Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, qu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
PHAN ĐỨC TÙNG
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Thái Nguyên - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-
PHAN ĐỨC TÙNG
NGHIÊN CỨU VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ NÔNG THÔN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HỘ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐỒNG HỶ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60.62.01.16
LUẬN VĂN THẠC SỸ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đinh Ngọc Lan
CHỮ KÝ KHOA CHUYÊN MÔN
CHỮ KÝ GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Thái Nguyên - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa sử dụng để bảo vệ luận văn của một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên,22 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phan Đức Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Đề tài, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ rất nhiệt tình và có hiệu quả của Khoa sau đại học – Trường đại học Nông lâm Thái nguyên và Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Đảng ủy và Ủy ban nhân dân các xã và đông đảo bà con nhân dân của huyện Đồng Hỷ
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn – Phòng quản lý đào tạo sau đại học, Trường Đại học Nông lâm Thái nguyên, đặc biệt là thầy P.GS-T.S Đinh Ngọc Lan, người đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ chúng tôi trong việc hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, các ban của Huyện ủy, các phòng chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ; xin cản
ơn các Đảng ủy, Ủy ban nhân dân các xã và bà con nhân dân đã giúp đỡ, cộng tác cùng cúng tôi để Đề tài được thực hiện kịp tiến độ theo kế hoạch
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Phan Đức Tùng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục luận văn 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ KHOA HỌC 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.1 Giới tính và Giới 5
1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới 5
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới 5
1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới 6
1.1.1.4 Vai trò của giới 7
1.1.1.5 Quan điểm về giới 8
1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ 8
1.2.1 Một số khái niệm 8
1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội 9
1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn 11
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế- xã hội nông hộ 11
Trang 61.3.1 Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới 13
1.3.2 Phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế- xã hội nông hộ 15
1.3.3 Chủ trương, chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới và nhận thức giới 17
1.3.4 Vai trò phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình 18
1.4 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn 20
1.4.1 Về chuyên môn kỹ thuật 20
1.4.2 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định 20
CHƯƠNG 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Nội dung nghiên cứu 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu 25
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 25
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 26
2.2.3.1 Số liệu thứ cấp 26
2.2.3.2 Số liệu sơ cấp 26
2.2.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 27
2.2.4.1 Phương pháp phân tổ thống kê 27
2.2.4.2 Phương pháp thống kê so sánh 27
2.2.4.3 Phương pháp phân tích giới 27
CHƯƠNG 3 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 28
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
3.1.1.1 Vị trí địa lý 28
3.1.1.2 Địa hình của huyện 28
3.1.1.3 Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện năm 2013 29
3.1.1.4 Thời tiết khí hậu thủy văn 31
3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 32
3.2.1 Dân số và lao động 32
3.2.2 Giá trị sản xuất nông nghiệp 34
3.2.3 Cơ sở hạ tầng 34
3.3 Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 36
Trang 73.3.1 Những thuận lợi 36
3.3.2 Khó khăn 36
3.4 Phát triển kinh tế của huyện 37
3.5 Thực trạng vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế Huyện Đồng Hỷ 39
3.5.1.Khái quát về thực trạng vai trò của phụ nữ trên địa bàn Huyện 39
3.5.1.1 Phân loại phụ nữ trên 18 tuổi khu vực Huyện 39
3.5.1.2 Trình độ của phụ nữ trong độ tuổi lao động 40
3.5.1.3 Lao động nữ nông thôn Huyện Đồng Hỷ 41
3.6 Thực trạng vai trò phụ nữ trong các hộ nghiên cứu 41
3.6.1 Vai trò trong tham gia công tác xã hội 41
3.6.2 Vai trò của phụ nữ trong quản lý và điều hành sản xuất 43
3.6.3 Vai trò của phụ nữ trong hoạt động sản xuất tạo thu nhập 44
3.6.4 Vai trò của phụ nữ trong tiếp cận khoa học kỹ thuật 53
3.6.5 Vai trò trong kiểm soát các nguồn lực của hộ 55
3.6.6 Vai trò của việc tiếp cận nâng cao trình độ 58
3.6.7 Vai trò trong công tác chăm sóc sức khoẻ gia đình 59
3.7 Một số yếu tố thuận lợi và cản trở việc nâng cao vai trò phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế 60
3.7.1 Yếu tố thuận lợi 60
3.7.2 Yếu tố cản trở 62
3.8 Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ 64
3.8.1 Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ các cấp trong thực hiện bình đẳng giới 64
3.8.2 Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về giới trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn 65
3.8.3 Nâng cao trình độ mọi mặt cho phụ nữ kết hợp với giáo dục truyền thống, phẩm chất đạo đức trong đông đảo phụ nữ 65
3.8.4 Lồng ghép giới vào các chính sách, chương trình hành động quốc gia, các kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành 66
3.8.5 Tăng khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực 67
3.8.6 Đưa các chỉ tiêu về giới, các công cụ giám sát và đánh giá có phân tích giới vào chính sách, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển của đất nước 67
Trang 83.8.7 Thực hiện cách thức làm việc mang tính nhạy cảm giới và đạt được bình đẳng giới trong các hoạt động nghiên cứu, cung cấp dịch vụ công tác đào tạo 68 3.8.8 Tăng cường tạo quyền và khả năng tiếp cận của phụ nữ đối với quá trình ra quyết định ở các cơ quan, đơn vị 69 3.8.9 Giải pháp hoạt động khuyến nông và thông tin nông nghiệp đối với phụ nữ nông thôn 70
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO 74 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra 26
Bảng 3.1 Diện tích đất phân theo loại đất của huyện Đồng Hỷ năm 2013 30
Bảng 3.2: Khí hậu, thời tiết khu vực Huyện Đồng Hỷ năm 2013 31
Bảng 3.3 Tình hình dân số huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013 33
Bảng 3.4: Giá trị SX của ngành nông nghiệp của Huyện Đồng Hỷgiai đoạn 2011-2013 34
Bảng 3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của huyện từ năm 2011-2013 37
Bảng 3.6 Số lượng gia súc, gia cầm của Huyện từ năm 2011 đến 2013 38
Bảng 3.7 Diện tích các loại cây trồng của Huyện từ năm 2011 đến 2013 38
Bảng 3.8 Phân loại phụ nữ trên 18 tuổi khu vực thành Huyện năm 2013 39
Bảng 3.9: Số lượng phụ nữ tham gia các lớp đào tạo, tập huấn năm 2013 40
Bảng 3.10 Phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể tại các xã vùng nghiên cứu 42
Bảng 3.11 Tỷ lệ nữ tham gia hoạt động cộng đồng ở các điểm nghiên cứu 43
Bảng 3.12 Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia quản lý hộ 43
Bảng 3.13: Phân công lao động sản xuất nông nghiệp trong các hộ ở các điểm nghiên cứu năm 2014 46
Bảng 3.14: Phân công lao động trong hoạt động khác ở 3 xã vùng nghiên cứu 48
Bảng 3.15: Tình hình sử dụng quỹ thời gian của phụ nữ vùng nghiên cứu năm 2013 52
Bảng 3.16: Nguồn tiếp cận thông tin của phụ nữ trong sản xuất nông nghiệp 54
Bảng 3.17 Sự hiểu biết kỹ thuật của phụ nữ và nam giới qua lớp tập huấn về lâm nghiệp 55 Bảng 3.18: Đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 56
Bảng 3.19: Tình hình quản lý tài chính của hộ tại vùng nghiên cứu 57
Bảng 3.20: Tỷ lệ người ốm trong các hộ được chăm sóc,chữa trị ở các vùng nghiên cứu 59 Bảng 3.21 Mối liên hệ giữa vai trò giới, tình trạng bất bình đẳng giới và công cuộc phát triển 63
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1: Trình độ văn hóa của lao động nữ tự do ở khu vực nông thôn Huyện Đồng Hỷ 41 Biểu đồ 3.2: Trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi ở vùng nghiên cứu 58 Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ các hộ sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ có vai trò quan trọng trong đội ngũ đông đảo những người lao động trong xã hội Bằng lao động sáng tạo của mình, họ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người Phụ nữ luôn thể hiện vai trò của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, cụ thể là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người Không chỉ sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra con người để duy trì và phát triển
xã hội Trong lĩnh vực hoạt động tinh thần, phụ nữ có vai trò sáng tạo nền văn hoá nhân loại Nền văn hoá dân gian của bất cứ nơi nào, dân tộc nào cũng có sự tham gia bằng nhiều hình thức của đông đảo phụ nữ
Ở Việt Nam, phụ nữ chiếm trên 50% dân số cả nước, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng và càng ngày càng thể hiện vị trí và vai trò của mình trong xã hội Trong suốt chặng đường đấu tranh dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, lịch sử Việt Nam đã ghi nhận những cống hiến to lớn của phụ nữ Trong công cuộc đổi mới đất nước của Đảng,
họ luôn giữ gìn, phát huy và nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, năng động, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn để vươn lên trong học tập, lao động, phấn đấu đạt những thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực Trong gia đình, mỗi phụ nữ vừa là người con dâu, người vợ, người mẹ, người thầy của các con, người thầy thuốc của gia đình
Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm phát huy vai trò của phụ nữ trong
xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng… Ở khu vực nông thôn,cùng với việc tích cực tham gia vào quá trình phát triển kinh tế gia đình, mỗi phụ nữ còn tham gia nhiều hoạt động xã hội, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, ổn định
an ninh quốc phòng địa phương làm thay đổi diện mạo khu vực nông thôn Việt Nam Huyện Đồng Hỷ là một huyện miền núi thuộc tỉnh Thái Nguyên, dân số khá đông đúc Trong đó thì phụ nữ chiếm trên 50% tổng số dân và lao động là nữ chiếm
Trang 12thường, ngày ngày làm việc tần tảo sớm hôm chăm sóc cho gia đình chăm lo cho con cái chịu khó tham gia vào chăm sóc gia đình Thế nhưng vai trò cửa người phụ
nữ đến nay vẫn chưa được khẳng định rõ rệt họ vẫn bị coi là người phụ nữ lấy chồng về chỉ biết đến chăm sóc chồng con làm việc gia đình đồng áng, trên lĩnh vực kinh tế chính trị thì tiếng nói của họ vẫn chưa được chấp nhận, họ phải hi sinh tất cả thời gian của họ phục vụ cho người chồng người con trong gia đình lam lũ chịu đựng
Qua quá trình công tác và nghiên cứu trong lĩnh vực liên quan đến phụ nữ, nhiều câu hỏi được đặt ra cho bản thân, cho các cấp hội phụ nữ và chúng ta: Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay như thế nào? Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn hiện nay ra sao? Giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn trong quá trình nâng cao năng lực cho phụ nữ? Vì vậy, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ nông thôn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên trong việc phát triển kinh tế được đặt ra như một yêu cầu cấp bách, từ đó
đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng này, qua đó thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp nông thôn theo xu hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá những mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã đề ra.Xuất phát từ tính cấp thiết nêu trên và sự nhận thức sâu sắc về những tiềm năng to lớn của phụ nữ, những cản trở sự tiến bộ của phụ nữ trong quá trình
đổi mới và phát triển kinh tế nông thôn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên
cứu vai trò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
2 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng hoạt động và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ nông thôn, đưa ra giải pháp và kiến nghị nhằm tạo cơ hội cho phụ nữ phát huy tiềm năng về mọi mặt để phát triển kinh tế, tăng thu nhập, cải thiện đời sống gia đình, góp phần vào sự phát triển kinh tế- xã hội huyện Đồng Hỷ
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn miền núi
Trang 13- Phân tích và đánh giá được thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại huyện Đồng Hỷ
- Tìm hiểu được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn
- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn miền núi trên địa bàn Đồng Hỷ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian nghiên cứu: tổng quan về vai trò của phụ nữ được phân tích thông qua số liệu của các ban, ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị, kinh tế- xã hội trong thời gian gần đây, chủ yếu từ năm 2009 đến năm 2013 Các số liệu điều tra thực hiện trong năm 2013
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước thì vai trò của người phụ nữ trong gia đình cũng có những chuyển biến rõ rệt và được quan tâm đặc biệt Nếu như trước đây người phụ nữ chỉ có biết nội trợ, nuôi dạy con cái, hầu
hạ chồng con thì ngày nay phụ nữ đã tích cực tham gia vào các hoạt động của xã hội Đề tài là công trình khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực, là một kênh thông tin để Ban vì sự tiến bộ của phụ nữ huyện tham mưu, giúp Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên Xây dựng giải pháp thực hiện chương trình hành động của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ
Trang 14trong phát triển kinh tế, góp phần thực hiện hiệu quả Đề án phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ 5 năm giai đoạn 2011 - 2015
5 Bố cục luận văn
Luận văn gồm 2 phần và 3 chương
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở khoa học
Chương 2: Tổng quan tài liệu
Chương 3 Kết quả và thảo luận
Phần kết luận và kiến nghị
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC 1.1 Cơ sở khoa học
1.1.1 Giới tính và Giới
1.1.1.1 Khái niệm Giới tính và Giới
* Giới tính: là một thuật ngữ được các ngành khoa học xã hội và các nhà sinh
học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới tính: nam giới và nữ giới [ThS, Trương Quang Hoàng, năm 2003,[1]]
* Giới: Giới trước hết không phải là phụ nữ Giới liên hệ đến vai trò của nam
và nữ do xã hội hoặc do một nền văn hóa xác lập nên Giới có thể khác nhau giữa nơi này và nơi khác, giữa nền văn hóa này so với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian [ThS, Trương Quang Hoàng, năm 2003,[1]]
Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ Giới đề cập đến vấn đề phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể [ThS, Trương Quang Hoàng, năm 2003,[1]]
Giới là yếu tố luôn biến đổi cũng như tương quan về địa vị trong xã hội của
nữ giới và nam giới, không phải là hiện tượng bất biến mà liên tục thay đổi Nó phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể "Giới là sản phẩm của xã hội,
có tính xã hội, dùng để phân biệt sự khác nhau trong quan hệ nam và nữ Đây là cơ
sở để nghiên cứu sự cân bằng về giới và đảm bảo công bằng trong xã hội
1.1.1.2 Đặc điểm, nguồn gốc và sự khác biệt về giới
Trang 16- Trong gia đình, bắt đầu từ khi sinh ra, đứa trẻ được đối xử tuỳ theo nó là trai hay gái Đó là sự khác nhau về đồ chơi, quần áo, tình cảm của ông bà, bố mẹ, anh chị Đứa trẻ được dạy dỗ và điều chỉnh hành vi của chúng theo giới tính của mình
- Trong nhà trường, các thầy cô giáo cũng định hướng theo sự khác biệt về giới cho học sinh Học sinh nam được hướng theo các ngành kỹ thuật, điện tử, các ngành cần có thể lực tốt Học sinh nữ được hướng theo các ngành như may, thêu, trang điểm, các ngành cần sự khéo léo, tỷ mỷ
* Sự khác biệt về giới:
1 Phụ nữ được xem là phái yếu, vì họ sống thiên hơn về tình cảm, họ là thành phần quan trọng tạo nên sự yên ấm trong gia đình Thiên chức của phụ nữ là làm vợ, làm mẹ, nên họ gắn bó với con cái, gia đình hơn nam giới và cũng từ đấy mối quan tâm của họ cũng có phần khác nam giới [NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, [6]]
Nam giới được coi là phái mạnh, là trụ cột gia đình Họ cứng rắn hơn về tình cảm, mạnh bạo và năng động hơn trong công việc Đặc trưng này cho phép họ dồn hết tâm trí vào lao động sản xuất, vào công việc xã hội, ít bị ràng buộc bởi con cái
và gia đình Chính điều này đã làm tăng thêm khoảng cách khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong xã hội Hơn nữa, nam giới và nữ giới lại có xuất phát điểm không giống nhau để tiếp cận cái mới, họ có những thuận lợi, khó khăn với tính chất và mức độ khác nhau để tham gia vào các chương trình kinh tế, từ góc độ nhận thức, nắm bắt các thông tin xã hội Trong nền kinh tế hội nhập quốc tế, từ điều kiện và cơ hội được học tập, tiếp cận việc làm và làm việc, từ vị trí trong gia đình, ngoài xã hội khác nhau, từ tác động của định kiến xã hội, các hệ tư tưởng, phong tục tập quán đối với mỗi giới cũng khác nhau [NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2006, [6]]
1.1.1.3 Nhu cầu, lợi ích giới và bình đẳng giới
* Nhu cầu giới (còn gọi là nhu cầu thực tế): là những nhu cầu xuất phát từ công việc và hoạt động hiện tại của phụ nữ và nam giới Nếu những nhu cầu này được đáp ứng thì sẽ giúp cho họ làm tốt vai trò sẵn có của mình Nhu cầu giới thực
tế là những nhu cầu được hình thành từ những điều kiện cụ thể mà phụ nữ trải qua Chúng nảy sinh từ những vị trí của họ trong phân công lao động theo giới, cùng với
Trang 17lợi ích giới thực tế của họ là sự tồn tại của con người Khác với nhu cầu chiến lược, chúng được chính phụ nữ đưa ra từ vị trí của họ chứ không phải qua can thiệp từ bên ngoài Vì vậy nhu cầu giới thực tế thường là sự hưởng ứng đối với sự cần thiết được nhận thức ngay do phụ nữ xác định trong hoàn cảnh cụ thể
*Lợi ích giới (còn gọi là nhu cầu chiến lược): là những nhu cầu của phụ
nữ và nam giới xuất phát từ sự chênh lệch về địa vị xã hội của họ Những lợi ích này khi được đáp ứng sẽ thay đổi vị thế của phụ nữ và nam giới theo hướng bình đẳng
* Bình đẳng giới: nam giới và nữ giới được coi trọng như nhau, cùng được công nhận và có vị thế bình đẳng
Nam giới và phụ nữ được bình đẳng về:
- Các điều kiện để phát huy đầy đủ tiềm năng
- Các cơ hội để tham gia đóng góp, hưởng lợi trong quá trình phát triển
- Quyền tự do và chất lượng cuộc sống
1.1.1.4 Vai trò của giới
- Vai trò sản xuất: là những hoạt động do phụ nữ và nam giới thực hiện để làm ra của cải vật chất hoặc tinh thần đem lại thu nhập hoặc để tự tiêu dùng Ví dụ: trồng lúa, nuôi gà, dạy học, …
- Vai trò tái sản xuất (còn gọi là công việc gia đình): Bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…vai trò này hầu như của người phụ nữ
- Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng Những hoạt động tự nguyện mang lại phúc lợi cho cộng đồng như: dọn đường sạch sẽ, bảo vệ nguồn nước sạch, hoạt động từ thiện,…Hoạt động lãnh đạo ra quyết định như: tham gia cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo đoàn thể
Trang 18Tuy phụ nữ và nam giới thực hiện ba vai trò, xong lại được phân công lao động khác nhau Phụ nữ thường làm những việc đơn giản, ít kỹ thuật nên thu nhập thấp và giá trị công việc bị đánh giá thấp
Phân công lao động theo giới truyền thống đã tạo ra bất bình đẳng giới, hạn chế sự phát huy tiềm năng của phụ nữ và ảnh hưởng tới sự tham gia của phụ nữ vào quá trình phát triển của đất nước và xây dựng hạnh phúc gia đình Vì vậy, một trong những yếu tố tạo nên bình đẳng giới là thay đổi phân công lao động theo giới truyền thống
1.1.1.5 Quan điểm về giới
Quan điểm giới khẳng định và đánh giá cao vai trò của người phụ nữ Quan điểm này cho rằng để đạt đến bình đẳng nam nữ cần thay đổi cơ chế phân công lao động hiện đang quá nhấn mạnh đến mức khác biệt giữa phụ nữ và nam giới (Bùi Thị Hồng Vân, 2002)
Vào những năm 1970 người ta đã tìm cách đưa các vấn đề của phụ nữ vào các chính sách phát triển nhưng nhìn chung, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách đã không thấy hết được vai trò kinh tế to lớn của phụ nữ Nhà kinh tế
người Đan Mạch là Ester Boserup với cuốn “Vai trò của người phụ nữ trong phát
triển kinh tế” (1970) được coi là người đầu tiên đặt lại vấn đề về cách nhìn nhận vai
trò của người phụ nữ Điểm hạn chế của cách tiếp cận này là coi phụ nữ như một nhóm đặc thù và những giải pháp được đưa ra cũng là những giải pháp đặc thù (Bùi Thị Hồng Vân, 2002, [4] )
1.2 Vị trí, vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
1.2.1 Một số khái niệm
* Vai trò: là một tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được
gán cho một địa vị cụ thể mà địa vị là một sự xác định vị trí xã hội trong một cơ cấu
xã hội [Đỗ Văn Viện - Đỗ Văn Tiến,[5]]
* Phát triển: là quá trình thay đổi toàn diện nền kinh tế, bao gồm sự tăng
thêm về quy mô sản lượng, cải thiện về cơ cấu, hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống [8]
Trang 19* Phát triển kinh tế: là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế
Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống (http://vi.wikipedia.org)[11]
* Xã hội: Xã hội là một tập thể hay một nhóm những người được phân biệt
với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hóa (http://vi.wikipedia.org)[12]
* Phát triển xã hội: là sự biến đổi xã hội về mặt chất lượng bao gồm tăng
trưởng kinh tế, đẩy mạnh giáo dục, y tế về số lượng cũng như chất lượng và các chỉ
số về cơ sở hạ tầng, các dịch vụ và có sự biến đổi theo hướng tiến bộ hơn, đẹp hơn, tốt hơn.[4]
.* Hộ: là một nhóm người cùng huyết tộc hay không cùng huyết tộc, họ cùng
sống chung hay không cùng sống chung dưới một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung.[Báo cáo của FAO & UNDP,
2002 [3]]
* Hộ nông dân: là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp, theo nghĩa rộng
hơn bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn [Báo cáo của FAO & UNDP, 2002 [3]]
* Kinh tế hộ nông dân: là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã
hội, trong đó các nguồn lực như đất đai, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống
là tùy thuộc vào chủ hộ, được nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển [Báo cáo của FAO & UNDP, 2002 [3]]
1.2.2 Vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Gia đình là một tế bào của xã hội và tồn tại cùng với sự tồn tại của xã hội Người phụ nữ là người thiết tha nhất với hạnh phúc gia đình, đóng vai trò rất quan trọng giữa gia đình và xã hội trong mọi thời đại Qua các chặng đường lịch sử loài người, vai trò người phụ nữ trong gia đình có những biến đổi rõ rệt (www.nguoicaotuoi.org)[13]
Phụ nữ vừa là người công dân, người lao động, vừa là người mẹ và người thầy đầu tiên của con người; Phụ nữ có vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình
Trang 20cần tạo điều kiện để phụ nữ kết hợp hài hòa giữa nghĩa vụ công dân và chức năng người mẹ trong việc xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc [7] Phụ nữ Việt Nam chiếm 50,8% tổng dân số, 50,6% lực lượng lao động và khoảng 30% phụ nữ làm chủ hộ gia đình Trên diễn đàn chính trị tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội (dẫn đầu các nước ASEAN) với 25,76% (nhiệm kỳ 2007-2011) Trong nhiều ngành như nông nghiệp, giáo dục, y tế, công nghiệp nhẹ, tài chính, văn hóa,
xã hội… phụ nữ cũng luôn chiếm ưu thế Tỷ lệ nữ được tiếp cận với dịch vụ y tế trên 85%, tỷ lệ phụ nữ dành thời gian để xem ti vi/ nghe đài là 96,6%, tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Đội ngũ trí thức và lao động kỹ thuật nữ ngày càng tăng lên, họ đang có mặt ở nhiều vị trí chính trị, kinh tế trọng yếu của đất nước Đây là một bước tiến đáng kể về bình đẳng giới, về tạo quyền năng cho phụ nữ trong xã hội Phụ nữ đã thực sự đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Theo kết quả của những công trình nghiên cứu trước cho biết: Phụ nữ là người tạo ra phần lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ [ThS, Trương Quang Hoàng, năm 2003,[1]] Tuy vậy, sự bất bình đẳng vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nước trên thế giới Đặc biệt là ở các vùng nông thôn, phụ
nữ bị hạn chế về mọi mặt, đời sống, điều kiện sống và làm việc khó khăn, địa vị trong xã hội thấp Trong số hơn 1,3 tỷ người trên thế giới ở trong tình trạng nghèo khổ thì có đến 70% là nữ Có ít nhất 1/2 triệu phụ nữ tử vong do các biến chứng về mang thai, sinh đẻ…
Theo báo cáo đánh giá thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam, 2004, tình trạng phổ biến là công việc lao động như làm nội trợ, chăm sóc con cái do phụ nữ đảm nhận tới 65%, có nơi cao đến 82%, còn nam giới chỉ chia sẻ công việc này, cao nhất
là 14% Theo Quyền Đình Hà và cộng sự (2013), ngoài việc đồng áng và chăn nuôi, thời gian dành cho nội trợ cũng chiếm 15,5% quỹ thời gian trong ngày tức 3,7 giờ/ngày cho công tác nội trợ trong gia đình, cao nhất tới 7giờ (29%) quỹ thời gian, thấp nhất 1giờ (4,1%) quỹ thời gian trong ngày
Trang 21Phụ nữ luôn là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của gia đình và xã hội Nghĩa vụ công dân và thiên chức làm vợ, làm mẹ của phụ nữ được thực hiện tốt là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước Ngày càng có nhiều phụ nữ thành đạt trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học, chính trị và xã hội Điều đó cho thấy phụ nữ ngày càng có vai trò quan trọng hơn trong các lĩnh vực của xã hội
1.2.3 Vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế nông thôn
Phụ nữ luôn là người đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất và tái sản xuất Sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã đem lại cho xã hội nguồn nhân lực, trí lực dồi dào và ngày càng phát triển Vai trò của phụ nữ trong sự phát triển kinh tế nông hộ nông thôn thể hiện như sau:
- Trong lao động sản xuất: Phụ nữ là người làm ra phần lớn lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho gia đình Đặc biệt các hộ nghèo sinh sống chủ yếu dựa vào kết
quả làm việc của phụ nữ
- Ngoài việc tham gia vào lao động sản xuất đóng góp thu nhập cho gia đình, phụ nữ còn đảm nhận chức năng người vợ, người mẹ Họ phải làm hầu hết các công việc nội trợ chăm sóc con cái, các công việc này rất quan trọng đối với sự tồn tại, phát triển của gia đình và xã hội
Như vậy, dù được thừa nhận hay không thừa nhận, thực tế cuộc sống và những gì phụ nữ làm đã khẳng định vai trò và vị trí của họ trong gia đình, trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội, trong bước tiến của nhân loại Phụ nữ cùng lúc phải thực hiện nhiều vai trò, cho nên họ cần được chia sẻ, thông cảm cả về hành động lẫn tinh thần, gia đình và xã hội cũng cần có những trợ giúp để họ thực hiện tốt hơn vai trò của mình
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội nông hộ
* Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam
Phụ nữ trước hết phải lo việc gia đình, con cái Dù làm bất kỳ công việc gì, thì việc nội trợ vẫn là trách nhiệm của họ, đây là một quan niệm ngự trị ở nước ta từ nhiều năm nay Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã kìm hãm tài
Trang 22năng sáng tạo của phụ nữ, hạn chế sự cống hiến của họ cho xã hội và cho gia đình Việc mang thai, sinh đẻ, nuôi dưỡng con nhỏ và làm nội trợ gia đình đè nặng lên đôi vai người phụ nữ Đây là trở ngại lớn cho họ tập trung sức lực, thời gian, trí tuệ vào sản xuất và các hoạt động chính trị, xã hội Vì vậy nhiều chị em trở nên không mạnh bạo, không năng động sáng tạo bằng nam giới và gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội Phong tục tập quán là một nguyên nhân cơ bản cản trở phụ nữ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế.[31]
* Trình độ học vấn, chuyên môn, khoa học kỹ thuật của lao động nữ còn nhiều hạn chế
Ở nông thôn, đặc biệt là miền núi phương tiện thông tin nghe nhìn và sách báo đến với người dân còn rất nhiều hạn chế, do vậy việc lao động nữ tiếp cận và nắm bắt các thông tin kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt còn gặp nhiều khó khăn Ngoài thời gian lao động sản xuất, người phụ nữ dường như ít có thời gian dành cho nghỉ ngơi hoặc hưởng thụ văn hoá tinh thần, học hỏi nâng cao hiểu biết kiến thức xã hội mà họ phải giành phần lớn thời gian còn lại cho công việc gia đình Do vậy, phụ
nữ bị hạn chế về kỹ thuật chuyên môn và sự hiểu biết xã hội Phụ nữ ở độ tuổi lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 6%, còn ở nam giới tỷ lệ này là 10% [31] Theo thông báo của Liên hiệp quốc thì hiện nay trên thế giới còn hơn 840 triệu người bị mù chữ, trong đó nữ giới chiếm 2/3; trong số hơn 180 triệu trẻ em không được đi học thì có tới 70% là trẻ em gái
Theo thống kê cho thấy tỷ lệ lao động nữ ở Việt Nam không qua đào tạo là rất cao, chiếm tới gần 90% tổng số lao động không qua đào tạo trong cả nước; chỉ có 0,63 % công nhân kỹ thuật có bằng là nữ, trong khi chỉ tiêu này của nam giới là 3,46% Tỷ lệ lao động nữ có trình độ đại học và trên đại học 0,016%, tỷ lệ này ở nam giới là 0,077% (gấp 5 lần so với nữ giới) [31] Điều đó cho thấy trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp của phụ nữ là rất thấp và thấp hơn so với nam giới Phụ nữ bị hạn chế về kỹ thuật, chuyên môn và sự hiểu biết nên gặp không ít khó khăn trong việc nắm bắt kiến thức pháp luật, tìm nguồn vốn, tìm kiếm thị trường, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đời sống Do vậy, hiệu quả công việc và năng suất lao động của họ thấp
Trang 23* Yếu tố về sức khoẻ
Với phụ nữ nông thôn vừa phải lao động nặng vừa phải thực hiện thiên chức của mình là phải mang thai, sinh con và cho con bú bằng bầu sữa của mình, cùng với điều kiện sinh hoạt thấp kém đã làm cho sức khoẻ của họ bị giảm sút Điều này không những ảnh hưởng đến khả năng lao động mà còn làm vai trò của phụ nữ trong gia đình cũng như trong việc phát triển kinh tế gia đình trở nên thấp hơn
* Khả năng tiếp nhận thông tin
Do phụ nữ phải đảm nhận một khối lượng công việc lớn nên cơ hội để họ giao tiếp rộng rãi, tham gia hoạt động cộng đồng để nắm thông tin rất hiếm Ở nhiều vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh người dân còn chưa hề được tiếp xúc với báo chí và các hình thức truyền tải thông tin khác
* Các yếu tố chủ quan
Một yếu tố khác không thể không nhắc đến đó là nguyên nhân chủ quan do chính phụ nữ gây ra, đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả phụ nữ cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó Họ cũng cho rằng, những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của phụ nữ Họ tỏ ra không hài lòng về người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình Vậy nên, toàn bộ công việc gia đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh thần Ta có thể khẳng định rằng, phụ nữ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nhân loại Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở sự tiến bộ của họ trong cuộc sống Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động không tốt khiến cho phụ nữ đặc biệt là phụ nữ nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và bất bình đẳng Vì vậy, cần phải tiến tới quyền bình đẳng đối với nữ trên toàn thế giới Bình đẳng nam nữ nhằm giải phóng sức lao động xã hội, xây dựng và củng cố thêm nền văn minh nhân loại
1.3 Thực trạng vai trò của phụ nữ trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1 Khái quát về vai trò của phụ nữ ở một số nước trên thế giới
Na Uy là đất nước dân số ít (4,5 triệu người) nhưng chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) xếp thứ nhất thế giới Na Uy có một hệ
Trang 24thống luật pháp đồng bộ hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi cho người phụ nữ Chính phủ Na Uy rất quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới và coi đó là một trong bốn vấn đề trọng tâm phát triển Là quốc gia đầu tiên trên thế giới cho phép phụ nữ được tham gia bầu cử vào năm 1913 và có quyền ứng cử Quốc hội từ năm 1930 Na Uy cũng có Luật bình đẳng giới ban hành từ năm 1979 với các điều khoản bảo đảm cho
cả phụ nữ và nam giới được bình đẳng trong phát triển
Trong luật Bình đẳng giới, Na Uy quy định: Việc phân biệt đối xử trực tiếp hoặc gián tiếp với phụ nữ và nam giới đều không được phép.Với lĩnh vực lao động
và việc làm, luật quy định: tuyển dụng không được hạn chế tuyển một giới Khi đề bạt, cách chức hoặc sa thải người lao động cũng không được phân biệt nam nữ Lao động nam và nữ trong cùng một doanh nghiệp phải được trả lương như nhau cho cùng một công việc như nhau hoặc công việc có giá trị như nhau.Trong giáo dục, Luật bình đẳng giới đề ra phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng trong đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ Đặc biệt Luật bình đẳng giới có 1 mục quy định: “Khi thành lập và bổ nhiệm, bầu cử các thành viên của một cơ quan nhà nước, uỷ ban, hội đồng, ban có từ 4 thành viên trở lên thì mỗi giới phải có đại diện với tỷ lệ ít nhất là 40%” Nếu cơ quan, đơn vị nào không đạt tỷ lệ đã quy định thì Chính phủ không cho phép thành lập Do vậy, đến nay cơ quan các cấp ở Na Uy đã đạt được tỷ
lệ trung bình 43% nữ Bên cạnh đó, một Cơ quan thanh tra về bình đẳng giới và chống phân biệt đối xử trực thuộc Bộ Gia đình và Bình đẳng giới cũng ra đời giúp Chính phủ nhận đơn khiếu nại hoặc phát hiện những vấn đề bất bình đẳng giới trình lên trên để cùng giải quyết.Chế độ nghỉ thai sản và chăm sóc con cái cũng được Luật đề ra rất tốt Khi mang thai, nếu người phụ nữ đã đi làm ít nhất là 6 tháng trong vòng 10 tháng thai nghén sẽ được nghỉ chế độ và hưởng lương với số tiền không quá 6 lần số tiền bảo hiểm quốc gia cơ bản Khi sinh nở, người mẹ được nghỉ 52 tuần hưởng 80% hoặc nghỉ 42 tuần hưởng 100% lương Trong thời gian này, mẹ phải nghỉ 3 tuần trước khi sinh, bố phải nghỉ bốn tuần theo chế độ người cha Ngoài
ra, bố và mẹ được nghỉ từ 10 đến 20 ngày/năm chăm con ốm (kể cả với con nuôi) Quỹ thời gian này người bố và mẹ tuỳ ý sử dụng trong thời gian 2 năm Nếu người phụ nữ không đi làm và không được hưởng chế độ nghỉ đẻ thì được hưởng 32.138
Trang 25NOK khi sinh con (tương đương 80.500.000 đồng Việt Nam) Từ năm 1992, bố mẹ không đi làm mà phải nuôi con dưới 7 tuổi đều được hưởng ba khoản trợ cấp một năm của Chính phủ.Tuy nhiên, Luật bình đẳng giới tiến bộ nhưng chỉ nhằm tăng cường quyền lực của phụ nữ ngoài xã hội chứ không bênh vực họ trong gia đình vì không áp dụng trong gia đình Trong lĩnh vực công việc nhà không được trả lương phụ nữ vẫn làm việc nhiều hơn nam giới; trong lĩnh vực quản lý nhà nước, nam giới vẫn chiếm 86% và trong chính quyền địa phương lãnh đạo nam vẫn trên 70% ; nạn bạo lực vẫn xảy ra; mại dâm được phép hoạt động nhưng vẫn nhiều tình trạng xâm hại tình dục [32]
Tại Kenya, Zambia và Nigieria, gia đình nào có chủ hộ là nam giới thì khuyến nông thường xuyên ghé thăm hơn.Khoảng 40% phụ nữ Trinidad và Tobago chỉ biết đến các thông tin hay những lời khuyên trong sản xuất cũng như các thông tin khác thông qua người chồng của mình Còn ở một số nước như Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia thì những thông tin đó được lấy tự họ hàng, bạn bè và hàng xóm Rất
ít thông tin được trực tiếp chuyển đến người phụ nữ
1.3.2 Phụ nữ nông thôn Việt Nam và vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế-
Trong gia đình, người phụ nữ được tôn trọng và được tham gia nhiều hơn vào các quyết định quan trọng vào hoạt động sản xuất nâng cao mức thu nhập về
Trang 26kinh tế Phụ nữ có nhiều điều kiện hơn để tham gia học tập và các hoạt động xã hội, đặc biệt là phụ nữ ở thành thị
Phòng, chống bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới đang nhận được sự quan tâm của xã hội Nhiều cơ quan, tổ chức xã hội và các chương trình dự án phát triển đã triển khai các hoạt động tuyên truyền, phòng, chống và hỗ trợ nạn nhân của bạo lực gia đình
Công tác tư vấn, hỗ trợ hôn nhân, gia đình được đẩy mạnh Nhiều mô hình được duy trì và nhân rộng, thu hút các nhóm phụ nữ tham gia, trong đó nổi bật là
mô hình câu lạc bộ xây dựng gia đình hạnh phúc, câu lạc bộ gia đình không có tệ nạn xã hội, nhóm tín dụng tiết kiệm lồng ghép truyền thông dân số/sức khỏe sinh sản gắn với bình đẳng giới, mô hình phụ nữ tham gia bảo vệ môi trường gắn với cuộc vận động "Phụ nữ cả nước thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng", mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau Các mô hình mới trong tư vấn, hỗ trợ hôn nhân gia đình, hôn nhân có yếu tố nước ngoài, phòng, chống bạo lực gia đình, buôn bán phụ nữ - trẻ em và các tệ nạn xã hội khác đã được triển khai thực hiện, như Trung tâm hỗ trợ kết hôn; Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng; Ngôi nhà bình yên, đường dây nóng bước đầu đáp ứng nhu cầu của các nhóm phụ
nữ Các mô hình nhóm trẻ gia đình, dịch vụ đưa đón con đi học, chăm sóc người cao tuổi, dịch vụ giúp việc gia đình đã được một số cấp hội thí điểm, góp phần hỗ trợ phụ nữ giảm bớt công việc gia đình để có điều kiện tham gia công tác xã hội nhiều hơn
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đó, bất bình đẳng giới trên các lĩnh vực vẫn còn tồn tại mà sự thiệt thòi chủ yếu vẫn thuộc về phụ nữ; hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được coi là khá hoàn chỉnh nhưng chưa được thực hiện hiệu quả trên thực tế; bộ máy các cấp về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ đã được hình thành nhưng chưa ổn định và hiệu quả hoạt
động còn thấp [33]
Những chính sách cải cách nhằm củng cố kinh tế hộ gia đình như phân bổ quyền sử dụng đất, xác định vị thế và quy định pháp lý của các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của hộ gia đinh, cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ khuyến nông
Trang 27cho hộ gia đình nhưng đối tượng chính tiếp nhận thông tin lại là nam giới, thường là với tư cách chủ hộ Trong gia đình thì phụ nữ ít có kiến thức và kỹ năng sản xuất tốt Nam giới thì thường hưởng thụ nhiều thành quả từ sự cải cách kinh tế hơn là phụ nữ Phụ nữ luôn phải tỏ ra kính trọng với nam giới Thái độ xã hội về vai trò của người phụ nữ trong gia đình đã làm cho việc xử lý những vấn đề như ngược đãi,
ly hôn và phụ nữ nuôi con trở nên khó khăn Phụ nữ thiếu những kỹ năng lao động
và thiếu tự tin ngay cả trong gia đình của mình Điều này lại càng củng cố thêm định kiến về phụ nữ Tuy những định kiến giới tác động với cả hai giới nhưng nhìn chung phụ nữ vẫn chịu ảnh hưởng nhiều hơn [34]
1.3.3 Chủ trương, chính sách của Nhà nước với sự phát triển của bình đẳng giới và nhận thức giới
Quan điểm "Nam nữ bình quyền" của Đảng và Bác Hồ đã được xác định ngay từ trong cương lĩnh Đảng năm 1930
Ngày 10/01/1967, ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành nghị quyết số
152 - NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ nữ: "Tư tưởng phong kiến đối với phụ với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, Đảng viên
kể cả cán bộ lãnh đạo Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, trọng nam khinh nữ, chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết khó khăn trở ngại của phụ nữ"
Chỉ thị số 44 - CT/TW ngày 07/06/1984 của Ban bí thư chỉ ra rằng "Nhiều cấp ủy Đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ vẫn còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em"
Ngày 12/07/1993, Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 04
- NQ/TW đổi mới tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới Ngày 25/12/2001, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010, với mục tiêu nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho phụ nữ Tạo mọi điều kiện để thực hiện có hiệu quả các quyền cơ bản và phát huy vai trò phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 28Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ " Đối với phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng đào tạo nghề, nâng cao học vấn, có cơ chế chính sách để phụ nữ tham gia nhiều vào các cơ quan lãnh đạo quản lý ở các cấp, các ngành; bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt thiên chức người mẹ, xây dựng gia đình no ấm , bình đẳng, độc lập, hạnh phúc" Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định thêm chủ trương trên
Báo cáo của chính phủ khóa XI kỳ họp lần 9 (2006) chỉ ra nhiều tồn tại trong tiếp cận các dịch vụ cơ bản, tảo hôn, phân biệt đối xử, ngược đãi Mục tiêu về tiến
bộ phụ nữ và bình đẳng giới chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên Luật bình đẳng giới được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp ngày 29/11/2006 Ngày 2/12/2006, lệnh công bố được Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký và có hiệu lực thi hành từ 01/07/2007
Ngày 15/07/2010, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội tổ chức Hội thảo Dự thảo chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn
2011 - 2020 và Chương trình mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới Tại hội thảo Bộ
LĐ - TB &XH đã tổng kết Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu quan trọng về bình đẳng giới nhưng các đại biểu cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề bạo lực trong gia đình, buôn bán phụ nữ trẻ em Và Chính phủ đã giao cho Bộ L Đ - TB & XH chủ trì xây dựng Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020
Việt Nam tham gia một số công ước như công ước về quyền trẻ em (CRC), công ước Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với
phụ nữ (CEDAW), hay các mục tiêu thiên niên kỷ
1.3.4 Vai trò phụ nữ trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của gia đình
Thời kỳ chuyển đổi kinh tế của Việt Nam từ kinh tế quản lý tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần là giai đoạn đất nước có những chuyển biến quan trọng trên tất cả các bình diện kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị
Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể: Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, liên tục và có dấu hiệu
Trang 29ổn định Điều này là tiền đề cho những cải thiện thêm nhiều mặt về đời sống kinh tế
- xã hội của đất nước, đem lại lợi ích cho hầu hết các tầng lớp dân cư ở thành thị cũng như nông thôn, ở miền xuôi cũng như miền ngược
Trong bối cảnh đời sống của ngày hôm nay, vai trò gia đình càng nổi bật lên môi trường giáo dục cá biệt, toàn diện có hiệu ích nhất Gia đình là hình ảnh một mái nhà chở che, nơi con người trú ngụ, chống trả mọi phong ba bão táp,chống lại nỗi cô đơn căn bệnh phổ biến của thế giới hiện đại; nơi cân bằng lại mọi xô lệch của đời sống con người Gia đình là sáng tạo tự nhiên kỳ diệu của con người Gia đình một tổ hẹp, xinh xắn hài hoà và mạnh mẽ Nói đến gia đình chúng ta phải nhắc đến vai trò của người phụ nữ, nếu không có người phụ nữ thì chưa thật sự là gia đình
Phụ nữ là một nửa của nhân loại Theo tổng kết của Liên Hiệp Quốc năm
1980, phụ nữ chiếm ½ dân số thế giới, thực hiện gần 2/3 tổng số giờ lao
động của thế giới, sản xuất ½ sản lượng nông nghiệp của thế giới Nhưng lại chiếm 2/3 dân số mù chữ trên thế giới và chỉ nhận được 1/10 tổng thu nhập, sở hữu 1/100 tổng số của cải trên thế giới
Trong các gia đình Việt Nam thì phụ nữ tham gia trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và bán sản phẩm nhiều hơn so với nam giới Trong công việc sản xuất lúa thì nam giới là người làm đất còn phụ nữ đóng vai trò gieo cấy, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Ở khu vực nông thôn, 84% số gia đình làm chăn nuôi thì phụ nữ dành đến 30% trong tổng sức lao động cho sản xuất nông nghiệp để sử dụng cho chăn nuôi, trong khi đó nam giới chỉ dành 10% trong tổng sức lao động cho sản xuất này [35]
Gia đình là một trong những thiết chế xã hội cơ bản nhất, có vai trò quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Gia đình vừa là
tổ ấm đem lại hạnh phúc cho mỗi cá nhân, cầu nối giữa cá nhân và xã hội, vừa là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, đồng thời là động lực phát triển của xã hội Hoạt động của gia đình có tác động đến các hệ thống, các quá trình và các quan hệ xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất xã hội Vai trò quan trọng của gia đình chính là ở chỗ nó đảm nhiệm chức năng tái sản xuất ra sức lao động qua việc chăm lo, khôi phục sức khỏe cho các thành
Trang 30viên của mình sau những giờ lao động mệt nhọc Gia đình cũng đảm nhiệm trách nhiệm hết sức nặng nề trong việc tái sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, bảo đảm cuộc sống cho các thành viên, đồng thời gia đình còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lưu giữ, truyền thụ văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác, vun đắp, phát huy những giá trị truyền thống quý báu của con người Do vậy, vai trò của giới trong gia đình là hết sức quan trọng, giúp từng bước ổn định, củng
cố, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế [36]
1.4 Một số vấn đề đặt ra với phụ nữ nông thôn
1.4.1 Về chuyên môn kỹ thuật
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế theo hướng thị trường trong những năm gần đây đã thực sự giải phóng lao động và đặc biệt là lao động nữ ở nông thôn thoát ra khỏi những ràng buộc của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhưng chưa thực sự giải phóng họ khỏi những ràng buộc của thể chế và tập quán của nền kinh tế truyền thống, cùng với những thiếu hụt cả về năng lực và điều kiện của lao động nữ trong sản xuất, kinh doanh Sự nghiệp công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn không thể thành công nếu người dân ở nông thôn chỉ có kinh nghiệm được tích luỹ theo năm tháng mà thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới Với phụ nữ nông thôn hiện nay, trong quá trình sản xuất kinh doanh, họ có một quan điểm nổi bật là
sự khéo léo, sự tính toán giỏi giang và thành đạt chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân của mỗi người, số thành công do được học hành, đào tạo chưa nhiều Nhược điểm này sẽ là một hạn chế không nhỏ trong việc phát huy nguồn nhân lực nữ để phát triển nông thôn
1.4.2 Sự bất bình đẳng giới trong tiếp cận nguồn lực và ra quyết định
Cho dù đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực bình đẳng giới nhưng vẫn phải thừa nhận rằng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Việt Nam - đây là lực cản cơ bản của sự phát triển tự nhiên Cũng như nhiều nước trên thế giới, ở Việt Nam, những trở lực của bất bình đẳng giới là: sự hạn chế của phụ nữ trong tiếp cận các nguồn lực sản xuất đất đai, các dịch vụ khuyến nông và tín dụng
Trang 31* Về vấn đề tiếp cận đất đai
Đối với người dân Việt Nam, nhà cửa, đất đai bao giờ cũng có giá trị lớn và
có ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc sống gia đình Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, điều này là đặc biệt quan trọng, khi mà gần 80% dân cư sống ở nông thôn, chủ yếu làm nông nghiệp và đất đai là tư liệu sản xuất chính của họ Việc xem xét người đứng tên giấy tờ sở hữu nhà, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cần thiết để có thể phân biệt rõ về người tiếp cận và quản lý nguồn lực trong hộ gia đình hay nói cách khác đi là quyền của mỗi người nam và nữ trong gia đình Về mặt pháp luật, ở Việt Nam, phụ nữ và nam giới có quyền bình đẳng về tài sản, điều đó thể hiện qua Hiến pháp và những bộ luật liên quan đến quyền sở hữu như Luật đất đai (1993, 2003), Bộ luật dân sự (1995), Luật hôn nhân và gia đình (2000) Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện có lúc, có nơi chưa đảm bảo theo đúng quy định Ví dụ: việc thực hiện quyền sử dụng đất đã được quy định trong Luật đất đai; Luật này quy định
hộ gia đình, cá nhân được nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải ghi đầy đủ tên của cả vợ và chồng Nhưng trong thực tế, hầu như các giấy chứng nhận quyền sử dụng chỉ ghi tên một người (chủ yếu là người chồng) Vì thế từ vị trí đồng sử dụng với người chồng, người vợ đã rơi xuống vị trí người thừa hành, không có quyền quyết định Người chủ hộ (nam giới) có quyền lực pháp lý và kinh tế hơn các thành viên khác trong gia đình Việc không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng và một số quyền hạn khác của người phụ nữ như chuyển nhượng, thừa kế Việc không có quyền tương đương với nam giới đối với đất đai- một tài sản chủ chốt, một tư liệu sản xuất quan trọng của hộ gia đình nông thôn, ảnh hưởng rất lớn đến địa vị kinh tế và xã hội của phụ nữ so với nam giới Cho dù pháp luật quy định về quyền thừa kế như nhau của con trai và con gái, nhưng theo truyền thống thì chủ yếu người con trai trong gia đình có quyền thừa kế về nhà cửa, đất đai Nhiều nghiên cứu cho thấy phụ nữ chỉ có quyền sử dụng đất trong mối liên hệ với đàn ông Khi còn nhỏ, người con gái có phần đất được giao trong gia đình bố mẹ đẻ, khi lấy chồng, hầu như không thể mang theo quyền sử dụng đất phần đất, trừ khi họ lấy chồng cùng làng Sau khi kết
Trang 32hôn, người vợ về cư trú bên bố mẹ chồng và khi ra ở riêng có thể được gia đình bố
mẹ chồng chia sẻ một phần đất canh tác Song, nếu như cuộc hôn nhân này bị đổ vỡ thì hầu như khó đảm bảo quyền sử dụng đất đai của người phụ nữ sau khi li dị Người phụ nữ goá cũng không gặp không ít rắc rối về việc được đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vì nếu trong gia đình có người con trai lớn thì nhiều khả năng tên của người con trai sẽ được ghi vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chứ không phải tên của người phụ nữ
* Tiếp cận về vốn
Cung cấp tín dụng không chỉ là một phương tiện quan trọng để xoá đói giảm nghèo mà là phương tiện để tăng thu nhập và phát triển kinh tế nông thôn lâu dài Tuy vậy, phần lớn tín dụng hiện nay là do khu vực phi chính thức, và phụ nữ ít có
cơ hội tiếp cận với các khoản vay chính thức hơn so với nam giới, 2/3 số người vay vốn là nam giới Đối với phụ nữ chỉ có 18% số vốn vay được cung cấp thông qua khu vực chính thức, còn lại nguồn tín dụng phổ biến nhất là từ họ hàng và các cá nhân khác Việc vay vốn từ nguồn các nhân dẫn tới việc chịu lãi xuất cao và đối với phụ nữ điều này cũng phản ánh họ thiếu khả năng tiếp cận với những khoản vay thế chấp Trong khi 41% số khoản vay của nam giới dựa trên thế chấp tài sản, thì khoản vay của phụ nữ chỉ chiếm 27%.[31]
* Vấn đề tiếp cận giáo dục, đào tạo
Hơn 90% phụ nữ biết đọc, biết viết Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ 33,95%; tiến sĩ 25,69% Ngay trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần 30% Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành như giáo dục, y tế,
và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và kinh tế Nếu tính tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơn rất nhiều so với nam giới [36]
* Về vấn đề việc làm và thu nhập của phụ nữ
Có tới 71% phụ nữ từ 13 tuổi trở lên là những người có thu nhập Số hộ nghèo
do phụ nữ làm chủ đã giảm từ 37% năm 1999 xuống còn 8% năm 2010 Đây là những con số sinh động, là bằng chứng chứng minh hiệu quả của những chính sách
Trang 33lớn của Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển.[37] Theo đánh giá tổng quan, nếu mức độ ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là thấp, khả năng đến cuối năm 2010, lao động nữ sẽ đạt và vượt chỉ tiêu 50% lực lượng lao động của cả nước Tuy nhiên, vấn đề quan tâm hiện nay là chất lượng công việc của lao động nữ vì chủ yếu các chị em vẫn chiếm số đông ở những lĩnh vực không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật cao, có thu nhập thấp và việc làm bấp bênh,
độ rủi ro cao Trong các ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng vẫn thể hiện sự bất bình đẳng về giới, thể hiện qua tỷ lệ lao động nữ trong khu vực nông- lâm- ngư nghiệp dù có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới thì vẫn còn rất cao (www.tin247.com)[14] Nhiều nghiên cứu hiện nay về vai trò của nam và nữ trong kinh tế thị trường phản ánh thực tế là ở cả 2 khu vực lao động được trả lương và không được trả lương, phụ nữ đều có thu nhập thấp hơn nam giới
Mặc dù pháp luật quy định “Công việc như nhau, tiền công ngang nhau” nhưng
trong khu vực có lương do thường làm lao động giản đơn nên tiền công trung bình trả cho lao động nữ chỉ bằng 72% so với nam Nguyên nhân chủ yếu là do lao động
nữ tập trung vào khu vực ngành nghề không đòi hỏi tay nghề, kỹ thuật cao, năng suất lao động thấp và bị trả lương thấp Trừ khu vực dịch vụ và may mặc, còn ở hầu hết các ngành khác lương của phụ nữ thấp hơn lương của nam giới do không làm quản lý Trong công việc tiền công bình quân của phụ nữ chỉ bằng 62% tiền lương của nam giới Trong khu vực không trả lương phụ nữ làm việc nhiều hơn nam giới Việc phân công lao động trong nội bộ gia đình ở nông thôn đang đặt gánh nặng lên vai người phụ nữ Ngoài công việc sản xuất trên đồng ruộng phụ nữ còn chăn nuôi
và các công việc khác thuộc về gia đình và phục vụ gia đình
* Về vấn đề ra quyết định
Tìm hiểu vấn đề ai là người có tiếng nói quyết định đối với những vấn đề quan trọng của gia đình như mua sắm tài sản đắt tiền, xây dựng nhà cửa, những khoản chi lớn liên quan đến thành quả lao động của gia đình ta thấy có nhiều bất cập Phụ nữ được tham gia ý kiến và bàn bạc chung với tư cách là người giữ tiền
của gia đình “tay hòm chìa khoá” trong những quyết định quan trọng nhưng trên
thực tế họ không có quyền quyết định việc chi tiêu
Trang 34* Vấn đề tham gia các hoạt động cộng đồng
Phụ nữ ít có thời gian giành cho các hoạt động xã hội, hoặc cho việc học tập kinh nghiệm từ người khác Đặc biệt phụ nữ các dân tộc thiểu số rất ít có cơ hội tham gia các lớp học văn hoá buổi tối thậm chí các lớp học đó đã có sẵn và thích hợp với họ Đó là những yếu tố hạn chế khả năng tham gia của phụ nữ vào việc ra quyết định trong cộng đồng và ở cấp quốc gia
Trang 35CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Nội dung nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Đồng hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng hỷ,
- Một số yếu tố thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu
- Tiếp cận nghiên cứu xã hội học (giới): Nhằm nghiên cứu đặc tính của giới,
sự khác nhau và các yếu tố ảnh hưởng đến giới
- Tiếp cận nghiên cứu liên ngành: Nhằm nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong tất cả các ngành, lĩnh vực
- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế vi mô: Nhằm đánh giá tình hình phát triển của các hộ gia đình, các yếu tố tác động đến vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế
hộ gia đình
- Tiếp cận nghiên cứu kinh tế hệ thống: Nhằm nghiên cứu các hệ thống sản xuất kinh doanh các loại hình cây trồng, vật nuôi, các yếu tố trong nền kinh tế của địa phương, của hộ gia đình
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
- Chọn ra 3 xã đại diện để nghiên cứu đại diện về các điều kiện tự nhiên, KTXH, văn hóa, môi trường… để làm rõ được vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình
- Phương pháp điều tra: Chọn 90 hộ đại diện cho huyện Đồng Hỷ Mỗi xã chọn ngẫu nhiên phân tầng 30 hộ theo nhóm hộ giàu, trung binh, nghèo Tiếp đó,căn cứ vào tỷ lệ nữ làm chủ hộ, tỷ lệ nữ tham gia quản lý sản xuất của hộ, tham
Trang 36gia lãnh đạo chính quyền đoàn thể của địa phương, tham gia hoạt động cộng đồng, tôi lựa chọn 3 xã đại diện cho từng cụm xã để điều tra
2.2.2.1.Chọn hộ nghiên cứu
Hộ nghiên cứu phải nằm trong các xã đã được chọn, đồng thời mang tính đại diện cho các hộ trong vùng Số mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên dựa theo danh sách hộ và đảm bảo đủ các hộ thuộc 3 nhóm hộ: nghèo, trung bình và khá Kết quả chọn mẫu được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.1: Kết quả lựa chọn nhóm hộ điều tra Tên xã
Số hộ điều tra
Phân theo mức sống Nghèo Trung bình khá
- Số liệu thống kê của các bộ, ngành có liên quan
- Sở Lao động – TBXH, Sở NN & PTNT tỉnh Thái Nguyên
- Niên giám thống kê, Phòng thống kê của UBND, Phòng LĐ&TBXH, Báo cáo tổng kết các hoạt động của Hội Liên Hiệp phụ nữ, của huyện Đồng Hỷ
- Một số sách, báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn
đề về vai trò giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình
* Phương pháp thu thập: Thông qua ghi chép, thống kê các dữ liệu cần thiết
cho đề tài với các chỉ tiêu được chuẩn bị sẵn
2.2.3.2 Số liệu sơ cấp
* Nguồn số liệu: Trên cơ sở các mẫu điều tra chọn ra 90 hộ trong tổng số 166
hộ điều tra nhanh bằng phương pháp hỏi trực tiếp, tiến hành phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin
Trang 37* Phương pháp PRA: Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của
người dân Phương pháp này cho phép chúng tôi có sự đánh giá khách quan về hộ gia đình và tình hình kinh tế xã hội của địa phương
* Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi: Thu thập các số
liệu bằng hệ thống các câu hỏi để hộ trả lời
2.2.4 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
2.2.4.1 Phương pháp phân tổ thống kê
Được sử dụng để phân loại thu nhập và tiêu dùng theo các mức khác nhau:
hộ giầu, khá, trung bình, nghèo, theo ngành nghề, theo lứa tuổi, văn hoá, theo phân cấp quản lý cán bộ
2.2.4.2 Phương pháp thống kê so sánh
Có được các chỉ tiêu nghiên cứu tổng hợp thành các bảng số liệu, chúng tôi
so sánh bằng các chỉ số khác nhau để thấy được có sự khác nhau về tư liệu sản xuất, thu nhập, tiêu dùng giữa các nhóm hộ
2.2.4.3 Phương pháp phân tích giới
Cơ sở phân tích giới gồm sự khác biệt giữa nam và nữ về địa vị kinh tế -
XH - chính trị; tác động của sự khác biệt này đối với công việc, khả năng tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực và mức độ tham gia vào quá trình ra quyết định của nam và nữ
Trang 38CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Đồng Hỷ có tổng diện tích tự nhiên 520.59km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm 50,8%, đất nông nghiệp 16,4%, đất thổ cư 3,96%, đất cho các công trình công cộng 3,2% và đất cha sử dụng chiếm 25,7%.Núi Chùa Hang- xa còn gọi là núi
đá Hoá Trung, núi Long Tuyền, nằm trên đất thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ ngày nay Chùa Hang là một trong những danh thắng nổi tiếng của tỉnh Thái Nguyên
Núi Voi, còn có tên là núi Thạch Tượng, núi Tượng Lĩnh, ở xã Hoá Thượng Thế núi hiểm trở, giống hình con voi Cuối thế kỷ XVI, nhà Mạc lấy núi làm căn cứ chống nhau với quan quân nhà Lê - Trịnh
3.1.1.2 Địa hình của huyện
Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tỉnh Thái Nguyên, phía Bắc giáp huyện Võ Nhai, phía Tây giáp huyện Phú Lương, phía Đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam giáp thành phố Thái Nguyên và huyện Phú Bình Toàn huyện
có 17 xã và 3 thị trấn
Tài nguyên thiên nhiên: Toàn huyện có 26.448 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 14.432,2 ha, rừng trồng 7.146,6 ha Ngoài ra huyện còn 4.869,2 ha rừng chưa trồng, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc
Trang 39Tài nguyên khoáng sản: Loại có trữ lượng lớn nhất là cụm mỏ sắt Trại Cau khoảng 20 triệu tấn và mỏ Linh Sơn 1-3 triệu tấn Ngoài ra còn có nhiều khoáng sản vật liệu xây dựng như: đá xây dựng, đất sét, đá vụn, cát sỏi, đá Carbuat, Dolomit
- Có hệ thống giao thông đa dạng, 20 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm 100% số xã, thị trấn trong huyện đã được trang bị điện thoại
3.1.1.3 Tình hình sử dụng đất đai trên địa bàn huyện năm 2013
Huyện Đồng Hỷ là một huyện có diện tích đất thấp, theo nguồn thống kê năm 2013 của huyện thì diện tích đất tự nhiên là 45.524,44 ha Phân theo địa giới hành chính diện tích đất lớn nhất là của xã của xã Văn Hán chiếm diện tích là 6.546,90 ha chiếm 14,38% đơn vị diện tích.Trong đó thị trấn Chùa Hang là thấp nhất gồm 303,77 ha chiếm 0,66% đơn vị diện tích.Ngoài ra thì có 4 xã có diện tích đất trên 3000ha và 15 thị trấn, xã có đơn vị diện tích dưới 3000ha
Trang 40Bảng 3.1 Diện tích đất phân theo loại đất của huyện Đồng Hỷ năm 2013
ĐVT: ha
Tổng diện tích đất theo địa giới hành chính
Chia ra
Đất Nông nghiệp
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng Thuỷ sản
Đất ở
Đất chuyên dùng (*)
Đất chưa
sử dụng
TỔNG SỐ 45.524,44 14.261,15 24.301,81 260,45 931,16 3.739,85 2.030,02 Thị trấn: 1986,33 998,82 410,06 42,61 112,08 388,25 34,51
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2013)
((*) Đất chuyên dùng bao gồm cả đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng)