1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn ngân hàng quốc tế các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại

37 901 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự hình thành các trung tâm tài chính hải ngoại:Trung tâm tài chính là một bộ phận của đô thị nơi có các định chế tài chính tậptrung.Thông thường, sự hình thành và phát triển của một tru

Trang 1

Lời Giới Thiệu

Trong những năm gần đây, nhu cầu tìm hiểu tường tận về cáchoạt động của các trung tâm tài chính hải ngoại – OFCs đã ngàycàng nhận được sự quan tâm và nhìn nhận nhiều hơn Bởi vì cáctrung tâm này đã chiếm một tỷ lệ đáng kể trong hoạt động chuchuyển tài chính tồn cầu Sự tồn tại của các trung tâm tài chínhhải ngoại đã tác động đến hoạt động của các Quỹ tài chính theonhiều cách Đầu tiên, hiểu rõ về các hoạt động diễn ra trongOFCs cĩ thể đĩng gĩp rất lớn trong việc giám sát hệ thống tàichính bằng cách cải thiện khả năng xác định và đối phĩ với cácrủi ro bao quanh trong giai đoạn đầu Thứ hai, OFCs thườngđược sử dụng khơng chỉ bởi các nước cơng nghiệp lớn, mà cịnbởi các nền kinh tế mới nổi với hệ thống tài chính cĩ lẽ dễ bị tổnthương hơn so với nhiều nước khác trong việc đảo chiều cácdịng vốn, hầu hết hệ thống tài chính của các nước này đềunhanh chĩng tích lũy nợ ngắn hạn, khơng tự phịng ngừa trongviệc tiếp xúc với các biến động tiền tệ cũng như trong việc chọnlọc tự do hĩa tài khoản vốn Cuối cùng, hiểu rõ các hoạt độngcủa OFCs cĩ ý nghĩa cho hoạt động của các Quỹ tài chính trongviệc thúc đẩy việc quản trị tốt hơn vì hoạt động của nĩ thườngkhĩ kiểm sốt và cĩ thể làm giảm tính minh bạch, kể cả thơngqua việc khai thác các cấu trúc quyền sở hữu phức tạp và cácmối quan hệ giữa các khu vực pháp lý khác nhau cĩ liên quanđến nĩ Vì lẽ đĩ mà đối với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế - IMF thì mộtđịnh nghĩa rõ ràng về những gì tạo nên OFCs sẽ tỏ ra hữu íchđặc biệt là trong bối cảnh cần cĩ một sự đánh giá lại về hoạtđộng của các trung tâm này

Trang 2

1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC TRUNG TÂM TÀI CHÍNH HẢI NGOẠI 1.1 Sự hình thành các trung tâm tài chính hải ngoại:

Trung tâm tài chính là một bộ phận của đô thị nơi có các định chế tài chính tậptrung.Thông thường, sự hình thành và phát triển của một trung tâm tài chính là một quátrình dần dần trong đó các hoạt động tài chính được mở rộng do sự tăng trưởng của lĩnhvực kinh doanh và ngược lại Lấy trường hợp New York làm ví dụ, ban đầu nhằm cungcấp các dịch vụ tài chính cho các tổ chức tài chính bán buôn thuộc khu vực hải cảng củathành phố, vì thế các định chế tài chính tại New York, các công ty đa quốc gia đã dichuyển các hội sở chính để tìm kiếm các nguồn lợi thu được thông qua việc ứng dụngnhững tiến bộ của công nghệ thông tin và thông qua các dịch vụ tài chính chất lượnghơn… Việc tập trung các hoạt động tài chính đã giúp giảm chi phí tài trợ do giảm lãi vay,

vì thế, việc kinh doanh được mở rộng

Các trung tâm tài chính quốc tế phát triển là kết quả của việc mở rộng các trung tâm tàichính quốc gia Tại các trung tâm tài chính quốc gia, chỉ có giao dịch một chiều là nhữngngười cho vay cung cấp vốn, thông qua các trung gian tài chính trong nước hoặc trực tiếpthông qua các thị trường chứng khoán, tới người đi vay Trong khi đó, trong một trungtâm tài chính quốc tế ngoài giao dịch một chiều trên, có thêm ba dạng giao dịch nữa là:

- Giữa người cho vay nước ngoài và người đi vay trong nước

- Giữa người cho vay trong nước và người đi vay nước ngoài

- Giữa người cho vay nước ngoài và người đi vay nước ngoài

Dạng giao dịch cuối cùng được gọi là giao dịch offshore Trong trường hợp này, trungtâm tài chính chỉ cung cấp cơ sở hạ tầng cho việc cho vay và đi vay nước ngoài

Thuật ngữ "ở nước ngoài" hay “hải ngoại” - "offshore" bắt nguồn từ Đảo Isle of Man,

cái nôi của các thiên đường thuế khóa sơ khai nằm ở ngoài khơi Vương quốc Anh Dầndần, họ bắt đầu sử dụng thuật ngữ này để mô tả ngành, còn Đảo Isle of Man trở thànhtrung tâm ngân hàng quốc tế lớn do các lợi ích và quy định về thuế Đó là những nơi tối

ưu để lưu giữ và bảo đảm tài sản ở nước ngoài hoặc để tiết kiệm và đầu tư Các tài khoản

Trang 3

tại ngân hàng ở nước ngoài thường chịu sự điều chỉnh ít hơn so với các ngân hàng nội địa

do họ phải chịu ít quy định hơn từ Chính phủ của mình Điều này cho phép các ngânhàng ở nước ngoài có nhiều loại tài khoản hơn và cách kiểm soát chúng cũng đa dạnghơn

Các trung tâm tài chính offshore - Offshore Financial Centers, gọi tắt là OFCs đầu tiên

xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 theo sáng kiến của một loạt các quốc gia nhỏ, nhưng hướngtới sự phát triển trên cơ sở nền tảng của việc kinh doanh đa quốc gia Đó là những điểmtích trữ và trung chuyển trong việc dịch chuyển tư bản trên toàn cầu Chính phủ của cácquốc gia này ganh đua nhau đến mức tối đa trong việc cung cấp những ưu đãi về thuế,đơn giản hoá những thủ tục trong việc báo cáo tài chính và giữ bí mật về thành phần cổđông của các công ty offshore Những dịch vụ này trở nên hấp dẫn đến mức, hiện nay cóthể nói về việc hình thành cộng đồng thương mại thế giới về nền tiểu văn hoá offshore Đến cuối những năm 1960, các giao dịch offshore tăng lên và dần chiếm ưu thế, dạngtrung tâm tài chính truyền thống bị thay thế nhanh chóng Với việc quốc tế hoá một cáchtriệt để các giao dịch tín dụng, các trung tâm tài chính chỉ cung cấp các nguồn vốn dưthừa cho nhu cầu trong nước không còn nữa Cạnh tranh diễn ra mạnh mẽ và các trungtâm tài chính mới xuất hiện thay thế dần các trung tâm tài chính truyền thống Các khuvực nhỏ và trước đây chưa được biết tới dần trở thành các trung tâm ngân hàng quantrọng như Nassau của Bahamashay Singapore, Luxemburg, Hong Kong Thậm chí, mộtvài thành phố ở Trung Đông như Kuwait và Bahrein đã nổi tiếng với tham vọng trở thànhcác trung tâm tài chính quốc tế

Hiện tại, dịch vụ ngân hàng ở nước ngoài đã trở thành một ngành lớn trên toàn thế giớivới dòng vốn luân chuyển mỗi ngày lên đến 2 nghìn tỷ USD Đó là một khoảng cách rất

xa so với vài thập kỷ trước, khi số trung tâm tài chính ở nước ngoài còn rất hạn chế vàthường được bao bọc trong lớp màn bí ẩn của tiền từ kinh doanh ma túy và các hoạt độngphi pháp

1.2 Khái niệm về tài chính hải ngoại và các trung tâm tài chính hải ngoại:

Trang 4

Tài chính hải ngoại là việc cung cấp các dịch vụ tài chính của các ngân hàng và các đại lýkhác đến những người không cư trú Những dịch vụ này bao gồm việc vay và cho vayđến những người không cư trú Điều này có thể mang hình thức cho vay cho các doanhnghiệp và các tổ chức tài chính khác, được tài trợ bởi các khoản nợ từ các văn phòng củangân hàng cho vay ở nơi khác, hoặc tới các thành viên tham gia thị trường Nó cũng cóthể mang hình thức của việc lấy các khoản tiền gửi từ các cá nhân, và đầu tư số tiền thuđược trong các thị trường tài chính ở những nơi khác

OFC là một trung tâm nơi mà phần lớn các hoạt động của khu vực tài chính ở hải ngoạitrên cả hai mặt của bảng cân đối kế toán, điều này có nghĩa là các đối tác của đa số cáckhoản nợ và tài sản của các định chế tài chính là không cư trú, nơi các giao dịch đượckhởi xướng ở nơi khác, và nơi mà phần lớn của các định chế có liên quan được kiểm soátbởi không cư trú Vì vậy, OFCs thường được gọi là:

- Khu vực pháp lý có số lượng khá lớn các định chế tài chính hoạt động chủ yếutrong kinh doanh với người không cư trú,

- Các hệ thống tài chính với tài sản bên ngoài và nợ phải trả tương ứng với tỷ lệtrung gian tài chính sở tại được thiết kế để tài trợ cho các nền kinh tế trong nước,

- Phổ biến hơn, các trung tâm cung cấp một số hoặc tất cả các dịch vụ sau: đánhthuế thấp hoặc miễn thuế, quy định về tài chính thấp hoặc trung bình; bí mật ngânhàng và ẩn danh

Ngoài ra có thể định nghĩa một OFC phụ thuộc vào việc sử dụng của nó, có thể phân loạinhư sau:

- Các trung tâm tài chính thế giới - IFCs như London, New York, và Tokyo – là cáctrung tâm lớn với đầy đủ các dịch vụ quốc tế với hệ thống thanh toán và bù trừ tiêntiến, hỗ trợ các nền kinh tế nội địa lớn IFCs thường vay ngắn hạn từ người không

cư trú và cho vay dài hạn với người không cư trú Về tài sản, London thực sự làtrung tâm lớn nhất và lâu đời nhất, theo sau là New York

- Các trung tâm tài chính khu vực - RFCs có sự khác biệt so với IFCs, trong đó họ

đã phát triển thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng và các quỹ trung gian trong và

Trang 5

ngoài khu vực của họ, nhưng có nền kinh tế nội địa tương đối nhỏ Các trung tâmkhu vực bao gồm Hong Kong, Singapore, nơi mà hầu hết các kinh doanh hải ngoạiđược xử lý thông qua các đơn vị tiền tệ Châu Á riêng biệt và Luxembourg.

- OFCs có thể được định nghĩa theo loại hình thứ ba chủ yếu là nhỏ hơn nhiều sovới hai loại hình trên, và cung cấp các dịch vụ chuyên môn cũng hạn chế hơn OFCs như được định nghĩa trong loại hình thứ ba này, nhưng đến một phạm vi nào đócũng tốt như hai loại hình còn lại, thường là miễn toàn bộ hoặc một phần các định chế tàichính từ một loạt các quy định đối với các định chế tài chính trong nước.Ví dụ, tiền gửi

có thể không phải dự trữ bắt buộc, các giao dịch ngân hàng có thể được miễn thuế hoặcđược đối xử theo chế độ tài chính ưu đãi, và có thể được tự do kiểm soát lãi suất và ngoại

tệ Các ngân hàng hải ngoại có thể chỉ chịu một hình thức giám sát các quy định ít chặtchẽ hơn, và yêu cầu công bố thông tin có thể không bị áp dụng một cách chặt chẽ

1.3 Đặc điểm của các trung tâm tài chính hải ngoại:

- Là nơi tập trung một số lượng lớn các định chế tài chính, có các định chế tài chínhphát triển trong đó có các ngân hàng mạnh về vốn, uy tín cao

- Là nơi tập trung các chuyên gia tài chính giỏi, có trình độ để phát triển đượcnhững kỹ năng nghiệp vụ

- Có khối lượng giao dịch tài chính chiếm tỷ trọng chi phối trong toàn hệ thống tàichính - ngân hàng

- Các điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi, mức độ phát triển về kinh tế, hạ tầng kỹthuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác

- Định hướng của kinh doanh đối với người không cư trú là chủ yếu Trung tâm tàichính hải ngoại hoạt động chủ yếu phục vụ cho đối tượng khách hàng vay và gửitiền không phải là người cư trú Sự hấp dẫn chính của các trung tâm tài chính hảingoại (đối với ngân hàng cũng như người tham gia) là việc cho phép các luồngvốn nước ngoài nhập cảnh tự do bằng cách áp dụng cơ chế thuế và các quy định cóliên quan một cách linh hoạt

Trang 6

- Môi trường pháp lý thuận lợi Động lực hàng đầu của hoạt động trung tâm tàichính hải ngoại là việc tránh né các luật lệ Chính phủ các nước, để thu hút ngoại

tệ và đầu tư nước ngoài, thường không chế tài các hoạt động ngân hàng mà họnghĩ là không ảnh hưởng đến thị trường địa phương của họ Do vậy, tại các trungtâm này, yêu cầu giám sát rất thấp và công bố thông tin ở mức tối thiểu

- Mức thuế suất thấp hoặc bằng không Tại các trung tâm tài chính hải ngoại, thuếlợi tức doanh nghiệp thông thường chỉ là một vài phần trăm hoặc đôi khi là khôngtồn tại Thuế tài sản ở mức tối thiểu, thuế đánh vào các khoản thu nhập (cổ tức,tiền lãi ngân hàng…) rất thấp hoặc không có Do đó, việc giữ tài sản, các côngviệc kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh tài chính có thể được tiến hành với nhữnglợi thế rất lớn về thuế

- Thiếu cân đối giữa quy mô của khu vực tài chính và nhu cầu tài chính trongnước.Quy mô của hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoàn toàn không liên quanđến quy mô của nhu cầu thị trường trong nước

- Kinh doanh những loại tiền tệ không phải là nội tệ của nước bản địa

- Hoạt động chủ yếu là trung chuyển kinh doanh Trung tâm tài chính hải ngoại sửdụng nguồn tiền gửi từ nước ngoài để cho đối tượng nước ngoài khác vay lại Do

đó, đây là những điểm tích trữ và trung chuyển trong việc dịch chuyển tư bản(vốn) trên toàn cầu Việc có những thỏa thuận về việc tránh đánh thuế kép giữanhững trung tâm tài chính hải ngoại tạo điều kiện thực hiện trung chuyển tiền tệqua các vùng này với những chi phí về thuế nhỏ nhất

- Tách biệt khỏi các đơn vị hành chính chính yếu Sự tách biệt này có thể về mặt địa

lý hoặc pháp lý Các trung tâm tài chính hải ngoại thường tọa lạc tại những một sốnước Tây Âu như Luxembourg, Thụy Sĩ, vùng nội địa hoặc các vùng đất núi(Liechtenstein, Andorra), các vùng đất ven biển (Monaco)., hoặc phổ biến nhất tạicác quốc đảo ở vùng nhiệt đới như Caymans, Bahamas

- Quy định kiểm soát ngoại hối linh hoạt

- Ngân hàng bảo mật

- Môi trường chính trị ổn định

Trang 7

1.4 Các hoạt động chủ yếu của các trung tâm tài chính hải ngoại:

- Cấp giấy phép ngân hàng hải ngoại Một công ty đa quốc gia thiết lập một ngân

hàng hải ngoại để xử lý các hoạt động giao dịch ngoại hối của mình hoặc để tạothuận lợi về mặt tài chính của một công ty liên doanh quốc tế Một ngân hàng sởtại thành lập một công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn trong một OFC để cung cấpcác dịch vụ quản lý quỹ hải ngoại, ví dụ tích hợp đầy đủ lưu ký toàn cầu, kế toánquỹ, quản lý quỹ, và dịch vụ đại lý chuyển nhượng Chủ sở hữu của một ngânhàng sở tại được quy định thành lập một ngân hàng “song song” trong một OFC.Các điểm thu hút của một OFC có thể bao gồm không đánh thuế vốn, không khấutrừ thuế đối với cổ tức hoặc tiền lãi, không đánh thuế chuyển nhượng, không đánhthuế công ty, không đánh thuế lãi vốn giữ lại, không kiểm soát ngoại hối, quy định

và giám sát ở mức thấp, các yêu cầu báo cáo ít nghiêm ngặt, và các hạn chế giaodịch cũng ít nghiêm ngặt hơn

- Các tổ chức hải ngoại hoặc các tổ chức kinh doanh quốc tế - IBCs IBCs là loại

hình trách nhiệm hữu hạn được đăng ký trong một OFC Chúng có thể được sửdụng để sở hữu và vận hành doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, hoặchuy động vốn theo những cách khác Chúng có thể được sử dụng để tạo ra các cấutrúc tài chính phức tạp IBCs có thể được thiết lập với một giám đốc duy nhất.Trong một số trường hợp, các cổ đông của một nước chủ nhà của OFC có thể hoạtđộng như một giám đốc ứng cử để che giấu danh tính của các giám đốc công tythực sự Trong một vài OFCs, cổ phiếu vô danh có thể được sử dụng Trong cácOFCs khác, cổ phiếu đã đăng ký được sử dụng, nhưng không ban hành rộng rãiviệc đăng ký của các cổ đông được duy trì Trong nhiều OFCs, chi phí của việcthiết lập IBCs là tối thiểu và chúng thường được miễn tất cả các loại thuế IBCs làloại hình phổ biến để quản lý các quỹ đầu tư

- Công ty bảo hiểm Một công ty thương mại thành lập một công ty bảo hiểm chịu

chi phối trong một OFC để quản lý rủi ro và giảm thiểu tối đa thuế Một công tybảo hiểm sở tại thành lập một công ty con trong một OFC để tái bảo hiểm rủi ro

Trang 8

nhất định bảo hiểm bởi công ty mẹ và giảm thiểu các yêu cầu về vốn và dự trữtổng thể Một công ty tái bảo hiểm sở tại kết hợp với một công ty con trong mộtOFC để tái bảo hiểm các rủi ro nghiêm trọng Các điểm thu hút của một OFCtrong những trường hợp này bao gồm thu nhập ưu đãi/ khấu trừ thuế đánh trên vốn

có mức độ và các yêu cầu dự trữ tính toán bảo hiểm thực thi và tiêu chuẩn vốnthấp

- Loại hình chuyên dùng Một trong những ứng dụng phát triển nhanh nhất của các

OFCs là việc sử dụng các loại hình chuyên dùng (special purpose vehicles –SPVs) để tham gia vào các hoạt động tài chính trong một môi trường thuế thuậnlợi hơn Một tổ chức sở tại thành lập một IBC trong một trung tâm hải ngoại đểtham gia vào một hoạt động cụ thể Việc phát hành chứng khoán đảm bảo bằng tàisản là hoạt động thường được diễn ra nhất của SPVs Tổ chức sở tại có thể chỉđịnh một tập hợp các tài sản cho SPV hải ngoại, ví dụ thế chấp, các khoản phải thu

nợ thẻ tín dụng SPV sau đó cung cấp một loạt các chứng khoán cho các nhà đầu

tư dựa trên các tài sản cơ bản SPV, và qua đó tổ chức sở tại, được hưởng lợi từviệc xử lý thuế ưu đãi trong OFC Các tổ chức tài chính cũng sử dụng SPVs để tậndụng lợi thế ít quy định hạn chế trên các hoạt động của họ Các ngân hàng, đặcbiệt sử dụng chúng để tăng vốn cấp I trong các môi trường thuế thấp của OFCs.SPVs cũng được thành lập bởi các định chế phi tài chính ngân hàng để tận dụnglợi thế của các quy tắc tự do bù trừ hơn phải đối mặt ở nước sở tại, giảm thiểu cácyêu cầu về vốn của họ

- Hoạch định thuế Các cá nhân giàu có tận dụng môi trường thuế ưu đãi và các

điều ước quốc tế về thuế với OFCs, thường liên quan đến các công ty hải ngoại,quỹ tín thác Các công ty đa quốc gia với lộ trình hoạt động thông qua thuế thấpOFCs để giảm thiểu tổng hóa đơn thuế của họ thông qua chuyển giá, nghĩa là,hàng hóa có thể được thực hiện tại nước sở tại nhưng hóa đơn được phát hành ởhải ngoại bởi một IBC thuộc sở hữu bởi công ty đa quốc gia, chuyển lợi nhuận tạinước sở tại thành mức thuế thấp

Trang 9

- Thiên đường thuế Rất nhiều công ty, đặc biệt là các công ty tài chính, được đăng

ký ở các nước có luật thuế thu nhập doanh nghiệp dễ dãi và mức thuế thấp, thậmchí bằng không nếu nguồn thu nhập chính ở bên ngoài lãnh thổ nước đó Nhữngthiên đường thuế này điển hình là Thụy Sĩ, Monaco, Liechtenstein, Luxembourg,

và những hòn đão cựu thuộc địa như Quần đảo Cayman, Quần đảo Bristish Virgin.Nhiều quỹ đầu tư hoạt động ở Việt Nam cũng được đăng ký tại các thiên đườngthuế này

- Chuyển giá Bên cạnh việc đăng ký ở các thiên đường thuế, các công ty đa quốc

gia còn có một hình thức kinh doanh chênh lệch khác rất phổ biến là chuyển giá,nghĩa là khai thác lỗ ở các vùng lãnh thổ có thuế thu nhập doanh nghiệp cao vàdồn lợi nhuận vào các chi nhánh ở các thiên đường thuế Hiện nay đa số các nướcđều coi chuyển giá là bất hợp pháp, nhưng rất khó để kiểm soát

- Trốn thuế và rửa tiền Ngoài ra còn có các cá nhân và doanh nghiệp dựa vào tính

bí mật thông tin ngân hàng để tránh kê khai tài sản và thu nhập cho cơ quan thuế

có liên quan Dòng tiền chuyển động thu được từ các giao dịch bất hợp pháp cònthu được từ các bí mật thông tin tối đa từ thuế và điều tra tội phạm

- Quản lý và bảo vệ tài sản Các cá nhân giàu có và các doanh nghiệp trong các

nước có nền kinh tế yếu kém và hệ thống ngân hàng mong manh có thể muốn giữtài sản ở nước ngoài để bảo vệ chúng chống lại sự sụp đổ của đồng tiền trong nước

và các ngân hàng trong nước, và nằm ngoài tầm kiểm soát hiện tại hoặc tiềm tàng.Nếu các cá nhân này cũng tìm cách bí mật, thì một tài khoản trong một OFCthường là loại hình để lựa chọn Trong một vài trường hợp, sự bảo mật này là rấtquan trọng Ngoài ra, nhiều cá nhân phải đối mặt với trách nhiệm vô hạn trong cáckhu vực pháp lý của họ trong việc tìm cách cơ cấu lại quyền sở hữu tài sản của họthông qua các quỹ tín thác hải ngoại để bảo vệ các tài sản từ các vụ kiện tại nước

sở tại

Như vậy, OFCs có thể được sử dụng cho các lý do chính đáng, tận dụng các lợi thế: (1)giảm thuế phải khai và kết quả là tăng lợi nhuận sau thuế, (2) khuôn khổ quy định đảmbảo an toàn thuế đơn giản và giảm mức thuế ngầm, (3) tối thiểu các thủ tục thành lập

Trang 10

công ty, (4) sự tồn tại của khuôn khổ pháp lý đầy đủ là bảo vệ sự toàn vẹn của các mốiquan hệ chính như đại lý, (5) gần gũi với các nền kinh tế lớn, các quốc gia thu hút dòngvốn đầu tư, (6) danh tiếng của các OFCs cụ thể, và các dịch vụ chuyên cung cấp, (7) tự

do kiểm soát ngoại tệ và (8) là cách thức để bảo vệ tài sản từ ảnh hưởng của việc kiệntụng…

OFCs cũng có thể được sử dụng cho các mục đích không rõ ràng, chẳng hạn như trốnthuế và rửa tiền, bằng cách tận dụng lợi thế tiềm năng cao của một môi trường hoạt độngkém minh bạch, bao gồm một mức độ cao về bí mật thông tin, để thoát khỏi các báo cáotới các cơ quan thực thi pháp luật trong nước chủ nhà của chủ sở hữu lợi ích của các quỹ

2 CÁC TRUNG TÂM GIAO DỊCH HẢI NGOẠI CHÍNH TRÊN THẾ GIỚI

Từ các định nghĩa, cùng với thực tế từ các thống kê có sẵn đã định hình nên vùng phủsóng của OFCs bởi các định chế tài chính quốc tế và từ các nhà bình luận khác nhau,vùng từ 14 OFCs được liệt kê từ các thống kê tổng hợp về nợ nước ngoài của BIS - IMF -OECD – World Bank tới 69 OFCs được liệt kê trong Errico and Musalem năm 1999

Bảng 1 cung cấp một danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ, và các thể chế với OFCs theo phạm vi bảo hiểm

Bảng 1 Quốc gia, vùng lãnh thổ, và các thể chế với OFCs

Châu Phi Châu Á và Thái Bình

Dương Châu Âu Trung Đông Tây Bán Cầu

Djibouti Cook Islands (FSF) Andorra (FSF) Bahrain (J) (OG)

(FSF) Anguilla (FSF)Liberia (J) Guam Campione Israel Antigua (FSF)

Lebanon (J) (OG) (FSF)

Marianas Isle of Man (OG) Bermuda (J) (OG) (FSF)

Trang 11

(FSF) Marshall Islands (FSF) Jersey (OG) (FSF) British Virgin Islands

(FSF) Micronesia Liechtenstein

(FSF) Cayman Islands (J) (OG) (FSF) Nauru (FSF) London, U.K Costa Rica (FSF)

Niue (FSF) Luxembourg (FSF) Dominica

Singapore 2 (J) (OG)

Tahiti Monaco (FSF) Netherlands Antilles (J)

(OG) (FSF) Thailand 3 Netherlands Panama (J) (OG) (FSF) Vanuatu (J) (OG) (FSF) Switzerland (FSF) Puerto Rico

Western Samoa (FSF) St Kitts and Nevis (FSF)

St Lucia (FSF)

St Vincent and Grenadines (FSF) Turks and Caicos Islands (FSF)

United States 4

Uruguay West Indies (UK) (J) 5

Source: Based on Errico and Musalem (1999), IMF Working Paper WP/99/5 (unless otherwise indicated) Legenda:

(J) = Joint BIS-IMF-OECD-World Bank Statistics on External Debt.

(OG) = Offshore Group of Banking Supervisors.

(FSF) = Financial Stability Forum's Working Group on Offshore Financial Centers (Press Release of May

26, 2000).

1 Japanese Offshore Market (JOM).

2 Asian Currency Units (ACUs).

3 Bangkok International Banking Facilities (BIBFs).

4 U.S International Banking Facilities (IBFs).

5 Includes Virgin Islands, Anguilla, and Monserrat.

Bảng 2 cung cấp danh sách của Diễn đàn ổn định tài chính về 42 phạm vi lãnh thổ mà

họ cho rằng có các hoạt động hải ngoại đáng kể Danh sách được sắp xếp theo các nhóm của FSF, được định nghĩa như sau: Nhóm thứ nhất - Nhóm I có phạm vi lãnh

Trang 12

thổ được xem như một nơi có tính cộng tác cao, với chất lượng giám sát, mà chủ yếu tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế Nhóm thứ hai - Nhóm II là phạm vi lãnh thổ thường được xem là có thủ tục giám sát và hợp tác tại chỗ, nhưng hiệu suất thực tế giả xuống dướ tiêu chuẩn quốc tế, và có sự cải thiện được xem là đáng kể Nhóm thứ ba - Nhóm III là phạm vi lãnh thổ được xem là khu vực có chất lượng giám sát thấp, và hoặc không hợp tác với các giám sát tại nước sở tại, và với ít nỗ lực hoặc không thực hiện tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế.

Bảng 2 Các thông tin cơ bản về OFCs được đánh giá theo

Diễn đàn ổn định tài chính

Trung tâm tài

chính hải ngoại viên IMFThành

Hiệp hội lịch sử với thành viên IMF

Dân số (Triệu người)

Số ngân hàng được cấp phép (Triệu) Cơ quan giám sát

Group I

1 Dublin (Ireland) Yes n/a n.a 54 Central Bank of Ireland

2 Guernsey No U.K Crown

Dependency 0.07 77 Guernsey Financial Services Commission

3 Hong Kong, SAR No Part of China 6.85 454 Hong Kong Monetary

Authority

4 Isle of Man No U.K Crown

Dependency 0.07 67 Financial Supervisory Commission

5 Jersey No U.K Crown

1 Andorra No France and Spain 0.06 n.a n.a.

2 Bahrain Yes U.K independ

since '71 0.62 102 Bahrain Monetary Agency

3 Barbados Yes U.K independ

since '66

0.26 63 Central Bank of

Barbados

Trang 13

4 Bermuda No U.K Overseas

Territory 0.06 3 Bermuda Monetary Authority

5 Gibraltar No U.K Overseas

Fin Services Centre

3 Aruba No Part of the

Netherlands 0.07 6 Central Bank of Aruba

4 Bahamas Yes U.K independ

since '73 0.3 418 Central Bank of the Bahamas

5 Belize Yes U.K independ

since '81

0.24 5 Central Bank of Belize

6 British Virgin

Islands No U.K Overseas Territory 0.02 13 Financial Services Inspectorate

7 Cayman Islands No U.K Overseas

Territory

0.04 575 Cayman Islands

Monetary Authority

8 Cook Islands No In Free Assoc

with N.Z. 0.02 n.a n.a.

Superintendency

10 Cyprus Yes U.K independ

since '60

0.77 46 Central Bank of Cyprus

Comm., Banque du Liban

12 Liechtenstein No n/a 0.03 11 Financial Services

Authority

13 Marshall Islands Yes n/a 0.07 n.a n.a.

14 Mauritius Yes n/a 1.16 20 Bank of Mauritius

15 Nauru No Former UN

Trang 14

16 Netherlands

Antilles No Part of the Netherlands 0.2 56 Bank van de Netherlandse Antillen

17 Niue No In Free Assoc

with N.Z.

0.002 n.a n.a.

18 Panama Yes n/a 2.76 97 Superint.cy of Banks of

the Rep of Panama

20 Seychelles Yes n/a 0.08 6 Central Bank of

Seychelles

21 St Kitts and

22 St Lucia Yes n/a 0.15 7 Fin Serv Sup Dept of

MOF, ECCB

23 St Vincent and

Grenadines

24 Turks and Caicos No U.K Overseas

Territory 0.02 n.a Financial Services Commission

Services Commission

Sources: International Financial Statistics (February 2000); "Participation of Offshore Centers in the 2001 Coordinated Portfolio Investment Survey" (IMF, Statistics Department, January 2000); Financial Stability Forum's Press Release of May 26, 2000.

Legenda: (n/a) = not applicable; (n.a.) = not available; MOF = Ministry of Finance; ECCB = Eastern

Caribbean Central Bank; BIS = Bank for International Settlements.

Một vài trung tâm tài chính hải ngoại điển hình trên thế giới:

2.1 Trung tâm tài chính hải ngoại Bermuda:

2.1.1 Bối cảnh kinh tế:

Bermuda là một quốc đảo nhỏ ở giữa Đại Tây Dương với diện tích 53 km2 vuông và dân

số là 62.000 người Từ những ngày đầu thanh toán trong thế kỷ 17, Bermuda đã đượctham gia trong một số hình thức kinh doanh quốc tế Từ săn bắt cá voi, xây dựng tàu vàcào muối trong quần đảo Turks vào thế kỷ 17, xuất khẩu các loại rau mùa xuân tới miềnđông Hoa Kỳ trong thế kỷ 19, thương mại quốc tế đã là một đặc tính lâu dài của lịch sửkinh tế của Bermuda Nền kinh tế hiện đại của nó được dựa chủ yếu vào du lịch và kinhdoanh quốc tế Bộ Tài chính đã ước tính GDP của Bermuda năm 2007 ở mức 5,8 tỷ USD

Trang 15

Nền kinh tế của Bermuda đã phát triển trong khoảng thế kỷ 20, ngành du lịch là nguồnlực chủ yếu của việc làm, đặc biệt là đối với những bộ phận dân cư không được làm việctrong các ngành nghề quản lý, chuyên môn và kỹ thuật Tuy nhiên, trong nửa cuối củanhững năm 1990, việc làm tại các khách sạn, nhà hàng, và các lĩnh vực khác liên quanđến du lịch đã giảm đáng kể Ngược lại, mức độ việc làm trong các dịch vụ tài chính mởrộng và các lĩnh vực kinh doanh quốc tế có xu hướng tăng.

Vào thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, hoạt động kinh doanh quốc tế và cung cấp các dịch

vụ kinh doanh đã đẩy vị trí của chúng như là các lĩnh vực hàng đầu của nền kinh tếBermuda, cùng chiếm khoảng 45% GDP Những lĩnh vực hàng đầu này đã giúp duy trìtốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm là 4% trong khoảng thời gian 2000-2006

Đối với một quốc đảo nhỏ cách 600 dặm ngoài khơi từ các lục địa Bắc Mỹ, Bermuda chủ yếu thông qua các doanh nghiệp quốc tế và định chế tài chính của mình - đã thừahưởng những lợi thế kinh tế từ vị trí địa lý của đất nước ở các điểm giao nhau giữa Bắc

-Mỹ, châu Âu và vùng biển Caribbean để cung cấp cho các giải pháp thúc đẩy thị trườngvới tốc độ của hoạt động kinh doanh hiện đại

2.1.2 Vai trò:

Nền kinh tế hiện đại của Bermuda được dựa chủ yếu vào kinh doanh quốc tế và du lịch.Bảo hiểm và tái bảo hiểm quốc tế là thành phần chiếm ưu thế của hoạt động kinh doanhquốc tế Khối lượng của các dòng tiền bảo hiểm lên đến 116 tỷ USD và quy mô của tổngtài sản hơn 440 tỷ USD trong năm 2006 đã đưa vị trí của Bermuda như là một trongnhững thị trường bảo hiểm hàng đầu thế giới

Là một thị trường thế giới về bảo hiểm và tái bảo hiểm, Bermuda ủng hộ ổn định tàichính toàn cầu thông qua sự lan truyền hiệu quả và đa dạng hóa rủi ro bảo hiểm và cungcấp các giải pháp định hướng thị trường với tốc độ của hoạt động kinh doanh hiện đại.Bermuda đã không được điều chỉnh cơ sở thuế để thu hút vốn di động từ các quốc giakhác Bermuda có truyền thống mạnh mẽ của KYC trong văn hóa kinh doanh của mình.Khuôn khổ thể chế và pháp lý cho việc giám sát và theo dõi các dịch vụ tài chính dựa trên

Trang 16

các tiêu chuẩn quốc tế được công nhận được thành lập bởi các cơ quan xây dựng tiêuchuẩn cho mục đích tăng cường tính minh bạch và ổn định tài chính.

Bermuda bao hàm hợp tác quốc tế và được coi như là một thể chế hợp tác, minh bạch và

có trách nhiệm

2.1.3 Lợi thế so sánh:

Sự phát triển của kinh doanh quốc tế tại Bermuda, đặc biệt là các dịch vụ tài chính, cả haitình cờ và ngẫu nhiên Không có các chiến dịch tiếp thị, không soạn lại luật, không có thunhập đặc biệt được tạo ra hoặc bộ luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thiết kế để thuhút các công ty tại nước sở tại để thiết lập thị trường quốc tế của Bermuda Thay vào đó,các doanh nghiệp phát triển đầu tiên Một khi nó đã bắt rễ, chính phủ tìm cách – trải quamột khởi đầu thời kỳ khoảng thời gian sáu mươi năm từ 1947 - để đảm bảo có một khuônkhổ pháp lý phù hợp để quản lý các hoạt động trong lĩnh vực mới nổi Trong số nhữngyếu tố đã thu hút các công ty quốc tế tới Bermuda là (1) một khuôn khổ pháp lý có hiệuquả, (2) một cơ sở hạ tầng phát triển tốt, (3) các dịch vụ kinh doanh và chất lượng chuyênnghiệp, (4) gần kề về địa lý với các thị trường lớn ở Hoa Kỳ và Canada và (5) ổn địnhchính trị

Vào cuối năm 2007, đã có 15.358 công ty quốc tế và quan hệ đối tác quốc tế tới đăng kýkinh doanh ở Bermuda so với 13.509 vào năm 2003 Đa số các thực thể quốc tế đăng kýtại Bermuda được sở hữu và kiểm soát bởi các công ty nhóm “Fortune 1000”

Tại Bermuda, bảo hiểm quốc tế là thành phần chính của lĩnh vực kinh doanh quốc tế Vớitổng phí bảo hiểm hàng năm 116 tỷ USD, vốn và thặng dư đạt 158 tỷ USD và tổng tài sản

440 tỷ USD ghi nhận trong năm 2006, Bermuda là một đối thủ chiếm ưu thế trong thịtrường bảo hiểm và tái bảo hiểm toàn cầu Trong quá trình thiết lập vị trí này, Bermudakết hợp với các trung tâm lớn khác như London và New York lan truyềnvà đa dạng hóarủi ro bảo hiểm trên toàn thế giới Vai trò này là quan trọng đối với thị trường tài chínhtoàn cầu như nó điều hòa nồng độ rủi ro và do đó ủng hộ ổn định tài chính trong sự trỗidậy của một sự kiện kích hoạt yêu cầu bồi thường

Các thực thể dịch vụ tài chính đang hoạt động ở Bermuda bao gồm:

Trang 17

- Quản lý tài sản

- Các ngân hàng thương mại

- Các dịch vụ doanh nghiệp

- Quản lý quỹ

- Cung cấp dịch vụ đầu tư

- Bảo hiểm và tái bảo hiểm

2.2 Trung tâm tài chính hải ngoại Hong Kong:

2.2.1 Bối cảnh kinh tế:

Theo cuộc điều tra của tổ chức Heritage Foundation và tờ báo Wall Street Journal tại Mỹ,Hong Kong được chọn là nền kinh tế tự do nhất thế giới năm 2007 và đây cũng là nămthứ 13 liên tiếp Hong Kong đứng đầu danh sách xếp hạng Bản điều tra được tiến hànhvới 157 nền kinh tế trên thế giới, dựa trên 50 tiêu chí độc lập về kinh tế được chia thành

10 nhóm như mức độ tự do về thương mại và đầu tư, mức độ can thiệp chính quyền vàokinh tế, thu chi ngân sách, chính sách tiền tệ, các quy định về lương và giá cả, quyền tácgiả

Còn theo báo cáo của Viện Cato Institute- một trung tâm nghiên cứu chính sách phi lợinhuận, có trụ sở chính ở Washington D.C, luôn cổ vũ cho tự do thương mại, cắt giảmthuế và giảm thiểu sự tham gia của Nhà nước- thì Hong Kong luôn là nền kinh tế tự donhất Báo cáo trên được lập bắt đầu từ năm 1996 cùng với sự hợp tác của viện Fraser

Trang 18

Institute of Canada và 50 tổ chức nghiên cứu chính sách khác trên khắp thế giới, dựa trên

42 tiêu chí như tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự do tài khóa, tự do tiền tệ…

2.2.2 Vai trò:

Hong Kong là một cửa ngõ ra vào tối quan trọng của Trung Quốc đại lục và thế giới bênngoài Từ đầu những năm 1990, thị trường vốn Hong Kong đã trở thành nơi cung cấp vốnlớn cho Trung Quốc đại lục, chiếm tới hơn 80% vốn nước ngoài mà các doanh nghiệpTrung Quốc huy động được Hiện nay, với sự bùng nổ của Trung Quốc, Hong Kong càngđóng vai trò quan trọng đối với nhà đầu tư nước ngoài khi muốn tiếp cận và đầu tư vàothị trường Trung Quốc

Hong Kong với vị trí ở trung tâm Châu Á, Hong Kong có mối quan hệ giao dịch và kinhdoanh gần gũi cùng các nền kinh tế trong khu vực Vì vậy, Hong Kong là địa bàn chiếnlược trong khu vực tăng trưởng nhanh này Thị trường chứng khoán Hong Kong cung cấp

cơ hội gia tăng nguồn vốn cho nhiều công ty trong khu vực cũng như công ty đa quốc gia.Ngày nay, Hong Kong tiếp tục là trung tâm dịch vụ: thương mại, tài chính, luật pháp,logistics, cảng hàng không, cảng container của khu vực và thế giới Do dịch vụ vận tải tạiHong Kong phát triển đồng thời thuế suất gần như bằng 0 tính trên hàng hoá nên HongKong là cảng trung chuyển hàng hoá cho nhiều nước trên thế giới, hàng hoá được nhập

để xuất khẩu đi nước thứ ba Năm 2006, Hong Kong là thị trường IPO đứng thứ hai thếgiới với tổng giá trị gần 43 tỷ USD

Trong lĩnh vực tài chính, Hong Kong là một trong số rất ít các trung tâm mậu dịch Vềdịch vụ ngân hàng, Hong Kong là trung tâm giao dịch quốc tế xếp thứ 15 trên thế giới,xếp thứ 3 tại châu Á, là trung tâm ngân hàng quốc tế lớn thứ hai tính theo giá trị của cáclệnh thanh toán Hong Kong cũng là thị trường hối đoái lớn thứ ba châu Á tính theo giátrị giao dịch hàng ngày với con số 102 tỷ USD trong tháng 4 năm 2004

Năm 2004, Hong Kong là thị trường chứng khoán lớn thứ 15 tính trên lượng vốn mới huyđộng và là thị trường chứng khoán huy động vốn quan trọng nhất Châu Á, với tổng sốvốn huy động là 36 tỷ USD Cuối tháng 3 năm 2005 giá trị vốn hoá của thị trường chứngkhoán Hong Kong lên tới 843 tỷ USD, đứng thứ hai ở Châu Á sau Nhật Bản và thứ chín

Ngày đăng: 08/02/2015, 19:07

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 cung cấp một danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ, và các thể chế với OFCs   theo phạm vi bảo hiểm - tiểu luận môn ngân hàng quốc tế các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Bảng 1 cung cấp một danh sách các quốc gia, vùng lãnh thổ, và các thể chế với OFCs theo phạm vi bảo hiểm (Trang 10)
Bảng 2. Các thông tin cơ bản về OFCs được đánh giá theo - tiểu luận môn ngân hàng quốc tế các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Bảng 2. Các thông tin cơ bản về OFCs được đánh giá theo (Trang 11)
Bảng 2 cung cấp danh sách của Diễn đàn ổn định tài chính về 42 phạm vi lãnh thổ mà   họ cho rằng có các hoạt động hải ngoại đáng kể - tiểu luận môn ngân hàng quốc tế các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Bảng 2 cung cấp danh sách của Diễn đàn ổn định tài chính về 42 phạm vi lãnh thổ mà họ cho rằng có các hoạt động hải ngoại đáng kể (Trang 11)
Bảng 3 thể hiện các nhánh ngân hàng đại lý cung cấp dịch vụ về tài chính và tín dụng   lớn trên thế giới: - tiểu luận môn ngân hàng quốc tế các trung tâm tài chính và ngân hàng hải ngoại
Bảng 3 thể hiện các nhánh ngân hàng đại lý cung cấp dịch vụ về tài chính và tín dụng lớn trên thế giới: (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w