, khiến

sức cạnh tranh về giá hàng xuất khẩu của Việt Nam bị giảm Các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam gia tăng, nếu cách đây 10 năm chỉ có 1-2 vụ kiện, thì nay đã có trên 25 vụ kiện; nếu trước đây những mặt hàng bị kiện là những mặt hàng thứ yếu, kim ngạch xuất khẩu không lớn như quẹt

ga, bóng đèn, xe đạp… thì nay bị kiện ở những mặt hàng xuất khẩu chủ lực: tôm sú, cá basa, giày dép… trên những thị trường chủ lực Tỷ lệ các doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh bị liệt vào các danh sách

có hiện tượng bán phá giá hàng hoá xuất khẩu khá cao, gần 50% số doanh nghiệp trong danh sách bị kiện bán phá giá ở các mặt hàng xuất khẩu

Cho nên, việc nghiên cứu các giải pháp giảm thiểu các vụ kiện bán phá giá và chủ động đối phó khi bị kiện bán phá giá có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu của Thành phố trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và giữ vững thị trường xuất khẩu Đây chính là tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu và nó còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Việt Nam thực hiện xong lộ trình cắt giảm thuế quan có hiệu lực chung CEPT của AFTA, và đã gia nhập WTO Tốc độ xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2007 đang gia tăng mạnh, tăng hơn 20% so với cùng kỳ, khả năng bị áp thuế chống bán phá giá nhiều hơn vì để giảm tốc độ và khả năng xuất khẩu vào thị trường của họ các nước nhập khẩu sẵn sàng áp dụng biện pháp chống bán phá giá khi có điều kiện

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

2.1 Về phương diện lý luận:

− Nghiên cứu cơ chế pháp lý xác định bán phá giá và khởi kiện bán phá giá hàng nhập khẩu của các nước và của WTO

− Nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá của Trung Quốc, Thái Lan, Ấn

Độ và rút ra các bài học đối với các doanh nghiệp Việt Nam

2.2 Về phương diện thực tiễn:

Nhóm đề tài thực hiện khảo sát và đánh giá:

− Tình hình xuất khẩu thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ và vụ kiện chống bán phá giá đối với tôm sú, cá basa của Việt Nam Các bài học rút ra cho các doanh nghiệp Thành phố nói riêng và cả nước nói chung

− Tình hình xuất khẩu giày dép của các doanh nghiệp Thành phố và Việt Nam sang thị trường EU và

vụ kiện chống bán phá giá giày mũ da của EU đối với các doanh nghiệp Việt Nam và các bài học rút ra

− Nghiên cứu khả năng bị kiện bán phá giá ở mặt hàng dệt may trên thị trường Hoa Kỳ (năm 2006, Việt Nam xuất khẩu dệt may gần 6 tỷ USD, thị trường Hoa Kỳ chiếm trên 50% kim ngạch xuất khẩu)

− Nghiên cứu những nhân tố tác động, bao gồm những nhân tố khách quan và chủ quan

− Đề xuất 2 nhóm giải pháp:

+ Các giải pháp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam Các giải pháp trình bày dưới dạng cẩm nang hướng dẫn cho các doanh nghiệp: phòng chống bị kiện bán phá giá; khi bị kiện đối phó như thế nào? và khi bị thua kiện phải làm gì để giảm bớt thiệt hại

+ Các khuyến nghị:

o với các cơ quan quản lý Nhà nước;

o với các Hiệp hội; VCCI…

Các khuyến nghị nêu những công việc các cơ quan, đơn vị kinh tế phải làm theo đúng quy định quốc tế để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam

Trang 4

3 ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI:

Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận với hàng trăm tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước, qua đó thừa kế những thành công và phát triển, hoàn thiện các vấn đề mà những tác giả khác chưa làm rõ hoặc chưa đề cập; đề xuất các giải pháp mới mang tính khoa học và thực tiễn Sau

đây là những tác phẩm tiêu biểu mà nhóm nghiên cứu đã tiếp cận:

a Các tác phẩm mang yếu tố quốc tế:

1 Hiệp định Chống bán phá giá của WTO

2 Thủ tục pháp lý khi áp dụng thuế chống bán phá giá: hướng dẫn các nhà xuất khẩu, nhập khẩu

UNCTAD/WTO, 1997

3 Cẩm nang thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp-Hội đồng Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ 11/1999

4 Edwin Vermulst: Những vấn đề liên quan đến chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với các nước

đang phát triển trong vòng đàm phán thiên niên kỷ: những yếu tố chủ yếu cần cải cách Thuộc Chương trình nghị sự và đàm phán thương mại trong tương lai, UNCTAD 2000

5 Viet Nam and the Non-Market Economy issue Dr Adam Mc Carty

Những thành công của các tài liệu kể trên mà nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu (thừa kế): khắc họa

rõ nét về bản chất bán phá giá và bị kiện bán phá giá; vai trò và mặt trái của bán phá giá; áp dụng biện pháp

chống bán phá giá; những thủ tục pháp lý mang tính nguyên tắc khi bị áp dụng thuế bán phá giá

Những hạn chế của các tác phẩm kể trên (so với mục tiêu đề tài mà nhóm nghiên cứu dự kiến thực hiện):

- Chưa nêu được vấn đề bán phá giá hàng xuất khẩu ở các nước có nền kinh tế chưa được công nhận thị trường đầy đủ

- Chưa nêu được vai trò của Nhà nước nước xuất khẩu đối phó với các vụ kiện bán phá giá trên thị trường quốc tế

- Chưa có tác phẩm khoa học mang yếu tố quốc tế nào nghiên cứu riêng về các vụ kiện bán phá giá của hàng xuất khẩu Việt Nam

b Các tác phẩm trong nước:

1 Luật pháp về Chống bán phá giá – Những điều cần biết của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2004

2 Chống bán phá giá, mặt trái của tự do hoá thương mại Tạp chí Thương mại số 38/2004

3 Nguyễn Cẩm Hà “Sẽ khó cho ngành giày”, Tạp chí Thương mại số 2/2006

4 Trần Trung Kiên “Thuế chống bán phá giá đối với giày da Việt Nam là sự bảo hộ mậu dịch”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 1/2006

5 Phạm Gia Hy “Con tôm Việt Nam lại bị làm khó”, Tạp chí Thương mại số 3/2006

Ngoài ra, có một số luận văn sinh viên, thạc sĩ Trường Đại học Kinh tế viết về các vụ kiện bán phá

giá của hàng xuất khẩu Việt Nam

Ưu điểm của các tác phẩm kể trên:

- Đánh giá các vụ kiện đối với hàng xuất khẩu Việt Nam khá cập nhật, mô tả khá kỹ các sự vụ

- Nêu được các hậu quả của việc áp thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam

- Đề xuất một số các giải pháp đối phó với các vụ kiện

Hạn chế:

- Chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống các vụ kiện bán phá giá của mặt hàng xuất khẩu Việt Nam Chưa nêu được các nhân tố tác động thực sự đến bị kiện bán phá giá của các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam

- Các công trình chưa đi sâu vào đánh giá các yếu tố cấu thành giá xuất khẩu của các doanh nghiệp

Thành phố Hồ Chí Minh, các hồ sơ, chứng từ minh chứng phục vụ cho việc điều tra bán phá giá

- Chưa có công trình nào đưa ra các giải pháp toàn diện cho cấp quản lý nhà nước lẫn doanh nghiệp nhằm:

+hạn chế bị kiện bán phá giá hàng xuất khẩu Việt Nam

+có các biện pháp áp dụng khi bị khởi kiện bán phá giá hàng xuất khẩu

+giảm thiểu thiệt hại khi bị áp dụng thuế chống bán phá giá hàng xuất khẩu

Trang 5

Sau khi nghiên cứu các tác phẩm trong và ngoài nước nêu trên, chúng tôi nhận thấy đề tài nghiên

cứu có những điểm mới sau đây:

(1) Là công trình nghiên cứu lý luận về khái niệm bán phá giá, phương pháp xác định bán phá giá

dưới các giác độ khác nhau (của WTO, của Hoa Kỳ, Canada, Úc Riêng Hoa Kỳ có 3 phương pháp xác định một sản phẩm nhập khẩu có hiện tượng bán phá giá) Việc nghiên cứu này cho phép nghiên cứu đầy

đủ và toàn diện hiện tượng bán phá giá hàng xuất khẩu, để có các giải pháp thật khoa học phòng chống và đối phó với các vụ kiện bán phá giá

(2) Công trình đã nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện bán phá giá của Trung Quốc,

Ấn Độ để rút ra các bài học cho Việt Nam

(3) Công trình nghiên cứu sâu về các doanh nghiệp trong các ngành: giày dép, thủy sản bị kiện

bán phá giá; đánh giá khả năng bị kiện đối với mặt hàng dệt may; nghiên cứu tiến trình bị kiện; thực trạng đối phó của các doanh nghiệp; sự hỗ trợ của Nhà nước, của hiệp hội ngành hàng đối với các doanh nghiệp bị kiện để rút ra: những thành tựu ban đầu, những hạn chế; các nhân tố khách quan và chủ quan

tác động đến các vụ kiện bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam

(4) Đề xuất hệ thống các giải pháp: áp dụng cho các cơ quan quản lý nhà nước; các hiệp hội

doanh nghiệp và hiệp hội các ngành hàng; các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện bán phá giá hàng

xuất khẩu ra thị trường thế giới và khu vực

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

a Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến bán phá giá và chống bán phá giá hàng xuất khẩu

b Phạm vi nghiên cứu:

Tập trung nghiên cứu sâu vào các quy chế liên quan đến bán phá giá và chống bán phá giá của WTO và các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam: Hoa Kỳ, EU, Canada, Úc

Các ví dụ khảo sát tập trung vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: giày dép, thủy sản, dệt may (mặc

dù Việt Nam đã có gần 15 mặt hàng bị áp thuế chống bán phá giá ở nước nhập khẩu)

5 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp khảo sát thực tế: phương pháp này sử dụng ở Chương 3 Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp xúc

với các doanh nghiệp bị kiện hoặc có nguy cơ bị kiện bán phá giá để thu thập dữ liệu thứ cấp phục vụ cho nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu điển hình tình huống: nhóm đề tài sử dụng phương pháp này ở

Chương 3, nhằm đi sâu nghiên cứu một số công ty điển hình bị kiện đóng trên địa bàn thành phố ở ngành hàng giày dép như Công ty 32 và Công ty Sản xuất tiêu dùng Bình Tiên; Công ty Thủy sản Agifish (Đồng bằng Sông Cửu Long) Sự phân tích các tình huống điển hình giúp cho nhóm đề tài rút ra được các kết luận thực tiễn sâu sắc phục vụ cho đề xuất các giải pháp ở Chương 4

- Phương pháp phân tích thống kê kinh tế: chủ yếu sử dụng ở Chương 2 và 3 để đánh giá thực

trạng hoạt động xuất khẩu ở các ngành hàng xuất khẩu bị kiện hoặc có nguy cơ bị kiện bán phá giá, trên

cơ sở đó đưa ra các kết luận nhằm phục vụ cho việc đề ra các giải pháp ở Chương 4

- Phương pháp chuyên gia: thông qua tổ chức hội thảo, tọa đàm với các chuyên gia, các luật sư

tham gia hỗ trợ doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện Nhóm nghiên cứu lắng nghe ý kiến và tiếp thu có chọn lọc những ý kiến đánh giá, các đề xuất của các chuyên gia nhằm hoàn thiện các đánh giá và các giải

pháp trong công trình nghiên cứu của mình

- Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn: nghiên cứu các sách báo, các công trình khoa học trực tiếp hoặc gián tiếp nói về bán phá giá và chống bán phá giá hàng xuất khẩu

6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU:

Đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, chia làm 4 chương:

CHƯƠNG 1: BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:

Trong chương làm rõ bản chất của các vấn đề: bán phá giá và chống bán phá giá, vai trò tích cực và hạn chế của chúng đối với nền kinh tế của nước nhập khẩu, xuất khẩu Trong chương cũng nghiên cứu về

Trang 6

các điều kiện và biện pháp chống bán phá giá theo quy định của GATT, của Hoa Kỳ và EU Nghiên cứu

về các bước điều tra khởi kiện bán phá giá hàng hóa của nước nhập khẩu đối với các nước có nền kinh tế thị trường và phi thị trường Chương 1 giúp nhóm nghiên cứu có nền tảng để tư duy logic khoa học để phân tích và đề xuất giải pháp ở Chương 3 và 4

CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ QUỐC TẾ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Ở Chương này nhóm nghiên cứu đã nghiên cứu thực trạng các vụ kiện bán phá giá hàng nhập khẩu của các nước trên thế giới từ giai đoạn 1995-2006 để rút ra các đặc điểm và các xu hướng thay đổi của các vụ kiện AD trên thế giới; ở Chương này nhóm đề tài còn nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng hoá của nước mình trên thị trường nước nhập khẩu của hai nước Trung Quốc và Ấn Độ từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

Ở Chương này nhóm nghiên cứu đã đưa ra đánh giá tổng quan về tình hình xuất khẩu của Việt Nam có liên quan đến khả năng bị kiện chống bán phá giá trên thị trường quốc tế Nhóm nghiên cứu còn phân tích sâu vào thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam và phân tích sâu vào các vụ kiện AD đối với mặt hàng cá basa, tôm trên thị trường Hoa Kỳ và mặt hàng giày mũ da trên thị trường EU; đồng thời đánh giá khả năng bị kiện AD ở mặt hàng may mặc trên thị trường Hoa Kỳ (thị trường dệt may lớn nhất của Việt Nam) Các phân tích và kết luận rút ra ở Chương

3 là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp cho nhóm nghiên cứu đề xuất hệ thống giải pháp ở Chương 4

CHƯƠNG 4: NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỐI PHÓ VỚI RÀO CẢN “CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ” Ở NƯỚC NHẬP KHẨU CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM

Đây là Chương cơ bản của đề án nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã đề xuất quan điểm; cơ sở

lý luận khoa học và thực tiễn để đưa ra các giải pháp cho các doanh nghiệp, cho các cấp quản lý vĩ mô đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam

Trang 7

CHƯƠNG 1:

BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

Ở chương 1, Nhóm nghiên cứu đã tập trung nghiên cức các vấn đề

1. Những hiểu biết về bán phá giá và chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế, làm rõ

bản chất của chúng và vai trò cũng như hậu quả của các hiện tượng kinh tế này

2. Nghiên cứu cơ sở kinh tế để xây dựng cơ chế pháp lý xác định hiện tượng bán phá giá và điều kiện

để áp dụng các biện pháp chống bán phá giá

3. Nhóm đề tài trên cơ sở nghiên cứu các Hiệp định AD của WTO, luật chống bán phá giá của EU, Hoa

Kỳ… đã tóm tắt quá trình điều tra và xét xử các vụ kiện AD trong hoạt động thương mại quốc tế trải qua 11 bước, nêu rõ những công việc thực hiện ở từng bước cần thực hiện theo thời hạn nào? Và các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khi nền kinh tế của ta chưa được thừa nhận có nền kinh tế thị trường sẽ gặp khó khăn ở 2 bước: bước 5 và bước 6 Qua nghiên cứu về quy trình điều tra các vụ kiện

AD trong hoạt động thương mại quốc tế giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam khi bị khởi kiện hình dung được các công việc mình cần làm trong khoảng thời gian là bao nhiêu? Để tổ chức kháng kiện thành công

Bảng: Quy trình xét xử các vụ kiện AD trong hoạt động thương mại quốc tế

Các

bước Công việc tiến hành trong bước Thời gian thực hiện

Bước 1 Ngành công nghiệp hoặc nhóm các doanh nghiệp ở nước

nhập khẩu nộp đơn đề nghị điều tra bán phá giá hàng nhập

khẩu bằng văn bản

Ngày 0

Bước 2 − Cơ quan điều tra của nước nhập khẩu xem xét đơn

− Cơ quan điều tra thông báo cho Chính phủ của nước xuất khẩu

Bước 3 − Cơ quan điều tra từ chối điều tra nếu không nhận đủ bằng

chứng, thông báo chính thức tới các bên có liên quan

− Hoặc tổ chức điều tra và công bố công khai

Hoa Kỳ khởi sự điều tra 20 ngày sau bước 1

Bước 4 v Quyết định điều tra phải gửi đến các nơi:

− Nhà xuất khẩu bị điều tra

− Cơ quan có thẩm quyền ở nước xuất khẩu

− Các bên quan tâm

v Cơ quan điều tra ở nước nhập khẩu gửi bản câu hỏi

điều tra:

− Tới ngành công nghiệp ở nước xuất khẩu

− Gửi đến các doanh nghiệp xuất khẩu

Thời gian gửi: ngay sau khi bắt đầu

điều tra

Bước 5 v Nhà xuất khẩu gửi lại bản câu hỏi đã trả lời

− Các bên cung cấp bản tóm tắt bằng văn bản ý kiến của mình

− Các bên cung cấp thêm thông tin và các tài liệu

Hoa Kỳ: trong thời gian 30 ngày kể

từ ngày nhận (thường cộng thêm 7 ngày kể từ ngày gửi)

EU: cho phép doanh nghiệp xuất

khẩu trả lời bản câu hỏi chỉ 15 ngày Bước 6 v Cơ quan điều tra ở nước nhập khẩu:

Phân tích các dữ liệu thu thập

− Xác định biên độ bán phá giá tạm thời

− 140 ngày sau bước 3 (khởi sự điều tra)

− Tối đa 190 ngày với các vụ kiện phức tạp

Trang 8

Bước 7 Cơ quan điều tra thông báo áp dụng biện pháp tạm thời

chống bán phá giá (nếu có kết luận trong thời gian 6 tháng) Không sớm hơn 60 ngày và không

muộn hơn 9 tháng kể từ ngày đầu tiên

Bước 8 Các bên đưa ra quan điểm, tổ chức các cuộc tiếp xúc để

bảo vệ quyền lợi

Bước 9 Cơ quan điều tra đưa ra phán quyết cuối cùng Hoa Kỳ: 215 ngày sau khi bắt đầu điều

tra (bước 3), tối đa là 275 ngày

Bước 10 − Cơ quan điều tra thông báo đến các bên liên quan phán quyết

− Các bên vẫn tiếp tục được đưa ra quan điểm và bảo vệ

quyền lợi của mình

Bước 11 Cơ quan thẩm quyền ở nước nhập khẩu thông qua và

thông báo áp dụng biện pháp chống bán phá giá chính

thức tối đa biện pháp có hiệu lực trong 5 năm

− Công bố không muộn hơn 12 tháng

kể từ bước 1

− Hoặc 4 tháng sau khi áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời (bước 7)

− Trường hợp ngoại lệ công bố sau 18 tháng kể từ bước 1 hoặc 6 tháng sau

bước 7

Kết quả nghiên cứu ở Chương 1, tạo cơ sở lý luận quan trọng giúp nhóm nghiên cứu đánh giá toàn diện thực trạng các vụ kiện chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của Việt Nam ở Chương 3 và đề xuất các giải pháp ở Chương 4

Trang 9

CHƯƠNG 2:

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

QUỐC TẾ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Ở chương 2, nhóm đề tài nghiên cứu 2 vấn đề lớn:

1. Thực trạng các vụ kiện AD trong hoạt động thương mại quốc tế

2. Nghiên cứu kinh nghiệm AD của các nước trên thế giới

Về vấn đề thứ nhất trong chương 2: Nhóm đề tài nghiên cứu thực trạng các vụ kiện AD trên thế giới từ năm 1995-2006

Bảng: Các vụ kiện chống bán phá giá giai đoạn 1995-2006

Cùng với quá trình toàn cầu hoá, hiện tượng các vụ kiện chống bán phá giá trong hoạt động thương mại quốc tế trở nên bình thường Nếu cách đây 15 năm, chủ yếu các nước công nghiệp phát triển đi kiện các nước đang phát triển bán phá giá, thì nay, các nước thứ ba trở thành lực lượng cơ bản đối đầu với các

vụ kiện và đi kiện các nước khác Điều này chứng tỏ họ trở thành thế lực mạnh trong hoạt động thương mại quốc tế

Qua nghiên cứu Chương 2, nhóm đề tài cũng thấy rõ mặt hàng bị kiện bán phá giá tập trung ở những ngành hàng: khai thác tài nguyên thiên nhiên; giá trị gia tăng thấp hoặc hàm lượng công nghệ, khoa học kỹ thuật thấp Đây là cơ sở giúp xây dựng chiến lược ngành hàng xuất khẩu

Vấn đề lớn thứ 2 của chương 2: Nhóm đề tài nghiên cứu kinh nghiệm đối phó với các vụ kiện

AD của Trung Quốc và Ấn Độ vì: Ấn Độ và Trung Quốc nằm trong Top 5 nước đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá trên tư cách là nguyên đơn lẫn bị đơn Nghiên cứu kinh nghiệm của họ, nhóm nghiên cứu đã rút ra 8 bài học quan trọng làm cơ sở để tư duy về các giải pháp sẽ đề xuất ở Chương 4

Qua nghiên cứu kinh nghiệm chống bán phá giá của Trung Quốc và Ấn Độ, nhóm đề tài tâm đắc nhất các bài học sau đây:

Trang 10

(1) Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong điều tiết xuất khẩu thông qua các công cụ thuế

xuất khẩu; hạn ngạch, giấy phép xuất khẩu… để tạo cơ cấu xuất khẩu hợp lý, giảm thiểu các vụ kiện chống bán phá giá ở nước nhập khẩu

(2) Nhà nước xuất khẩu (nước bị kiện) không can thiệp trực tiếp vào các vụ kiện mà chỉ gián

tiếp cung cấp thông tin về thị trường, về nguy cơ bị kiện chống bán phá giá hoặc thông tin qua con đường ngoại giao để gây sức ép với nước nhập khẩu

(3) Nâng cao vai trò của hiệp hội ngành hàng xuất khẩu trong điều tiết xuất khẩu ngành hàng,

trong tập hợp các doanh nghiệp đoàn kết tham gia tích cực vào các vụ kiện, phổ biến kinh nghiệm và tổ chức huấn luyện đào tạo các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá

(4) Cần khởi kiện (đóng vai trò là nguyên đơn) khi có hiện tượng bán phá giá vừa để bảo hộ thị

trường nội địa, vừa trả đũa, tự vệ, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế

(5) Khi bị khởi kiện, doanh nghiệp phải tích cực ngay từ đầu tham gia “hầu kiện” để bảo vệ quyền

lợi của mình

(6) Minh bạch hồ sơ, thu thập đầy đủ các chứng từ hạch toán chi phí kinh doanh của mình phù

hợp với chuẩn mực kế toán và kiểm toán quốc tế

(7) Kích thích phát triển các công ty luật có khả năng bảo vệ các doanh nghiệp trước các vụ kiện

bán phá giá; khuyến khích sử dụng tư vấn dịch vụ luật

(8) Nâng cao trình độ của các luật sư, của những nhà quản trị xuất khẩu về kiến thức đối phó với

các vụ kiện chống bán phá giá (cả khi doanh nghiệp là bị đơn, lẫn khi là nguyên đơn)

Trang 11

CHƯƠNG 3:

THỰC TRẠNG CÁC VỤ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ HÀNG XUẤT KHẨU VIỆT NAM – NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH CÁC MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC BỊ KIỆN BÁN PHÁ GIÁ

Ở chương 3, Nhóm nghiên cứu đã phân tích sâu sắc các vấn đề sau:

1 Thực trạng chung các vụ kiện AD nhằm vào hàng Xuất khẩu Việt Nam:

Vụ khởi kiện bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam lần đầu tiên do Columbia tiến hành năm

1994 ở mặt hàng gạo, cho đến nay tháng 8/2007, Việt Nam đã bị kiện 23 vụ Ta có thể hình dung toàn cảnh các vụ Việt Nam bị kiện bán phá giá hàng xuất khẩu qua bảng 3.8 sau đây:

Bảng: Tình hình các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế giai

đoạn 1994-8/2007 STT Năm

khởi

kiện

Nước khởi kiện Mặt hàng bị kiện Kết quả điều tra

01 1994 Columbia Gạo Không đánh thuế chống bán phá giá dù biên độ

phá giá xác định là 9,07% Tuy nhiên, không chứng minh được đã gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất gạo của Columbia

02 1998 EU Bột ngọt Bị áp thuế chống bán phá giá chính thức là

16,8%

03 1998 EU Giày dép Không đánh thuế bán phá giá vì thị phần nhỏ

hơn Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan và không đe dọa sản xuất nội địa

04 2000 Ba Lan Bật lửa Thuế chống bán phá giá chính thức 0,09

EU

08 2002 EU Bật lửa gaz Nước khởi kiện rút đơn

09 2002 Hàn Quốc Bật lửa gaz Nước khởi kiện rút đơn

10 2002 Thổ Nhĩ Kỳ Săm lốp xe đạp Áp thuế chống bán phá giá 29-49% từ tháng

01/2004

11 2002 Hoa Kỳ Cá da trơn Áp thuế chống bán phá giá tạm thời

30,84-63,88%, áp dụng từ năm 2003

12 2003 EU Oxit kẽm Áp thuế 28% Chuyển tải từ Trung Quốc vào

Việt Nam, từ đây đưa vào EU

13 2003 Hoa Kỳ Tôm sú Thuế chống bán phá giá tạm thời 4,13-25,76%

15 2004 EU Ống tuýp thép EU rút đơn kiện vì chưa đủ bằng chứng

16 2004 EU Chốt cài Inox Áp thuế AD 7,7%

Trang 12

17 2004 EU Đèn huỳnh quang Áp thuế AD 66,1%, Hàng hoá chuyển tải từ

Trung Quốc qua Việt Nam đưa vào EU

18 2004 Peru Ván lướt sóng Áp thuế AD 5,2USD/đơn vị

19 2005 EU Giày mũ da Áp thuế AD 10% - thời hạn 2 năm

20 2005 Ai Cập Đèn huỳnh quang Áp thuế AD 0,32 USD/ cái – thời hạn 5 năm

21 2005 Argentina Nan hoa xe đạp,

24 5/2006 Peru Giày mũ vải Đang điều tra giày mũ vải có xuất xứ từ Việt

Nam và Trung Quốc

25 2007 Thổ Nhĩ Kỳ Bật lửa gaz Đang điều tra

26 2008 Hoa Kỳ Lò so Đang điều tra

Ngoài 26 mặt hàng chính thức được khởi kiện và được điều tra nêu trong bảng trên, thì có 2 mặt hàng nữa có nhiều nguy cơ bị kiện bán phá giá tại thị trường Hoa Kỳ, đó là mặt hàng đồ gỗ và mặt hàng dệt may vì tốc độ tăng trưởng nhanh, thị phần mở rộng, nhiều mặt hàng có giá rẻ…

2 Phân tích các vụ kiện điển hình về các vụ kiện AD đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam:

Để phân tích sâu hơn về thực trạng các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế và những hệ lụy của chúng, nhóm đề tài phân tích sâu vào 3 vụ kiện AD của Việt Nam, đó

là vụ kiện cá da trơn (cá basa), vụ kiện tôm sú trên thị trường Hoa Kỳ và vụ kiện giày mũ da tại thị trường EU Sở dĩ nhóm đề tài đi sâu nghiên cứu 3 vụ kiện này vì:

- Ba vụ kiện nằm trong hai nhóm ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đó là thủy sản và giày

dép

- Ba vụ kiện diễn ra trên hai thị trường lớn nhất của Việt Nam: Hoa Kỳ và EU

- Cả ba vụ kiện, các cơ quan xét xử chống bán phá giá ở nước nhập khẩu đều không thừa nhận Việt

Nam là nước có nền kinh tế thị trường, nên họ lựa chọn nước thứ ba để xác định biên độ bán phá giá

- Cả ba vụ kiện đều tác động khá lớn đến đời sống kinh tế xã hội của Việt Nam: tác động đến

người lao động, đến doanh nghiệp, đến hiệp hội ngành hàng, đến các cơ quan quản lý kinh tế của Chính phủ Và cả ba vụ kiện này cũng là tâm điểm bình luận của giới báo chí

a) Những nhận xét rút ra từ vụ kiện chống bán phá giá cá basa tại thị trường Hoa Kỳ:

+ Vì thiếu hệ thống cảnh báo từ Nhà nước lẫn từ phía VASEP nên các doanh nghiệp khá bất ngờ Nhiều doanh nghiệp đối phó với vụ kiện cập rập, không chu đáo

+ Đây là vụ kiện AD đầu tiên của ngành thủy sản, cho nên các cấp quản lý từ doanh nghiệp đến hiệp hội lẫn cấp quản lý nhà nước đều lúng túng đối phó

+ Số lượng doanh nghiệp tham gia đối phó với vụ kiện còn ít 10/29 doanh nghiệp 19 doanh nghiệp

bỏ cuộc bị áp mức thuế rất cao

+ Những doanh nghiệp tham gia “hầu kiện” lại thiếu kinh nghiệm, hệ thống sổ sách chứng từ không

đáp ứng chuẩn mực, thiếu minh bạch Thậm chí, một số doanh nghiệp kê khai “man”, “dối trá”, không biết trả lời các câu hỏi do DOC gửi tới… Cuối cùng, các doanh nghiệp tham gia tích cực vào

vụ kiện cũng bị chịu mức thuế AD khá cao

+ Việc Việt Nam chưa được thừa nhận là nền kinh tế thị trường cũng là bất lợi, giảm khả năng phía Việt Nam tự bảo vệ mình trước vụ kiện

Trang 13

+ Chi phí tham gia vụ kiện rất tốn kém hàng triệu USD Theo tính toán của VASEP chỉ riêng chi phí luật sư lên trên 500.000 USD Chủ yếu sử dụng tư vấn luật nước ngoài tại Hoa Kỳ với vụ kiện này, VASEP phải thuê trên 400USD/h tư vấn, vì luật sư trong nước đạt tầm cỡ quốc tế ở thời điểm đó chưa có để bảo vệ các nhà xuất khẩu

Cái thu được từ vụ kiện này:

+ Đây là vụ kiện chống bán phá giá đầu tiên mà các cấp quản lý đều vào cuộc: doanh nghiệp, hiệp hội, Bộ Thương mại Qua vụ kiện, vai trò của hiệp hội (VASEP) được tăng cường cùng với tiến trình hội nhập

+ Để lại nhiều kinh nghiệm quý (kinh nghiệm thành công và thất bại) để đối phó với các vụ kiện + Thúc đẩy ngành thủy sản thực thi chính sách đa dạng hoá thị trường, coi trọng thị trường nội địa Bị thua kiện trên thị trường Mỹ, nhưng các thị trường khác: Nga, Đông Âu, Úc…và người tiêu dùng nội địa biết đến cá basa, cá tra của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhiều hơn, và kim ngạch xuất khẩu

cá basa của Việt Nam về tổng thể gia tăng gấp bội

b) Ở mặt hàng tôm sú tại thị trường Hoa Kỳ:

Ở mặt hàng này có đến 54 công ty thủy sản Việt Nam bị thua kiện AD trên thị trường Hoa Kỳ

Qua nghiên cứu tài liệu trong và ngoài nước; qua tham khảo ý kiến của các chuyên gia VASEP; qua phỏng vấn các doanh nghiệp, nhóm đề tài rút ra các kết luận nhận xét sau đây từ vụ kiện AD tôm trên thị trường Hoa Kỳ:

+ Khác với vụ kiện AD đối với mặt hàng cá basa – các doanh nghiệp chỉ biết mình có khả năng bị kiện trước một tháng, thì ở mặt hàng tôm – Hiệp hội VASEP đã sớm cảnh báo cả gần 2 năm (khoảng giữa năm 2001) trước khi bị kiện cho các doanh nghiệp biết Vì vậy, các doanh nghiệp chế biến – xuất khẩu tôm Việt Nam có điều kiện chuẩn bị đối phó (chuẩn bị trả lời câu hỏi, thu thập tài liệu hồ sơ, thuê luật sư tư vấn…) Chính việc sớm chuẩn bị này mà mức thuế chống bán phá giá áp với mặt hàng tôm của Việt Nam khá thấp so với mức đề nghị ban đầu của Liên minh Tôm Hoa Kỳ SSA (đề nghị củA SSA là 30-99%, thực tế cuối cùng cao nhất chỉ 22,76%, mức thấp nhất chỉ 4,13% (xem bảng 3)

+ Nếu ở mặt hàng cá basa, chỉ một mình Việt Nam bị phía Hoa Kỳ kiện, thì ở mặt hàng tôm Hoa Kỳ kiện đồng thời 6 nước Và VASEP Việt Nam đã liên kết với các nước xuất khẩu khác khá chặt chẽ,

kể cả tham gia vận động hành lang các cơ quan giám sát luật của Hoa Kỳ (VASEP tạm ứng 55.000 USD để cùng với các nước xuất khẩu khác tham gia vận động hành lang)

+ Nhiều công ty xuất khẩu của Việt Nam đã tích cực “hầu kiện” (tham gia trả lời câu hỏi, thu thập các chứng cứ, thuê luật sư…), một số công ty không phải là bị đơn bắt buộc cũng tự nguyện đề nghị điều tra Kết quả những công ty “tích cực” này bị áp mức thuế rất thấp 4-5% Với mức thuế chống bán phá giá thấp này, sau vụ kiện, xuất khẩu tôm sang thị trường Hoa Kỳ của các doanh nghiệp này chẳng những được duy trì mà còn tăng

Bảng 3: Mức thuế chống bán phá giá áp dụng cho mặt hàng tôm Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ

ĐVT: Tỷ lệ %

Công ty Mức cũ 04 Mức mới 05 Thay đổi

5 Mức thuế riêng biệt cho các bị đơn tự nguyện 4,38 4,57 +0,19

6 Mức thuế chung cho các công ty Việt Nam khác 25,76 25,76

Nguồn: VASEP

+ Những công ty ít hoặc không chịu hợp tác tham gia vụ kiện như Công ty Kim Anh hoặc các công

ty khác đều bị áp mức thuế cao hơn 5 lần mức 25,76% (xem bảng 3)

+ Kết quả nỗ lực từ nhiều phía: Bộ Thương mại, VASEP, các doanh nghiệp, các nhà nhập khẩu tôm Hoa Kỳ mà xuất khẩu tôm của Việt Nam vào Hoa Kỳ vẫn tăng trưởng: năm 2004, thời điểm khởi kiện, kim ngạch xuất khẩu tôm Việt Nam vào Hoa Kỳ là 392,5 triệu USD; năm 2005: 434,1 triệu

Trang 14

USD; năm 2006: 422,9 triệu USD (xem bảng 3.14) Tuy nhiên, sự tiếp tục xuất khẩu tôm thuận lợi vào thị trường Hoa Kỳ của các doanh nghiệp Việt Nam còn có nguyên nhân khách quan là các nhà xuất khẩu của Trung Quốc bị áp thuế AD quá nặng, họ gần như bị mất thị trường Hoa Kỳ sau vụ kiện bán phá giá tôm

+ Qua nghiên cứu vụ kiện chống bán phá giá tôm tại thị trường Hoa Kỳ cũng nảy sinh một vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến việc tham gia kháng kiện của các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam, đó

là vấn đề tiền tham gia hầu kiện của các doanh nghiệp như: chi phí vận động hành lang, chi phí thuê luật sư… Bộ Tài chính và cơ quan thuế địa phương không cho phép doanh nghiệp hạch toán các khoản này vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp Điều này khiến các doanh nghiệp “đau đầu”, chậm trễ đóng góp kinh phí cho Hiệp hội VASEP đại diện cho doanh nghiệp tham gia lobby

+ Sau một năm kể từ khi bị ITC có phán quyết áp dụng thuế AD vào mặt hàng tôm, thì đến ngày 28/02/2006, SSA lại nộp đơn tái yêu cầu DOC tính lại mức thuế AD đối với toàn bộ 54 công ty Việt Nam đưa tôm vào Mỹ Như vậy, bị thua kiện không phải là xong, mà các doanh nghiệp cần phải tiếp tục nỗ lực đối phó với sự tái kiện nếu chúng ta không muốn mất thị trường này

Ł

Ł Tóm lại, nghiên cứu vụ kiện chống bán phá giá tôm của Việt Nam cho chúng ta nhiều bài học

về những thành công và hạn chế, để từ đó đề xuất các giải pháp hỗ trợ các nhà xuất khẩu Việt Nam

c) Các vụ kiện AD ở mặt hàng giày mũ da của Việt Nam trên thị trường EU

Vụ kiện giày mũ da của Việt Nam bán phá giá vào thị trường EU là vụ kiện lớn nhất trong 25 vụ kiện của Việt Nam về quy mô (nhiều doanh nghiệp bị khởi kiện, khoảng 60 doanh nghiệp, trong đó có 23 doanh nghiệp nằm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh) và giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn; doanh nghiệp bị kiện đa dạng (doanh nghiệp nhà nước, đầu tư nước ngoài, tư nhân); các doanh nghiệp trải ra khắp cả nước: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ…; và hệ lụy của nó có liên quan đến đời sống của khoảng 500.000 công nhân, trong đó 85% lao động là nữ

Nghiên cứu lịch sử tiến trình điều tra, đối phó với vụ kiện AD giày mũ da xuất khẩu tại thị trường

EU, nhóm đề tài đã rút ra các bài học sau đây:

+ Bài học 1: sự đồng lòng phối hợp nhiều Bên Chính phủ, Hiệp hội da giày-Lefaco, các doanh

nghiệp, báo đài… mà sự thiệt hại khi áp thuế AD của EU giảm đi rất nhiều: lúc đầu EU đề nghị

áp mức thuế AD đối với giày mũ da Việt Nam là 130%, cuối cùng mức thuế chỉ là 16,8%, lúc đầu dự kiện của EU đánh thuế AD lên toàn bộ tất cả các loại giày mũ da, cuối cùng họ loại trừ không đánh vào giày mũ da thể thao (Staf) và giày trẻ em

+ Bài học 2: Các doanh nghiệp giày mũ da Việt Nam chưa thành công khi chứng minh mình hoạt

động theo cơ chế thị trường: Mức độ không đạt từ 1 đến 3 tiêu chí trong 5 tiêu chí EU xét 1 công

ty có hoạt động theo cơ chế thị trường không?

Bảng 3.20: Kết quả khảo sát các công ty giày Việt Nam được chọn mẫu về hoạt động theo cơ chế thị

trường Công ty Quyết định

kinh doanh Kiểm toán Tài sản và kế toán trường Môi

pháp lý

Tỷ giá hối đoái Kết luận

Công ty 1 Không đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 2 Không đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 3 Không đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 4 Không đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 5 Không đạt Đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 6 Không đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 7 Đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET Công ty 8 Đạt Không đạt Không đạt Đạt Đạt Không đạt MET

Nguồn: Ủy ban điều tra Châu Âu

+ Bài học 3: Khi Việt Nam không được thừa nhận là nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị

trường (MET) thì Việt Nam không dễ dàng lựa chọn nước thứ 3 có lợi cho Việt Nam để xác định biên độ bán phá giá Và như vậy, nước thứ 3 thường do Bên khởi kiện chỉ định

Trang 15

+ Bài học thứ 4: Hoạt động gia công xuất khẩu tăng có thể bị kiện AD

Ngoài 3 mặt hàng kể trên, trong đề tài nhóm nghiên cứu cũng tiến hành đánh giá khả năng bị kiện

AD đối với may mặc Việt Nam trên thị trường Hoa Kỳ

Theo nhóm nghiên cứu, nếu có sự đồng thuận quyết tâm bảo vệ thị trường Hoa Kỳ của nhiều

phía: Chính phủ mà đại diện là Bộ Thương mại; Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS); đặc biệt ở các doanh nghiệp dệt may, thì khả năng bị phía Hoa Kỳ kiện chống bán phá giá chưa xảy ra

Những kết luận rút ra từ nghiên cứu chương 3:

1 Những thành công cần phát huy:

* Các cấp quản lý kinh tế: Chính phủ, Bộ, ngành, doanh nghiệp đều đã tăng cường nhận thức: phải

đối phó với các vụ kiện bán phá giá hàng xuất khẩu để bảo vệ thị trường, bảo vệ sự phát triển xuất khẩu của các doanh nghiệp

* Vai trò của Hiệp hội ngành hàng (VASEP, VITAS…) ngày càng được nâng cao trong đối phó

với các vụ kiện chống bán phá giá

* Những doanh nghiệp tích cực tham gia “hầu kiện”: trả lời đầy đủ các câu hỏi, nộp đúng thời hạn,

hợp tác với các nhóm nhân viên điều tra đến từ nước nhập khẩu; sổ sách chứng từ kế toán đầy đủ, minh bạch… đều chịu mức thuế chống bán phá giá thấp hoặc được đình chỉ điều tra Nhiều doanh nghiệp sau

vụ kiện chẳng những kim ngạch xuất khẩu không giảm sút mà còn gia tăng

* Chính phủ phối hợp với các hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp đã tổ chức các cuộc vận

động hành lang ở các vụ kiện lớn như tôm sú, giày mũ da xuất khẩu Sự ảnh hưởng từ các cuộc vận động hành lang đến kết quả các vụ kiện bán phá giá rất tích cực và rõ nét

* Một vài doanh nghiệp khi bị kiện đã có nhiều nỗ lực để chứng minh mình hoạt động theo cơ chế

thị trường nên các doanh nghiệp này tăng khả năng bảo vệ khi phải đối phó với các vụ kiện bán phá giá (trên thị trường Canada)

* Ở một số vụ kiện, các doanh nghiệp, dưới sự hỗ trợ của các hiệp hội ngành hàng, đã khá thành

công trong lôi kéo các nhà nhập khẩu, nhà phân phối hàng nhập khẩu… tham gia cùng “trận tuyến” với mình để đối phó với các vụ kiện chống bán phá giá

* Vai trò của các cơ quan, báo, đài rất quan trọng trong việc đăng tải nguy cơ vụ kiện, hậu quả dự

kiến của vụ kiện… đã tạo dư luận thuận lợi, gây sức ép nhất định đến các cơ quan “xử kiện” ở nước nguyên đơn, và tạo sự chú ý của Chính phủ, của các cấp có thẩm quyền tăng cường sự hỗ trợ các doanh nghiệp đối phó với các vụ kiện

+ Tồn tại 3: Quản lý nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam còn yếu

+ Tồn tại 4: Hoạt động đối ngoại chưa mang tính chiến lược và bài bản đối phó các vụ kiện

chống bán phá giá nhằm vào hàng xuất khẩu của Việt Nam + Tồn tại 5: Cơ chế, luật pháp để vận hành nền kinh tế thị trường chưa đạt chuẩn mực quốc tế

+ Tồn tại 6: Nguồn nhân lực được đào tạo bài bản và có kinh nghiệm về chống bán phá giá trong

hoạt động thương mại quốc tế còn ít và yếu + Tồn tại 7: Hoạt động của các hiệp hội ngành hàng đa số còn mang tính nghiệp dư

+ Tồn tại 8: Đa số các doanh nghiệp xuất khẩu chưa có chiến lược và phương pháp kinh doanh

xuất khẩu đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 16

3 Các nhân tố tác động đến các hiện tượng AD nhằm vào hàng xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian qua

a Những nhân tố khách quan:

+ Tốc độ tăng trưởng thương mại trên thế giới luôn cao hơn tốc độ gia tăng sản lượng sản xuất,

một mặt thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác làm tổn hại đến hoạt động sản xuất ở những nơi lợi thế so sánh yếu Một trong những biện pháp các nước nhập khẩu sử dụng nhằm giảm thiểu sự tác động hạn chế của hoạt động thương mại đến các ngành sản xuất nội địa, đó là khởi kiện AD đối với hàng nhập khẩu có hiện tượng bán phá giá Và hàng hoá Việt Nam xuất khẩu ra thị trường thế giới trong bối cảnh như thế, khi dưới sức ép của WTO rào cản thuế quan có xu hướng giảm, các biện pháp

kỹ thuật, trong đó có biện pháp chống bán phá giá, được tăng cường

+ Nền thương mại Việt Nam đã trải qua một thời kỳ dài trong điều kiện “đóng cửa kinh tế” nên

kim ngạch xuất khẩu rất thấp: năm 1985 (năm còn ở thời kỳ bao cấp) xuất khẩu chỉ đạt 698,5 triệu USD, thì năm 2006 kim ngạch xuất khẩu đạt gần 40 tỷ USD, như vậy, 20 năm sau tăng đến gần 42 lần, tốc độ tăng xuất khẩu nhanh, trong khi đó lợi thế để phát triển xuất khẩu lớn đã đưa hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trở thành “thế lực” trong hoạt động thương mại quốc tế, khiến nhiều nước áp dụng các biện pháp giám sát hoạt động xuất khẩu của Việt Nam, trong đó có biện pháp AD

+ Thể chế, chính sách có liên quan đến chống bán phá giá được WTO và các nước xây dựng và

hoàn thiện trong khoảng 11 năm gần đây (1995-2006) tạo cơ sở pháp lý khá đầy đủ, giúp cho các hiệp hội ngành hàng, các nhà sản xuất ở các nước nhập khẩu có căn cứ khởi kiện các nước có hàng hoá bán giá thấp trên thị trường của họ Và nền xuất khẩu Việt Nam đưa hàng ra thị trường thế giới trong bối cảnh như thế dễ bị kiện hơn

+ Các nước đang phát triển ở Châu Á: Ấn Độ, Trung Quốc, ASEAN… phát triển hoạt động xuất

khẩu rất nhanh, đe dọa nhiều ngành sản xuất dệt may, sắt thép, hóa chất, hàng điện – điện tử… của

các nước công nghiệp phát triển, khiến các nước này khởi kiện chung nhiều nước có hàng nhập khẩu bán giá thấp, và hàng xuất khẩu của Việt Nam cũng bị kiện chung với các nước khác (có khoảng ½ các vụ kiện AD đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện chung với nhiều nước)

+ Yếu tố văn hóa phương Đông cũng tác động không nhỏ đến sự đối phó và phản công các đối tác khi

bị kiện của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam:

Khi là nguyên đơn: các doanh nghiệp dù có biết có hiện tượng bán phá giá hàng nhập

khẩu như sắt thép (Trung Quốc), đồ sứ gia dụng (Trung Quốc)… nhưng doanh nghiệp cũng ngại kiện vì không muốn dính đến kiện tụng

Khi là bị đơn: nhiều doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng “né”,

“tránh” bằng cách chuyển thị trường khác, chứ không muốn “hầu kiện”, trừ trường hợp

+ Luật chống bán phá giá của Việt Nam cho đến nay chưa ra đời, mới được xây dựng dưới

dạng pháp lệnh mà nội dung của nó còn nhiều điểm bất hợp lý, và đặc biệt khâu tổ chức tuyên truyền để đưa pháp lệnh chống bán phá giá vào cuộc sống còn yếu Đây cũng là nhân tố chủ quan khiến sau 20 năm “mở cửa” để hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có vụ kiện AD đối với hàng nhập khẩu nào Mặc dù hàng nhập khẩu từ

Ngày đăng: 09/02/2015, 03:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3: Mức thuế chống bán phá giá áp dụng cho mặt hàng tôm Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ - đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản ' chống bán phá giá' ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp việt nam
Bảng 3 Mức thuế chống bán phá giá áp dụng cho mặt hàng tôm Việt Nam nhập khẩu vào Hoa Kỳ (Trang 13)
Bảng 3.20: Kết quả khảo sát các công ty giày Việt Nam được chọn mẫu về hoạt động theo cơ chế thị - đề xuất những giải pháp đối phó với rào cản ' chống bán phá giá' ở nước nhập khẩu cho các doanh nghiệp việt nam
Bảng 3.20 Kết quả khảo sát các công ty giày Việt Nam được chọn mẫu về hoạt động theo cơ chế thị (Trang 14)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w