1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số nước và bài học kinh nghiệm vận dụng với việt nam

47 3,7K 17

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 420 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trongquá trình thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vàophát triển các ngành công nghiệp, nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh tế - xã hội khác chỉ là hệ quả

Trang 1

số quốc gia chuẩn bị gia nhập hàng ngũ các nước công nghiệp mới Cũngtrong hoàn cảnh ấy, sốđông các nước đang phát triển vẫn trong tình trạngnghèo nàn lạc hậu về kinh tế.

Hoà vào làn sóng công nghiệp hoá các nước đang phát triển, các nước ởkhu vực Đông NamÁ qua mấy thập kỷ thực hiện công nghiệp hoáđã thu đượcnhững thành tựu quan trọng Kinh tế tăng trưởng nhanh và cơ cấu kinh tế có

sự dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá

Ở Việt Nam, từ 1986 đến nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá theođường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng đãđem lại những thay đổi cơ bảncho đất nước Trong điều kiện có nhiều khó khăn và những tác động tiêu cực

từ trong đời sống kinh tế - chính trị quốc tế, kinh tế Việt Nam vẫn đạt tăngtrưởng cao so với một số nước trong khu vực và thế giới Từ giữa thập kỷ 90của thế kỷ XX, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội Những thànhtựu kinh tếđạt được đã vàđang tạo tiền đề cho đất nước đẩy nhanh tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá Thực tế công nghiệp hoá, hiện đại hoáở nước

ta vẫn bộc lộ không ít vấn đề bất cập, đặc biệt là việc lựa chọn chiến lượccông nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh quốc tế hoáđời sống kinh tế thếgiới dưới tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ thời đại

Việt Nam và các nước nằm trong vùng Đông Namá, cùng là thành viêncủa ASEAN Hai nước có một sốđiểm tương đồng vềđiều kiện tự nhiên, kinh

tế - xã hội trong tiến hành công nghiệp hoá Do vậy việc nghiên cứu quá trìnhcông nghiệp hoáở các nước này sẽ giúp cho chúng ta rút ra một số bài họckinh nghiệm có tính chất tham khảo với công cuộc công nghiệp hoá, hiện đạihoáở nước ta hiện nay Vì vậy em chọn đề tài: "Kinh nghiệm công nghiệphoá, hiện đại hoáở một số nước và bài học kinh nghiệm vận dụng với ViệtNam" cho bài đềán của mình

Trang 2

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰ CTIỄN

VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

I Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1 Các quan niệm về công nghiệp hoá

Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính tất yếu trong quátrình phát triển kinh tế của các quốc gia Kinh nghiệm lịch sử cho thấy côngnghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường để biến một nền kinh tế nông nghiệplạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai tròđặc biệtquan trọng Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về công nghiệp hoá,hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên sẽdẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từngnước, thậm chíđối với một quốc gia trong những thời kỳ lịch sử khác nhau.Điều đóđược thể hiện khá rõở sựđa dạng trong việc lựa chọn mo hình côngnghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước trên thế giới

Quan niệm đơn giản nhất cho rằng "Công nghiệp hoá làđưa tính đặc thùcông nghiệp cho một hoạt động (của một vùng, một nước) với các nhà máy,các loại hình công nghiệp" Quan niệm này được hình thành trên cơ sở kháiquát quá trình lịch sử công nghiệp hoáở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Trongquá trình thực hiện công nghiệp hoá, các nước này chỉ chủ yếu tập trung vàophát triển các ngành công nghiệp, nên sự chuyển biến của các hoạt động kinh

tế - xã hội khác chỉ là hệ quả của quá trình phát triển công nghiệp, mà khôngphải làđối tượng trực tiếp của công nghiệp hoá Quan niệm giản đơn trên đây

có những mặt chưa hợp lý Trước hết, nó không cho thấy mục tiêu của quátrình công nghiệp hoá cần thực hiện Thứ hai, nội dung quan niệm này gầnnhưđồng nhất quá trình công nghiệp hoá với quátrình phát triển công nghiệp.Thứ ba, quan niệm này cũng không thể hiện được tính lịch sử của quá trìnhcông nghiệp hoá Do vậy, quan niệm này được vận dụng rất hạn chế trongthực tiễn

Trang 3

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) đãđưa rađịnh nghĩa sau đây (vào năm 1963): "Công nghiệp hoá là một quá trình pháttriển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn củacải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trongnước với kỹ thuật hiện đại Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộphận chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêudùng, có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độcao, bảo đảm đạt tới sự tiến bộ về kinh tế - xã hội" Khái niệm này nói lênrằng công nghiệp hoá là quá trình bao trùm toàn bộ quá trình phát triển kinh

tế - xã hội nhằm đạt tới không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mà còn cả sự tiến bộ

xã hội Đồng thời quá trình công nghiệp hoá trong điều kiện ngày nay cũnggắn liền với quá trình hiện đại hoá nền kinh tế, trong mọi mặt hoạt động kinh

tế - xã hội Tuy nhiên, định nghĩa trên đây lại quá dài với ý tưởng dung hoànhiều ý kiến khác nhau, nên nó mang tính chất một phương hướng thực thihơn là một khái niệm

Một định nghĩa được dùng phổ biến ở nước ta hiện nay cóý nghĩa tươngđối bao quát và phù hợp về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại ngàynay do Báo cáo Hội nghị Trung ương 7 (khoá VII) đưa ra là "quá trình chuyểnđổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lýkinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng phổ biếnsức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiệnđại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - cong nghệ,tạo ra năng suất lao động xã hội cao" Định nghĩa này đã nói lên được phạm

vi và vai tròđặc biệt quan trọng của công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong pháttriển kinh tế - xã hội; gắn liền được hai phạm trù không thể tách rời là côngnghiệp hoá và hiện đại hóa Nó cũng xác định vai tròkhông thể thiếu của khoahọc - công nghệ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2 " Công nghiệp hoá" và " hiện đại hoá"

Công nghiệp hoá là quá trình trang bị công nghệ và thiết bị cơ khí hoácho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị tríquan trọng Công nghiệp hoáđã làm thay đổi căn bản phương thức sản xuấtvới kỹ thuật, công nghệ và tổ chức sản xuất truyền thống Hiện đại hoá là quátrình thường xuyên cập nhật và nâng cấp những công nghệ hiện đại nhất, mới

Trang 4

nhất trong quá trình công nghiệp hoá Đa số các ý kiến của các nhà nghiêncứu cho rằng hiện đại hoá là quá trình liên tục hiện đại nền kinh tế, thay đổicông nghệ cũ bằng công nghệ mới tiên tiến hơn Thực chất, hiện đại hoá là cáiđích cần vươn tới trong quá trình công nghiệp hoá Cái đích này không cốđịnhhay duy nhất đối với một quốc gia hay một ngành nghề mà nó luôn thay đổitheo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trình độ văn minh chung của nhânloại Nó còn phụ thuộc cả và loại ngành nghề, từng khu vực khác nhau ngaytrong một nước Xu thế chung của thế giới ngày nay là thực hiện đổi mớicông nghệ nhanh chóng, rút ngắn chu kỳ sống của mỗi loại công nghệ Điềucần phấn đấu làđưa trình độ khoa học - công nghệ của đất nước theo kịp vớitrình độ hiện đại chung của thế giới Tuỳđiều kiện cụ thể của mỗi ngành, mỗilĩnh vực hoạt động mà xác định trình độ công nghệ thích ứng Quan niệm mộtcách giản đơn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá dẫn tới việc tiếp thu côngnghệ không chọn lọc Do sự thiếu hiểu biết và thiếu thông tin đã dẫn nhiềunước đang phát triển phải trả giá quá lớn và tốc độ hiện đại hoá không đượcđẩy nhanh.

Vào cuối thế kỷ 20, với những thay đổi nhanh chóng của cách mạngkhoa học kỹ thuật và công nghệ thì việc hiện đại hoáđối với các nước rấtkhóđạt được Ngay cả những nước phát triển cũng dễ dàng bị tụt hậu Vì vậy,các nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá buộc phải chiaquá trình này thành nhiều giai đoạn với mục tiêu của giai đoạn sau là hiện đạihoá những gì mà giai đoạn trước đãđạt được Đối với mỗi giai đoạn phát triển,người ta thường dùng một số chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả công nghiệp hoá,hiện đại hoá, ví dụ như mức đóng góp của công nghiệp trong GDP, tỷ trọnglao động trong công nghiệp trong tổng lao động xã hội…

Thực hiện công nghiệp hoá trong điều kiện cách mạng khoa học kỹthuật ngày nay, quá trình trang bị công nghệ cho các ngành phải gắn liền vớiquá trình hiện đại hoáở cả phần cứng và phần mềm của công nghệ Quá trìnhnày cũng đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cảibiến các ngành kinh tế, các hoạt động theo phong cách của nền công nghiệplớn hiện đại Quá trình ấy phải tác động làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế -

xã hội nhanh vàổn định, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầnglớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của đất nước với

Trang 5

các nước phát triển Trong đó những nước đi sau đã có một sốít nước (trong đócóCác nước) thực hiện được hiện đại hoá tương đối cao trong thời gian ngắn.

II Bản chất của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trong điều kiện ngày nay, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

dù trên góc độ nào đó cũng có phần khác với quá trình phát triển công nghiệp.tuy quá trình công nghiệp hoá có những đặc điểm riêng đối với từng nước,nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình có tính phổ biến cho phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của từng nước Công nghiệp hoá, là quá trình có tác động rộnglớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây:

Thứ nhất, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một phương thức có tínhchất phổ biến để thực hiện mục tiêu trong phát triển của hầu hết các quốc giatrên thế giới Mỗi nước vì có hệ thống mục tiêu riêng của mình mà lựa chọnphương thức công nghiệp hoá phù hợp Nhưng mục tiêu chung nhất của mọiquốc gia là nhằm tăng nhanh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vậtchất mọi mặt của mọi tầng lớp dân cư thông qua việc tạo ra cơ sở vật chất kỹthuật ngày càng hiện đại, huy động và sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lựccủa đất nước

Thứ hai, công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá Trong lịch sửcông nghiệp hoáđã diễn ra hàng trăm năm ở các nước trên thế giới, côngnghiệp hoá và hiện đại hoá luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Vì hiệnđại hoáđểđạt tới trình độ kỹ thuật hiện đại nhất là một yêu cầu cơ bản của quátrình công nghiệp hoá Thực tễ kỹ thuật hiện đại nhất đối với mỗi giai đoạnlịch sử có giới hạn nhất định và luôn luôn thay đổi theo thời gian Chính vìvậy, hiện đại hoá không phải là một quá trình độc lập mà là một hoạt động cótính liên tục của công nghiệp hoá gắn liền với sự tiến bộ của khoa học kỹthuật, hay là một quá trình kế tiếp đểđạt được mục tiêu của công nghiệp hoá.Vào thế kỷ 18-19 ở Anh và Tây Âu thì hiện đại hoá là việc áp dụng máy mócvới hệ thống động lực máy hơi nước thay thế cho lao động cơ bắp Đến thế kỷ

20 cóđiện năng thì hiện đại hoá chính là dựa trên điện khí hoá như khẩu hiệuV.Lênin đã vạch ra cho nước Nga Ngày nay, với những tiến bộ khoa học kỹthuật mới thì hiện đại hoá gắn liền với tựđộng hoá, tin học hó và nền kinh tếtri thức Nói chung, hiện đại hoá chính là chỉ phương tiện, điều kiện đểđạt tới

Trang 6

mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, vì vậy nó không thể tách rời côngnghiệp hoá.

Thứ ba, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình tác động đến tất cảcác ngành, các lĩnh vực hoạt động của một nền kinh tế Vì trong một chỉnh thểkinh tế của một quốc gia, các ngành các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội cóquan hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Sự thay đổi ở ngành, lĩnh vựcnày sẽ dẫn tới sự thay đổi ở các ngành, các lĩnh vực khác Quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá cũng gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế quốc dân và cơ cấu lao động Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoá chuyển dịch cơ cấu làm cho vị trí của ba khu vực kinh tế: công nghiệp,nông nghiệp và dịch vụ luôn luôn thay đổi

Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự kết hợp chặt chẽ của cácquá trình kinh tế - kỹ thuật - xã hội - môi trường Quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá là sẽđem lại cho đất nước trình độ kỹ thuật công nghệ ngày cànghiện đại, kinh tế ngày càng vững mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá cũngnâng cao dân trí, mức sống dân cư và phát triển xã hội ngày càng văn minh.Như vậy, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quá trình kinh tế - kỹ thuật xâydựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho việc thực hiện mục tiêu của quá trình kinhtế- xã hội Trong khi đó, quá trình kinh tế - xã hội mang lại động lực quantrọng cho thực hiện mục tiêu của quá trình kinh tế - kỹ thuật

Thứ năm, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn là quá trình mởrộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế Ngày nay, mở rộng phân công lao độngquốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tếđang diễn ra như một tất yếu Mỗi quốcgia là một bộ phận của hệ thống kinh tế thế giới, chịu ảnh hưởng của biếnđộng kinh tế thế giới và có tác động ở mức độ khác nhau đến kinh tế của cácnước khác Vì vậy, việc xác định mục tiêu, phương thức công nghiệp hoá,hiện đại hoáở mỗi nước cần dựa trên cơ sở phân tích và dự báo những biếnđộng kinh tế - xã hội chung của khu vực và toàn cầu Việc xây dựng hệ thốngkinh tế quốc gia mở và tăng cường hợp tác kinh tế và phân công lao độngquốc tế là xu hướng không cưỡng lại được của mọi quốc gia trên thế giới hiệnnay

Giữa công nghiệp hoáở các nước đi theo con đường TBCN vàở nước ta

và các nước theo con đường XHCN có những khác nhau về nhiều mặt, quan

Trang 7

trọng nhất là về bản chất xã hội Tuy cùng mục đích là biến một nền kinh tếnông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp, nhưng do chếđộ chính trị- xã hộinên mục tiêu của công nghiệp hoá của các nước khác nhau căn bản Côngnghiệp hoáở các nước TBCN nhằm thay đổi vàđưa đến thắng lợi của phươngthức sản xuất TBCN mang lại lợi ích cho giai cấp tư sản, công nghiệp hoáởnước ta nhằm mục tiêu nâng cao phúc lợi xã hội, đời sống mọi mặt của nhândân giữbền vững môi trường Công nghiệp hoáở các nước TBCN đem lạiphương tiện ngày càng tinh vi để giai cấp tư sản bóc lột nhân dân lao động vàcàng gây thêm phân hoá giàu nghèo, bất bình đẳng và mâu thuẫn sâu sắctrong xã hội; còn ở nước ta nó sẽ tạo ra tiền đề cơ sở vật chất ngày càng hiệnđại trong một nền kinh tế mà người chủđích thực là nhân dân lao động, nó gắnliền với công bằng xã hội và tiến bộ xã hội Vì vậy, công nghiệp hoá, hiện đạihoáở nước ta có thể tham khảo và vận dụng sáng tạo các kinh nghiệm về lựachọn chiến lược, các giải pháp huy động vốn, giải pháp khoa học công nghệ,giải pháp kinh tế xã hội… của các nước đi trước nhằm mục tiêu hiện đại hoánhanh và giữ vững bản chất xã hội của công nghiệp hoá, hiện đại hoá theođịnh hưỡng XHCN.

III Các mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước đang phát triển

Trong lịch sử công nghiệp hoá, hiện đại hoá diễn ra trên thế giới hàngtrăm năm qua có sựđa dạng về mô hình Luận án chỉ tập trung nghiên cứu môhình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước đang phát triển trong nhữngthập kỷ gần đây Đó là những nước trước đây vốn là thuộc địa hoặc nửa thuộcđịa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, đã giành được độc lập dân tộc, nền kinh

tế trong tình trạng thấp kém Do điều kiện kinh tế - xã hội như vậy, các nước

có những điểm tương đồng với nước ta về xuất phát điểm trong tiến trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu (chiến lược hướng nội)

- Mô hình công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu (chiến lược hướng ngoại)

- Mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhập (chiến lượchỗn hợp)

Việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá bền vững theo hướng hội nhậpđang là vấn đề mới trong giai đoạn thử nghiệm vàđịnh hình Điều chắc chắn

Trang 8

trong quá trình triển khai sẽ phát sinh những hạn chếmới Đây là những vấn

đề mà các nước cần nắm bắt đểđiều chỉnh, khắc phục đểđạt được mục tiêu củacông nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước mình

Trang 9

CHƯƠNG II KINHNGHIỆMCÔNGNGHIỆPHOÁ, HIỆNĐẠIHOÁ

I Công nghiệp hoá, hiện đại hoáở Thái Lan

So với các nước đang phát triển ở châu Á như Nhật Bản hoặc các nướccông nghiệp mới (Nics), Thái Lan là nước chậm trong phát triển công nghiệp.Tuy vậy, nước này đã nhận thức được tầm quan trọng của phát triển côngnghiệp trong quá trình phát triển kinh tế, cũng như hiện đại hoá nền kinh tế.Tháng 10 năm 1954, Thái Lan đã công bố "Dự luật khuyến khích phát triểncông nghiệp" và bắt đầu xúc tiến công nghiệp hoá với việc thành lập Ban đầu

tư (BOI) năm 1959 Thực thi chính sách nghiêng về phát triển công nghiệpnhằm dùng công nghiệp hoá làm động lực phát triển toàn bộ nền kinh tế

Trong suốt những năm 60 qua 2 kế hoạch 5 năm (1961-1966), kế hoạch(1967-1971) Thái Lan nhấn mạnh vào việc phát triển công nghiệp thay thếnhập khẩu, với đặc trưng chủ yếu hướng vào thị trường trong nước Nhà nước

đã có những chính sách bảo hộ công nghiệp trong nước, khuyến khích cácngành công nghiệp sử dụng nhiều nguyên liệu và lao động trong nước Dovậy, công nghiệp trong nước đã có khả năng cạnh tranh với hàng nhập khẩu ởcác lĩnh vực: dệt, hoá chất, chế biến thực phẩm… Trong suốt thập kỷ 60, tốc

độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 10% Tuy vậy, chính sách côngnghiệp hoá hướng nội ở Thái Lan cũng đã bộc lộ những hạn chế Thứ nhất, do

Trang 10

công nghệ hạn chế, Thái Lan vẫn phải nhập máy móc thiết bị, công nghệ sảnxuất và nguyên liệu thô Điều này có nghĩa là chính sách thay thế nhập khẩukhông đạt được mục đích đề ra mà chỉ làm thay đổi cơ cấu nhập khẩu Thứhai, chính sách thay thế nhập khẩu còn tác động đến việc sử dụng lãng phí cácnguồn tài nguyên trong nước do kỹ thuật lạc hậu và trình độ quản lý kinh tếyếu kém, chi phí lao động cao, năng suất thấp Thứ ba, thực hiện chiến lượcnày, nhà nước đã can thiệp quá sâu vào hoạt động của nền kinh tế và chínhsách thay thế nhập khẩu làm cho công nghiệp trong nước phát triển chậmchạp, trì trệ do thiếu động lực cạnh tranh.

Để khắc phục những hạn chế của chiến lược hướng nội, Thái Lan đãhoạch định lại chính sách công nghiệp hoá, hiện đại hoá Từ 1972 Thái Lan

đã chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu Các kếhoạch 5 năm 1972-1976, 1977-1981, 1982-1986, 1987-1990, 1991-1995 đãthực hiện điều chỉnh sự phát triển của công nghiệp nhằm tranh thủ các nhân tốthuận lợi bên ngoài kết hợp với việc sử dụng các lợi thế trong nước đểđa dạnghoá trong sản xuất kinh doanh đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Nhà nước đã

có những chính sách và biện pháp cụ thể nhằm thúc đẩy tiến trình côngnghiệp hoá như khuyến khích đầu tư nước ngoài, khuyến khích đầu tư trongnước, chính sách miễn thuếđối với hàng nhập khẩu và kinh doanh nguyên vậtliệu và tư liệu sản xuất nhập phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu Từ cuốithập kỷ 80, Thái Lan đã lấy công nghiệp hoá chất làm trọng tâm, chúýđa dạnghoá sản phẩm xuất khẩu, coi dầu tư nước ngoài làđộng lực để phát triển kinhtế

Để thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, Thái Lanvừa chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực vừa nhập khẩu công nghệ mới từ NhậtBản và phương Tây Thực tế cho thấy việc chuyển hướng chiến lược trongcông nghiệp hoáđã mang lại những thành công đáng chúý Trong thập kỷ 70,tốc độ tăng trưởng GDP đạt khá cao trung bình 10%/năm, từ 1980-1990 đạt7,6%; 1991-1995 là 8,6% Từ 1987-1990, tốc độ tăng trưởng của công nghiệpThái Lan bình quân là 15% Những năm đầu của thập kỷ 90, tốc độ tăngtrưởng kinh tế có chững lại nhưng tốc độ tăng trưởng công nghiệp vẫn có xu

Trang 11

hướng tăng Ngoại thương Thái Lan có xuất khẩu tăng nhanh: 1976 đạt kimngạch 197 triệu USD, 1996 đạt 7,096 tỷ USD Thu nhập quốc dân của TháiLan cũng tăng nhanh đến năm 1998 đạt bình quân đầu người 2.450 USD.Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu kinh tế của Thái Lan đã

có sự thay đổi theo hướng tích cực tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế có

xu hướng giảm dần, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên

Bảng 1.1: Cơ cấu kinh tế Thái Lan (1960-1999)

Nguồn: World Development Report, World Bank, 1998, 1999, 2000

Sau hơn ba thập kỷ phát triển nhanh chóng, kinh tế Thái Lan đã bộc lộnhững hạn chế Đó là sự phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn đầu tư nước ngoài

và công nghệ nhập khẩu Trong phát triển, có tình trạng mất cân đối nghiêmtrọng giữa quy môđầu tư và khả năng tài chính Tình trạng quá nóng của nềnkinh tế, đặc biệt từ giữa thập kỷ 90, khiến nợ nước ngoài của Thái Lan giatăng (chủ yếu là nợ ngắn hạn và trung hạn): chiếm tới 50% so với GDP(1997) Trong hoàn cảnh ấy, vai tròđiều tiết, kiểm soát của hệ thống tài chính-ngân hàng trong đầu tư và cung ứng tiền tệ bộc lộ nhiều yếu kém Đó chính lànguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệở Thái Lan

và lan rộng sang các nước Đông NamÁ vàĐông Á vừa qua Đối phó với tìnhhình ấy, Thái Lan buộc phải thực hiện điều chỉnh chiến lược công nghiệp hoá

II Công nghiệp hoá, hiện đại ởĐài Loan

Công nghiệp hoáởĐài Loan được tiến hành trong điều kiện rất khó khăn

cả vềđiều kiện trong nước và ngoài nước, không chỉ do nguồn tài nguyên hạnhẹp, trình độ kinh tế nói chung còn thấp kém, mà còn do ảnh hưởng của bốicảnh chính trịđặc biệt của hòn đảo này Vềđối ngoại, Đài Loan không được sựcông nhận rộng rãi của cộng đồng quốc tế Thêm vào đó, Đài Loan luôn đứngtrước khả năng phải đương đầu với cuộc chiến tranh giải phóng Đài Loan,thống nhất đất nước của chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Điều đó

Trang 12

càng làm cho tình hình Đài Loan bất ổn định, lòng dân không yên, côngnghiệp hoá gặp thêm nhiều trở ngại Quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoáởĐài Loan có thể chia làm 3 giai đoạn [36]:

1 Giai đoạn thứ nhất (1953-1964)

Giai đoạn này tương ứng với 3 kế hoạch 4 năm phát triển kinh tế củaĐài Loan: 1953 - 1956, 1957-1960 và 1961-1964, thực hiện chiến lược hướngnội

Mục tiêu chiến lược của Đài Loan giai đoạn này là phát triển côngnghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của nhân dân nhưăn, mặc, ở, đi lại, họctập, giải trí… Do vậy, CNH ở giai đoạn 1953-1964, thay thế nhập khẩu đượccoi là nhiệm vụ trọng tâm

Trong giai đoạn này, Đài Loan một mặt chủ trương phát triển các ngànhsản xuất trong nước nhằm thay thế những sản phẩm nhập khẩu trước đây; mặtkhác, đưa ra một loạt các biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu những mặt hàng

tự sản xuất được Chính quyền Đài Loan còn áp dụng nhiều biện pháp hỗ trợcông nghiệp nội địa như miễn giảm thuế kinh doanh, cho vay với lãi suất thấp

và các khoản trợ cấp khác Nhà nước đã có một loạt các biện pháp khẩn cấp

để trấn an lòng dân, ổn định kinh tế, tạo điều kiện để bước vào công nghiệphoá Các biện pháp chủ yếu bao gồm:

Thứ nhất: chú trọng phát triển nông nghiệp Ý thức được lợi thế vốn có

của mình là nông nghiệp, Đài Loan đã tập trung cho lĩnh vực này Biện phápcốt lõi để phát triển nông nghiệp giai đoạn 1950-1952 là cải cách ruộng đất.Cải cách ruộng đất 1950-1952 không chỉđem lại ruộng đất cho người nôngdân mà quan trọng hơn, nó kích thích sản xuất trong nông nghiệp, tạo nguồnnguyên liệu ổn định và có tích luỹ ban đầu đầu tư cho công nghiệp hoá

Thứ hai: ổn định tài chính, kinh tế Trong điều kiện lạm phát phi mã,

không một nhàđầu tư nào dám bỏ vốn vào dựán công nghiệp Do vậy, ĐàiLoan rất chú trọng ổn định tài chính Để triển khai có hiệu quả biện pháp này,chính phủĐài Loan đã thành lập "Uỷ ban quản lý sản xuất khu vực", thôngqua cải cách tiền tệđể ngăn chặn lạm phát, tăng cường quản lý ngoại tệ, khôiphục các cơ sở công nghiệp…

Trang 13

Thứ ba: tận dụng lợi thếđịa lý - chính trị của mình trong quan hệ với

Mỹ Đài Loan rất chú trọng tranh thủ sự viện trợ và giúp đỡ của Mỹ và cácnước phương Tây Tính đến giữa năm 1951, riêng Mỹđã cung cấp cho ĐàiLoan 42 triệu USD viện trợ kinh tế Số tiền viện trợ này đã hỗ trợ rất nhiềucho chương trình cải cách ruộng đất vàổn định tài chính ởĐài Loan giai đoạn1950-1952 [40]

Nhờáp dụng các biện pháp tích cực nêu trên và huy động mọi nỗ lựccủa toàn xã hội, đến cuối năm 1952, nền kinh tếĐài Loan đãđược khôi phục,đạt mức cao nhất trước chiến tranh Những kết quả nói trên tạo thuận lợiđểĐài Loan bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chiến lượccông nghiệp hoá thay thế nhập khẩu với các biện pháp tích cực đãđem lại choĐài Loan một số kết quả nhất định: giá trị sản lượng công nghiệp từ 1953 đến

1962 tăng trung bình 11,7%/năm Công nghiệp được mở rộng đã thu hút thêmmột lượng lớn lao động, từ 17% trong toàn bộ lao động đang làm việc năm

1951 tăng đến 25% năm 1964 [59] Bước ngoặt đánh dấu sự phát triển côngnghiệp của Đài Loan là giá trị sản xuất công nghiệp từ năm 1956 đã bắt đầuvượt giá trị sản xuất nông nghiệp trong GDP

Về mặt kinh tế - xã hội, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩucũng có tác động tích cực đến phát triển nông nghiệp vàđời sống nông thôn.Ngoài việc cung cấp các sản phẩm phục vụ nông nghiệp, các ngành côngnghiệp còn thu hút một lượng không nhỏ lao động dư thừa ở nông thôn, giảiquyết một phần tình trạng thất nghiệp, thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa cáctầng lớp nhân dân

Tuy nhiên, chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu kể từđầuthập kỷ 60 cũng đã bộc lộ các mặt hạn chế của nó, sản phẩm công nghiệp củaĐài Loan không có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, còn lại thịtrường trong nước, sức mua của người dân rất hạn chế do thu nhập còn thấp.Trong khi đó, việc nhập khẩu các nguyên liệu, thiết bị cần thiết cho CNH vẫntiếp tục tăng lên khiến thâm hụt mậu dịch, thâm hụt ngoại tệ vẫn tiếp tục tăng.Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tốc

độ tăng trưởng của công nghiệp bắt đầu giảm dần từ cuối thập kỷ 50, từ 20%

Trang 14

năm 1955 xuống còn 8,9% năm 1961 Riêng tốc độ tăng trưởng của côngnghiệp chế biến - một thế mạnh của Đài Loan thập kỷ 50 cũng giảm từ 14,4%năm 1960 xuống còn 8,1% năm1962 Để thoát khỏi tình thế bất lợi này và tìmkiếm con đường phát triển cho Đài Loan, chính phủ và các nhà kinh tế, giớikinh doanh của hòn đảo này đã chuyển chiến lược công nghiệp hoá thay thếnhập khẩu sang công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu.

2 Giai đoạn thứ 2 (1963-1970)

Triển khai chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, Đài Loan

đã thực hiện một bước thay đổi căn bản về chiến lược phát triển, về quy chế

và quản lý kinh tế, thông qua một loạt cải cách quan trọng Thứ nhất, áp dụngchếđộ một tỷ giá hối đoái Thứ hai, chính phủĐài Loan áp dụng nhiều biệnpháp ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng phục vụ xuất khẩu Thứ

ba, ngoài các nỗ lực huy động nguồn lực bên trong, Đài Loan ban hành nhiềuchính sách nhằm thu hút vốn và công nghệ từ bên ngoài

Phương châm đề ra trong giai đoạn này là: "xuất khẩu để nhập khẩu",

"nhập khẩu để thúc đẩy xuất khẩu" Do đó, công nghiệp nheu và công nghiệpnặng Đài Loan đã có bước phát triển mạnh mẽ, đạt mức tăng trưởng trungbình hàng năm là 18,5% Điều quan trọng hơn là tỷ trọng công nghiệp trongGDP tăng lên đáng kể, đạt 41,3%, nông nghiệp đã giảm tương đối, chỉ còn15,5% Sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp đã góp phần thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế của Đài Loan GDP của Đài Loan giai đoạn này luôn tăngtrung bình là 10,1%/năm [59]

3 Giai đoạn thứ 3 (1974 đến nay)

Giai đoạn này Đài Loan tiếp tục công nghiệp hoá, hiện đại hoá song cómột bước đầu chỉnh quan trọng về cơ cấu ngành nghề, trong đóưu tiên hàngđầu là tập trung phát triển các ngành công nghiệp cơ bản có hàm lượng vốn và

kỹ thuật cao, tuy nhiên vẫn duy trì chính sách phát triển các ngành côngnghiệp nhẹ hướng ra xuất khẩu Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đài Loangiai đoạn này tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 15

- Nâng cấp, cải tiến các trang thiết bịở các ngành công nghiệp nhẹ nhằmnâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, giảm nguyên liệu, hạgiá thành sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

- Tăng cường đầu tư ra nước ngoài, đồng thời chuyển giao công nghệ,dùng nhiều lao động sang một số nước đang phát triển khác ở khu vực châuÁ- Thái Bình Dương

- Tập trung nghiên cứu, triển khai và nhập khẩu những dây chuyền côngnghệ mới, đầu tư cho những ngành công nghiệp mới có triển vọng sáng sủahơn, trong đó có các ngành tiêu biểu cho cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuậthiện đại như vi điện tử, máy tính, bán dẫn…

- Đẩy mạnh xây dựng các công trình công cộng và xí nghiệp côngnghiệp có quy mô lớn

Nhờ sự chuyển hướng kịp thời, trong các kế hoạch 4 năm ở giai đoạnnày: kế hoạch 4 năm lần thứ 6 (1973-1976), lần thứ 7 (1977-1980), lần thứ 8(1981-1984), kế hoạch 6 năm (1985-1990) và kế hoạch 6 năm (1991-1996)kinh tếĐài Loan không những giữđược tốc độ tăng trưởng cao, công nghiệpphát triển theo hướng hiện đại hoá với các sản phẩm có hàm lượng khoa họccao Trong vòng 17 năm (1973-1990), sản xuất công nghiệp của Đài Loan vẫntăng trung bình là 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến tăng gần 9% Tỷtrọng hàng xuất khẩu có hàm lượng khoa học cao ngày càng tăng Nếu năm

1976 loại hàng hoá này mới chỉ chiếm gần 11% tổng kim ngạch xuất khẩu thì

có bước thay đổi căn bản Trong giai đoạn 1991-1996, tăng trưởng côngnghiệp Đài Loan đạt 9,9%/năm [85], công nghệ thông tin với những sản phẩmxuất khẩu năm 1994 xếp thứ 4 sau Mỹ, Nhật, Đức; công nghiệp đóng tàu vậntải đứng thứ 5 thế giới…

Nhìn chung, sau gần 5 thập kỷ kể từ năm 1953, Đài Loan đã khôi phụckinh tế sau chiến tranh và quá trình CNH đã cơ bản hoàn thành các mục tiêuđặt ra Quá trình CNH thành công tạo điều kiện cho Đài Loan giải quyết tốtcác vấn đề xã hội, trong đó có việc nâng cao mức sống của người dân, thu hẹpkhoảng cách giàu nghèo Tất cả các thành tựu đạt được của Đài Loan đã tạo

Trang 16

tiền đề cho sựđầu tư phát triển theo chiều sâu, để tiếp tục phát triển trongthiên niên kỷ mới.

Tuy vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoáĐài Loan cũng bộc lộ không ítyếu kém Sự can thiệp quá nhiều của chính phủđã tạo ra một khu vực tàichính khá lạc hậu và một nền công nghiệp thiếu các doanh nghiệp qui mô lớn

có khả năng cạnh tranh quốc tế Trong xu thế toàn cầu hoá và tự do hoáthương mại quốc tế thì việc cải tổ cơ cấu kinh tế, tiếp tục hiện đại hoá nềnkinh tếđặt ra nhiều vấn đề màĐài Loan cần giải quyết Thực tế cho thấy, một

số lợi thế phát triển màĐài Loan cóđược trước đây đến nay đã giảm, việcchuyển đổi cơ cấu kinh tế có sự hẫng hụt về vấn đề công nghệ, kỹ thuật vànguồn nhân lực trong phát triển công nghệ cao Đài Loan vốn có truyền thốngtập trung vào công nghiệp chế tạo, chưa chú trọng nhiều đến dịch vụ vànghiên cứu triển khai Hiện nay Đài Loan chi tiêu khoảng 1,8% GDP chonghiên cứu triển khai, thấp hơn nhiều so với tỷ trọng tương ứng của nền kinh

tế tiên tiến Điều đó cho thấy, Đài Loan cần đầu tư nhiều hơn cho phát triểncông nghệ và nghiên cứu triển khai muốn duy trì sức mạnh cho nền kinh tếdựa trên tri thức mới

III Công nghiệp hoá, hiện đại hoáởMalaysia

Khi mới giành được độc lập, nền kinh tếMalaysiaở trong tình trạng thấpkém Cơ cấu kinh tế rất mất cân đối, nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, năm

1960 nông nghiệp chiếm 34,6% GP Nông nghiệp trong tình trạng độc canh,trồng trọt chủ yếu là cây cao su nên Malaysia vẫn phải nhập khẩu lương thực(năm 1961 phải nhập 2/3 lượng lương thực tiêu dùng trong nước) Côngnghiệp còn rất nhỏ bé, sản lượng công nghiệp chế tạo năm 1961 chỉ chiếm8,5% GNP, công nghiệp khai thác chiếm 5,9% GNP [42] Giữa khu vực côngnghiệp và nông nghiệp hầu như không có quan hệ tác động qua lại Hoạt độngxuất khẩu của Malaysia đóng vai trò chủđạo của nền kinh tế nhưng lại lệthuộc vào tư bản nước ngoài, mà chủ yếu là tư bản Anh Nguồn cao su vàthiếc chiếm 80% giá trị xuất khẩu của nước này Đứng trước thực trạng kinh

tế khó khăn, Malaysia lựa chọn con đường công nghiệp hoáđưa đất nước

Trang 17

thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, Quá trình công nghiệp hoá, hiện đạihoáở Malaysia trải qua 3 giai đoạn chủ yếu sau:

1 Giai đoạn thay thế nhập khẩu và lấy nông nghiệp là ngành phát triển chủđạo (1961-1970)

Khác với một số nước đang phát triển tiến hành công nghiệp hoá lấycông nghiệp làm trọng tâm, sau khi giành độc lập Malaysia tiến hành côngnghiệp hoá lấy nông nghiệp là ngành chủđạo Thời kỳ này Malaysia thực hiệncác kế hoạch 5 năm (1961-1965) và (1966-1970) Mục tiêu công nghiệp hoágiai đoạn này là tăng nhanh sản lượng lương thực vàđa dạng hoá các mặt hàngnông sản xuất khẩu, đồng thời nâng cao trình độ của ngành chế biến nguyênliệu xuất khẩu và xây dựng các ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu Dovậy, nhà nước đã giành 50% ngân sách đầu tư cho phát triển nông nghiệp,đồng thời đầu tư cho một số dựán phát triển công nghiệp, chú trọng phát triển

cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn và xây dựng các doanh nghiệp congnghiệp quốc doanh để sơ chế nông phẩm Chương trình tập trung đầu tư chonông nghiệp đã mang lại nhiều thành công, mức tăng trưởng hàng năm củanông nghiệp là 5,5% cao nhất ở châu Á trong thập niên 60 Đến năm 1970,Malaysia đã tự túc được 81% nhu cầu lương thực trong nước [53]

Trong lĩnh vực công nghiệp, Malaysia đã tạo ra hàng loạt doanh nghiệpsản xuất thay thế nhập khẩu như dệt, may, chế biến gỗ và một số loại máymóc Từ năm 1961-1970, sản lượng công nghiệp đã tăng 2 lần bình quân hàngnăm tăng 13,5% Cũng trong thời kỳ này, tỷ trọng của sản phẩm gỗ, dầu cọtăng từ 5,4% và 1,7% lên 16,5% và 5,1% Thu nhập bình quân đầu ngườihàng năm liên tục tăng đạt trung bình gần 7%/năm [36]

2 Giai đoạn đa dạng hoá kinh tế và chiến lược hướng về xuất khẩu (1971-1985)

Trong 3 kế hoạch 5 năm 1971-1975, 1976-1980 và 1981-1985,Malaysia chủ trương xây dựng công nghiệp đa dạng với công nghiệp chế tạođược ưu tiên phát triển Nhà nước còn chú trọng xây dựng các ngành côngnghiệp nặng như chế biến dầu mỏ, luyện kim và mở rộng các cơ sở chế biếnxuất khẩu Vào thời kỳ này, các doanh nghiệp cũng chú trọng hướng về xuất

Trang 18

khẩu do thị trường nội địa bị giới hạn Do đó, tỷ trọng hàng xuất khẩu đã tăng

từ 11,9% năm 1970 lên 21,7% năm 1980 Đồng thời Malaysia cũng đẩy mạnhđầu tư vào ngành khai thác và chế biến dầu mỏ nên thu nhập nhờ xuất khẩudầu mỏ rất đáng kể năm 1970 đạt 164 triệu ringit (chiếm 3,2%) tổng giá trịxuất khẩu), năm 1980 con số này là 6,7 tỷ (chiếm 23,8% tổng giá trị xuấtkhẩu), năm 1980 con số này là 6,7 tỷ (chiếm 23,8% tổng giá trị xuất khẩu)

3 Giai đoạn đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế, ưu tiên phát triển công nghiệp cơ khí (1985-1995)

Bước sang giai đoạn phát triển mới, chính phủ Malaysia đã soạn thảo kếhoạch phát triển công nghiệp 10 năm (1986-1995) Trong ngành công nghiệp,chính phủđề ra kế hoạch phát triển tổng thể (IMP) với các mục tiêu [42]:

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng bình quân của công nghiệp chế tạo khoảng9%/năm nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hơn 65/năm Tăng cường pháttriển công nghệ thông tin, các ngành công nghiệp chế tạo sử dụng nguyên liệutrong nước được ưu tiên phát triển

- Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu triển khai ứng dụng tiến bộ khoahọc kỹ thuật, khuyến khích nghiên cứu triển khai tại xí nghiệp đểđưa nhanhtiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, rút ngắn thời gian từ khâu nghiên cứu đến khâu

su, dầu cọ, gỗ, thực phẩm, khai khoáng, điện tử, dệt may… được ưu tiên pháttriển sản xuất, đặc biệt phục vụ xuất khẩu Trong sự phát triển công nghiệp,chính phủ Malaysia đặc biệt chú trọng đầu tư vào khu vực tư nhân, coi khuvực này là chủđạo của nền kinh tế Chính phủđã chi một lượng vốn lớn cho

Trang 19

hoạt động nghiên cứu triển khai, khuyến khích các doanh nghiệp tăng cườngtiến hành nghiên cứu ứng dụng vào sản xuất.

Nhờ tích cực thực hiện các chính sách phát triển trên, nền kinh tếMalaysia đã tăng trưởng với tốc độ cao: 1987 là 5,2%; 1988 là 8,7%; 1990 là9,4% và 1995 đạt 8,5%; trong đó ngành công nghiệp chế tạo tăng trưởng vớitốc độ cao hơn (năm cao nhất là 1989 đạt 25,1%) [114] Trên cơ sởđó, xuấtkhẩu của Malaysia đã có sự tăng nhanh với xu hướng giảm dần xuất khẩunguyên liệu, tăng dần các sản phẩm công nghiệp chế tạo (điện tử) và nông sảnchế biến nhưcao su, ca cao, dầu cọ, hạt tiêu,… Năm xuất khẩu cao nhất(1989) đạt 67,8 tỷ USD bằng 71,5 GNP Theo các nhà phân tích kinh tế thìMalaysia đã bước đầu chuyển từ nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp và cácngành công nghiệp thay thế nhập khẩu sang nền công nghiệp có hàm lượngkhoa học cao hướng về xuất khẩu

Bên cạnh những thành tựu kinh tếđạt được, theo Viện nghiên cứu kinh

tế Malaysia (MIER), nền kinh tế nước ngày còn gặp phải những yếu kém cầnkhắc phục: Thứ nhất, về nguồn nhân lực bắt đầu xuất hiện tình trạng khanhiếm, trong khi giá nhân công tăng lên; Thứ hai, khả năng cạnh tranh và tiếpcận thị trường quốc tế của Malaysia còn hạn chế; Thứ ba, đầu tư cho nghiêncứu triển khai còn thấp Đó cũng chính là những thách thức trong điều chỉnhnhằm tiếp tục công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh hội nhập kinh tế

IV Một số kinh nghiệm từ công nghiệp hoá, hiện đại hoáở Thái Lan, Đài Loan vàMalaysia

Nhìn chung Thái Lan, Đài Loan vàMalaysia khi bước vào công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tếđều ởđiểm xuất phát thấp, kinh tế nông nghiệp làchủ yếu, công nghiệp nhỏ bé và bị phụ thuộc vào nước ngoài Tuy vậy, chỉtrong vài ba thập kỷ, các nước này đã nhanh chóng vươn lên và thu đượcnhững thành công trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đài Loan đã trở thànhnước công nghiệp mới Thái Lan vàMalaysia cũng được coi là những nướccông nghiệp mới Thành công ấy đãđể lại những bài học kinh nghiệm mànhiều nước đang phát triển có thể học tập và tham khảo

Trang 20

Thứ nhất, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá các nước này đã biết đi

lên từ nông nghiệp Bước đi khởi đầu là phát triển nông nghiệp, để lấy nôngnghiệp nuôi dưỡng công nghiệp Những tiền đề mà nông nghiệp tạo ra cóýnghĩa rất quan trọng về cả phương diện kinh tế và xã hội Vì chính côngnghiệp hoá, hiện đại hoá không thể tiến hành khi tình hình xã hội không ổnđịnh Trong bước đi ban đầu, sự phát triển nông nghiệp không chỉ giải quyếtvấn đề lương thực trong nước, mà còn đóng góp vào xuất khẩu, cải thiện cáncân thanh toán, cán cân thương mại theo hướng tích cực

Thứ hai, việc lựa chọn mô hình công nghiệp hoá cóý nghĩa quyết định

với sự kinh tếở các nước đang phát triển Trong tiến trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá, các nước này đã lựa chọn chiến lược theo hai giai đoạn về cơbản là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của họ Thực tế mỗi chiến lượcđều có vị trí quan trọng, tuy nhiên mỗi chiến lược bên cạnh mặt tích cực, vẫnbộc lộ những hạn chế Do vậy, việc chọn thời điểm đểđiều chỉnh chiến lượcphát triển cóý nghĩa rất quan trọng Nóđặt sự phát triển kinh tế của đất nướckhông chỉ phù hợp với hoàn cảnh trong nước mà cả quốc tế Thực tế việcchuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu khi quá trìnhtoàn cầu hoá, khu vực hoá dưới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật là

sự cần thiết Chính việc lựa chọn thời điểm chuyển hướng chiến lược mới cóthể tạo nên sự thích ứng trong chiến lược phát triển kinh tế Công nghiệp hoá,hiện đại hoá với sựđa dạng hoá trong sản xuất kinh doanh để mở rộng xuấtkhẩu và vươn mạnh ra thị trường thế giới dãđem lại tốc độ tăng trưởng kinh tếcao liên tục trong hơn ba thập kỷ cho Đài Loan, Thái Lan vàMalaysia

Thứ ba, trong công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước này, nhà nước

đóng vai trò vô cùng quan trọng với việc lựa chọn chiến lược, việc tạo lậpmôi trường kinh tế vĩ mô, chiến lược tạo vốn, nâng cao hiệu quảđầu tư, cóchính sách phát huy nguồn lực con người, mở rộng quan hệ kinh tếđối ngoại

Do vậy, nhà nước không chỉ phát huy được nội lực mà còn khai thác tốt cácyếu tố ngoại lực tạo nên tăng trưởng kinh tế cao Nhà nước đã thành côngtrong việc điều chỉnh chiến lược gắn với các chương trình cải cách tự do hoámột cách khéo léo linh hoạt Đó chính là viết biết khai thác những động lực

Trang 21

của kinh tế thị trường, biết nắm bắt và tận dụng những thành tựu của cáchmạng khoa học kỹ thuật, những cơ hội mà kinh tếđối ngoại đặc biệt là ngoạithương mang lại nhằm phát huy lợi thế trong trật tự phân công lao động quốctế.

Thứ tư, công nghiệp hoá, hiện đại hoá - con đường tất yếu để thoát khỏi

nghèo nàn lạc hậu của các nước đang phát triển Mục tiêu trong công nghiệphoá, hiện đại hoáđể hướng tới tăng trưởng trong phát triển Theo đuổi tăngtrưởng kinh tếđã trở thành khát vọng của các nước đang phát triển Tuy vậy,kinh nghiệm ở Thái Lan, Malaysia, chiến lược trong công nghiệp hoá, hiệnđại hoá cần phải gắn liền với sựổn định của môi trường kinh tế vĩ mô, có sựkết hợp hài hoà giữa chiến lược hướng ngoại và hướng nội, cải cách kinh tếphải gắn liền với cải cách xã hội Đó là những điều kiện để tạo nên sự bềnvững trong phát triển

Thứ năm, trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở Thái Lan,

Malaysia vàĐài Loan, con đường phát triển của Đài Loan mang tính đặc thù

rõ nét và sơm đưa nước này trở thành nước công nghiệp mới Bí quyết thànhcông của Đài Loan trong bước khởi đầu công nghiệp hoá là biết lấy nôngnghiệp để nuôi dưỡng công nghiệp; biết dựa vào các doanh nghiệp vừa và nhỏvới sự khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước để hình thành nên những chuỗi

xí nghiệp hoạt động liên hoàn với nhau; biết nắm thời cơđể nhanh chóng đivào một số ngành hiện đại nhưđiện tử, công nghiệp thông tin, hoá dầu…

Tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là vấn đề mang tính qui luật vớitất cả các nước trên thế giới Để làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn về côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, chương I luận án đã làm rõ khái niệm về côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và mối quan hệ giữa hai phạm trù này trong tiếntrình phát triển Luận án cũng làm rõ bản chất của công nghiệp hoá, hiện đạihoá và các mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoáở các nước đang phát triểntrong mấy thập kỷ qua Đó là mô hình công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu,công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và mô hình công nghiệp hoá bền vữngtheo hướng hội nhập Các mô hình này được nghiên cứu, xem xét vàđánh giátheo các khía cạnh: mục tiêu, chính sách và biện pháp, kết quả và hạn chế

Trang 22

Đồng thời, luận án đã trình bày khái quát thực trạng những bài học kinhnghiệm về vận dụng các mô hình công nghiệp hoá trong phát triển kinh tếđấtnước.

Trang 23

CHƯƠNG III VẬNDỤNGMỘTSỐKINHNGHIỆMCỦAMỘTSỐNƯỚCCHÂUÁVÀOQ

Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã nêu ra những sai lầm, thiếu sóttrong tiến hành công nghiệp hóa Xuất phát từ tư tưởng chủ quan, nóng vội,muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta đã chủ trương đẩy mạnhcông nghiệp hóa với việc tập trung phát triển công nghiệp nặng trong khichưa cóđủ tiền đề cần thiết, đặc biệt "việc bố trí cơ cấu kinh tế trước hết là cơcấu sản xuất vàđầu tưthường xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, khôngtính đến điều kiện và khả năng thực tế"

Ngày đăng: 08/02/2015, 16:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trí Dĩnh. Lịch sử kinh tế quốc dân. NXB Giáo dục, Hà Nội 1996, tr 162 - 163 Khác
2. Phạm Khiêm Ích - Nguyễn Đình Phan. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam và các nước trong khu vực. NXB Thống kê, Hà Nội 1994 Khác
3. VõĐại Lược. Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn mô hình công nghiệp hóa của nước ta. NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1999 Khác
4. Nguyễn Thị Luyến (chủ biên). Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Những bài học thành công của Đông Á. Viện kinh tế thế giới, 1998 Khác
5. Phùng Xuân Nhạ. Vai trò của FDI đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Malaixia. Tạp chí Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, số 4 tháng 6/1998) Khác
6. Những vấn đề công nghiệp hóa của các nước đang phát triển. NXB Tư tưởng, Matxcơva 1972 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 8: Cơ cấu vốn đầu tư xã hội 1991 - 2000 (%) - kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số nước và bài học kinh nghiệm vận dụng với việt nam
Bảng 8 Cơ cấu vốn đầu tư xã hội 1991 - 2000 (%) (Trang 29)
Bảng 10: Cơ cấu ngành trong GDP (%) - kinh nghiệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số nước và bài học kinh nghiệm vận dụng với việt nam
Bảng 10 Cơ cấu ngành trong GDP (%) (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w