Tuy nhiên, kỹ thuật trồng và đặc điểm nông học của loài thủy sinh chưa được nghiên cứu, gây khó khăn cho công tác nuôi trồng, quản lý loài, cũng như việc thiết kế hồ thủy sinh đúng khoa
Trang 1SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
Trang 2CHỦ NGIỆM: Th.S NGUYỄN VĂN PHONG
TP.HCM – THÁNG 6/ 2009
Trang 3DANH SÁCH CÁC CƠ QUAN THAM GIA VÀ CỘNG TÁC VIÊN
CƠ QUAN THAM GIA
- Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Nhị Xuân – Hóc Môn Tp HCM
- Khoa Thủy sản Trường Đại Học Nông Lâm Tp HCM
CỘNG TÁC VIÊN
KS Bùi Nhã Trúc, Trạm Khuyến nông Bình Chánh T.P Hồ Chí Minh
KS Nguyễn Quang Ngọc, Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Nhị Xuân – Hóc Môn
KS Lê Ngọc Lê, Phòng Thủy sản Trung tâm Khuyến nông Tp HCM
SV Nguyễn Thị Nga, Bộ môn Cảnh Quang Trường ĐHNL Tp HCM
SV Nguyễn Hòang Huy, Khoa Thủy sản Trường ĐHNL Tp HCM
SV Nguyễn Thanh Phú, Khoa Thủy sản Trường ĐHNL Tp HCM
HV Ngô Xuân Quang, Sở Nông nghiệp và TPNT Tp HCM
NN Nguyễn Hữu Hiệp, Cơ sở Thủy Sinh Nguyễn Hiệp, Bình Thạnh, Tp HCM
NN Nguyễn Tuấn Anh, Cơ sở Thủy Sinh Tuấn Anh, Gò Vấp, Tp HCM
Trang 4SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
CHỦ NGIỆM: Th.S NGUYỄN VĂN PHONG
CƠ QUAN CHỦ TRÌ: TRUNG TAM KHUYẾN NÔNG TP.HCM
CƠ QUAN CỦ QUẢN: SỞ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
TP.HCM – THÁNG 6/ 2009
Trang 5Chương 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây xanh, không chỉ giúp cho môi trường sống trở nên trong lành, tươi mát mà còn góp phần tô điểm cho không gian trở nên rực rỡ và thân thiện với con người Ngày nay, ngòai việc dùng những chậu bonsai để trang trí, tô điểm cho không gian cuộc sống trở nên thú vị, thì việc trồng cây kiểng thủy sinh trong hồ kiếng để trang trí nhà cửa lại trở nên thời thượng Thật vậy, với một bể thủy sinh có thể giúp mọi người cảm nhận đủ thiên nhiên trong ngôi nhà của mình Với nguyên liệu chính là cây thủy sinh, đá và thiết bị chiếu sáng, người chơi có thể tạo nên một bức tranh phong cảnh ba chiều Bức tranh càng trở nên đẹp nếu biết kết hợp các yếu tố kỹ thuật, cây trồng, mỹ thuật và cảnh quan Hơn nữa, sử dụng hồ thủy sinh không tốn nhiều diện tích mà ngũ hành luôn cân bằng hiện diện trong ngôi nhà, mang lại cảm giác ấm cúng và an lành: với hành kim là
bể kính, hành mộc là cây cỏ, hành thủy là dòng nước mát lạnh, hành hỏa của đèn và hành thổ của chất nền
Hiện nay, tại các thành phố lớn, việc chơi hồ kiểng thủy sinh sôi động và trở thành thời thượng Tuy nhiên, kỹ thuật trồng và đặc điểm nông học của loài thủy sinh chưa được nghiên cứu, gây khó khăn cho công tác nuôi trồng, quản lý loài, cũng như việc thiết kế hồ thủy sinh đúng khoa học, đúng sinh lý thực vật theo đặc điểm sinh trưởng phát triển của từng loài cây trồng Vì vậy đề tài:
“KHẢO SÁT, CHỌN LỌC, NUÔI TRỒNG VÀ NHÂN GIỐNG MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THỦY SINH BẢN ĐỊA VÀ NHẬP NỘI ĐỂ PHỤC VỤ CHƯƠNG
Trang 6TRÌNH HOA KIỂNG – CÁ CẢNH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH” được thực
hiện bởi Th S Nguyễn Văn Phong
- Trên cơ sở đó, xây dựng kỹ thuật trồng, chăm sóc và nhân loài một số loài kiểng thủy sinh có giá trị
1.4 GIỚI HẠN
- Loài cây: Thực tế cây thủy sinh trên thị trường của Tp HCM đa dạng về chủng lọai
Đề tài này chỉ tập trung vào nhóm thực vật có hoa, ngành hạt kín, lớp 1 và 2 lá mầm, cây ngập chìm trong nước để phục vụ việc trồng cây trong hồ kính
- Không gian: Địa bàn Tp Hồ Chí Minh
- Thời gian: 20 tháng (từ 9/ 2007 – 5/ 2009)
Trang 7Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TP HỒ CHÍ MINH
2.1.1 Vị trí địa lý: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10’ –
10 0 38’ vĩ độ Bắc và 106 0 22’ – 106 054’ kinh độ Đông
- Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương
- Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh
- Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu
- Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
2.1.2 Địa hình: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông
Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Ðông sang Tây Chia thành 3 tiểu vùng địa hình:
+ Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc phía Bắc huyện
Củ Chi, Đông Bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10 - 25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao, cao nhất tới 32 m, như đồi Long Bình (Quận 9)
+ Vùng thấp trũng ở phía Nam - Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các Quận 7,
8, 9 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ) Vùng này có độ cao trung bình trên dưới 1 m và cao nhất 2 m, thấp nhất 0,5 m
+ Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành
cũ, một phần các Quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ Quận 12 và huyện Hóc Môn Vùng này có
độ cao trung bình 5 – 10 m
Trang 82.1.3 Đất đai: Ðất đai Thành phố Hồ Chí Minh được hình thành trên 2 hướng trầm
tích: trầm tích Pleieixtoxen và trầm tích Holoxen
+ Trầm tích Pleixtoxen (trầm tích phù sa cổ): chiếm hầu hết phần phía Bắc, Tây Bắc và
Ðông Bắc thành phố, gồm phần lớn các huyện Củ Chi, Hóc môn, Bắc Bình Chánh, quận Thủ Ðức, Bắc - Ðông Bắc quận 9 và đại bộ phận khu vực nội thành cũ
Ở thành phố Hồ Chí Minh, đất xám có ba loại: đất xám cao, có nơi bị bạc màu; đất xám
có tầng loang lổ đỏ vàng và đất xám gley; trong đó, hai loại đầu chiếm phần lớn diện tích Ðất xám nói chung có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha đến thịt nhẹ, khả năng giữ nước kém; mực nước ngầm tùy nơi và tùy mùa biến động sâu từ 1 - 2 m đến
15 m Ðất chua, độ pH khoảng 4,0 - 5,0 Ðất xám tuy nghèo dinh dưỡng, nhưng đất có tầng dày, nên thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng nông lâm nghiệp, có khả năng cho năng suất và hiệu qủa kinh tế cao, nếu áp dụng biện pháp luân canh, thâm canh tốt Nền đất xám, phù hợp đối với sử dụng bố trí các công trình xây dựng cơ bản
+ Trầm tích Holoxen (trầm tích phù sa trẻ): tại thành phố Hồ Chí Minh, trầm tích này
có nhiều nguồn gốc ven biển, vũng vịnh, sông biển, lòng sông và bãi bồi nên đã hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa có diện tích 15.100 ha (7,8 %), nhóm đất phèn 40.800 ha (21,2 %) và đất phèn mặn (45.500 ha (23,6) Ngoài ra có một diện tích nhỏ khoảng hơn 400 ha (0,2 %) là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò
+ Nhóm đất phù sa không hoặc bị nhiễm phèn, phân bố ở những nơi địa hình hơi cao
Trang 96,0 Hàm lượng mùn trung bình, các chất dinh dưỡng khá Là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho phát triển cây trồng
+ Nhóm đất phèn, có 2 loại: đất phèn nhiều và đất phèn trung bình Ðất phèn có thành
phần cơ giới từ sét đến sét nặng, đất chặt và bí Dưới độ sâu khoảng từ 1 m trở xuống,
có nhiều xác hữu cơ nên đất xốp hơn Ðất khá giàu mùn, chất dinh dưỡng trung bình; song hàm lượng các ion độc tố cao
+ Nhóm đất phèn mặn: có diện tích lớn nhất Phân bố tập trung huyện Nhà Bè và hầu
như toàn bộ huyện Cần Giờ Theo độ mặn và thời gian ngập mặn, nhóm đất mặn được chia làm 2 loại: đất phèn mặn theo mùa và đất phèn mặn thường xuyên (còn gọi là đất mặn dưới rừng ngập mặn)
Ðất mặn dưới rừng ngập mặn: Loại đất này rộng 35.000 ha, chiếm phần lớn diện tích huyện Cần Giờ
2.1.4 Khí hậu thủy văn: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa
cận xích đạo, nhiệt độ cao đều trong năm, có 2 mùa mưa - khô rõ ràng làm tác động chi phối môi trường cảnh quan sâu sắc Mùa mưa từ tháng 5 - tháng 11, mùa khô từ tháng
12 - tháng 4 năm sau Theo tài liệu quan trắc của trạm Tân Sơn Nhất, cho thấy:
- Lượng bức xạ dồi dào, trung bình khoảng 140 Kcal/ cm2/ năm Số giờ nắng trung bình 160 - 270 giờ/ tháng Nhiệt độ không khí trung bình 27 0C Nhiệt độ cao tuyệt đối
40 0C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 13,8 0C Tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 4 (28,8 0C), tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là khoảng giữa tháng 12 và tháng 1 (25,7 0C) Hàng năm có hơn 330 ngày có nhiệt độ trung bình 25 – 28 0C Ðiều kiện nhiệt độ và ánh sáng thuận lợi cho sự phát triển các chủng loại cây trồng
- Lượng mưa cao, bình quân 1.949 mm/ năm Năm cao nhất 2.718 mm (1908) và năm nhỏ nhất 1.392 mm (1958) Số ngày mưa trung bình/ năm là 159 ngày Khoảng 90 % lượng mưa hàng năm tập trung vào các tháng mùa mưa từ tháng 5 - tháng 11; trong đó hai tháng 6 và 9 thường có lượng mưa cao nhất Các tháng 1, 2, 3 mưa rất ít, lượng mưa không đáng kể
Trang 10- Ðộ ẩm tương đối của không khí bình quân/ năm: 79,5 %; bình quân mùa mưa 80 %
và trị số cao tuyệt đối tới 100 %; bình quân mùa khô 74,5 % và mức thấp tuyệt đối xuống tới 20 %
- Về gió: chịu ảnh hưởng bởi 2 hướng gió chính: chủ yếu là gió mùa Tây - Tây Nam và Bắc - Ðông Bắc Gió Tây - Tây Nam từ Ấn Ðộ Dương thổi vào trong mùa mưa, khoảng từ tháng 6 – tháng 10, tốc độ trung bình 3,6m/ s, gió thổi mạnh nhất vào tháng
8, tốc độ trung bình 4,5 m/ s Gió Bắc - Ðông Bắc từ biển Đông thổi vào trong mùa khô, khoảng từ tháng 11 - tháng 2, tốc độ trung bình 2,4 m/ s Ngoài ra có gió Nam - Ðông Nam, khoảng từ tháng 3 - tháng 5 tốc độ trung bình 3,7 m/ s Về cơ bản TP.HCM
thuộc vùng không có gió bão
2.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, CÁCH PHÂN LỌAI, ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ MỘT SỐ THIẾT BỊ CẦN THIẾT CHO MỘT BỂ THỦY SINH
2.2.1 Khái niệm cây thủy sinh: Cây thủy sinh là những lòai cây thích nghi với việc
sống trên mặt nước, ngập chìm hoặc bán ngập chìm trong nước Cây thủy sinh chỉ có thể phát triển trong nước hoặc có thể phát triển trong đất bão hòa về nước một cách thường xuyên Cây có mạch thủy sinh có thể là dương xỉ hoặc cây hạt kín (bao gồm lớp
1 lá mầm và lớp 2 lá mầm) Rong biển không phải là cây có mạch thủy sinh nhưng thuộc tảo biển đa bào và do đó không được tính đến trong phân lọai cây thủy sinh (theo
tự điển Wikipedia, 2008)
Hiện tại, khi đề cập đến cây thủy sinh người ta nghĩ ngay đến những cây sống trong nước nhưng trên thực tế cây thủy sinh là loại cây có thể sống được cả môi trường cạn lẫn môi trường nước Mỗi môi trường có đặc điểm hình thái khác nhau Vì thế, dễ
bị nhầm lẫn khi định danh, phân loại
2.2.2 Đặc điểm của cây thủy sinh: Để sống và thích nghi với môi trường nước, cây thủy sinh có những đặc điểm sau:
- Cơ quan khí khổng phát triển: Do lượng O2 hòa tan trong nước ít hơn so với môi trường trên cạn nên hầu hết bộ rễ cây thủy sinh có những khoang rỗng tương đối lớn
Trang 11giữa các tế bào, thông với nhau thành một hệ thống dẫn khí Đặc biệt, biểu bì rễ cây là một lớp màng mỏng mờ đục, cho phép lượng ôxy hoà tan trong nước thẩm thấu vào trong rễ theo các khoang rỗng giữa các tế bào, ôxy được phân tán đi khắp rễ, cung cấp đầy đủ dưỡng khí cho bộ phận này hô hấp
- Cấu tạo thân yếu: Hầu hết cây thủy sinh là thân thảo sống trong môi trường nước, không hóa gỗ nên thân mềm và yếu
- Cơ quan thoát nước phát triển: Nếu nước trong thân quá nhiều, không thoát được ra ngoài, ứ đọng lâu trong thân sẽ sinh ra thối rữa Khi khí áp suất bên ngoài quá thấp hoặc thoát hơi nước giảm đi, cây sẽ thải lượng nước thừa nhờ cơ quan thoát nước, có thể làm cho khoáng vận chuyển lên lá
- Bộ rễ kém phát triển: Do sống trong môi trường nước, nên hầu hết bộ rễ của cây thủy sinh không phát triển như cây trồng cạn, không phải vươn dài để hút nước và chất dinh dưỡng, bộ rễ này có tác dụng giữ cho cây sống trong môi trường nước Hơn nữa, bộ rễ cây thủy sinh cũng không có nhiều lông hút như cây trồng cạn mà trơn láng hơn
- Đặc điểm phát tán của phấn hoa: Không như ở trên cạn, cây phát tán phấn hoa nhờ gió, cây thủy sinh có cấu tạo đặc biệt để có thể phát tán phấn hoa khi nước chuyển động Một số lọai thủy sinh, khi ra hoa thì hoa phải vươn lên khỏi mặt nước để tiến hành quá trình thụ phấn nhằm duy trì nòi loài
- Sinh sản sinh dưỡng: Một số loại cây, sau khi cắt ra từng đoạn có thể phát triển thành cây mới Đa số cây thủy sinh được nhân loài bằng cách giâm cành Sau khi cây đủ lớn chọn những nhánh bánh tẻ cắt khúc, đảm bảo cây có từ 3 – 4 mắc lá, giâm xuống lớp chất nền là phát triển thành cây mới
2.2.3 Phân loại : Thực vật thủy sinh chia làm 4 nhóm chính: thực vật nổi (Floaters);
thực vật mép bờ (Marginal); thực vật đầm lầy (Bog Plants); thực vật chìm trong nước (Submersed) Mỗi loại cây có vị trí riêng và mục đích sử dụng khác nhau trong hồ thủy sinh
Trang 12Hình 1: Mô phỏng sự phân bố của các nhóm thực vật
+ Thực vật nổi (Floaters): Đặc trưng của lòai này: cây có rễ lơ lửng trong nước để hút chất dinh dưỡng, có tác dụng làm sạch hồ, hạn chế rêu, tảo với đại diện là các loài như bèo, lục bình, cây lông vẹ …
+ Thực vật mép bờ (Marginal): Trong thiên nhiên, thực vật mép bờ thường sống ở rìa
bờ sông suối và được xem là loài có khả năng sống lâu hơn so với các lòai thủy sinh
nhờ có một ít đất để giữ cho bộ rễ Một số loài như Thủy trúc, Đuôi mèo là những lòai
thuộc thực vật mép bờ
+ Thực vật đầm lầy (Bog Plants): Gồm những thực vật sống trong đầm lầy, vùng đất ngập nước Một số loại thích ứng được trong bóng râm nhưng cần ánh sáng để ra hoa Một số loài có khả năng “ăn thịt” côn trùng như rệp, muỗi nhờ hấp dẫn hương thơm, màu sắc
+ Thực vật chìm trong nước (Submersed) hay còn gọi thực vật tạo ôxi, lòai này sống thành từng cụm/ nhóm và thường chiếm ưu thế dưới đáy hồ Hiện tại, lòai thực vật này người chơi kiểng thủy sinh rất ưa chuộng
Trang 132.2.4 Điều kiện sống của cây thủy sinh khi nuôi trồng trong môi trường nhân tạo
Cây thủy sinh sống trong môi trường nước nên có một số yêu cầu khá khác biệt
hơn so với cây trồng cạn như sau:
- Giá thể trồng: Giá thể cho cây thủy sinh được tạo ra sao cho tương tự như trong tự
nhiên là tốt nhất Hỗn hợp phối trộn được người trồng thủy sinh hiện nay sử dụng bao gồm: phân bò, đất đen, đất sét và một ít NPK Tỷ lệ trộn tùy thuộc vào thành phần từng loài cây Bề dày lớp phân nền từ 3 - 5 cm Phân nền trộn sẵn có độ bền cao, từ 2 - 3 năm mới thay một lần Trên lớp phân nền, nên bổ sung một lớp sỏi nhỏ, hoặc cát để giúp nước luôn luôn trong sạch Bề dày cũng từ 3 - 5 cm
- Môi trường nước: Nước trong bể phải sạch và trong, liên tục đảo chiều để ngăn cản một số nguồn bệnh phát triển và tảo gây hại Mặc khác, cây sống trong nước nên lượng ánh sáng cho cây quang hợp ít, vì vậy nước cần phải trong để ánh sáng xuyên qua lòng nước, giúp cây quang hợp tốt hơn
- Ánh sáng: Ánh sáng là yếu tố rất quan trọng để giúp cây quang hợp tốt, giúp cây phát triển và có màu sắc tươi đẹp Thông thường, ánh sáng trắng giúp nâng cao hiệu quả quang hợp và đem lại màu sắc thực nhất cho một bể thủy sinh Ở độ sâu 30 cm, ánh sáng chỉ còn 80 %, dưới 30 cm còn 65 %, dưới 40 cm còn 50 %, càng xuống sâu ánh sáng càng yếu Một số nghiên cứu cho thấy ánh sáng đèn có màu sắc ấm khoảng 2000 lux thúc đẩy cây phát triển dài ra, ánh sáng lạnh 6000 lux thúc đấy sự mọc chùm (Sài Gòn Book, 2005) Muốn cây sinh trưởng bình thường thì nhu cầu ánh sáng tối thiểu 2.000 lux – 3.000 lux Khi chọn nguồn sáng cần hiểu rõ về công dụng và đặc điểm của các loại đèn Đèn huỳnh quang chỉ chiếu sáng trên mặt nước còn đèn bóng tròn Halogen kim loại chỉ chiếu sáng một điểm.Tốt nhất nên sử dụng đèn huỳnh quang dạng ống Cây thủy sinh chỉ có thể tiếp nhận ánh sáng để quang hợp từ 650 - 680 nm
- Nhiệt độ nước: Nhiệt độ thích hợp cho cây thủy sinh là 25 – 30 OC Nên chú ý nhiệt
độ giữa mùa hè và mùa đông để điều chỉnh phù hợp nhằm giúp cây sinh trưởng tốt
Trang 14- CO2 và pH: CO2 là nguồn dinh dưỡng chủ yếu giúp cây quang hợp, thiếu CO2 cây khó sống được.Trong một bể có thể có hoặc không có máy sục CO2 Có 2 cách để đưa
CO2 vào bể: gắn hộp khuếch tán không khí vào cửa trước của máy lọc để không khí truyền vào biến thể CO2, những bong bóng li ti đó sẽ khuếch tán trong nước hoặc khoét một lỗ trên ống dẫn của lưới lọc ở cửa nước đầu vào của bể, gắn đầu ống dẫn khí vào nhờ đó lượng CO2 được truyền vào nước dễ dàng
+ pH: thích hợp cho hầu hết cây là từ 6,5 - 7,2 Quan hệ giữa CO2, pH và độ cứng của nước có quan hệ mật thiết, dưới một nồng độ nhất định lượng CO2 phải đủ để nước trung tính
2.2.5 Các thiết bị cần thiết khi trồng cây thủy sinh
- Bể kính: Thông thường bể thủy sinh được làm bằng kính, các tấm kính được cắt và
ghép lại với nhau, một số loại bể được uốn cạnh tròn nhưng giá thành cao hơn Thể tích
bể lấy chiều dài làm chuẩn, có nhiều kích cỡ khác nhau (dài x rộng x cao): 70 x 45 x
35, 100 x 50 x 40, 130 x 60 x 45 hay 160 x 65 x 50 cm
- Giá đỡ: Bằng nhôm hoặc sắt, giá đỡ là những thanh hình trụ được ghép thành khung hình chữ nhật, chiều cao của giá đỡ tùy thuộc tầm ngắm của người chơi
- Máy lọc: Có tác dụng làm trong nước và hòa tan CO2 Có 2 loại máy lọc:
+ Máy lọc động lực: loại máy lọc này được gắn ở phía trên bể, gắn phối họp với đèn chiếu sáng Sau một thời gian sử dụng phải rửa các thiết bị lọc, không để chất bẩn bám dính vào ống cao su, thùng bơm nước, làm giảm lưu lượng nước Lưu ý khi rửa lưới lọc không nên hứng dưới vòi nước mạnh hoặc sử dụng chất tẩy rửa sẽ làm chết vi
khuẩn có lợi cho việc lọc nước
+ Máy lọc đặt dưới bể: loại máy này được đặt chìm dưới đáy bể, hút nước từ dưới lên tạo sự tuần hoàn nước Kiểu lọc này cung cấp oxy cho bể và hạn chế các ion độc hại Tuy nhiên, không nên để dòng nước tuần hoàn quá mạnh, ảnh hưởng đến những loài hấp thu dinh dưỡng từ bộ rễ
Trang 15- Đèn chiếu sáng: Có nhiều loại đèn như: đèn neon, huỳnh quang, đèn thủy ngân, đèn halogen kim loại nhưng phổ biến nhất người ta sử dụng 2 loại đèn là đèn neon và halogen kim loại
- Thiết bị khác
+ Thiết bị gia nhiệt: thiết bị này dùng cho khu vực phía Bắc trong mùa đông, các tỉnh thành khu vực phía Nam không cần thiết sử dụng
+ Thiết bị bổ sung CO2: bao gồm bình CO2, hộp khuếch tán CO2, đồng hồ áp suất
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÂY THỦY SINH HIỆN NAY
2.3.1 Công trình nghiên cứu nước ngoài: Hiện tại, một số quốc gia trên thế giới như
Nhật, Đức, Đài Loan, Đan Mạch đã công nghiệp hóa nghề trồng và nhân loài một số lọai thực vật thủy sinh dùng làm trang trí cho hồ cá cảnh Năm 2006, cuộc thi về hồ kiểng cây thủy sinh diễn ra tại Nhật đã thu hút được 959 hồ kiểng thủy sinh đến từ 36 quốc gia trên tòan thế giới đã đem đến cho người xem những tác phẩm về cây thủy sinh
trồng trong hồ kiếng tuyệt đẹp (Tạp chí Thế giới cá kiểng, số 30/ 2007) Christel
Kasselmann (2003) đã sưu tầm được 300 lọai cây thủy sinh sinh trưởng và phát triển bình thường trong môi trường nhân tạo Ảnh hưởng của hàm lượng CO2, phân bón hòa tan, cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng đến sinh trưởng và phát triển của một
số cây thủy sinh dùng làm kiểng trang trí trong hồ thủy tinh Kết quả cho thấy : pH biến động trong khỏang 6,8 – 7,2 ; Độ cứng của nước biến động trong khỏang 4,0 – 8,0
0dH ; Hàm lượng CO2 biến động 7,5 – 18,6 mg/l sẽ giúp cho một số loài thủy sinh phát triển tốt, màu sắc đẹp (Peter Hiscook, 2003) Tác giả Jamie S.Johnson (2006) có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến dinh dưỡng, cường độ ánh sáng, nồng độ CO2 đến sự sinh trưởng và phát triển cho cây kiểng thủy sinh Theo kết quả này, hàm lượng N và K
có ảnh hưởng khá quan trọng đến quá trình phát triển của cây thủy sinh
Việc thiết kế và bố trí các lọai cây sao cho phù hợp trong bể thủy sinh được Pablo
Tepoot (2005) chi tiết bằng hình ảnh trong quyển: “Aquarium plants:The practical guide” hoặc Takashi Amano trình bày trong quyển “Aquarium plant paradise”
Trang 16Một số lọai mầm bệnh gây hại, biện pháp khác phục và chế độ dinh dưỡng cho cây thủy sinh cũng được tác giả Norman C Fassett (1957) nghiên cứu
Hiện nay, các tài liệu, tạp chí, sách tham khảo được nhiều quốc gia xuất bản Trong
đó, nổi bật nhất là Nhật, Đức (www.tropica.com)
2.3.2 Công trình nghiên cứu trong nước:
Hiện tại, ở Việt Nam, kiểng thủy sinh được các nghệ nhân phát triển theo hướng tự phát, chưa thấy công bố các kết quả nghiên cứu cụ thể về các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, hàm lượng CO2, độ pH, hàm lượng dinh dưỡng đến sự sinh trưởng và phát triển của thực vật thủy sinh nuôi trồng trong hồ kiếng Dù rằng, các lọai thực vật thủy sinh dùng làm cây kiểng luôn là mặt hàng rất đắc giá Tại Tp HCM, trung bình, một hồ kiểng thủy sinh (có khoảng 10 lọai cây kiểng thủy sinh, kích thước 120 cm x 70 cm x
70 cm) giá trị có thể tới 10 – 12 triệu đồng/ hồ Đa số, các loài thủy sinh được nhập nội
từ nước ngòai Một số loài khác được sưu tập trong nước như Biệt liên, cỏ Mạc ty, Phượng vĩ đài Nhiều loài thủy sinh được bán khá đắc, biến động từ 30.000 đ – 200.000 đ/ cây, tùy thuộc vào loài cây và kích thước cây Đặc biệt, nhóm rêu thủy sinh
có giá bán rất cao, trung bình khỏang 150.000 đ – 200.000 đ/ 10 cm2
Diễn đàn cá cảnh, cây kiểng thủy sinh tại địa chỉ www.aquabird.com.vn khá hấp dẫn, nhằm trao đổi các thông tin KHKT có liên quan đến lĩnh vực này
Trang 17Chương 3 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG 1: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI, ĐỊNH DANH MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THỦY SINH BẢN ĐỊA VÀ NHẬP NỘI CÓ GIÁ TRỊ ĐƯỢC TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM
3.1.1 Mục tiêu nội dung 1
- Khảo sát, điều tra, định danh một số loài kiểng thủy sinh bản địa và nhập nội có trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh nhằm làm cơ sở cho các nghiên cứu sâu hơn và công tác quản
lý loài khoa học hơn
- Ghi nhận các đặc điểm nông học, điều kiện sống, khả năng tăng trưởng của một số loài thủy sinh bản địa và nhập nội để làm cơ sở trong việc phân bố, sắp đặt vị trí từng loài thủy sinh trong quá trình nuôi trồng trong hồ thủy sinh sao cho phù hợp với màu sắc, hình dáng và khả năng tăng trưởng, giúp quá trình thiết kế hồ thủy sinh mang tính hài hòa, đúng khoa học và tăng tính mỹ quan
- Đánh giá sơ bộ thị trường tiêu thụ và những tiềm năng của lòai kiểng thủy sinh thông qua những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức của nghề mới này nhằm góp phần định hướng phát triển nông nghiệp đô thị, giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh định hướng phát triển, đáp ứng sản phẩm cây thủy sinh cho người tiêu dùng trong bối cảnh hiện nay của Tp Hồ Chí Minh
3.1.2 Giới hạn
- Loài cây: Thực tế cây thủy sinh có rất nhiều dạng như: thực vật trôi nổi trên mặt nước, thực vật mép bờ, thực vật chìm trong nước, rong, rêu…Nhưng đề tài chỉ tập
Trang 18trung điều tra, khảo sát một số loài thực vật bậc cao chìm trong nước (thực vật có hoa, ngành hạt kín, lớp 1 và 2 lá mầm và một số lòai dương xỉ, rêu)
- Không gian: Địa bàn Tp Hồ Chí Minh
- Thời gian: 5 tháng (từ 9/ 2007 – 1/ 2008)
3.1.3 Phương pháp thực hiện
3.1.3.1 Điều tra khảo sát
- Chọn địa điểm điều tra
+ Chọn các khu vực chợ chuyên bán cây kiểng thủy sinh như đường Nguyễn Thông (Q3), Lý Chính Thắng (Q3), Trường Chinh (Tân Bình)…
+ Chọn các showroom chưng bày cây kiểng thủy sinh ở đường Nguyễn Cư Trinh, Bùi Viện (Q1), Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Q3), Nơ Trang Long (Bình Thạnh)…
+ Chọn các cơ sở sản xuất cây kiểng thủy sinh tại Nguyễn Thị Thập (Q7), Nơ Trang Long (Bình Thạnh), Quốc lộ 50 (Bình Chánh), Lãnh Binh Thăng (Q11), Nguyễn Cư Trinh (Q1), Tuấn Anh (Gò Vấp), Nguyễn Hiệp (Bình Thạnh), Thủy Mộc (Q5)…
+ Chọn một số vựa kiểng thủy sinh tại khu vực Quốc lộ 50 (Bình Chánh), Phan Huy Ích (Gò Vấp), Trường Sơn (Tân Bình)
- Thu thập số liệu và khảo sát địa bàn: Thông qua các Chi hội Sinh vật cảnh, Hội hoa lan, Hội nông dân, Hội làm vườn của các quận, huyện để thu thập các số liệu thứ cấp
có liên quan đến nghề nuôi trồng cây kiểng thủy sinh và khảo sát số hộ nuôi trồng kiểng thủy sinh, số hộ kinh doanh kiểng thủy sinh có trên địa bàn
- Điều tra, phỏng vấn nông hộ, người sản xuất, kinh doanh: Mỗi khu vực chọn 3 - 5 hộ Tổng số mẫu điều tra khỏang 50 - 100 mẫu, gồm :
+ Thiết kế mẫu điều tra với những nội dung soạn sẵn (phụ lục đính kèm):
+ Chọn ngẫu nhiên các hộ dân nuôi trồng hoặc kinh doanh cây kiểng thủy sinh ở các khu vực như trên theo giới thiệu của Chi hội chuyên ngành có liên quan
+ Phỏng vấn trực tiếp hộ dân sản xuất, nuôi trồng, kinh doanh kiểng thủy sinh theo bản biểu sọan sẵn
Trang 19+ Đo đếm, thu thập các số liệu liên quan đến đặc điểm sinh trưởng, phát triển của từng loài, các đặc điểm nông học khác của từng loài
+ Tìm hiểu cách thiết lập một bể thủy sinh và phong cách (trường phái) thông qua các cửa hàng kinh doanh và một số nghệ nhân trong lĩnh vực thủy sinh
+ Ghi nhận các thuận lợi và khó khăn trong nghề trồng cây kiểng thủy sinh
3.1.3.2 Thu thập mẫu, định danh, phân lọai thực vật
- Thu thập mẫu cây: sử dụng thùng xốp chuyên dùng để chứa mẫu khi thu thập, dao kéo, túi giấy chuyên dùng để bọc mẫu Mẫu khi được sưu tập và bọc trong túi giấy chuyên dùng có thấm nước, sau đó đó chuyển về nhà khoa học chuyên môn định danh
- Phân lọai, định danh: Việc phân lọai, định danh được thuê khóan lại các nhà khoa học có chuyên môn để định danh Việc định danh, phân loại dựa theo phương pháp so sánh hình thái là chủ yếu: dựa vào đặc điểm hình thái, nhất là hình thái cơ quan sinh sản (không phân tích hóa sinh bên trong cây)
3.1.3.3 Phân tích số liệu và thị trường tiêu thụ, những thuận lợi và khó khăn
- Xử lý, phân tích số liệu thu thập được trên EXCEL
- Sử dụng lý thuyết SWOT để phân tích tình hình sản xuất, kinh doanh cây kiểng thủy sinh và định hướng phát triển của lọai cây trồng mới này trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh
Trang 203.2 NỘI DUNG 2: NGHIÊN CỨU NUÔI TRỒNG MỘT SỐ LOÀI KIỂNG THỦY SINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA THÀNH PHỐ
3.2.1 Mục tiêu của nội dung 2
- Theo dõi sinh trưởng, phát triển của một số lòai thực vật thủy sinh khi nuôi trồng trong môi trường hồ kiếng ở điều kiện thường tại Tp.HCM
- Tìm hiểu một số yếu tố của môi trường như giá thể trồng, hàm lượng CO2, cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng và hàm lượng đạm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của một số loài kiểng thủy sinh trong quá trình nuôi trồng
- Xây dựng kỹ thuật trồng và chăm sóc một số loài kiểng thủy sinh
- Loài cây: Gồm 24 loài thuộc 6 họ thực vật chìm trong nước
- Không gian: Địa bàn Tp Hồ Chí Minh
Trang 213.2.4.1 Thí nghiệm 1 : Thăm dò ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng và phát
triển của một số loài kiểng thủy sinh nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên tại Tp.HCM
Trong tự nhiên, cây thủy sinh thường sống ở đáy ao, hồ, sông suối Thực vật này có thể sống trên nhiều vật liệu trồng khác nhau như: như đất thịt, bùn sình, đất cát, sạn, đá mỗi một loại vật liệu trồng có ảnh hưởng khác nhau đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Do đó, nghiên cứu giá thể trồng (có nguồn gốc hơi loài với tự nhiên)
5 :1 :1 để trồng Từ cơ sở này, đề tài chọn thêm một số vật liệu hữu cơ sẵn có trong tự nhiên với hàm lượng dinh dưỡng cao như than bùn để phối trộn với đất làm vật liệu trồng Ngòai ra, còn bổ sung thêm phân có hàm lượng vitamin cao, dễ thích ứng cho mọi cây trồng như phân trùn, phân hữu cơ Sài Gòn để làm đa dạng hóa vật liệu trồng, giúp người nuôi trồng dễ dàng chọn lựa vật liệu trồng
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 yếu tố: Yếu tố A (loài); Yếu tố B (giá thể trồng) Các loài trong cùng một họ thực vật được trồng chung trong một hồ kính có kích thước: 1,5
m x 0,7 m x 0,8 m (dài x rộng x cao); có 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại tương ứng với một hồ kính có kích thước như trên Chọn ngẫu nhiên 30 cây/ loài thể đo đếm số liệu
Có 3 nghiệm thức giá thể trồng như sau :
+ Nghiệm thực 1 : Đất thịt + Đất sét + Phân bò Phối trộn theo tỷ lệ 5 :1 :1 (ĐC)
+ Nghiệm thức 2 : Đất thịt + Than bùn + Phân trùn Phối trộn theo tỷ lệ 5 :1 :1
+ Nghiệm thức 3 : Đất thịt + Đất sét + Phân hữu cơ Sài Gòn Phối trộn theo tỷ lệ 5 :1 :1
Trang 22Tất cả bề mặt tại các nghiệm thức đều được phủ một lớp sạn dày 7 cm
Loài kiểng thủy sinh Lọai giá thể trồng
Loài số 1 Loài số 2
Loài số 24
Nghiệm thức 1 (ĐC) Nghiệm thức 2 Nghiệm thức 3
Tổng số cây theo dõi như sau :
24 loài x 3 Lần nhắc lại x 10 cây/ loài x 3 Nghiệm thức = 2.160 cây/ thí nghiệm
- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
- Các loài thuộc cùng một họ thực vật sẽ được phân tích thống kê so sánh chung, các loài không cùng một họ sẽ thống kê riêng lẻ
c/ Chỉ tiêu theo dõi
- Ảnh hưởng của loại giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng, phát triển của loài về chiều cao cây, số lá/ cây, số nhánh cấp 1
- Ảnh hưởng của loại giá thể trồng đến đặc điểm nông học khác của mỗi loài tham gia thí nghiệm như :
+ Đặc điểm cây : Cấu trúc cây, hình dạng tán cây giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm lá : Chiều dài lá, chiều rộng lá, khỏang cách giữa các lá, số đôi gân lá, màu sắc lá non, màu sắc lá trưởng thành, chiều dài cuống lá, hình dạng lá giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm hoa, quả (nếu có) : Cấu trúc hoa, cấu trúc quả, thời gian và đặc điểm ra hoa, kết quả
* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL và MSTATC 2.0
* So sánh, đánh giá và rút ra giá thể trồng hợp lý để khuyến cáo cho người trồng
Trang 233.2.4.2 Thí nghiệm 2 : Thăm dò ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến sinh trưởng
và phát triển của một số loài kiểng thủy sinh nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên tại TP.HCM
Kết thúc thí nghiệm 1, chọn lọai giá thể tốt nhất để đưa vào thí nghiệm 2 (thí nghiệm mang tính bắt cầu)
Độ chiếu sáng (lux) của ánh sáng tự nhiên trong một ngày biến động từ 2000 lux –
6000 lux (Saigonbook, 2005) ; độ chiếu sáng thích hợp nhất trong nuôi cấy mô tế tào thực vật biến động từ 1000 lux – 3000 lux (Dương Công Kiên, 2002)
Từ các luận chứng trên, đề tài chọn 3 mức độ chiếu sáng như sau để đưa vào thí nghiệm : Độ chiếu sáng 1.500 lux ; 2.000 lux và 3.000 lux
a/ Mục tiêu của thí nghiệm 2: Tìm hiểu ảnh hưởng của cường độ ánh sáng đến khả
sinh trưởng và phát triển một số loài kiểng thủy sinh khi nuôi trồng trong điều kiện tự
nhiên tại Tp.HCM
b/ Bố trí thí nghiệm
- Các loài tham gia thí nghiệm được chọn khi cây con loài được 1 tháng tuổi (có 4 – 5 lá/ cây và cao khỏang 15 cm) Các loài thuộc cùng một lòai được bố trí trong cùng một
hồ kiếng và được thống kê so sánh với nhau Các loài không cùng họ sẽ thống kê riêng
lẻ Bố trí thí nghiệm tương tự như thí nghiệm 1 Cường độ ánh sáng được chọn ở 3 mức: Độ chiếu sáng 1.500 lux ; 2.000 lux và 3.000lux
Loài kiểng thủy sinh Cường độ chiếu sáng
Loài số 1 Loài số 2 Loài số 3
Loài số 24
1.500 lux 2.000 lux 3.000 lux
Tổng số cây theo dõi như sau :
24 loài x 3 Lần nhắc lại x 10 cây/ loài x 3 Nghiệm thức = 2.160 cây/ thí nghiệm
Trang 24- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
- Các loài cùng thuộc một họ thực vật sẽ được phân tích thống kê so sánh chung, các loài không cùng một họ sẽ thống kê riêng lẻ
- Riêng lòai rêu thủy sinh: Rêu được cho bám vào lũa (gỗ mục) : 1 loài x 3 LLL x 2
cm2 rêu/ loài x 3 NT = 18 cm2 rêu/ thí nghiệm
c/ Chỉ tiêu theo dõi
- Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng của mỗi nghiệm thức đến khả năng sinh trưởng, phát triển của loài về chiều cao cây, đường kính tán lá, số lá/ cây, số nhánh
- Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến đặc điểm nông học khác của mỗi loài tham gia thí nghiệm như:
+ Đặc điểm cây: Cấu trúc cây, hình dạng tán cây giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm lá: Chiều dài lá, chiều rộng lá, khỏang cách giữa các lá, số đôi gân lá, màu sắc lá non, màu sắc lá trưởng thành, chiều dài cuống lá, hình dạng lá giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm hoa, quả (nếu có): Cấu trúc hoa, cấu trúc quả, thời gian và đặc điểm ra hoa, kết quả
* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL và MSTATC 2.0
* So sánh, đánh giá và rút ra cường độ chiếu sáng hợp lý để khuyến cáo cho người trồng
3.2.4.3 Thí nghiệm 3 : Thăm dò ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng trong ngày đến
sinh trưởng và phát triển của một số loài kiểng thủy sinh nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên tại TP.HCM
Kết thúc thí nghiệm 2, chọn được cường độ ánh sáng thích hợp để đưa vào thí nghiệm 3
Hiện tại, kiểng thủy sinh chủ yếu dùng để trang trí trong nhà (không có ánh sáng mặt trời) Điều này sẽ dẫn đến trường hợp thiếu ánh sáng cho sự quang hợp của cây, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển Vì vậy, sử dụng ánh sáng điện để
Trang 25khắc phục hạn chế này Tuy nhiên, mỗi loài có mức cảm ứng ánh sáng khác nhau Do vậy, cần tổ chức thí nghiệm về thời gian chiếu sáng để đánh giá tác động của ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển của cây trồng
a/ Mục tiêu của thí nghiệm 3: Tìm hiểu ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng trong
ngày đến khả năng sinh trưởng và phát triển của mỗi loài kiểng thủy sinh khi nuôi
trồng trong điều kiện tự nhiên tại Tp.HCM
Loài số 24
8 giờ/ ngày
10 giờ/ ngày
12 giờ/ ngày
Tổng số cây theo dõi như sau :
24 loài x 3 Lần nhắc lại x 10 cây/ loài x 3 Nghiệm thức = 2.160 cây/ thí nghiệm
- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
- Các loài cùng thuộc một họ thực vật sẽ được phân tích thống kê so sánh chung, các loài không cùng một họ sẽ thống kê riêng lẻ
Trang 26- Riêng lòai rêu thủy sinh: Rêu được cho bám vào lũa (gỗ mục) : 1 loài x 3 LLL x 2
cm2 rêu/ loài x 3 NT = 18 cm2 rêu/ thí nghiệm
c/ Chỉ tiêu theo dõi
- Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng trong ngày của mỗi nghiệm thức đến khả năng sinh trưởng, phát triển của loài về chiều cao cây, đường kính tán lá, số lá/ cây, số cành/ nhánh
- Ảnh hưởng của thời gian chiếu sáng đến đặc điểm nông học khác của mỗi loài tham gia thí nghiệm như:
+ Đặc điểm cây: Cấu trúc cây, hình dạng tán cây giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm lá: Chiều dài lá, chiều rộng lá, khỏang cách giữa các lá, số đôi gân lá, màu sắc lá non, màu sắc lá trưởng thành, chiều dài cuống lá, hình dạng lá giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm hoa, quả (nếu có): Cấu trúc hoa, cấu trúc quả, thời gian và đặc điểm ra hoa, kết quả
* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL và MSTATC 2.0
* So sánh, đánh giá và rút ra thời gian chiếu sáng hợp lý để khuyến cáo cho người trồng
3.2.4.4 Thí nghiệm 4 : Thăm dò ảnh hưởng của hàm lượng CO 2 đến sinh trưởng và phát triển của một số loài kiểng thủy sinh nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên tại TP.HCM
Kết thúc thí nghiệm 3, chọn ra thời gian chiếu sáng/ ngày tốt nhất để đưa vào thí nghiệm 4 (thí nghiệm mang tính bắt cầu)
a/ Mục tiêu của thí nghiệm 4 : Tìm hiểu ảnh hưởng của hàm lượng CO2 đến khả sinh trưởng và phát triển của mỗi loài kiểng thủy sinh khi nuôi trồng trong điều kiện tự
nhiên tại Tp.HCM
Trang 27b/ Bố trí thí nghiệm
- Các loài tham gia thí nghiệm có độ tuổi là 1 tháng tuổi, có 4 - 5 lá, cao khỏang 15 cm Các loài thuộc cùng một lòai được bố trí trong cùng một hồ kiếng Bố trí thí nghiệm theo kiểu hòan toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại Mỗi lần lặp lại chọn ngẫu nhiên 10 cây/ loài để đo đếm số liệu, ghi nhận tình hình sinh trưởng và phát triển Hàm lượng CO2
được chọn ở 3 mức : 12 mg/ l ; 15 mg/ l ; 18 mg/ l Tính cho 8 h vận hành
Cơ sở để chọn 3 mức hàm lượng CO2 như trên là dựa vào cơ sở nghiên cứu của Kaspar Horst và Horst E.Kipper (2006); Jamie S.Johnson (2006) Theo các tác giả này: hàm lượng CO2 tốt nhất cho cây kiểng thủy sinh biến động từ 7,5 mg/ l – 24,0 mg/
l, tốt nhất ở khỏang 11,8 mg/l – 17,8 mg/ l)
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 yếu tố: Yếu tố A (loài); Yếu tố B (hàm lượng CO2) Các loài trong cùng một họ thực vật được trồng chung trong một hồ kính có kích thước: 1,5 m x 0,7 m x 0,8 m (dài x rộng x cao); có 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại tương ứng với một hồ kính có kích thước như trên Chọn ngẫu nhiên 30 cây/ loài thể đo đếm số liệu
Loài kiểng thủy sinh Hàm lượng CO2
Loài số 1 Loài số 2 Loài số 3
Loài số 24
12 mg/ l
15 mg/ l
18 mg/ l
Tổng số cây theo dõi như sau :
24 loài x 3 Lần nhắc lại x 10 cây/ loài x 3 Nghiệm thức = 2.160 cây/ thí nghiệm
- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
- Các loài cùng thuộc một họ thực vật sẽ được phân tích thống kê so sánh chung, các loài không cùng một họ sẽ thống kê riêng lẻ
Trang 28- Riêng lòai rêu thủy sinh: Rêu được cho bám vào lũa (gỗ mục) : 1 loài x 3 LLL x 2
cm2 rêu/ loài x 3 NT = 18 cm2 rêu/ thí nghiệm
c/ Chỉ tiêu theo dõi
- Ảnh hưởng của hàm lượng CO2 ở từng nghiệm thức đến khả năng sinh trưởng, phát triển của các loài về chiều cao cây, đường kính tán lá, số lá/ cây, số nhánh cấp 1
- Ảnh hưởng của hàm lượng CO2 đến các đặc điểm nông học khác của từng loài tham gia thí nghiệm như:
+ Đặc điểm cây: Cấu trúc cây, hình dạng tán cây giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm lá: Chiều dài lá, chiều rộng lá, khỏang cách giữa các lá, số đôi gân lá, màu sắc lá non, màu sắc lá trưởng thành, chiều dài cuống lá, hình dạng lá giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm hoa, quả (nếu có) : Cấu trúc hoa, cấu trúc quả, thời gian và đặc điểm ra hoa, kết quả
* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL và MSTATC 2.0
* So sánh, đánh giá và rút ra hàm lượng CO 2 hợp lý để khuyến cáo cho người trồng
3.2.4.5 Thí nghiệm 5 : Thăm dò ảnh hưởng của nồng độ phân đạm hòa tan đến sinh
trưởng và phát triển của một số loài kiểng thủy sinh nuôi trồng trong điều kiện tự nhiên tại Tp.HCM
Kết thúc thí nghiệm 4, chọn nghiệm thức tốt nhất để đưa vào thí nghiệm 5
Hầu hết ở các lòai thực vật thủy sinh, bộ phận quan trọng nhất dùng làm kiểng là
bộ phận lá Vì vậy, cần phát triển bộ lá là chính Do vậy, cần gia tăng lượng phân đạm
để kích thích bộ lá phát triển, màu sắc xanh đẹp Vì vậy, việc nghiên cứu dinh dưỡng đạm cho cây kiểng thủy sinh là điều rất cần thiết
a/ Mục tiêu của thí nghiệm 5: Tìm hiểu ảnh hưởng của nồng độ đạm đến khả sinh
trưởng và phát triển của mỗi loài kiểng thủy sinh khi nuôi trồng trong điều kiện tự
nhiên tại Tp.HCM
Trang 29b/ Bố trí thí nghiệm
Cơ sở để chọn 3 mức độ đạm như trên xuất phát từ : Dựa vào nồng độ đạm thích hợp trong môi trường nuôi cấy mô thực vật Từ đó, chọn ra những môi trường đại diện
để đưa vào thí nghiệm Đề tài chọn môi trường giàu đạm là Murashige et skoong
(lượng đạm khỏang : 371,2 mg/ l) và môi trường nghèo đạm là Gamborg (lượng đạm
khỏang : 36,4 mg/ l), dựa vào 2 môi trường này để chọn lượng đạm hợp lý để đưa vào thí nghiệm
Mặc khác, hiện nay trên thị trường có bán phân bón hòa tan DBO (phân nhập từ Nhật bản), giá bán của phân này lên đến 350.000đ/ lít (giá bán này quá cao, khó đáp ứng thị trường Việt Nam) Gây khó khăn cho người sử dụng tại Tp.HCM Kết quả
phân tích phân DBO tại Viện khoa học Miền Nam cho thấy : Lượng đạm : 500 mg/ l,
lượng lân : 16 mg/ l, lượng kali :10 mg/ l Như vậy, dinh dưỡng cho cây kiểng thủy sinh chủ yếu là đạm
Dựa vào 2 cơ sở khoa học như trên, đề tài xây dựng nồng độ phân đạm ở 3 mức đạm tương ứng vớ 3 nghiệm thức :
(tức khỏang 350 mg/ lít nước/ chu kỳ 7 lần bón)
- Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm 2 yếu tố: Yếu tố A (loài); Yếu tố B (hàm lượng đạm) Các loài trong cùng một họ thực vật được trồng chung trong một hồ kính có kích thước: 1,5 m x 0,7 m x 0,8 m (dài x rộng x cao); có 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại tương ứng với một hồ kính có kích thước như trên Chọn ngẫu nhiên 30 cây/ loài thể đo đếm số liệu
Trang 30Loài kiểng thủy sinh Nồng độ đạm/ lít
Loài số 1 Loài số 2 Loài số 3
Loài số 24
150 mg/ lít nước/ 7 lần bón
250 mg/ lít nước/ 7 lần bón
350 mg/ lít nước/ 7 lần bón
Tổng số cây theo dõi như sau:
24 loài x 3 Lần nhắc lại x 10 cây/ loài x 3 Nghiệm thức = 2.160 cây/ thí nghiệm
- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
- Các loài cùng thuộc một họ thực vật sẽ được phân tích thống kê so sánh chung, các loài không cùng một họ sẽ thống kê riêng lẻ
- Riêng lòai rêu thủy sinh: Rêu được cho bám vào lũa (gỗ mục) : 1 loài x 3 LLL x 2
cm2 rêu/ loài x 3 NT = 18 cm2 rêu/ thí nghiệm
- Thời gian bổ sung phân đạm là sau 7 ngày trồng Chu kỳ bón sau 7 ngày/ lần so với thời gian thay nước hồ
c/ Chỉ tiêu theo dõi
- Ảnh hưởng của nồng độ đạm hòa tan của mỗi nghiệm thức đến khả năng sinh trưởng, phát triển của loài về chiều cao cây, đường kính tán lá, số lá/ cây, số nhánh…
- Ảnh hưởng của nồng độ đạm hòa tan đến các đặc điểm nông học khác của loài tham gia thí nghiệm như:
+ Đặc điểm cây: Cấu trúc cây, hình dạng tán cây giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm lá: Chiều dài lá, chiều rộng lá, khỏang cách giữa các lá, số đôi gân lá, màu sắc lá non, màu sắc lá trưởng thành, chiều dài cuống lá, hình dạng lá giữa các nghiệm thức
+ Đặc điểm hoa, quả (nếu có): Cấu trúc hoa, quả, thời gian và đặc điểm ra hoa, kết quả
Trang 31* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL và MSTATC 2.0
* So sánh, đánh giá và rút ra nồng độ đạm hợp lý để khuyến cáo cho người trồng
* Đúc kết số liệu và xây dựng kỹ thuật trồng, chăm sóc một số loài kiểng thủy sinh
3.3 NỘI DUNG 3: THĂM DÒ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHÂN GIỐNG THỰC VẬT THỦY SINH TRONG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA TP HỒ CHÍ MINH
Hiện nay, giá bán cây loài thủy sinh tại Tp.HCM rất cao (do hầu hết loài phải nhập khẩu) nên gây khó khăn nhiều cho việc triển khai trên diện rộng, giúp nhiều người cùng tham gia Do vậy, cần quan tâm đến vấn đề nhân loài Tuy nhiên, đây là đối tượng cây trồng khá mới, nên công tác nghiên cứu nhân loài cần thực hiện theo kiểu thăm dò, nhằm tìm hiểu cách thức nhân loài, hệ số nhân loài của từng lòai theo nhiều cách thức khác nhau như nhân loài bằng giâm hom cành, giâm thân, giâm rễ, giâm củ, hoặc nhân
loài bằng hột …
3.3.1 Mục tiêu của nội dung 3
Tìm hiểu cách thức nhân loài và hệ số nhân loài của một số lòai cây thủy sinh bản địa và nhập nội có giá trị dùng làm kiểng thủy sinh
3.3.2 Bố trí thí nghiệm
Tùy theo đặc điểm của từng lòai mà áp dụng biện pháp nhân loài khác nhau Nếu
đó là lòai nhân loài vô tính bằng hom thân/ cành/ rễ/ củ thì đề tài sẽ sử dụng những đọan thân có kích thước khác nhau để giâm Nếu đó lá lòai cây nhân loài hữu tính thì
sẽ dùng hột để ươm/ gieo
Nếu nhân loài vô tính: Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hòan tòan ngẫu nhiên, đơn yếu tố, 4 nghiệm thức ứng với 4 kích thước của đọan thân khác nhau, 5 lần lặp lại (LLL), mỗi lần lặp lại chọn 10 chồi/ lòai để đo đếm số liệu Các nghiệm thức giâm cành gồm :
NT1 : Đọan thân/ cành có 2 mắt lá
NT2 : Đọan thân/ cành có 3 mắt lá
NT3 : Đọan thân/ cành có 4 mắt lá
Trang 32NT4 : Đọan thân/ cành có 5 mắt lá
NT5 : Đọan thân/ cành có 6 mắt lá
Nếu nhân loài hữu tính: Tìm hiểu cách gieo/ ươm, cách thức xử lý hạt trước khi gieo/ ươm hoặc gieo trực tiếp không qua xử lý… Tìm hiểu cách lưu trữ hột loài của một số lòai => sinh lý hột loài, nghiên cứu từ khi ra hoa, thụ phấn đến khi hột chín sinh
lý, thu hái, bảo quản và gieo hột trở lại Chỉ áp dụng cho những cây có hoa => thu hột
=> tính số lượng hột/ cây => qui ra nhu cầu hột loài/ cm2…
- Các nghiệm thức đồng nhất các yếu tố liên quan đến thí nghiệm
3.3.3 Chỉ tiêu theo dõi
- Theo dõi quá trình nẫy chồi/ mầm của mỗi lòai ở từng nghiệm thức Đánh giá hệ số nhân loài, cách thức nhân loài của từng lòai ở từng nghiệm thức
* Số liệu thu thập được xử lý bằng EXCEL
* So sánh, đánh giá và rút ra kết luận về đặc tính của loài
Trang 33Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 NỘI DUNG 1: KHẢO SÁT, PHÂN LOẠI, ĐỊNH DANH MỘT SỐ LOÀI THỰC VẬT THỦY SINH BẢN ĐỊA VÀ NHẬP NỘI CÓ GIÁ TRỊ ĐƯỢC TRỒNG TRÊN ĐỊA BÀN TP HCM
4.1.1 Địa điểm khảo sát
Khảo sát 12 điểm kinh doanh và sản xuất cây kiểng thủy sinh tập trung tại Gò vấp, Bình thạnh, Hóc môn, Thủ đức, Quận 1, Quận 5, Quận 8, Quận 7 và 36 cửa hàng kinh doanh cây kiểng thủy sinh, Kết quả được trình dưới đây:
- Cơ sở sản xuất và kinh doanh cây thủy sinh Anh Tuấn, Địa chỉ: số 73/ 497 Z, đường
Huỳnh Văn Nghệ, phường 12, quận Gò Vấp, Tp, HCM
- Doanh nghiệp tư nhân Lý Vũ, Địa chỉ: số 201, đường Bùi Viện, Quận 1, Tp, HCM
- Doanh nghiệp tư nhân Ân Phúc Thành, Địa chỉ: số 9, cư xá Bình Thới, Quận 11, Tp, HCM
- Doanh nghiệp tư nhân Thủy Mộc, Địa chỉ: số 122/ 4, đường Trần Tuấn Khải, phường
Trang 34- Cơ sở kinh doanh bể thủy sinh Hồng Thái, Địa chỉ: số 5 C, đường Quang Trung, phường12, Quận Gò Vấp, Tp, HCM
- Cơ sở sản xuất và kinh doanh kiểng thủy sinh Chánh Nghĩa, số 202, Tô Ngọc Vân, Thủ Đức, Tp, HCM
- Cơ sở Nguyễn Thi Thập, Quận 7, Tp, HCM
- Cơ sở Hồng Oanh, Quốc lộ 50, Quận 8, Tp HCM
- Tại 16 cửa hàng kinh doanh thủy sinh trên đường Nguyễn Thông, Võ Thị Sáu, Bà Huyện Thanh Quan, Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Nguyễn Cư Trinh, và 8 cửa hàng kinh doanh thủy sinh trên Quốc lộ 50 và 12 cửa hàng kinh doanh trên Trường Chinh, Phan Huy Ích
Trang 35MỘT SỐ CƠ SỞ LỚN SẢN XUẤT/ KINH DOANH CÂY KIỂNG THỦY SINH TẠI TP.HCM
CHỦNG LỌAI THỦY SINH STT CƠ SỞ ĐỊA CHỈ KINH DOANH/ SẢN XUẤT
NHẬP KHẨU BẢN ĐỊA
1 Anh Trung
Nguyễn Thi Thập, Quận
7, Tp, HCM Hồ thủy sinh treo tường
Acanthaceae, Alismataceae, Eriocaulaceae, Elatinaceae, Hydrocharitaceae, Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Amaranthaceae, Cabombaceae, Hydrocharitaceae,
2 Ân Phúc Thành 9, CX Bình Thới, Q11 Hồ thủy sinh và trang thiết bị hồ thủy sinh
Aponogetonaceae,Acanthaceae, Araceae,Eriocaulaceae,
Hydrocharitaceae, Haloragaceae, Lamiaceae, Menyanthaceae, Ranunculaceae
Hydrocharitaceae
3 Chánh Nghĩa
202, Tô Ngọc Vân, Q.Thủ Đức Hồ thủy sinh và cá kiểng
Acanthaceae, Alismataceae, Aponogetonaceae, Cyperaceae, Elatinaceae, Hydrocharitaceae, Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Aponogetonaceae, Cabombaceae, Hydrocharitaceae
4 Hiệp An
19A/ 4, Lý Thường Kiệt, Thị trấn Hóc Môn Hồ thủy sinh Acanthaceae, Alismataceae, Eriocaulaceae, Hydrocharitaceae,
Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Amaranthaceae, Cabombaceae, Hydrocharitaceae,
5 Hậu
3C, Nguyễn Văn Đậu, P12, Q.Bình Thạnh Hồ thủy sinh và cá kiểng
Acanthaceae, Alismataceae, Hydrocharitaceae, Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Hydrocharitaceae, Cabombaceae
6 Lý Vũ 201, Bùi Viện, Q1 Và hồ thủy sinh Loài thủy sinh
Acanthaceae, Alismataceae, Araceae, Cyperaceae,Elatinaceae,
Hydrocharitaceae,Lythraceae, Nymphaeaceae,Onagraceae, Scrophulariaceae
Cabombaceae, Hydrocharitaceae
113/ 28 B1, Ngô Đức
Araceae, Apiaceae, Brassicaceae, Cyperaceae, Crystalwort,
Trang 368 Tuấn Anh 73/ 497 Z, Huỳnh Văn Nghệ, P12, Q Gò Vấp Loài thủy sinh
Acanthaceae, Alismataceae, Araceae, Aponogetonaceae,Brassicaceae, Eriocaulaceae,Hydrocharitaceae, Lythraceae,Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Amaranthaceae, Aponogetonaceae, Cabombaceae, Hydrocharitaceae, Onagraceae
9 Thủy Mộc 122/ 4, Trần Tuấn Khải, P5, Q5 Hồ thủy sinh
Acanthaceae, Alismataceae, Cyperaceae, Elatinaceae, Hydrocharitaceae, Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Hypnaceae, Cabombaceae
10 Thu Thủy 114, Nguyễn Văn Nghi,
Q Gò Vấp
Hồ thủy sinh, cá kiểng và trang thiết bị hồ cá, hồ thủy sinh
Acanthaceae, Alismataceae, Araceae, Brassicaceae, Cyperaceae,
Eriocaulaceae, Hydrocharitaceae, Lythraceae, Nymphaeaceae, Onagraceae, Scrophulariaceae
Amaranthaceae, Cabombaceae, Hydrocharitaceae,
Trang 374.1.2 Loài cây thủy sinh, kỹ thuật nuôi trồng, nhu cầu thị trường tại Tp HCM
Loài thủy sinh: rất đa dạng, chủ yếu nhập khẩu không chính ngạch từ Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản Ít có trường hợp sưu tập loài từ nội địa (dù rằng tại VN cây thủy sinh rất nhiều) Cơ cấu loài tại các cơ sở này tương tự nhau Đa số chủ cơ sở chưa hoặc không quan tâm đến tên khoa học của loài và thường tự đặt tên riêng cho từng loài mà họ nuôi trồng hoặc đang kinh doanh
Loài nhập được các bên mua – bán đánh mã số theo thói quen tự quy định không cần tên khoa học Có 2 cơ sở quan tâm đến vấn đề tên khoa học của loài và đã có những bước phát triển nghề nay lên tầm cao, mang tính chuyên nghiệp hơn gồm: cơ sở Thủy Mộc (Quận 5), Lý Vũ (Quận 3) Cơ sở Lý Vũ đã lập một showroom rất chuyên nghiệp tại đường Lý Chính Thắng (Q3) như là một đại diện tốt nhất cho nghề thủy sinh tại Tp.HCM
Giá loài: từ cao đến rất cao so với kinh tế của người dân Tp.HCM và chênh lệnh rất lớn giữa các lòai: Thường những lòai thuộc loại cây giâm (cắm) cành có giá bán thấp hơn so với các lòai khác
+ Nhóm cây giâm cành: giá bán từ 15.000 đ – 20.000 đ/ cây (Đây là những loài bán chạy nhất, chiếm 70 % số cây được bán)
+ Nhóm sen súng: giá bán từ 50.000 đ – 120.000 đ/ cây
+ Nhóm Trầu tím: giá bán từ 80.000 đ – 180.000 đ/ cây
+ Nhóm các cây khác: giá bán từ 30.000 đ – 50.000 đ/ cây
+ Trung bình một hồ thủy sinh có kích thước 1,0 m x 0,5 m x 0,6 m, chứa từ 5 – 10 loài biến động từ 5 triệu – 8 triệu/ hồ Thường kết hợp nuôi cá Hồ rêu: rất đắt, giá bán từ
12 triệu – 20 triệu/ hồ
- Sản lượng loài: Nhu cầu mua loài rất lớn Trung bình một năm các cơ sở mua bán loài thủy sinh bán ra khỏang 200.000 cây – 500.000 cây/ cơ sở (gồm các lọai cây) (nhiều nhất là Cơ sở Tuấn Anh – Gò vấp)
Người chơi kiểng: Đa số là tầng lớp có thu nhập cao, giàu có
Trang 38Cơ cấu loài trong hồ : Người chơi chủ yếu sử dụng cây thủy sinh ngập chìm trong nước (Submersed) để nuôi trồng, trưng bày, các dạng thủy sinh khác (như rong, rêu, thực vật nổi, thực vật mép bờ, thực vật đầm lầy ) ít dùng
Phong cách chơi: Chủ yếu theo trường phái Hà Lan (sử dụng cây làm chủ đạo), trường phái Nhật Bản (sử dụng các vật thể khác làm chủ đạo) ít được sử dụng
- Kỹ thuật nuôi trồng và nhân loài: mang tính tự phát và không đồng nhất giữa các cơ
sở với nhau Các thông kỹ thuật như cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng, hàm lượng CO2, dinh dưỡng… được thực hiện tùy tiện, theo thói quen, không ghi chép số liệu rõ ràng Mỗi cơ sở có cách nuôi trồng riêng và thường ít khi tiết lộ thông tin về kỹ thuật cho cơ sở khác Ít hoặc không có sự trao đổi thông tin khoa học giữa các cơ sở với nhau
+ Phân bón: Phân nền chủ yếu sử dụng đất sét vàng, đất bùn và phân bò để phối trộn với nhau Phân bón hòa tan: Chủ yếu sử dụng NPK được phối trộn sẳn
+ Chiếu sáng: Dùng đèn hùynh quang 2 cực chuyên dùng cho bể thủy sinh nhập từ Trung Quốc và Đài Loan
+ Bơm nước: Dùng 2 lọai: bơm chìm và bơm lộ lên mặt nước
+ Các vật tư đi kèm đa số nhập từ nước ngòai
- Nhân loài: Hiện tại, các cơ sở kinh doanh nhân loài chủ yếu bằng phương pháp giâm cành Sau khi nhập loài, tùy vào điều kiện, các cơ sở tự nhân giồng theo quy mô rất nhỏ, mang tính hộ gia đình Các loài còn lại, thường phải nhập trực tiếp Ít thấy cơ sở
tự sưu tập loài bản địa để cung cấp cho khách hàng (dù rằng cây nội địa rất đẹp và dễ nuôi trồng hơn)
4.1.3 Thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi
+ Người chơi kiểng thủy sinh rất nhiều, nên khả năng cung cấp lớn
+ Phù hợp với điều kiện của Tp.HCM
+ Phù hợp với nông nghiệp đô thị
Trang 394.1.4 Danh sách các cây thủy sinh hiện có tại thị trường Tp Hồ Chí Minh
Qua khảo sát điều tra, đề tài định danh, phân lọai được 86 loài thủy sinh (Bảng 4.1) được bày bán trên thị trường tại Tp, Hồ Chí Minh với số lượng, thành phần loài, đặc điểm nông học, đặc điểm tăng trưởng… được trình bày dưới đây (Đính kèm hình ảnh và miêu tả đặc điểm loài ở phần kết luận) Trong đó có 19 lòai bản địa và 67 lòai nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc và Đài loan, phân thành 3 nhóm cây để sử dụng trồng trang trí phổ biến trong hồ kính theo 3 mục đích khác nhau:
- Trồng ở vị trí tiền cảnh: có 13 lòai (Bảng 4.2) gồm những cây có kích thước nhỏ, thân
bò, mọc thành bụi, các bộ phận nông học có kích thước nhỏ, sinh trưởng chậm
- Trồng ở vị trí trung cảnh có 32 lòai (bảng 4.3) gồm những cây có kích thước vừa, thân bụi, thân củ, các đặc tính nông học có kích thước vừa, sinh trưởng trung bình
- Trồng ở vị trí hậu cảnh có 30 lòai (Bảng 4.4) gồm những cây có kích thước lớn, thân đứng, kích thước các bộ phân nông học tương đối lớn, sinh trưởng nhanh
Trang 40Bảng 4.1: Một số lòai thực vật thủy sinh có trên thị trường tại Tp Hồ Chí Minh
NGHÀNH HẠT KÍN
LÁ MẦM
HAI
LÁ MẦM
DƯƠNG
Nhập nội