Báo cáo tốt nghiệp kế toán với đề tài: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần May Thăng Long. Bài báo cáo thực tập tốt nghiệp dành cho các bạn sinh viên ngành kế toán tham khảo. Xem thêm các thông tin về Báo cáo tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại đây
Trang 1Lời mở đầu
Hiện nay, trong nền kinh tế nước ta, dệt may là một trong những ngành
có đóng góp lớn cho ngân sách của Nhà nước Không những thế còn giảiquyết công ăn việc làm cho rất nhiều lao động Trong ngành dệt may ở ViệtNam, Công ty may Thăng Long là một đơn vị sản xuất, kinh doanh và xuấtkhẩu các mặt hàng dệt may Trước đây, Công ty thuộc Tổng công ty dệt mayViệt Nam, trong hơn 45 năm phát triển Công ty đã có nhiều đóng góp trongcông cuộc xây dựng và phát triển đất nước Công ty đã được Đảng và Nhànước tặng thưởng nhiều huân chương cao quý vì các thành tích của mình.Năm 2003, công ty được cổ phần hoá theo Quyết định số 1496/QĐ-TCCBngày 26/6/2003 của Bộ công nghiệp Để tiến hành sản xuất, kinh doanh trong
điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng cao như ngày nay, mộtmặt công ty đã đầu tư thay đổi công nghệ ngay từ những năm 80, nâng caonăng suất và chất lượng sản phẩm Mặt khác, công ty đã chú trọng đến côngtác quản lý sản xuất để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh ngày mộtphát triển Bộ máy kế toán trong công ty hiện nay đã phát huy được hiệu quả,giúp quản lý chặt chẽ chi phí sản xuất, đồng thời cung cấp kịp thời các thôngtin cần thiết cho ban giám đốc Đây cũng là một thành công của Công ty mayThăng Long Chính vì vậy, em đã chọn công ty làm nơi để nghiên cứu, nắm
vững cách thức thực hành kế toán trong thực tế Em đã chọn đề tài Hoàn thiện
công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần May Thăng Long làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề thực
Trang 2Phần III: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm.
Do điều kiện thời gian thực tập và kiến thức của bản thân còn hạn chế nênchuyên đề thực tập tốt nghiệp này không tránh khỏi có một số thiếu sót, mongnhận được ý kiến phản hồi, đóng góp và bổ sung của những người quan tâm
để chuyên đề thực tập tốt nghiệp này có thể hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trương Anh Dũng trong bộ môn kếtoán-trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân cùng các cán bộ nhân viên phòng kếtoán tài vụ Công ty may Thăng Long đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đềthực tập tốt nghiệp này!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2005
Sinh viênNguyễn Chí Hưng
Trang 3Phần I Tổng quan chung và đặc điểm sản xuất kinh doanh
của Công ty may Thăng Long
I/ Quá trình thành lập và đặc điểm kinh doanh của công ty:
250 Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội(84-4) 8623372 Fax: (84-4) 8623374
thaloga@fpt.vn
www.thaloga.com.vn
Công ty cổ phần may Thăng Long, tiền thân là công ty may Thăng Longthuộc tổng công ty dệt may Việt Nam, được thành lập vào ngày 08/05/1958theo quyết định của Bộ ngoại thương Khi mới thành lập công ty mang tênCông ty may mặc xuất khẩu, thuộc tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm,
đóng tại số nhà 15 phố Cao Bá Quát- Hà Nội Ban đầu, công ty có khoảng
2000 công nhân và 1700 máy may công nghiệp Mặc dù trong những năm đầuhoạt động công ty gặp rất nhiều khó khăn như mặt bằng sản xuất phân tán,công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, nhưng công ty đã hoàn thành và vượtmức kế hoạch do nhà nước giao Đến ngày 15/12/1958 công ty đã hoàn thành
kế hoạch năm với tổng sản lượng là 391.129 sản phẩm đạt 112,8% chỉ tiêu
Đến năm 1959 kế hoạch công ty được giao tăng gấp 3 lần năm 1958 nhưngcông ty vẫn hoàn thành và đạt 102% kế hoạch Trong những năm này công ty
đã mở rộng mối quan hệ với các khách hàng nước ngoài như Liên Xô, Đức,
Trang 4Bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965) Công ty
đã có một số thay đổi lớn Vào tháng 7 năm 1961, Công ty chuyển địa điểmlàm việc về 250 phố Minh Khai, thuộc khu phố Hai Bà Trưng nay là quận Hai
Bà Trưng, là trụ sở chính của công ty ngày nay Địa điểm mới có nhiều thuậnlợi, mặt bằng rộng rãi, tổ chức sản xuất ổn định Các bộ phận phân tán trước,nay đã thống nhất thành một mối, tạo thành dây chuyền sản xuất khép kín kháhoàn chỉnh từ khâu nguyên liệu, cắt, may, là, đóng gói
Ngày 31/8/1965 theo quyết định của Bộ ngoại thương công ty có sựthay đổi lớn về mặt tổ chức như: tách bộ phận gia công thành đơn vị sản xuất
độc lập, với tên gọi công ty gia công may mặc xuất khẩu; còn Công ty maymặc xuất khẩu đổi thành Xí nghiệp may mặc xuất khẩu; Ban chủ nhiệm đổithành Ban giám đốc
Vào những năm chiến tranh chống Mỹ, công ty gặp rất nhiều khó khănnhư công ty đã phải 4 lần đổi tên, 4 lần thay đổi địa điểm, 5 lần thay đổi cáccán bộ chủ chốt nhưng công ty vẫn vững bước tiến lên thực hiện kế hoạch 5năm lần thứ hai Trong các năm 1976-1980, công ty đã tập trung vào một sốhoạt động chính như: triển khai thực hiện là đơn vị thí điểm của toàn ngànhmay, trang bị thêm máy móc, nghiên cứu cải tiến dây chuyền công nghệ Năm
1979, công ty được Bộ quyết định đổi tên thành xí nghiệp may Thăng Long
Bước vào kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1980-1985) trước những đòi hỏingày càng cao của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, công ty đã khôngngừng đổi mới và phát triển Trong quá trình chuyển hướng trong thời giannày, công ty luôn chủ động tạo nguồn nguyên liệu để giữ vững tiến độ sảnxuất, thực hiện liên kết với nhiều cơ sở dịch vụ của Bộ ngoại thương để nhậnthêm nguyên liệu Giữ vững nhịp độ tăng trưởng từng năm, năm 1981 công tygiao 2.669.771 sản phẩm, năm 1985 giao 3.382.270 sản phẩm sang các nước:Liên Xô, Pháp, Đức, Thuỵ Điển Ghi nhận chặng đường phấn đấu 25 năm củacông ty, năm 1983 Nhà nước đã trao tặng xí nghiệp may Thăng Long: Huânchương Lao động hạng Nhì
Cuối năm 1986 cơ chế bao cấp được xoá bỏ và thay thế bằng cơ chế thị
Trang 5tìm bạn hàng, đối tác Đến năm 1990, liên bang cộng hoà xã hội chủ nghĩa XôViết tan rã và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, thị trường củacông ty thu hẹp dần Đứng trước những khó khăn này, lãnh đạo của Công tymay Thăng Long đã quyết định tổ chức lại sản xuất, đầu tư hơn 20 tỷ đồng đểthay thế toàn bộ hệ thống thiết bị cũ của Cộng hoà dân chủ Đức (TEXTIMA)trước đây bằng thiết bị mới của Cộng hoà liên bang Đức (FAAP), Nhật Bản(JUKI) Đồng thời công ty hết sức chú trọng đến việc tìm kiếm và mở rộng thịtrường xuất khẩu Công ty đã ký nhiều hợp đồng xuất khẩu với các công ty ởPháp, Đức, Thuỵ Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Với những sự thay đổi hiệu quả trên, năm 1991 xí nghiệp may ThăngLong là đơn vị đầu tiên trong toàn ngành may được Nhà nước cấp giấy phépxuất nhập khẩu trực tiếp Công ty được trực tiếp ký hợp đồng và tiếp cận vớikhách hàng đã giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh Thựchiện việc sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước và địa phương trong thời kỳ
đổi mới, tháng 6-1992, xí nghiệp được Bộ Công nghiệp nhẹ (nay là Bộ côngnghiệp) cho phép được chuyển đổi tổ chức từ xí nghiệp thành công ty và giữnguyên tên Thăng Long theo quyết định số 218 TC/LĐ- CNN Công ty mayThăng Long ra đời, đồng thời là mô hình công ty đầu tiên trong các xí nghiệpmay mặc phía Bắc được tổ chức theo cơ chế đổi mới Nắm bắt được xu thếphát triển của toàn ngành năm 1993 công ty đã mạnh dạn đầu tư hơn 3 tỷ
đồng mua 16.000 m 2 đất tại Hải Phòng, thu hút gần 200 lao động Công ty đã
mở thêm nhiều thị trường mới và trở thành bạn hàng của nhiều công ty nướcngoài ở thị trường EU, Nhật Bản, Mỹ Ngoài thị trường xuất khẩu công ty đãchú trọng thị trường nội địa, năm 1993, công ty đã thành lập Trung tâmthương mại và giới thiệu sản phẩm tại 39 Ngô Quyền, Hà Nội với diện tíchtrên 300 m2 Nhờ sự phát triển đó, công ty là một trong những đơn vị đầu tiên
ở phía Bắc chuyển sang hoạt động gắn sản xuất với kinh doanh, nâng cao hiệuquả Bắt đầu từ năm 2000, công ty đã thực hiện theo hệ thống quản lý ISO9001-2000, hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn SA 8000
Năm 2003, công ty may Thăng Long được cổ phần hoá theo Quyết định
Trang 6doanh nghiệp Nhà nước Công ty may Thăng Long trực thuộc tổng công ty Dệtmay Việt Nam Công ty may Thăng Long chuyển sang công ty cổ phần, Nhànước nắm giữ cổ phần chi phối 51% vốn điều lệ, bán một phần vốn của Nhànước tại doanh nghiệp cho cán bộ công nhân viên công ty (49%) Trong quátrình hoạt động, khi có nhu cầu và đủ điều kiện, công ty cổ phần sẽ phát hànhthêm cổ phiếu hoặc trái phiếu để huy động vốn đầu tư phát triển sản xuất kinhdoanh Theo phương án cổ phần hoá:
Vốn điều lệ của công ty:
Vốn điều lệ được chia thành:
Mệnh giá thống nhất của mỗi cổ phần:
23.306.700.000 đồng233.067 cổ phần100.000 đồng
Như vậy, qua 45 năm hình thành và phát triển, công ty may Thăng Long
đã đạt được nhiều thành tích đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triểncủa đất nước trong thời kỳ chống Mỹ cũng như trong thời kỳ đổi mới Ghinhận những đóng góp của công ty, Nhà nước đã trao tặng cho đơn vị nhiềuhuân chương cao quý Với sự cố gắng của toàn thể công ty, từ một cơ sở sảnxuất nhỏ, trong những năm qua công ty may Thăng Long đã phát triển quy mô
và công suất gấp 2 lần so với trong những năm 90, trở thành một doanh nghiệp
có quy mô gồm 9 xí nghiệp thành viên tại Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, HoàLạc với 98 dây chuyền sản xuất hiện đại và gần 4000 cán bộ công nhân viên,năng lực sản xuất đạt trên 12 triệu sản phẩm/năm với nhiều chủng loại hànghoá như: sơmi, dệt kim, Jacket, đồ jeans
2 Đặc điểm kinh doanh:
Trang 7-Kinh doanh, xuất nhập khẩu các mặt hàng công nghệ thực phẩm, côngnghiệp tiêu dùng, trang thiết bị văn phòng, nông, lâm, hải sản, thủ công mỹnghệ.
-Kinh doanh các sản phẩm vật liệu điện, điện tử, cao su, ô tô, xe máy,
mỹ phẩm, rượu; kinh doanh nhà đất, cho thuê văn phòng
-Kinh doanh kho vận, kho ngoại quan; kinh doanh khách sạn, nhà hàng,vận tải, du lịch lữ hành trong nước
-Kinh doanh các ngành nghề khác phù hợp với quy định của pháp luật.Như vậy, khi thực hiện cổ phần, công ty đã đăng ký rất nhiều ngành nghềkinh doanh khác nhau, để tiện cho việc mở rộng lĩnh vực kinh doanh sau này.Nhưng, hiện nay, trên thực tế công ty chỉ thực hiện sản xuất và kinh doanh,xuất nhập khẩu các nguyên liệu, sản phẩm may mặc
2.2 Sản phẩm, hàng hoá
Công ty may Thăng Long từ khi thành lập đã trải qua 45 năm trưởng thành
và phát triển, từng bước vươn lên là một trong những doanh nghiệp đứng đầungành dệt may của Việt Nam
Công ty được quyền xuất nhập khẩu trực tiếp, chuyên sản xuất các sảnphẩm may mặc có chất lượng cao theo đơn đặt hàng của khách hàng trong vàngoài nước, sản xuất các sản phẩm nhựa và kinh doanh kho ngoại quan phục
vụ ngành dệt may Việt Nam Công ty có hệ thống chất lượng đạt tiêu chuẩnISO 9002 Trong những năm vừa qua công ty luông được ưa thích và bìnhchọn là hàng Việt Nam chất lượng cao
Hiện nay, công ty đang sản xuất và kinh doanh những mặt hàng chủ yếusau:
Quần áo bò
Quần áo sơ mi nam, nữ, bộ comple
Bộ đồng phục người lớn, trẻ em
áo Jacket các loại
Công ty cũng đang xâm nhập và khai thác mặt hàng đồng phục học sinh
và đồng phục công sở thông qua triển lãm và biểu diễn thời trang
Trang 8Ngoài ra, công ty còn nhận gia công sản phẩm cho Công ty may 8-3 và cáccông ty khác.
2.3 Thị trường
Lúc đầu, khi mới thành lập thị trường của công ty may Thăng Long chủyếu là các nước xã hội chủ nghĩa (các nước Đông Âu, Liên Xô) Nhưng theothời gian, cùng với sự cố gắng của toàn bộ cán bộ công nhân viên, thị trườngcủa công ty ngày càng được mở rộng ra các nước khác như: Pháp, Đức, HàLan, Thuỵ Điển Trong những năm 1990 - 1992, với sự sụp đổ của hàng loạtnước xã hội chủ nghĩa, thị trường của công ty gần như "mất trắng" Trước tìnhhình đó, công ty đã đẩy mạnh tiếp thị, tìm kiếm thị trường mới, tập trung hơnvào những nước có tiềm năng kinh tế mạnh như Tây Âu, Nhật Bản và chú ýhơn nữa đến thị trường nội địa Chính vì vậy, công ty đã mở thêm được nhiềuthị trường mới và quan hệ hợp tác với nhiều công ty nước ngoài có tên tuổinhư: Công ty Kowa, Marubeny (Nhật Bản); Rarstab (Pháp); Valeay, Tech(Đài Loan); Mangharms (Hồng Kông); Texline (Singapore); Takarabuve(Nhật); Senhan (Hàn Quốc) và Seidentichker (Đức) Công ty may Thăng Longcũng là một đơn vị đầu tiên của ngành may mặc Việt Nam đã xuất khẩu đượcsang thị trường Mỹ
Hiện nay, công ty đã có quan hệ với hơn 40 nước trên thế giới, trong đó
có những thị trường mạnh đầy tiềm năng: EU, Nhật Bản, Mỹ Thị trường xuấtkhẩu chủ yếu và thường xuyên của công ty bao gồm: Mỹ, Đông Âu, EU, ĐanMạch, Thuỵ Điển, Châu Phi, Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.Công ty may Thăng Long luôn xác định vấn đề giữ vững thị trường là vấn đềsống còn, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của công ty Vì vậy, hiện naycông ty đã đề ra và đang thực hiện một chiến lược phát triển thị trường nhưsau:
- Đối với thị trường gia công: công ty tiếp tục duy trì và giữ vững những
khách hàng truyền thống như EU, Nhật, Mỹ và phát triển sang các thị trườngmới như Châu á, châu Mỹ Latin nhằm xây dựng một hệ thống khách hàng
Trang 9- Đối với thị trường xuất khẩu: Công ty đặc biệt chú trọng đến thị
trường FOB vì đây là con đường phát triển lâu dài của công ty Công ty đangxây dựng hệ thống sáng tác mẫu mốt để chào hàng, xây dựng mạng lưới nhàthầu phụ, nắm bắt thông tin giá cả; gắn việc sản xuất sản phẩm may với sảnphẩm dệt và sản xuất kinh doanh nguyên phụ liệu để thúc đẩy sự phát triểncủa công ty
- Đối với thị trường nội địa: Phát triển thị trường nội địa và tăng tỷ
trọng nội địa hoá trong các đơn hàng xuất khẩu cũng là vấn đề được công tyquan tâm Chính vì vậy, công ty may Thăng Long đã thành lập nhiều trungtâm kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá, mở rộng hệ thống bán buôn, bán lẻ tại
Hà Nội và các tỉnh, thành phố, địa phương trong cả nước Công ty đã đa dạnghoá các hình thức tìm kiếm khách hàng: Tiếp khách hàng tại công ty, chàohàng giao dịch qua Internet, tham gia các triển lãm trong nước và quốc tế,quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, biểu diễn thời trang, mởvăn phòng đại diện ở nhiều nước khác nhau
Với chiến lược phát triển thị trường như trên, công ty may Thăng Long đã
và đang mở rộng được mối quan hệ hợp tác với nhiều nước khác nhau trên thếgiới
2.4 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một yếu tố mang tính quyết định trong quá trình sảnxuất nhất là đối với các công ty trong lĩnh vực dệt may Đồng thời, nó cũng làmột trong những động lực quan trọng đảm bảo cho công ty không ngừng pháttriển và đứng vững trên thị trường Công ty may Thăng Long hiện nay có một
đội ngũ nguồn nhân lực mạnh và có chất lượng cao Đây cũng chính là mộttrong những nhân tố giúp công ty ngày càng lớn mạnh
Do đặc thù của công việc đòi hỏi sự khéo tay, cẩn thận, không cầnnhiều đến lao động cơ bắp nên lao động nữ trong công ty chiếm số lượng lớnhơn lao động nam Năm 2004, lao động nữ chiếm 88.48%, lao động namchiếm 11.52%
Trình độ của nguồn nhân lực của công ty là rất cao Năm 2004, số lao
Trang 10lượng người là 112 người; tuy có giảm so với 2 năm trước nhưng tốc độ giảmnhẹ và không đáng kể Trong khi đó, số công nhân kỹ thuật và lao động phổthông tương đối ổn định, chỉ tăng lên với tốc độ nhỏ.
Thu nhập bình quân của nhân viên trong công ty cũng từng bước đượcnâng cao Thu nhập bình quân của nhân viên trong Công ty năm 2002 tăng10% so với năm 2003, năm 2004 tăng 11.81% so với năm 2003
Thu nhập bình quân (người/tháng) 1.000.000 1.100.000 1.300.000
(Nguồn: Phòng Tài chính Kế toán Công ty may Thăng Long)
Các chính sách phúc lợi, đãi ngộ và đào tạo người lao động được thựchiện theo đúng pháp luật và điều lệ của công ty Người lao động được ký hợp
đồng lao động theo điều 27 Bộ luật lao động và thông tư 21/LĐTBXH ngày12/10/1996 của Bộ Lao động thương binh xã hội Trợ cấp thôi việc khi chấmdứt hợp đồng lao động được thực hiện theo điều 10 Nghị định 198/CP ngày31/12/1994 của Chính phủ
Công ty luôn quan tâm đến việc đào tạo cán bộ, nâng cao tay nghề chongười lao động Hiện nay, công ty may Thăng Long đang khuyến khích và tạo
điều kiện cho cán bộ nhân viên học đại học, cao đẳng và công nhân kỹ thuậtnâng cao tay nghề Đồng thời, theo phương án cổ phần hoá, trong hơn 23 tỷ
đồng vốn điều lệ, tỷ lệ cổ phần Nhà nước nắm giữ là 51%, tỷ lệ cổ phần báncho người lao động trong công ty là 49% Điều này, sẽ giúp phát huy quyềnlàm chủ của người lao động và khuyến khích họ nâng cao năng suất làm việc
Trang 113 Vốn, tài sản của công ty:
Nguồn: Phòng kế toán tài vụ Công ty may Thăng Long
Căn cứ vào bảng cân đối kế toán (bảng 1), ta thấy tổng tài sản của công
ty năm 2003 tăng so với năm 2002 là 30.912.349.631 VNĐ tương ứng với40,53% (trong đó, tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn tăng 26,84%; tài sản cố
định và đầu tư dài hạn tăng 45,09%); năm 2004 tăng so với năm 2003 là12.395.630.606 VNĐ tương ứng với 11,56% (trong đó, TSLĐ và ĐTNH tăng9,83% còn TSCĐ và ĐTDH tăng 13,59%) Điều đó chứng tỏ quy mô tài sảncủa Công ty tăng nhưng tốc độ tăng giảm đi Đó là do môi trường kinh doanhngày càng mang tính cạnh tranh cao
Trang 12Mặt khác, ta thấy nguồn vốn chủ sở hữu năm 2003 tăng so với năm
2002 là 508.063.516 VNĐ tương ứng với 2,88%; năm 2004 tăng so với năm
2003 là 2.866.170.642 VNĐ tương ứng với 15,78% Như vậy, quy mô nguồnvốn chủ sở hữu cũng tăng Tuy nhiên, ta có thể thấy tốc độ tăng quy mô nguồnvốn chủ sở hữu qua 3 năm 2002 - 2004 luôn nhỏ hơn tốc độ tăng quy mô tàisản Từ đó, có thể thấy hầu như các tài sản của công ty đều được tăng lên từnguồn vốn đi vay Năm 2003 so với năm 2002 nợ phải trả tăng 51,88% (trong
đó, nợ ngắn hạn tăng 28,53%; nợ dài hạn tăng 124,31%) Năm 2004 nợ phảitrả tăng so với năm 2003 là 10,71% (trong đó, nợ ngắn hạn tăng 12,43%; nợdài hạn tăng 7,64%); nhưng có xu hướng giảm nhanh chóng xuống qua cácnăm Đặc biệt là tốc độ tăng của nợ dài hạn qua 3 năm đã giảm xuống nhanh
Đây là một cải thiện trong tình hình tài chính của công ty
Trang 134 KÕt qu¶ kinh doanh trong mét sè n¨m gÇn ®©y:
Trang 14-Nguồn: Phòng kế toán tài vụ Công ty may Thăng Long
Căn cứ vào bảng 2, ta có thể thấy tổng doanh thu của công ty năm 2003tăng so với năm 2002 là 13.676.412.907 VNĐ tương ứng với 13,32%; năm
2004 tăng so với năm 2003 là 12.211.751.816 VNĐ tương ứng với 10,5%.Như vậy, tổng doanh thu của công ty có xu hướng tăng qua 3 năm 2002 -
2004, tuy nhiên tốc độ tăng có xu hướng giảm dần Trong tổng doanh thu củaCông ty may Thăng Long thì doanh thu hàng xuất khẩu luôn chiếm một phầnrất lớn Năm 2002 doanh thu hàng xuất khẩu chiếm 78,92% tổng doanh thutoàn công ty; năm 2003 chiếm 82,39%; năm 2004 chiếm 83,42% Đó là doCông ty may Thăng Long là một công ty chủ yếu thực hiện gia công hoặc sảnxuất theo các đơn đặt hàng để xuất khẩu Thị trường trong nước của công tycòn chưa phát triển, mặc dù trong những năm gần đây, công ty đã quan tâmhơn đến thị trường nội địa nhưng doanh thu thu được từ thị trường này cònchưa cao so với tổng doanh thu của công ty
Giá vốn hàng bán năm 2003 tăng so với năm 2002 là 15,87%; như vậy,tốc độ tăng giá vốn trong 2 năm này đã cao hơn tốc độ tăng doanh thu(12,32%) Điều đó, chứng tỏ công ty chưa tiết kiệm được chi phí sản xuất đểhạ giá thành Nhưng giá vốn hàng bán năm 2004 so với năm 2003 chỉ tăng7,26% trong khi tốc độ tăng doanh thu trong 2 năm này là 10,5% Như vậy,
Trang 15xuất, từ đó công ty có thể hạ giá thành sản phẩm và tăng doanh thu trongnhững năm tới.
Chỉ tiêu lợi nhuận gộp của công ty đã ngày càng tăng lên với một tốc độtăng rất nhanh Năm 2003, lợi nhuận gộp của công ty là 18.742.585.394 VNĐ,tăng1,67% so với năm 2002 Nhưng đến năm 2004, lợi nhuận gộp của công ty
đã là 23.864.984.596 và tăng 27,33% so với năm 2003 Đó là do công ty đãtiết kiệm được chi phí sản xuất (giá vốn hàng bán năm 2004 so với năm 2003tăng với tốc độ chậm) Đây có thể coi là một trong những thành công của côngty
Ta cũng có thể thấy các chỉ tiêu LN gộp / Doanh thu, LN trước thuế / Doanhthu hay LN sau thuế / Doanh thu đều có xu hướng tăng lên Tuy chỉ tiêu LNgộp / Doanh thu năm 2003 có giảm một phần nhỏ so với năm 2002 (năm 2003
là 16,11%; năm 2002 là 17,96%) nhưng đến năm 2004 chỉ tiêu này đã tănglên đến 18,57% và vượt qua năm 2002 Tuy nhiên, để có điều kiện mở rộngsản xuất kinh doanh và đưa công ty phát triển nhanh chóng, ban giám đốc cầntìm các biện pháp để tiếp tục tăng chỉ tiêu LN sau thuế / Doanh thu
Tóm lại, qua bảng phân tích kết quả kinh doanh của công ty may ThăngLong qua 3 năm 2002 - 2004, ta có thể thấy công ty đang có những bước pháttriển vững chắc Một trong những thành công lớn của công ty, đó là mở rộng
được thị trường xuất khẩu, tiết kiệm chi phí sản xuất Đây cũng là những nhân
áo sơ mi, bò dài, áo sơ mi cao cấp, áo jacket, áo khoác các loại, quần áo trẻ
em các loại Đặc điểm, công ty chủ yếu là gia công các mặt hàng may mặctheo đơn đặt hàng nên quá trình sản xuất thường mang tính hàng loạt, sốlượng sản phẩm lớn, chu kỳ sản xuất ngắn xen kẽ, sản phẩm phải qua nhiềugiai đoạn công nghệ chế biến phức tạp kiểu liên tục theo một trình tự nhất
Trang 16Công ty may Thăng Long là công ty sản xuất, đối tượng là vải được cắtmay thành nhiều mặt hàng khác nhau, kỹ thuật sản xuất các cỡ vải của mỗichủng loại mặt hàng có mức độ phức tạp khác nhau, nó phụ thuộc vào sốlượng chi tiết của mặt hàng đó.
Ta có thể khái quát quy trình công nghệ này theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
NVL
( vải )
Cắt Trải vải
Đặt mẫu Cắt phá
Cắt gọt
Đánh số
Đồng bộ
May May thân May tay
Ghép thành thành phẩm Thêu
TẩymàiVật liệu phụ
Là
Đóng gói kiểm tra
Bao bì
đóng kiện
Nhập kho
Trang 172 Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh:
Theo phương án cổ phần hoá năm 2003, công ty may Thăng Long đã trởthành một công ty cổ phần trong năm 2004 Do đó phương thức quản lý của công
ty đã chuyển từ tính chất tập trung vào một vài cá nhân lãnh đạo và chịu sự chiphối của cấp trên sang tính chất được tự quyết, lãnh đạo và kiểm soát của một tậpthể các cổ đông
- Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Ban kiểm soát:
- Khối quản lý
- Khối phục vụ sản xuất
- Khối sản xuất trực tiếp
Sơ đồ 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của Công ty may Thăng Long
sau khi cổ phần hoá
Trên thực tế, hiện nay bộ máy quản lý của công ty vẫn chia thành haicấp, cấp công ty và cấp xí nghiệp với sự chỉ đạo của tổng giám đốc do hội
Trang 182.1 Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh ở cấp công ty:
Bao gồm ban giám đốc của công ty chịu trách nhiệm quản lý và chỉ đạotrực tiếp Ban giám đốc gồm 4 người:
- Tổng giám đốc
- Phó tổng giám đốc điều hành kỹ thuật
- Phó tổng giám đốc điều hành sản xuất
- Phóng tổng giám đốc điều hành nội chính
Dưới ban giám đốc là các phòng ban với những chức năng và nhiệm vụ:
Các xí nghiệp được chuyên môn hoá theo từng mặt hàng
- Xí nghiệp 1: chuyên sản xuất hàng áo sơ mi cao cấp
- Xí nghiệp 2: chuyên sản xuất áo Jacket dày, mỏng
- Xí nghiệp 3 và 4: chuyên sản xuất hàng quần áo bò
- Xí nghiệp 5: liên doanh với nước ngoài để sản xuất hàng dệt kim, áocotton
- Xí nghiệp may Hải Phòng: có kho ngoại quan nhận lưu giữ trang thiết
bị, phụ tùng thay thế, nguyên phụ liệu ngành dệt may chờ xuất khẩu và nhập
Trang 19nhựa và một xưởng may Xưởng sản xuất nhựa chủ yếu phục vụ nhu cầu trongCông ty và một phần sản phẩm được bán ra thị trường.
- Xí nghiệp may Nam Hải: được thành lập theo sự chỉ đạo của Tổng công
ty dệt may Việt Nam với mục đích chính là đầu tư giúp đỡ để phát triển Công
Mỗi xí nghiệp đều được tổ chức thành 5 bộ phận: 2 phòng xí nghiệp, tổ cắt,
tổ may, tổ hoàn thiện và tổ bảo quản
Trang 20Nhân viên thống kế
các xí nghiệp
Nhân viên thống kêphân xưởng
may Hải Phòng
XN may Nam Hải
Xưởng thời trang
XN phụ trợ
Phân xưởng thêu
Phân xưởng mài
đầu tư
Phòngkỹthuật
Phòngkho
TTTMvàGTSP
Cửahàngthờitrang
Phòngkiểmtra chấtlượng
Trang 21Sơ đồ 3: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý ở Công ty may Thăng Long
Phần II Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm tại Công ty may Thăng Long
I/ Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán:
1 Tổ chức bộ máy kế toán :
Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất và quản lý, bộ máy kế toán của Công
ty may Thăng Long được tổ chức theo hình thức tập trung Toàn bộ công việc kếtoán của công ty được tập trung ở phòng kế toán tài vụ Tại các xí nghiệp thànhviên không tổ chức bộ máy kế toàn riêng mà chỉ bố trí các nhân viên kế toánthống kê
1.1 Phòng kế toán tài vụ tại công ty :
Nhiệm vụ của phòng kế toán tài vụ là hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiệnthu thập xử lý các thông tin kế toán ban đầu, thực hiện chế độ hạch toán và quản
lý tài chính theo đúng quy định của bộ tài chính Đồng thời, phòng kế toán còncung cấp các thông tin về tình hình tài chính của công ty một cách đầy đủ, chínhxác và kịp thời; từ đó, tham mưu cho ban giám đốc để đề ra các biện pháp các quy
định phù hợp với đường lối phát triển của công ty Dựa trên quy mô sản xuất, đặc
điểm tổ chức quản lý của công ty cùng mức độ chuyên môn hoá và trình độ cán
bộ, phòng kế toán tài vụ được biên chế 10 người và được tổ chức theo các phầnhành kế toán như sau:
- Đứng đầu là kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp, là người chịu tráchnhiệm chung toàn công ty Kế toán trưởng có trách nhiệm theo dõi, quản lý và
điều hành công tác kế toán; đồng thời tổng hợp số liệu để ghi vào các sổ tổng hợptoàn công ty và lập báo cáo kế toán
Trang 22- Tiếp đến là phó phòng kế toán, các nhân viên và thủ quỹ.
- Kế toán vốn bằng tiền (Kế toán thanh toán): có trách nhiệm kiểm tra tínhhợp lệ của chứng từ gốc, viết phiếu thu chi; hàng tháng lập bảng kê tổng hợp séc
và sổ chi tiết rồi đối chiếu với sổ sách thủ quỹ, sổ phụ ngân hàng; lập kế hoạchtiền mặt gửi lên cho ngân hàng có quan hệ giao dịch Ngoài ra, kế toán vốn bằngtiền quản lý các tài khoản 111, 112 và các sổ chi tiết của nó; cuối tháng lập nhật
ký chứng từ số 1 và số 2, bảng kê số 1, số 2
- Kế toán vật tư: có nhiệm vụ hạch toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụdụng cụ theo phương pháp thẻ song song, phụ trách tài khoản 152, 153 Cuốitháng, kế toán vật tư tổng hợp số liệu, lập bảng kê theo dõi nhập, xuất, tồn và nộpbáo cáo cho bộ phận kế toán tính giá thành Khi có yêu cầu kế toán vật tư và các
bộ phận chức năng khác tiến hành kiểm kê lại vật tư, đối chiếu với sổ kế toán, nếu
có thiếu hụt sẽ tìm nguyên nhân và biện pháp xử lý, lập biên bản kiểm kê
- Kế toán tài sản cố định và nguồn vốn: quản lý các tài khoản 211, 121, 213,
214, 411, 412, 415, 416, 441; thực hiện phân loại tài sản cố định hiện có củaCông ty, theo dõi tình hình tăng giảm, tính khấu hao theo phương pháp tuyến tính;theo dõi các nguồn vốn và các quỹ của công ty; cuối tháng lập bảng phân bổ số 3,nhật ký chứng từ số 9
- Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương: có nhiệm vụ quản lý cáctài khoản 334, 338, 622, 627, 641, 642; hàng tháng căn cứ vào sản lượng của các
xí nghiệp và đơn giá lương, hệ số lương, đồng thời nhận các bảng thanh toánlương do các nhân viên thống kê ở các xí nghiệp gửi lên, kế toán tiền lương và cáckhoản trích theo lương tổng hợp số liệu, lập bảng tổng hợp thanh toán lương củaCông ty và bảng phân bổ số 1
- Kế toán công nợ: có nhiệm vụ theo dõi các khoản phải thu, phải trả trongCông ty may và giữa công ty với các khách hàng, nhà cung cấp; đồng thời quản lýcác tài khoản 131, 136, 138, 141, 331, 333, 336 ; kế toán công nợ ghi sổ chi tiết
Trang 23cho từng đối tượng và cuối tháng lập nhật ký chứng từ số 5, số 10 và bảng kê số11.
- Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: có tráchnhiệm theo dõi tình hình xuất, nhập, tồn kho thành phẩm; ghi sổ chi tiết tài khoản155; cuối tháng lập bảng kê số 8 và số 11; đồng thời ghi các sổ Cái có liên quan
Bộ phận kế toán này gồm 3 người trong đó có 1 người phụ trách phần gia công
- Kế toán tiêu thụ: có nhiệm vụ theo dõi tình hình nhập xuất kho thành phẩm,ghi sổ chi tiết tài khoản 155, cuối tháng lập bảng kê số 8
- Thủ quỹ: chịu trách nhiệm về quỹ tiền mặt của công ty; hàng ngày căn cứvào phiếu thu, phiếu chi hợp lệ để nhập, xuất quỹ, ghi sổ quỹ; cuối ngày đối chiếuvới sổ quỹ của kế toán vốn bằng tiền
1.2 Tại các xí nghiệp thành viên:
- Tại kho: Thủ kho phải tuân thủ theo chế độ ghi chép của công ty, căn cứvào phiếu nhập kho, xuất kho để ghi thẻ kho; cuối tháng lập báo cáo nhập, xuất,tồn và chuyển lên phòng kế toán công ty Ngoài ra, các nhân viên này phải chấphành nội quy hạch toán nội bộ của công ty về cấp phát nguyên vật liệu theo địnhmức trước khi nhập kho và xuất kho
- Nhân viên thống kê tại xí nghiệp có nhiệm vụ theo dõi từ khi nguyên vậtliệu đưa vào sản xuất đến khi giao thành phẩm cho công ty Cụ thể, nhân viênthống kê phải theo dõi:
+ Từng chủng loại nguyên vật liệu đưa vào sản xuất theo từng mặt hàng của
xí nghiệp
+ Số lượng bán thành phẩm, tình hình nhập, xuất kho thành phẩm và sốlượng sản phẩm hoàn thành để tính lương cho cán bộ công nhân viên
+ Số lượng bán thành phẩm cấp cho từng tổ sản xuất vào đầu ngày và sốlượng thành phẩm nhập vào cuối ngày
Trang 24Cuối tháng nhân viên thống kê xí nghiệp lập “Báo cáo nhập - xuất - tồn khonguyên vật liệu“ và “ áo cáo chế biến nguyên vật liệu”, “Báo cáo hànghoá“ chuyển lên phòng kế toán công ty cũng như căn cứ vào sản lượng thànhphẩm nhập kho, đơn giá gia công trên một đơn vị sản phẩm và tỷ giá hiện hànhlập “Bảng doanh thu chia lương“, gửi lên phòng kế toán công ty Nhân viên thống
kê phân xưởng còn phải lập các “Báo cáo thanh quyết toán hợp đồng“ ( như Báocáo tiết kiệm nguyên liệu ) và gửi lên cho công ty tính thưởng Công ty nhập lại sốnguyên vật liệu này với đơn giá nhập là 20% của 80% đơn giá thị trường Đồngthời kế toán cũng hạch toán phế liệu thu hồi nhập kho công ty, kế toán tínhthưởng 50% giá trị phế liệu thu hồi cho xí nghiệp
Ta có thể khái quát bộ máy kế toán tại Công ty may Thăng Long theo môhình sau:
Sơ đồ 4: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty may Thăng Long
và vốn
Kế toán tiền lương
Kế toán công nợ
KT tập hợp chi phí và tính giá
thành
Kế toán tiêu thụ
Thủ quỹ
Nhân viên thống kê của các xí nghiệp và phân xưởng
Trang 25Như vậy, bộ máy kế toán của Công ty may Thăng Long được tổ chức theomô hình tập trung Tất cả quá trình hạch toán và lên báo cáo đều được thực hiện ởtại phòng kế toán tài vụ trên công ty Tại phân xưởng, các nhân viên thống kê chỉthực hiện thu thập chứng từ, lập một số các báo cáo nhất định rồi chuyển lênphòng kế toán tài vụ trên công ty.
2 Chế độ kế toán áp dụng:
Trước đây, Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp nhà nước, trựcthuộc Tổng công ty dệt may Việt Nam Vì vậy, chế độ kế toán được áp dụng tạiCông ty là chế độ kế toán ban hành theo quyết định số: 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày
1 tháng 11 năm 1995 của Bộ tài chính Sau khi, thực hiện cổ phần hoá, Công tyvẫn áp dụng chế độ kế toán này
Hiện nay, công ty đang áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên tronghạch toán hàng tồn kho Nhờ đó, kế toán theo dõi phản ánh một cách thườngxuyên liên tục và có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn kho trên các sổ sách kếtoán Phương pháp tính giá hàng xuất kho là phương pháp bình quân cả kỳ dự trữ.Còn khấu hao tài sản cố định được thực hiện theo phương pháp tuyến tính Kếtoán chi tiết nguyên vật liệu được hạch toán theo phương pháp thẻ song song
Hệ thống tài khoản sử dụng trong công ty: Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sảnxuất kinh doanh, trình độ phân cấp quản lý kinh tế tài chính của công ty, hệ thốngtài khoản của công ty bao gồm hầu hết các tài khoản theo quyết định số1141/TC/QĐ/CĐKT và các tài khoản sửa đổi, bổ sung theo các thông tư hướngdẫn Nhưng do điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty không sử dụngmột số tài khoản khoản như TK 113, TK 121, TK 129, TK 139, TK 151, TK 159,
TK 221, TK 228, TK 229, TK 244, TK 344, TK 611
Trang 26Sơ đồ lưu chuyển phiếu thu
Phiếu thu
Kế toántrưởng
Ký duyệtphiếu thu
Thủ quỹ
Thu tiền, kýphiếu thu
Kế toán vốnbằng tiền
Ghi sổ, bảoquản, lưu trữ
Đối với phiếu chi:
- Người nhận tiền viết giấy đề nghị
- Kế toán vốn bằng tiền viết phiếu chi
- Kế toán trưởng ký duyệt
- Thủ trưởng đơn vị (giám đốc điều hành sản xuất) ký duyệt
- Thủ quỹ chi tiền, ký vào phiếu chi rồi chuyển cho kế toán vốn bằng tiền
- Kế toán vốn bằng tiền ghi sổ, bảo quản và lưu trữ
Sơ đồ lưu chuyển phiếu chi:
Người nhận tiền
Giấy đề nghị
Kế toán vốnbằng tiền
Phiếu chi
Kế toántrưởng
Kế toán vốnbằng tiền
Ghi sổ, bảoquản, lưu trữ
Trang 27- Người giao hàng đề nghị nhập kho sản phẩm, vật tư, hàng hoá.
- Ban kiểm nghiệm tiến hành kiểm nghiệm vật tư, sản phẩm, hàng hoá vềquy cách, số lượng, chất lượng và lập biên bản kiểm nghiệm vật tư, sản phẩm,hàng hoá
- Phòng cung ứng (phòng kho) lập phiếu nhập kho
- Phụ trách phòng cung ứng (phụ trách phòng kho) ký phiếu nhập kho
- Thủ kho nhập số hàng, ghi số thực nhập, ký vào phiếu nhập kho và ghi thẻkho rồi chuyển phiếu nhập kho cho kế toán vật tư
- Kế toán vật tư tiến hành kiểm tra, ghi đơn giá, tính thành tiền, ghi sổ vàlưu trữ
Sơ đồ lưu chuyển phiếu nhập kho:
Lập biênbản kiểmnghiệm
Cán bộphòng cungứng
Lập phiếunhập kho
Phụ tráchphòng cungứng
Ký phiếunhập kho
Thủ kho
Nhập kho
Kế toán vậttư
Ghi sổ, bảoquản, lưutrữ
Đối với phiếu xuất kho:
- Người có nhu cầu đề nghị xuất kho
- Thủ trưởng đơn vị (giám đốc điều hành sản xuất) và kế toán trưởng kýduyệt lệnh xuất
- Bộ phận cung ứng (Phòng kho) lập phiếu xuất kho rồi chuyển cho thủ kho
- Thủ kho căn cứ vào lệnh xuất kho tiến hành kiểm giao hàng xuất, ghi sốthực xuất và cùng với người nhận ký nhận, ghi thẻ kho rồi chuyển cho kế toán vậttư hay kế toán tiêu thụ
Trang 28- Kế toán vật tư (kế toán tiêu thụ) căn cứ vào phương pháp tính giá củaCông ty ghi đơn giá hàng xuất kho, định khoản và ghi sổ tổng hợp, đồng thời bảoquản lưu trữ phiếu xuất kho.
Sơ đồ lưu chuyển phiếu xuất kho
Lập phiếu xuấtkho
Thủ kho
Xuất kho, kýphiếu xuất kho
Kế toán vật tưhay kế toántiêu thụ
Ghi sổ, bảoquản, lưu trữ
Đối với hoá đơn GTGT:
- Người mua hàng đề nghị được mua hàng thông qua hợp đồng kinh tế đã
ký kết
- Phòng kinh doanh (phòng kế hoạch và đầu tư) lập hoá đơn GTGT
- Kế toán trưởng và thủ trưởng (giám đốc điều hành sản xuất) ký hoá đơn
- Kế toán vốn bằng tiền lập phiếu thu rồi chuyển cho thủ quỹ
- Thủ quỹ thu tiền, ký rồi chuyển hoá đơn cho kế toán
- Thủ kho căn cứ vào hoá đơn xuất hàng, ghi phiếu xuất kho, thẻ kho rồichuyển hoá đơn cho kế toán
- Kế toán tiêu thụ định khoản, ghi giá vốn, doanh thu, bảo quản và lưu trữhoá đơn
Trong thực tế, công ty thường bán hàng với một số lượng lớn, tiền hàng chưathu ngay nên hai bước 4 và 5 có thể được thực hiện sau cùng
Trang 29Sơ đồ lưu chuyển hoá đơn GTGT
Lập hoá
đơnGTGT
Kế toántrưởng,giám đốc
Ký duyệt
Kế toánvốn bằngtiền
Viếtphiếu thu
Thủ quỹ
Thu tiền,ký
Thủ kho
Xuất kho,lập phiếuxuất kho
Kế toántiêu thụ
Ghi sổ,bảo quản,lưu trữ
Hiện nay, Công ty may Thăng Long đang áp dụng hình thức kế toán nhật chứng từ Đặc điểm của hình thức kế toán nhật ký chứng từ là các hoạt động kinh
ký-tế tài chính đã được phản ánh ở chứng từ gốc đều được phân loại để ghi vào các sổnhật ký chứng từ Cuối tháng tổng hợp số liệu ở sổ nhật ký chứng từ để ghi vào sổcái các tài khoản Công ty tổ chức hệ thống sổ sách theo nguyên tắc tập hợp và hệthống hoá các nghiệp vụ phát sinh theo một vế của tài khoản, kết hợp với việcphân tích các nghiệp vụ kinh tế đó theo các tài khoản đối ứng (tổ chức nhật ký
Trang 30chứng từ theo bên Có và tổ chức phân tích chi tiết theo bên Nợ của các tài khoản
đối ứng) Công ty còn áp dụng phương pháp kê khai thường xuyên trong hạchtoán hàng tồn kho Nhờ đó kế toán theo dõi, phản ánh một cách thường xuyên,liên tục, có hệ thống tình hình nhập xuất tồn kho trên sổ sách kế toán và có thểxác định vào bất kỳ thời điểm nào Phương pháp tính giá hàng xuất kho là phươngpháp bình quân cả kỳ dự trữ, kế toán khấu hao tài sản cố định theo phương phápkhấu hao tuyến tính, kế toán chi tiết nguyên vật liệu và tài sản cố định là phươngpháp ghi thẻ song song
Trình tự ghi sổ kế toán của công ty được thể hiện theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 5: Trình tự ghi sổ kế toán của Công ty may Thăng Long
Ghi chú:
Chứng từ gốc và cácbảng phân bổ
Bảng
kê
Nhật kýchứng từ
Thẻ và sổ kếtoán chi tiết
SổCái
Bảng tổnghợp chi tiết
Báo cáo tài chính
Trang 31Ghi hàng ngàyGhi cuối tháng
Đối chiếu, kiểm traNhư vậy, ta có thể thấy Công ty may Thăng Long là một doanh nghiệp cóquy mô lớn, có đủ nhân viên kế toán có trình độ nên có thể áp dụng hình thức sổ
kế toán theo hình thức nhật ký chứng từ Ưu điểm của hình thức này chính là nógiúp tạo lên một hệ thống sổ có tính kiểm soát chặt chẽ Tuy nhiên, bên cạnh đó,hình thức này vẫn còn có một số nhược điểm như số lượng sổ sách có quy mô lớn,tính phức tạp cao, chỉ phù hợp với kế toán thủ công, không phù hợp với kế toánmáy Đây cũng chính là một vấn đề công ty cần xem xét trong quá trình đưa kếtoán máy vào sử dụng
II Thực trạng hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty May Thăng Long :
1 Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Nguyên vật liệu là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành sảnphẩm Trong Công ty may Thăng Long, chi phí nguyên vật liệu được hạch toántheo từng đối tượng sử dụng, từng loại vải, xốp, bông và áp dụng hình thức kếtoán tập hợp chi phí nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên
ở Công ty may Thăng Long nguyên vật liệu được hạch toán theo phươngpháp thẻ song song Phương pháp hạch toán chi tiết nguyên vật liệu ở công ty
được thể hiện qua sơ đồ sau:
Phiếu nhập kho
Phiếu xuất kho
Sổ kế toán chi tiết vật tư
Thẻ kho
Trang 32Về nguyên vật liệu chính:
Đối với hàng gia công: Hàng ngày, khi xuất kho vật liệu, kế toán chỉ theodõi số lượng Cuối tháng kế toán mới tiến hành phân bổ chi phí vận chuyển chotoàn bộ số vật liệu xuất kho trong tháng, không phân bổ chi phí vận chuyển saumỗi lần xuất kho
Đối với hàng mua: Hàng ngày, khi xuất kho vật liệu, kế toán chỉ theo dõi sốlượng, không xác định giá trị vật liệu xuất kho Cuối kỳ, tổng hợp giá trị thực tếvật liệu nhập kho trong kỳ và tồn đầu kỳ để tính đơn giá thực tế bình quân củatừng loại vật liệu
Về nguyên vật liệu phụ:
Trên các phiếu xuất kho, vật liệu phụ được ghi rõ xuất cho đối tượng sử dụngnào Đến cuối tháng, kế toán vật tư tổng hợp các phiếu xuất kho cho từng xínghiệp Căn cứ vào phiếu xuất kho đã tổng hợp kế toán vật tư lập bảng tổng hợpvật liệu xuất cho từng xí nghiệp
Phương pháp tính giá vật liệu chính xuất kho được tính theo giá bình quângia quyền Việc tính giá vật liệu chỉ được tiến hành với nguyên vật liệu do công ty
tự mua
Từ bảng tổng hợp vật liệu chính, vật liệu phụ xuất kho cho từng xí nghiệp, kếtoán vật tư tiến hành phân bổ vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ, dụng cụ chotừng mặt hàng để thực hiện việc tính giá thành sản phẩm
Căn cứ vào giá thực tế vật liệu xuất kho, kế toán ghi:
Nợ TK 621 (chi tiết cho từng xí nghiệp)
Có TK 152 (1521, 1522)
Tổng chi tập hợp chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ kế toán kết chuyển vàotài khoản 154:
Trang 33Nợ TK 154 (chi tiết cho từng xí nghiệp)
Có TK 621
Phế liệu thu hồi: Nhân viên thống kê sẽ theo dõi về số lượng, sau đó kế toánvật tư căn cứ vào số lượng phế liệu thu hồi và giá phế liệu bán trên thị trường, tậphợp chi phí sản xuất phế liệu thu hồi
2 Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp:
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán tiền lương và các khoảntrích theo lương sử dụng TK 334 - Phải trả công nhân viên, TK 338 - Phải trả,phải nộp khác, và TK 622 - mở chi tiết cho từng phân xưởng, xí nghiệp
Hiện nay, công ty đang áp dụng hai hình thức trả lương sau:
Chế độ trả lương theo sản phẩm: áp dụng đối với các bộ phận lao động trựctiếp như công nhân sản xuất
Chế độ trả lương theo thời gian: áp dụng đối với các bộ phận lao động giántiếp ở các xí nghiệp và bộ phận hành chính ở công ty
Các nhân viên thống kê ở các phân xưởng có nhiệm vụ lập và theo dõi cácbảng chấm công, theo dõi sản xuất ở từng tổ Định kỳ, các cán bộ tiền lươngxuống phân xưởng và các tổ sản xuất để hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép ban
đầu, thu thập số liệu để cuối tháng tính lương
Tiền lương phải trả cho mỗi công nhân sản xuất trong tháng được xác địnhcăn cứ vào số lượng sản phẩm mà hộ làm ra và đơn giá lương cho mỗi công việc ởmỗi bước công nghệ
Sau khi tính lương và các khoản phụ cấp, nhân viên thống kê tiến thành lậpbảng thanh toán tiền lương cho công nhân các tổ, các xí nghiệp Kế toán tiềnlương tiến hành lập bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương theo
đúng quy định của Bộ tài chính
Kế toán ghi:
Nợ TK 622 (chi tiết theo các xí nghiệp)
Trang 34Có TK 334
Có TK 338
Sau đó kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào chi phí sản xuất:
Nợ TK 154 (chi tiết cho từng xí nghiệp)
Có TK 622
3 Hạch toán chi phí sản xuất chung:
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ, quản lý sản xuấttrong phạm vi phân xưởng, tổ, đội sản xuất Để hạch toán chi phí sản xuất chung,
kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sử dụng TK 627 Chi phí sản xuất chungtrong công ty bao gồm:
TK 6271 - Tiền lương nhân viên phân xưởng: gồm tiền lương và các khoảntrích theo lương cho bộ phận nhân viên phân xưởng như giám đốc xí nghiệp, nhânviên thống kê phân xưởng
Trang 35TK 6274 - Chi phí khấu hao tài sản cố định bao gồm khấu hao cơ bản củatoàn bộ TSCĐ phục vụ cho sản xuất ở các xí nghiệp như nhà xưởng, máy móc,thiết bị, phương tiện truyền dẫn Đây là phần chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trongtổng chi phí sản xuất chung.
4 Hạch toán chi phí thuê gia công:
Công ty may Thăng Long không chỉ nhận may gia công cho khách hàng
mà đôi khi do yêu cầu sản xuất phức tạp của sản phẩm hoặc để tiết kiệm thời gian
đảm bảo đúng tiến độ sản xuất, công ty còn có thể đi thuê đơn vị khác gia côngmột vài chi tiết hoặc cả sản phẩm hoàn chỉnh Lúc này kế toán phải hạch toán tài
Trang 36khoản chi phí thuê gia công vào giá thành Xét về bản chất ta có thể coi khoản này
là một khoản chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc chi phí sản xuất chung, nhưng doyêu cầu quản lý hạch toán cũng như do phương pháp tính giá thành nên doanhnghiệp áp dụng tập hợp chi phí này riêng và chi tiết cho từng mã hàng có chi phíthuê gia công, khi sản phẩm hoàn thành khoản chi phí này sẽ được tập hợp trựctiếp vào giá thành sản phẩm
5 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo các đối
tượng:
* Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Hàng gia công ở công ty may Thăng Long có đặc điểm là chi phí nguyênvật liệu trực tiếp chiếm tỉ trọng rất nhỏ so với giá thành nên toàn bộ nguyên vậtliệu kể cả bao bì đều do khách hàng ( bên đặt hàng ) cung cấp theo điều kiện giáCIF tại cảng Hải Phòng hoặc theo điều kiện hợp đồng gia công Số lượng nguyênvật liệu chuyển đến cho công ty được tính trên cơ sở sản lượng sản phẩm đặt hàng
và định mức tiêu hao cuả từng loại nguyên vật liệu cho từng sản phẩm Định mứctiêu hao này được công ty và khách hàng cùng nghiên cứu, xây dựng phù hợp vớimức tiêu hao thực tế và dựa trên điều kiện cụ thể của mỗi bên
Trang 37Biểu số 1:
Đơn vị: Công ty Phiếu xuất kho Mẫu số 02-VT
May Thăng Long Ngày 5 tháng 11 năm 2003 QĐ số 1141 TC/CĐKT
2 000 1500 10
1 910
1 492 10
6 000
4 600 4700
Thủ trưởng đơn vị Phụ trách Người nhận Thủ kho Kế toán trưởng
Ngoài nguyên vật liệu tính toán theo định mức trên khách hàng còn cótrách nhiệm chuyển cho công ty 3% số nguyên liệu để bù vào số hao hụt kémphẩm chất trong quá trình sản xuất sản phẩm và vận chuyển nguyên vật liệu.Trong loại hình sản xuất gia công kế toán chỉ quản lý về mặt số lượng của lượngnguyên vật liệu nhập kho nói trên theo từng hợp đồng gia công và khi có lệnh sảnxuất thì cung cấp nguyên vật liệu cho xí nghiệp Kế toán không hạch toán giá vốn
Trang 38thực tế của bản thân nguyên vật liệu dùng cho sản xuất mà chỉ hạch toán phần chiphí vận chuyển số nguyên vật liệu đó từ cảng về kho vào khoản mục chi phínguyên vật liệu trực tiếp để tính giá thành sản phẩm trong kỳ.
Đối với các mặt hàg tự sản xuất thì quá trình hạch toán vẫn bình thường, kếtoán theo dõi cả về mặt lượng và giá trị thực tế của nguyên vật liệu xuất dùng theo
đơn giá xuất kho bình quân cả kỳ dự trữ Với cách tính phân bổ như sau:
Chi phí vật liệu Tổng chi phí Tỷ lệ hay
phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của tất cả các đối tượng
Phương pháp tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể khái quát như sau:
- Đối với nguyên vật liệu chính: vải ngoài, vải lót
Mặc dù một loại vải được dùng để gia công nhiều mã hàng khác nhau và mỗi mãhàng lại được sản xuất từ nhiều loại vải khác nhau kích cỡ khác nhau nhưng sảnphẩm sản xuất ra phải đáp ứng yêu cầu của khách hàng và lại phải tiết kiệm đượcnhiều loại vật liệu nhất Bởi vậy công ty đã áp dụng phương pháp hạch toán bàncắt trên ( phiếu theo dõi bàn cắt ) nhằm phản ánh chính xác số lượng từng loại vảitiêu hao thực tế cho mỗi mã hàng liên quan Căn cứ vào phiếu xuất kho và địnhmức kỹ thuật tiêu hao do phòng kỹ thuật cung cấp, nhân viên hạch toán ở xínghiệp tính toán và lập ( phiếu theo dõi bàn cắt ) ghi rõ số lượng từng loại vải tiêuhao thực tế của mỗi mã hàng, số lượng thừa hoặc thiếu so với hạch toán bàn cắt