Một số vấn đề cơ bản về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo.. Khái lược lịch sử nghiên cứu về đánh giá các chương
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ HỒNG HẠNH
XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO CHO DỰ ÁN “ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC”
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ HỒNG HẠNH
XÂY DỰNG TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG
CỦA CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC
VÀ ĐÀO TẠO CHO DỰ ÁN “ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC”
KHU VỰC TÂY BẮC Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đã công
bố theo đúng quy định Những phần trích dẫn và tham khảo đều đúng theo quy định của Nhà trường Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hồng Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này tôi
đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể và cá nhân Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn tới các vị
Đầu tiên tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Bùi Văn Quân – phó hiệu trưởng trường CĐSP Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Hội đồng bảo vệ Luận văn thạc sĩ đã tạo điều kiện thuận lợi để em vững tin hơn trong việc chuẩn bị bảo vệ luận văn của mình
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn Đại học Thái Nguyên, Đại học Sư phạm, Khoa sau đại học của Đại học Sư phạm, Khoa Tâm lí Giáo dục cùng các thầy cô giáo đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi học tập cũng như nghiên cứu và hoàn thành luận văn của mình
Tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đồng nghiệp luôn động viên khuyến khích tôi trong quá trình làm luận văn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Đặng Thị Hồng Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 5
1.1.1 Khái lược lịch sử nghiên cứu về đánh giá các chương trình, dự án phát triển 5
1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá tác động của chương trình, dự án 12
1.2 Các khái niệm công cụ 15
1.2.1 Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo 15
1.2.2 Dự án 17
1.2.3 Đánh giá tác động của dự án 20
1.2.4 Bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án 22
1.3 Một số vấn đề cơ bản về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo 23
1.3.1 Đặc điểm của các dự án phát triển giáo dục và đào tạo 23
1.3.2 Mục đích và phân loại đánh giá dự án phát triển giáo dục 25
Trang 61.3.3 Phương diện cần được đánh giá và cách thức sử dụng đánh giá dự
án phát triển giáo dục 28 1.3.4 Tiêu chí và lĩnh vực đánh giá tác động của dự án phát triển giáo dục 31
Kết luận chương 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN “ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÍ” THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA GD&ĐT KHU VỰC TÂY BẮC 34 2.1 Khái quát về vùng Tây Bắc Việt Nam 34 2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế và văn hóa 34 2.1.2 Giáo dục và đào tạo 37
―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục‖ 45 2.2.1 Các Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo 45 2.2.2 Giới thiệu dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo đến năm 2010 46 2.3 Thực trạng đánh giá tác động của CTMTQG GD&ĐT khu vực Tây Bắc
và dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ 47 2.3.1 Đánh giá chung về Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo khu vực Tây Bắc 47 2.3.2 Về tác động của chương trình 56 2.3.3 Thực trạng đánh giá tác động của dự án ―đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
và cán bộ quản lí giáo dục‖ 57
Kết luận chương 2 61
Chương 3: ĐỀ XUẤT BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN
“ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN VÀ CÁN BỘ QUẢN LÍ” THUỘC CTMTQG GD&ĐT KHU VỰC TÂY BẮC 63 3.1 Nguyên tắc, tiêu chuẩn và tiếp cận trong đánh giá được lựa chọn để xây dựng bộ tiêu chí 64
Trang 73.1.1 Nguyên tắc và tiêu chuẩn đánh giá 64
3.1.2 Các tiếp cận trong đánh giá chương trình, dự án phát triển 66
3.2 Bộ tiêu chí đánh giá được đề xuất 80
3.2.1 Khung đánh giá tác động của dự án 80
3.2.2 Mô tả lĩnh vực và tiêu chí đánh giá tác động của dự án 81
3.2.3 Xác định các chỉ số đánh giá theo từng tiêu chí ở các lĩnh vực đánh giá tác động của dự án 83
3.3 Trưng cầu ý kiến về tính khả thi của bộ tiêu chí đã xây dựng 86
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
1 Kết luận 89
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 1
Trang 8DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CBQLGD : Cán bộ quản lý giáo dục
CTMTQG GD&ĐT : Chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
GDTH ĐĐT : Giáo dục trung học đúng độ tuổi
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của GV, CBQL về mục đích đánh giá tác động của dự án 58 Bảng 2.2: Mức độ tham gia của GV, CBQL trong đánh giá tác động của dự án 59 Bảng 2.3: Đánh giá về công tác chuẩn bị cho đánh giá tác động của dự án 59 Bảng 3.1: Khung đánh giá tác động của dự án 81 Bảng 3.2: Các lĩnh vực cần đánh gia trong đánh giá tác động của dự án 81 Bảng 3.3 Chỉ số đánh giá về tính liên quan của dự án ―Đào tạo, bồi dƣỡng
giáo viên và cán bộ QLGD‖ 83 Bảng 3.4 Chỉ số đánh giá về tính hiệu quả của dự án ―Đào tạo, bồi dƣỡng
giáo viên và cán bộ QLGD‖ 84 Bảng 3.5 Chỉ số đánh giá về hiệu xuất của dự án ―Đào tạo, bồi dƣỡng giáo
viên và cán bộ QLGD‖ 85 Bảng 3.6 Chỉ số đánh giá về tính bền vững của của dự án ―Đào tạo, bồi
dƣỡng giáo viên và cán bộ QLGD‖ 86 Bảng 3.7 Kết quả trƣng cầu ý kiến về tính khả thi của bộ tiêu chí đánh giá
tác động của dự án ―Đào tạo giáo viên và CBQLGD‖ 87
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 17 tháng 02 năm 2003, Chính phủ đã phê duyệt các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo (CTMTQG GD&ĐT) đến năm 2005 gồm 07 dự án Từ đó đến nay, CTMTQG GD&ĐT đã liên tục được thực hiện theo từng giai đoạn cụ thể tại các địa phương trong cả nước
Vùng Tây Bắc - phạm vi chỉ đạo trực tiếp của Ban Chỉ đạo Tây Bắc gồm
12 tỉnh (Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Phú Thọ và Tuyên Quang) và 21 huyện phía tây của hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An Đây là những địa bàn thuộc vùng núi cao, biên giới, địa hình hiểm trở phức tạp, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của đất nước Là địa bàn sinh sống của trên 11,6 triệu người thuộc hơn 30 dân tộc anh em (trong đó khoảng 63% là đồng bào các dân tộc thiểu số), vùng Tây Bắc có trình độ kinh tế phát triển chậm, dân trí thấp, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu vẫn còn tồn tại Từ thực tiễn đó, Tây Bắc là một trong những địa bàn được sự quan
Dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ (Dự án 4) là một trong các dự án thuộc Chương trình này
&ĐT
:
Trang 11
cho dự án “Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục” khu vực Tây Bắc là nghiên cứu thành phần của nghiên cứu tổng thể nói trên
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất bộ tiêu chí
&ĐT cho dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán
bộ quản lý giáo dục‖ khu vực Tây Bắc, góp phần cung cấp luận chứng khoa
học cho các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các CTMTQG GD&ĐT trên địa
bàn Tây Bắc
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Tác động và hiệu quả của chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và
đào tạo trên địa bàn Tây Bắc
Trang 123.2 Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá tác động của dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và
cán bộ quản lý giáo dục‖ thuộc CTMTQG GD&ĐT trên địa bàn Tây Bắc
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lý luận về đánh giá tác động của dự án thuộc chương
trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
4.2 Nghiên cứu thực trạng triển khai dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo
viên, giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ thuộc CTMTQG GD&ĐT trên địa
bàn Tây Bắc
4.3 Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng
giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ thuộc CTMTQG GD&ĐT trên địa bàn
Tây Bắc
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng triển khai dự án ―Đào tạo, bồi
dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục‖ thuộc CTMTQG GD&ĐT trên địa
bàn Tây Bắc tại Tỉnh Phú Thọ
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu - các văn bản chỉ thị, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
- Nghiên cứu, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong các công trình nghiên cứu, các bài báo chuyên môn, sách xuất bản
- Nghiên cứu lý luận về đánh giá chương trình mục tiêu quốc gia về GD&ĐT
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Khảo sát bằng phiếu hỏi
6.2.2 Hồi cứu tư liệu
62.3 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6.3 Các phương pháp xử lý số liệu
Trang 137 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị; luận văn gồm 3 chương Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá tác động của dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Chương 2: Thực trạng đánh giá tác động của dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí‖ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Chương 3: Đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án ―Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lí‖ thuộc chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục và đào tạo
Trang 14
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA DỰ ÁN THUỘC CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
1.1.1 Khái lược lịch sử nghiên cứu về đánh giá các chương trình, dự án phát triển
Tác giả Kiều Gia Như [13], trong công trình nghiên cứu về ―Đánh giá chương trình, dự án phát triển‖ (Trung tâm Thông tin và Khoa học Công nghệ quốc gia, 2008) đã khái quát lịch sử phát triển của lĩnh vực đánh giá chương trình, dự án phát triển như sau:
Lĩnh vực đánh giá hiện đại nổi lên từ hoạt động nghiên cứu xã hội và phương pháp khoa học Tuy nhiên, việc đánh giá đã có một truyền thống từ lâu đời Những hình thức xuất hiện sớm nhất của việc đánh giá đã có từ hàng nghìn năm trước Ví dụ, bằng chứng khảo cổ cho thấy người Ai Cập cổ đại 5000 năm trước đã thường xuyên theo dõi sản lượng sản xuất lương thực và chăn nuôi của quốc gia Đối với khu vực công, bằng chứng cho thấy đã có sự đánh giá chính thống diễn ra từ năm 2000 trước Công nguyên, khi các quan chức Trung Hoa tiến hành kiểm tra công tác dân sự để đo mức độ thành thạo công việc của những người được đề cử vào các vị trí khác nhau của chính quyền Và trong giáo dục, Socrates đã sử dụng những đánh giá thông qua việc diễn tả bằng lời nói như một bộ phận của quá trình học tập
Một số chuyên gia đã tìm được dấu vết phát sinh những phương pháp đánh giá hiện đại từ thời kỳ của các môn khoa học tự nhiên và sự nhấn mạnh kèm theo đối với hiện tượng được quan sát (phương pháp kinh nghiệm) hồi thế kỷ 17
Ở Thụy Điển, ngay từ thế kỷ 17 đã có những ủy ban chính sách đặc biệt
để thực hiện một số loại hình đánh giá Theo truyền thống, những ủy ban chính
Trang 15sách đặc biệt được bổ nhiệm đã góp phần rất lớn trong việc chuẩn bị cơ sở cho nhiều quyết định được đưa ra Những ủy ban đó đã có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những tài liệu vắn tắt và những tài liệu đánh giá cơ bản để phục
vụ cho cả những quyết định chính sách nền tảng lẫn những công tác nhỏ nhặt hàng ngày đối với các phương tiện có được ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau Trên thực tế, hệ thống ủy ban này ngày nay vẫn còn được sử dụng ở Thụy Điển, đem lại những lợi ích đáng kể cho xã hội
Thế kỷ 19, ở một số quốc gia Anglo-Saxon, việc đánh giá các chương trình giáo dục và xã hội đã bắt đầu bén rễ Công tác đánh giá chương trình đã được tiến hành ở Anh bởi các ủy ban do Chính phủ bổ nhiệm Những ủy ban này được triệu tập để nghiên cứu và đánh giá những điều bất cập của các chương trình giáo dục và xã hội Đội ngũ cán bộ thanh tra trường học hiện nay
đã ra đời và trưởng thành từ những ủy ban đầu tiên này Ở Mỹ, những nỗ lực tiên phong đã được đưa ra để kiểm tra chất lượng của hệ thống trường học, trên
cơ sở sử dụng việc xem xét các thành tựu Hiện nay, những nỗ lực này vẫn được tiếp tục duy trì, trong đó những điểm thành tích của học sinh được sử dụng để xác định chất lượng của giáo dục và nhà trường Trong giai đoạn này, những bước đi đầu tiên trong việc cấp chứng nhận chất lượng cho các trường trung học và đại học đã được thực hiện ở Mỹ
Đầu thế kỷ 20, sự đánh giá chính thống và cấp chứng nhận tiêu chuẩn cho các trường đại học y khoa đã diễn ra ở Mỹ và Canada Những lĩnh vực điều tra/đo lường và đánh giá khác ở trong giai đoạn này bao gồm: y tế, nhà ở, năng suất lao động, dân chủ và sự lãnh đạo của chính quyền và việc kiểm tra giáo dục theo tiêu chuẩn Phần lớn những công trình đánh giá đó đều là những nỗ lực quy
mô nhỏ, do các cơ quan Chính phủ và các tổ chức dịch vụ công ích tiến hành
Trong lĩnh vực phát triển, việc cố gắng vận động người dân uống nước đun sôi để bảo vệ sức khỏe cộng đồng ở các vùng nông thôn Trung Đông đã là một trong những công trình nghiên cứu nổi tiếng trong tài liệu xã hội học thời
kỳ trước Thế chiến II
Trang 16Lĩnh vực nghiên cứu xã hội ứng dụng đã lớn mạnh nhanh chóng sau thời
kỳ Đại suy thoái, khi Tổng thống Mỹ mở ra các chương trình KT-XH, với tên gọi là Chương trình New Deal Chính phủ liên bang Mỹ đã lớn mạnh nhanh chóng, vì các cơ quan mới đã được sáng lập để quản lý và thực hiện các chương trình quốc gia về: trợ cấp nông nghiệp để bảo hộ người nông dân; các kế hoạch tạo lập công ăn việc làm; điện khí hóa nông thôn; quản trị an sinh xã hội; v.v
Vì nhiều chương trình quy mô lớn này đều mang tính mới và thử nghiệm, nên có nhiều nhu cầu đối với công tác đánh giá hiệu quả của chúng trong việc thúc đẩy kinh tế, tạo việc làm và hình thành mạng lưới an sinh xã hội
Nhu cầu đối với công tác đánh giá đã gia tăng trong và sau Thế chiến II,
vì có thêm nhiều chương trình quy mô lớn đã được thiết kế và thực hiện trong các lĩnh vực quân sự, nhà ở đô thị, đào tạo việc làm và nghề nghiệp và y-tế
―Cũng chính trong thời gian này, những cam kết lớn đã được đưa ra cho các chương trình quốc tế về công tác kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe và dinh dưỡng, phát triển cộng đồng nông thôn Những khoản chi tiêu là rất lớn cho nên cần phải biết những kết quả mà chúng đem lại‖
Năm 1957, Liên Xô đã phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên, mở ra cuộc chạy đua trở thành siêu cường vũ trụ Sự kiện này đã khiến các nhà lãnh đạo Mỹ phải xem xét hệ thống giáo dục của mình, đặc biệt là phương pháp, trong đó việc giảng dạy và thành tích về toán học và khoa học có thể được cải thiện một cách căn bản Năm 1958 Chính phủ Mỹ đã ban hành Luật Không gian và Vũ trụ quốc gia, đem lại sự phát triển cho một chương trình giáo dục mới và việc thành lập Cục Hàng không và Vũ trụ Quốc gia (NASA) Việc đánh giá những
nỗ lực này đã được thực hiện, mặc dù những kết quả đưa lại không đáp ứng hoàn toàn vì những vấn đề gắn liền với việc thiết kế và các phương pháp đánh giá khoa học xã hội
Thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ trước, việc đánh giá đã được sử dụng thường xuyên hơn ở Mỹ và châu Âu để đánh giá các chương trình liên quan
Trang 17đến giáo dục, y tế, dịch vụ con người, sức khỏe tinh thần, phòng ngừa những phạm pháp nhỏ và sự phục hồi của tội phạm Ngoài ra, những chương trình
―Cuộc chiến chống nghèo đói‖ của Tổng thống Mỹ Johnson đưa ra vào thập kỷ
60 đã khuyến khích sự quan tâm ngày càng tăng đối với công tác đánh giá Công việc của những quốc gia đang phát triển trên khắp thế giới cũng đã mở rộng, với một số hoạt động đánh giá được thực hiện cho các chương trình về nông nghiệp, phát triển cộng đồng, chăm sóc sức khỏe, kế hoạch hóa gia đình, dinh dưỡng Một lần nữa, đối với phần lớn các trường hợp, những đánh giá này đều dựa vào những công cụ truyền thống của khoa học xã hội, chẳng hạn như khảo sát và phân tích thống kê
Cuối thập kỷ 60, nhiều quốc gia Tây Âu cũng đã thực hiện công tác đánh giá các chương trình Ví dụ, ở CHLB Đức, Nghị viện đã bắt đầu yêu cầu Chính phủ liên bang báo cáo về công tác thực hiện và tác động của những chương trình KT-XH và thuế khác nhau Những báo cáo này được thực hiện đối với: Chương trình liên kết giữa liên bang và bang để hoàn thiện cơ cấu kinh tế vùng (1970); Luật Thị trường lao động và việc làm (1969); Chương trình đầu tư bệnh viện (1971); Luật học bổng giáo dục phổ cập (1969); và các báo cáo khác nhau
về trợ cấp và thuế (1970 đến nay)
Trong thời gian này, Chính phủ Canada cũng bắt đầu tiến hành một số bước để tiến tới đánh giá các Chương trình do Chính phủ thực hiện Các Bộ, ngành trong Chính phủ Canada đã được khuyến khích thành lập những đơn vị lập kế hoạch và đánh giá Tuy nhiên, những nỗ lực ban đầu đã không đem lại kết quả quan trọng Đối với trường hợp Canada, Đức và Thụy Điển, cho dù có việc thể chế hóa công tác đánh giá chương trình ở những lĩnh vực chính sách khác nhau, nhưng những hệ thống của chúng vẫn còn khá phân tán và số lượng những công trình được tiến hành xem ra vẫn còn tương đối ít
Cuối thập kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, một số công trình và tài liệu đề cập đến chủ đề đánh giá bắt đầu xuất hiện ở Mỹ và một số quốc gia trong Tổ chức
Trang 18Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) Các chương trình giảng dạy ở nhà trường chú trọng vào bộ môn đánh giá đã được phát triển để đào tạo đội ngũ các nhà đánh giá chuyên nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu gia tăng đối với trách nhiệm giải trình và hiệu quả của những chương trình KT-XH được Chính phủ tài trợ Luật Giáo dục tiểu học và trung học (ESEA) ban hành năm 1965 đã trao nhiệm vụ cho Chính phủ đánh giá các tiêu chuẩn học tập của học sinh và chất lượng giáo viên, đồng thời cung cấp các nguồn lực (đây là lần đầu tiên ngân sách Chính phủ đã dành ra một khoản riêng cho công tác đánh giá) để tiến hành các hoạt động này, nhờ vậy đã thể chế hóa công tác đánh giá
Thập kỷ 60, Canada, Thụy Điển và CHLB Đức đã tiến hành đánh giá Chương trình của Chính phủ về giáo dục, y tế và phúc lợi xã hội Trong bối cảnh này, các hệ thống lập kế hoạch chính thức đã xuất hiện, hoặc là hạn chế trong công tác lập kế hoạch tài chính trung hạn (ở Đức), hoặc thậm chí cố gắng kết hợp việc lập ngân sách với việc lập chương trình (ở Thụy Điển và Canada) Bất kỳ trường hợp nào, việc đánh giá được coi hoặc như là một bộ phận mang tính logic của những hệ thống lập kế hoạch, đều hoặc cần thiết bởi nhu cầu thông tin của các Chương trình can thiệp Tiếp đó, những đánh giá được dùng chủ yếu bởi các nhà quản lý Chương trình để tăng hiệu quả của những Chương trình hiện có và những Chương trình mới
Từ giữa thập kỷ 70 đến giữa thập kỷ 80, đánh giá đã trở thành một chuyên ngành đầy đủ ở nhiều quốc gia OECD Các hiệp hội đánh giá đã được thành lập, nhiều chương trình được áp dụng để đào tạo các nhà đánh giá, các tạp chí đánh giá đã tăng nhanh số lượng, và công tác đánh giá đã vươn khỏi tầm hoạt động của các chương trình do Chính phủ tài trợ để thâm nhập vào các công ty, các quỹ và các tổ chức tôn giáo Ví dụ, ở Pháp, công tác đánh giá chính sách công đã được phát triển một cách hệ thống hơn, với nhiều trường đại học, kể cả Grandes Ecoles - cung cấp các khóa học và thông tin về đánh giá, như một bộ phận nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường Các
Trang 19sách, tạp chí và tài liệu về đánh giá cũng gia tăng về số lượng và chất lượng Nhiều quốc gia OECD đã xây dựng các chương trình đào tạo đánh giá cho các công chức hoặc là trong phạm vi Chính phủ, và với các nhà thầu bên ngoài
Ngoài ra, các phương pháp luận và mô hình đã được khai phá, với sự chú trọng hơn đến nhu cầu thông tin của người dùng, xem xét những kết quả không lường trước và phát triển những giá trị và tiêu chuẩn Từ năm 1985, máy tính
và công nghệ thông tin đã tăng cường rất nhiều năng lực của các nhà đánh giá trong việc thu thập, phân tích và báo cáo các phát hiện đánh giá
Phần lớn các nhà đánh giá đều thừa nhận rằng đánh giá là một nỗ lực chính trị và kỹ thuật phức tạp Chính sách công, công tác quản lý, hành chính
đã là những động lực chủ yếu để sử dụng và phát triển mạnh mẽ hơn lĩnh vực đánh giá Nghiên cứu đánh giá có phạm vi rộng hơn là việc áp dụng đơn thuần các phương pháp Đó cũng là một hoạt động chính trị và quản lý, là đầu vào cho một bức tranh ghép phức tạp, từ đó nảy sinh ra những quyết định về phân
bổ chính sách để lập kế hoạch, thiết kế, thực hiện và tiếp tục các Chương trình đưa lại điều kiện tốt hơn cho nhân loại Với ý nghĩa này, nghiên cứu đánh giá cũng cần được coi như một bộ phận cấu thành của các cuộc vận động chính sách xã hội và hành chính công
Nhu cầu đối với công tác theo dõi và đánh giá các kết quả thực hiện bởi các Chương trình/chính sách đã trở thành một hiện tượng toàn cầu ngày càng gia tăng, vì các Chính phủ và tổ chức trên khắp thế giới phải chịu áp lực và yêu cầu ngày càng lớn cả bên trong lẫn bên ngoài đối với việc hoàn thiện và cải cách công tác quản lý công Vấn đề trách nhiệm giải trình về sự thực hiện của Chính phủ đã trở thành một hiện tượng toàn cầu, vì đòi hỏi đối với sự minh bạch và trách nhiệm giải trình, các kết quả thu được và hiệu quả của chương trình đặt ra ngày một lớn Điều này đã đưa lại mô hình theo dõi và đánh giá dựa vào các kết quả, một công cụ quản lý công đắc lực, được sử dụng để giúp các nhà lãnh đạo/nhà quản lý theo dõi tiến bộ và thể hiện tác động của một dự
Trang 20án/chương trình/chính sách đã cho
Một phát triển đáng lưu ý nữa là số lượng các hiệp hội đánh giá ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế mới ra đời đã tăng vọt trên khắp thế giới Ví dụ, năm 2005 đã có trên 50 tổ chức như vậy ra đời ở các quốc gia phát triển cũng như đang phát triển Ở cấp quốc gia, đơn cử một vài tổ chức như Hội Đánh giá của Canada được thành lập năm 1981, Uganda năm 2002 và Malaixia năm
1999 Ở cấp khu vực, Hội đánh giá của châu Âu được thành lập năm 1994, của Australia năm 1991, và của châu Phi năm 1991
Một tổ chức quốc tế quan trọng về đánh giá là Tổ chức Hợp tác quốc tế
về đánh giá (International Organisation for Cooperation in Evaluation - IOCE) Đây là một liên minh của các tổ chức đánh giá quốc gia và khu vực (các hiệp hội, hội và mạng lưới) ở phạm vi toàn thế giới Mục đích của nó là cộng tác để:
- Xây dựng ban lãnh đạo và năng lực đánh giá cho các quốc gia đang phát triển;
- Đẩy mạnh sự trao đổi lẫn nhau về lý thuyết và thực tiễn đánh giá ở trên toàn thế giới;
- Nhằm vào những thách thức quốc tế trong lĩnh vực đánh giá;
- Hỗ trợ chuyên ngành đánh giá để áp dụng cách tiếp cận mang tính toàn cầu nhiều hơn, nhằm góp phần vào nhận dạng và các giải pháp của các vấn đề toàn cầu
Một hiệp hội đánh giá quốc tế đặc biệt - Hiệp hội Đánh giá Phát triển Quốc tế (International Development Evaluation Association - IDEAS), đã được sáng lập năm 2001 để giúp xây dựng năng lực đánh giá cho các quốc gia đang phát triển Nhiệm vụ của IDEAS là ―Đẩy mạnh và mở rộng thực tiễn đánh giá phát triển bằng cách điều chỉnh các phương pháp, củng cố năng lực và mở rộng quyền làm chủ‖ Để đáp ứng những thách thức đặt ra cho công tác đánh giá phát triển, IDEAS phấn đấu trở thành một tổ chức mang tính: toàn cầu, tự nguyện, dung nạp (Inclusive), dân chủ, giáo dục, đa nguyên, nhiệt tình và tham
Trang 21gia Chiến lƣợc của tổ chức là:
- Thúc đẩy đánh giá phát triển về các kết quả, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong chính sách và chi tiêu công;
- Ƣu tiên công tác phát triển năng lực đánh giá (ECD);
- Đẩy mạnh các tiêu chuẩn trí tuệ và chuyên
1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá tác động của chương trình, dự án
(Organization for Economic Cooperation and Development -
Trang 22(Illinois Education Association - IEA)
- PASEC (Programme
2010-2011
- SACMEQ (the Southern and Eastern A
onal Student Assessment -
(Organization for Economic Cooperation and Development
-1
(lifelong learning)
: -
Trang 24
200 2007-2020;…
Đ
tổng thể CTMTQG GD&ĐT
này
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo
Trong khoa học quản lí, chương trình được hiểu là một loại văn bản kế
hoạch trong đó thiết lập hệ thống mục tiêu và các giải pháp đạt những mục tiêu này trong một khoảng thời gian xác định
Với cách hiểu trên có thể nhận thấy:
- Chủ thể hoạch định chiến lược là chủ thể quản lí ở những cấp quản lí khác nhau Theo đó, tùy theo vai trò của chủ thể quản lí mà chương trình được xác định cụ thể về qui mô và tầm bậc ảnh hưởng
- Đối tượng của chương trình là những thay đổi cần đạt được được cụ thể hóa bởi các mục tiêu cần đạt thuộc các lĩnh vực khác nhau của tổ chức đã được chủ thể hoạch định chương trình xác định Theo đó, tùy từng lĩnh vực trong đó chương trình được hoạch định và triển khai mà tính chất của chương trình sẽ
Trang 25được xác định và tên gọi của chương trình sẽ được biểu đạt một các cụ thể
- Thời gian của chương trình (độ dài, ngắn của chương trình) phụ thuộc vào tính chất các mục tiêu đã đặt ra và mức độ của sự phức tạp khi thực hiện các mục tiêu đó Thông thường các chương trình được hoạch định theo từng giai đoạn phát triển của tổ chức hoặc lĩnh vực cụ thể và có thời gian từ 5 năm trở xuống
- Chương trình được thực hiện thông qua các kế hoạch cụ thể Dự án là một trong những loại kế hoạch phổ biến để thực hiện chương trình
Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục đào tạo là một dạng văn bản kế hoạch do Chính phủ hoạch định nhằm đạt đến các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo của quốc gia trong một gia đoạn xác định (độ dài của chương trình trong từng giai đoạn thường là
5 năm cho một chu kỳ chương trình)
Quan niệm trên cho thấy:
- Chủ thể của chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo là Nhà nước mà đại diện là Chính phủ Văn bản Chương trình mục tiêu quốc gia nói chung, chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo nói riêng do Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định công bố
- Đối tượng của chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo là những thay đổi trong giáo dục đào tạo được cụ thể hóa bởi các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo trong những giai đoạn cụ thể Việc xác định các mục tiêu này tùy thuộc vào thực trạng phát triển của giáo dục và đào tạo, đồng thời còn tùy thuộc vào kỳ vọng của Chính phủ đối với sự phát triển của giáo dục và đào tạo Do đó, các mục tiêu này có thể hướng đến những thay đổi về cơ sở vật chất của giáo dục và đào tạo hoặc hướng đến những thay đổi trong nhân lực của giáo dục và đào tạo v.v
- Thời gian của chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo
Trang 26thường được ấn định theo giai đoạn phát triển của giáo dục và đào tạo với thời lượng là 5 năm
- Mỗi chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo bao gồm một tập hợp các dự án Mỗi dự án hướng đến việc thực thi các nhiệm vụ, công việc cụ thể để đạt được những mục tiêu cụ thể đã xác định trong chương trình
1.2.2 Dự án
Dự án là việc thực hiện một mục đích hay nhiệm vụ, công việc nào đó dưới sự ràng buộc về yêu cầu và nguồn lực nhất định Thông qua việc thực hiện
dự án để cuối cùng đạt được mục tiêu nhất định đã đề ra và kết quả cụ thể của
nó có thể một sản phẩm hay dịch vụ mà chủ thể quản lí mong muốn
Bất kỳ nhiệm vụ hay công việc nào đều có đặc trưng riêng của nó, đều cần được hoàn thành bởi một người được ủy quyền hay một tổ chức nào đó, kết quả của nó phải đáp ứng được yêu cầu của người ủy quyền dưới sự ràng buộc
về nguồn lực, nó phải tuân theo một trình tự công việc nhất định
Thông thường, dự án có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Xác định rõ mục tiêu
Bất cứ dự án nào cuối cùng đều phải thực hiện một mục tiêu nhất định, kết quả của nó có thể là một sản phẩm hay một dịch vụ mà khách hàng mong đợi Khi mục tiêu dự án đạt được thì khó có thể thay đổi hoặc sửa chữa Tuy nhiên, nếu có sự biến đổi của hoàn cảnh dự án (hoàn cảnh bên trong và hoàn cảnh bên ngoài) thì mục tiêu của sự án cũng có thể thay đổi hoặc điều chỉnh theo Khi mục tiêu dự án có sự biến đổi về tính chất thì nó không còn là dự án ban đầu nữa mà trở thành một dự án mới
Mục tiêu dự án được đề ra dựa trên phạm vi công việc, kế hoạch tiến độ
và sự ràng buộc về chi phí và nguồn lực Ví dụ, một mục tiêu dự án nào đó có
kế hoạch hoàn thành trong thời gian một năm thì sau một năm nó phải hoàn thành và đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về thời gian, chất lượng và chi phí đã định
Trang 27- Tính chất đặc thù
Một số dự án do tính chất độc nhất của nó mà nó có tính chất đặc thù, chưa có tiền lệ trong quá khứ hay nói một cách khác là trước đây người ta chưa từng xây dựng một công trình nào như vậy và về sau chưa chắc đã có Có một
số dự án do hoàn cảnh bên trong và bên ngoài cũng như đặc điểm, thời gian khác nhau nên bản thân dự án và quá trình thực hiện dự án sẽ có tính chất đặc thù của nó
- Tính ràng buộc về chi phí và nguồn lực
Mỗi dự án đều cần dùng một nguồn lực để thực hiện Nó bao gồm nhân lực (giám đốc dự án, thành viên dự án), vật lực (thiết bị, nguyên liệu) và tài lực
Ví dụ trong lĩnh vực xây dựng, chúng ta muốn xây dựng một công trình nhà ở thì nguồn lực của nó bao gồm công ty xây dựng được ủy quyền, các cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị, máy móc phục vụ cho xây dựng công trình Tuy cùng là một công trình xây dựng nhưng do công ty xây dựng khác nhau, cửa hàng cung ứng nguyên liệu, thiết bị, máy móc khác nhau, nguồn nhân, tài, vật lực khác nhau nên các công trình kiến trúc cũng có kiểu dáng, phong cách, chất lượng không giống nhau Ngoài ra, trong quá trình thực hiện, công ty xây dựng được ủy quyền còn phải chịu sự ràng buộc về giá thành, phải tính toán sao cho với cái giá thấp nhất có thể tạo ra một công trình kiến trúc có chất lượng cao nhất, phù hợp nhất với yêu cầu của khách hàng
- Tính trình tự trong quá trình thực hiện
Mỗi dự án đều là nhiệm vụ có tính trình tự và giai đoạn Đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa dự án với nhiệm vụ, công việc mang tính trùng lặp Cùng với sự kết thúc hợp đồng và bàn giao kết quả thì dự án cũng kết thúc, vì thế dự án không phải là nhiệm vụ công việc lặp đi lặp lại và cũng không phải là công việc không có kết thúc Ví dụ việc xây dựng nhà máy giầy dép là một dự
án nhưng quá trình sản xuất giầy dép mang tính trùng lặp hàng ngày lại không được coi là một dự án Mỗi dự án nên căn cứ vào điều kiện cụ thể để tiến hành quản lí hệ thống và thực hiện dự án phải có tính trình tự và giai đoạn
Trang 28- Tính không xác định
Mỗi dự án đều có tính không xác định của nó, tức là trong khi thực hiện
dự án cụ thể do sự tác động của hoàn cảnh bên trong và bên ngoài nên việc thực hiện đó tất nheien có sự thay đổi so với kế hoạch ban đầu Dự án có thể hoàn thành trước thời hạn hoặc có thể bị kéo dài thời hạn thực hiện Cũng có thể do sự biến đổi về điều kiện kinh tế nên giá thành thực hiện dự án sẽ cao hơn giá dự kiến ban đầu, thậm chí kết quả thực hiện dự án cũng không giống với kết quả dự định Những hiện tượng trên đều là tính không xác định của dự án, đôi khi ta có thể gọi đó là tính rủi ro của dự án Vì thế, trước khi thực hiện dự án cần phân tích đầy đủ các nhân tố bên trong và bên ngoài mà chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến dự án Trong quá trình thực hiện mục tiêu dự án cũng cần tiến hành quản lí và khống chế có hiệu quả nhằm tránh được những sai sót xảy ra
- Người ủy quyền riêng của dự án
Mỗi dự án đều có người ủy quyền chỉ định riêng hay còn gọi là khách hàng Đó chính là người yêu cầu về kết quả dự án và cũng là người cung cấp nguyên vật liệu để thực hiện dự án Họ có thể là một người, một tập thể, một đoàn thể, một tổ chức hay nhiều tổ chức có chung nhu cầu về kết quả dự án Khi một công ty xây dựng một tòa nhà cho một cơ quan nào đó thì cơ quan này chính là người ủy quyền của dự án; một nhà máy sản xuất vũ khí cho quân đội được Chính phủ cấp cho một khoản vốn để nghiên cứu, sản xuất một loại vũ khí mới thì lúc đó Chính phủ là người ủy quyền của dự án
Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người ủy quyền của dự án cũng chính là người được ủy quyền Ví dụ, một tập đoàn doanh nghiệp bỏ ra một số vốn để thành lập một nhóm dự án chuyên nghiên cứu sản xuất một loại sản phẩm mới với mong muốn trong vòng một năm, tổ dự án đó có thể cho ra đời loại sản phẩm mới đó Trong trường hợp này, tập đoàn doanh nghiệp vừa là người ủy quyền vừa là người được ủy quyền của dự án
Trang 29- Tính bất biến của kết quả dự án
Dự án không giống như những công việc khác mà sai có thể sửa Nếu có sai lầm trong dự án thì không thể sửa chữa được Nó không giống như những sản phẩm trên giây chuyền chỉ cần đạt đến 99% hiệu suất là được
Khi thực hiện dự án, giám đốc dự án buộc phải đảm bảo chắc chắn sự thành công của nó bởi vì nguồn nhân tài, vật lực của dự án vốn đã được xác định và chi phí của nó vốn đã được tính toán từ trước Nếu dự án thất bại sẽ mãi mãi mất đi tính khả năng thực hiện ban đầu Vì thế, khi thực hiện dự án ta phải
dự trù được những khả năng xảy ra nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu đề ra theo đúng thời gian quy định
1.2.3 Đánh giá tác động của dự án
Có nhiều định nghĩa khái niệm đánh giá
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đánh giá là ―Nhận xét, bình phẩm về giá trị‖ Theo Wikipedia thì: ―Đánh giá (evaluation) là sự phán quyết có hệ thống/có phương pháp về giá trị, tính hữu ích và ý nghĩa của cái gì hay của một người nào đó Đánh giá thường được sử dụng để mô tả đặc điểm và định giá các vấn đề/ chủ đề quan tâm ở một phạm vi rộng‖
Còn một số thuật ngữ khác bằng tiếng Anh dùng để chỉ ý nghĩa tương tự
như evaluation đó là assessement, apprasal/appraisement, estimation, judgment,
valuation Tuy nhiên, trong mỗi lĩnh vực người ta thường hay dùng chuyên một
thuật ngữ nào đó, chẳng hạn trong đánh giá nhân sự người ta hay dùng thuật ngữ
―employee appraisal‖; trong kinh tế/tính toán thì người ta dùng thuật ngữ
‖estimation‖; trong quản lí, ví dụ khi đánh giá chương trình, dự án người ta hay dùng thuật ngữ assessment Mỗi thuật ngữ có thể có nghĩa hơi khác nhau một chút những nghĩa chung là phán xét/nhận định về giá trị con người, công việc hay sự vật nào đó
Trong lĩnh vực giáo dục người ta thường dùng hai thuật ngữ evaluation
và assessment Một số người cho rằng hai thuật ngữ này có thể dùng thay thế
Trang 30lẫn nhau, một số khác thì không cho là như vậy Những người này cho là evaluation có nghĩa rộng hơn assessment và liên quan đến việc tạo ra sự phán xét về giá trị và tính hữu ích của sự vật hay con người (sự đánh giá) Assessment thường được dùng khi người ta muốn nói đến sự mô tả đặc điểm của sự vật/con người một cách khách quan, trong khi evaluation thì được dùng vừa có nghĩa là mô tả vừa có ý định đánh giá những sự phán quyết về giá trị hay tính hữu ích của sự vật hay cong người (Theo Wikipedia)
Từ những phân tích trên, có thể xác định khái niệm đánh giá như sau:
Đánh giá là quá trình đưa ra nhận định/phán xét về giá trị của sự vật /con người trên cơ sở sử dụng những dữ liệu, bằng chứng thu thập và xử lí được, cũng như dựa trên những lí lẽ và lập luận của chủ thể đánh giá Kết quả của đánh giá là giá trị được xếp hạng, được phân biệt hoặc được xác minh
Khái niệm đánh giá luôn gắn với khái niệm giá trị vì thực chất của đánh gía là phán đoán giá trị của sự vật hiện tượng Quan điểm về giá trị đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình đánh giá Vì vậy, phải thống nhất được cách hiểu khái niệm này mới có thể có được sự đồng thuận trong đánh giá, trong nhận định kết quả đánh giá C.Mác đã chỉ ra rằng: ― Giá trị - khái niệm phổ biến này được nảy sinh từ trong mối quan hệ con người đối xử với thế giới vật chất bên ngoài thỏa mẫn nhu cầu của họ‖ Từ đó có thể thấy giá trị phản ánh quan hệ giữa chủ thể và khách thể, là sự thoả mãn của khách thể đối với nhu cầu của chủ thể Chỉ khi chủ thể có nhu cầu và bản thân khách thể với các thuộc tính khách quan thoả mãn nhu cầu của chủ thể thì mới xuất hiện giá trị
Chủ thể ở đây là con người thực tiễn, con người nhận thức hoặc là con người hoạt động, con người hành vi, còn khách thể là sự vật, hiện tượng trong thực tiễn khách quan, là đối tượng của nhận thức hay đối tượng của hành vi của chủ thể Mối quan hệ tương hỗ giữa chủ thể và khách thể thường được biểu hiện qua các mặt:
Trang 31Một là, sự phản ánh của khách thể đối với chủ thể trong thực tiễn, trong nhận thức, là sự tiếp nhận hay ―phục tùng‖, tức là thừa nhận sự tác động của khách thể lên chủ thể
Hai là, sự tác động của chủ thể lên khách thể, để khách thể phục vụ chủ thể, thoả mãn nhu cầu của chủ thể
Trên quan điểm hệ thống để phân tích khái niệm giá trị, dễ dàng phát hiện hai yếu tố trong mối quan hệ qua lại với nhau tạo ra giá trị: thuộc tính khách quan của sự vật, hiện tượng và nhu cầu chủ quan của chủ thể Do thuộc tính khách quan của sự vật, hiện tượng rất đa dạng, nhu cầu chủ quan của chủ thể cũng vô cùng phong phú, lại khác nhau ở những giai đoạn lịch sử khác nhau, ở các thế chế khác nhau, nên giá trị của sự vật mang tính lịch sử và tương đối
Dựa trên khái niệm đánh giá đã nêu, khái niệm đánh giá tác động của dự
án được xác định là: Đánh giá tác động của dự án là quá trình đưa ra nhận
định/phán xét về tính hiệu quả của dự án đang tiến hành hoặc đã hoàn thành so với thiết kế, quá trình thực thi, kết quả đầu ra và tác động của dự án đó (những thay đổi có thể đạt được của dự án đối với người hưởng lợi và môi trường xung quanh họ về mặt kỹ thuật, kinh tế, văn hóa - xã hội và các nhân tố của thể chế, môi trường ) trên cơ sở sử dụng những dữ liệu, bằng chứng thu thập và xử lí được, cũng như dựa trên những lí lẽ và lập luận của chủ thể đánh giá Kết quả của đánh giá là giá trị được xếp hạng, được phân biệt hoặc được xác minh
1.2.4 Bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án
Tiêu chí (Criterion) là đặc trưng, dấu hiệu có thể được lấy làm cơ sở, căn
cứ để nhận biết, xếp loại, đánh giá các sự vật, các khái niệm
Tùy theo yêu cầu hay ý muốn của con người, bất kể một dấu hiệu nào của đối tượng cũng đều có thể trở thành tiêu chí: mầu sắc, trọng lượng, tính chất vật lí, tính chất hoá học, cấu tạo, giá trị, hiệu quả, tốc độ, kích thước…nếu lúc đó nó phù hợp với mục tiêu của chủ thể Tiêu chí, chuẩn và mục tiêu là những phạm trù gần nhau, có quan hệ chặt chẽ và thường khó phân biệt tuyệt
Trang 32đối với nhau Tuy nhiên, chúng có thể được phân biệt theo nghĩa so sánh nếu cùng được đặt cạnh nhau trong trường hợp xem xét cụ thể
Tiêu chí được con người thừa nhận là phương tiện để con người phân loại, so sánh, đánh giá, tổ chức, cấu trúc tuyển chọn và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau của thực tiễn xã hội như khoa học, quản lý, ứng xử xã hội…
Một tiêu chí được xác định bằng các chỉ số Các chỉ số là sự mô tả định lượng những biểu hiện khác nhau của tiêu chí Nhờ chỉ số mà có thể kết luận tiêu chí có hay không có (tồn tại hay không tồn tại) ở đối tượng
Từ cách hiểu trên, có thể xác định khái niệm bộ tiêu chí đánh giá tác
động của dự án như sau: Bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự án là tập hợp
các tiêu chí phản ánh các đặc trưng, dấu hiệu về tính hiệu quả của dự án được lấy làm cơ sở, căn cứ để đưa ra nhận định/phán xét về tính hiệu quả của dự án đang tiến hành hoặc đã hoàn thành so với thiết kế, quá trình thực thi, kết quả đầu ra và tác động của dự án đó
1.3 Một số vấn đề cơ bản về xây dựng bộ tiêu chí đánh giá tác động của dự
án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo
1.3.1 Đặc điểm của các dự án phát triển giáo dục và đào tạo
Dự án phát triển giáo dục giáo dục là một trong những loại dự án phát triển, vì thế nó có đầy đủ các đặc trưng của dự án Bên cạnh đó, dự án phát triển giáo dục còn có những đặc điểm riêng phản ánh nét đặc thù của giáo dục
và QLGD Các đặc điểm này bao gồm :
- Đặc điểm liên quan đến mục tiêu giáo dục
Đặc điểm này phản ánh tính không tường minh trong mục tiêu của giáo dục Giáo dục là quá trình xã hội hóa (phát triển phương diện xã hội của con người, chuyển hóa từ con người sinh học thành con người xã hội) và nghề nghiệp hóa (chuyển giao kinh nghiệm xã hội, phát triển năng lực nghề nghiệp
để con người lao động duy trì cuộc sống) con người Những khía cạnh khác nhau của hai quá trình trên đương nhiên phải là mục tiêu của giáo dục Tuy
Trang 33nhiên, những mục tiêu này thường là không tường minh bởi việc lượng hóa
chúng khó khăn, đôi khi không thực hiện được
Do tính không tường minh của mục tiêu giáo dục nên các dự án phát triển giáo dục thường có xu hướng chuyển hóa từ các mục tiêu này sang các mục tiêu dễ đo lường Mặt khác, các dự án phát triển giáo dục thường mềm dẻo trong việc cụ thể hóa mục tiêu cũng như trong thực thi để đạt được các mục
tiêu đó
- Đặc điểm về ảnh hưởng của môi trường đối với giáo dục
Giáo dục chịu sự chế ước của xã hội, do đó, sự phát triển của giáo dục chịu sự tác động rất lớn của các yếu tố thuộc môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Vì thế, dự án phát triển giáo dục có liên quan đến các phân hệ khác nhau của hệ thống kinh tế xã hội và chịu sự tác động của các phân hệ đó ngay cả trong giai đoạn xây dựng lẫn triển khai trong thực tiễn Cụ thể hơn, dự
án phát triển giáo dục tác động đến hầu hết xã hội và do đó được sự quan tâm của hầu hết xã hội Có thể khẳng định rằng, phần lớn các thành viên của cộng đồng đều có ít nhiều quan hệ các dự án phát triển giáo dục Điều này được lý giải bởi các khía cạnh sau:
Thứ nhất, giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đến các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đồng thời giáo dục phải sử dụng nguồn lực lớn của xã hội mới
đối tượng này kéo theo sự quan tâm của xã hội đối với giáo dục
- Đặc điểm liên quan đến chủ thể hoạch định dự án phát triển giáo dục
và các liên đới
Dự án phát triển giáo dục được quyết định bởi các cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng việc thực thi dự án phát triển giáo dục lại phụ thuộc vào các liên
Trang 34đới (những cá nhân, nhóm người mà lợi ích liên quan đến việc thực thi dự án) Ảnh hưởng của các liên đới đến quá trình xây dựng, chấp nhận và thực thi dự
án phát triển giáo dục khó đo đếm, khó kiểm soát nhưng lại quan trọng đối với thành công của dự án phát triển giáo dục
1.3.2 Mục đích và phân loại đánh giá dự án phát triển giáo dục
1.3.2.1 Mục đích của đánh giá
Việc đánh giá có thể được dùng cho những mục đích khác nhau Một cách nhìn nhận mục đích của đánh giá là xem xét mức độ chú ý/chú trọng đến việc học tập, so với mức độ chú ý/chú trọng đến trách nhiệm giải trình
Một quan điểm khác mới nổi lên ở trong các tài liệu cho rằng đánh giá có
4 mục đích khác biệt:
- Đạo đức: để báo cáo cho các nhà lãnh đạo chính trị và các công dân về
việc thực hiện của một chính sách và những kết quả đã đạt được Mục đích này kết hợp với các mục tiêu nhằm nâng cao trách nhiệm giải trình, có thêm thông
tin và phục vụ cho dân chủ;
- Quản lý: để đạt được sự hợp lý hơn trong phân bổ tài lực và nhân lực ở
những hành động khác nhau, và để cải thiện công tác của cấp quản lý được ủy
nhiệm thực hiện các dịch vụ;
- Ra quyết định: để mở đường cho những quyết định về việc sẽ tiếp tục,
ngừng lại hay tái hoạch định chính sách;
- Giáo dục và thúc đẩy: để giúp giáo dục và thúc đẩy các cơ quan công
quyền và các đối tác của họ bằng cách tạo khả năng cho họ hiểu được các quá
trình mà họ tham gia vào và nhận dạng các mục tiêu của mình
Các nhà đánh giá có uy tín trong lĩnh vực này đã mô tả những mục đích
sau đây của công tác đánh giá:
- Cải thiện xã hội;
- Thúc đẩy bàn luận dân chủ;
- Giám sát và tuân thủ;
- Trách nhiệm giải trình và minh bạch;
Trang 35- Phát triển và quản trị tri thức;
- Cải thiện tổ chức;
- Thúc đẩy sự đối thoại và hợp tác của các đối tượng hưởng lợi ích;
- Xác định tính liên quan, sự thực hiện, hiệu quả, hiệu suất, tác động và
tính bền vững của dự án/chương trình;
- Rút ra những bài học
Suy cho cùng, mục đích của mọi công trình đánh giá là đáp ứng quyền lợi
của những người sử dụng và những người được hưởng lợi ích, cho dù họ là ai
Những đối tượng thực sự được hưởng lợi ích từ việc đánh giá là:
- Các quan chức Chính phủ/Quốc hội;
- Các nhà quản lý và cán bộ chương trình;
- Các tổ chức phi chính phủ (NGOS);
- Xã hội dân sự;
- Chủ dự án;
- Những người tham gia
1.3.2.2 Phân loại đánh giá
Đánh giá được thực hiện để đánh giá hình thành, đánh giá tổng kết và đánh giá triển vọng đối với các dự án/chương trình/chính sách
Đánh giá hình thành là những đánh giá có ý định cải thiện sự thực hiện,
thường xuyên được tiến hành trong giai đoạn thực hiện của dự án hoặc chương trình Việc đánh giá này cũng có thể được tiến hành vì những lý do khác, chẳng hạn như theo những yêu cầu tuân thủ, pháp lý, hoặc là một bộ phận nằm trong một sáng kiến đánh giá lớn hơn
Trái lại, đánh giá tổng kết là những nghiên cứu được tiến hành khi kết
thúc một can thiệp (hoặc một giai đoạn của can thiệp đó) để xác định mức độ đạt được của các kết quả đã dự kiến Đánh giá này có ý định cung cấp thông tin
về giá trị của một chương trình Đánh giá hình thành là một công trình xem xét cách thức mà một chương trình/chính sách/dự án được thực hiện, để xem liệu
Trang 36―logic vận hành‖ đã được giả định của nó có tương ứng với sự vận hành trong thực tế hay không và những kết quả nào (trước mắt) mà các giai đoạn thực hiện
đã đem lại Loại hình đánh giá này thường được tiến hành trong pha thực hiện của dự án/chương trình, nhưng cũng có thể được tiến hành sau (sau khi dự án/chương trình đã hoàn thành) Một phần của công việc được gọi là ―theo dõi
và đánh giá‖ cũng có thể được coi như những nghiên cứu (được định hướng) vào quá trình Đánh giá hình thành có thể bao gồm các loại đánh giá nhanh, đánh giá trung hạn và đánh giá các quy trình thực hiện Những đánh giá diễn ra trong giai đoạn thực hiện (đánh giá quy trình) cung cấp phản hồi, do vậy có thể giúp cải thiện việc thực hiện cũng như có thể nhận dạng và gỡ bỏ những vướng mắc đối với việc thực hiện
Đánh giá trung hạn có thể được bắt đầu để chú trọng vào những bài học
nhận được cũng như vào tính liên quan, hiệu quả và hiệu suất Khi biện pháp can thiệp đã chín muồi, có thể đánh giá được những vấn đề bao gồm tính liên quan, hiệu quả, hiệu suất, những dấu hiệu tác động ban đầu, tính bền vững và
sự ứng dụng của bên ngoài Những bài học nhận được cũng có ý nghĩa quan trọng để định hướng cho những can thiệp trong tương lai
Đánh giá tổng kết (đánh giá kết quả/tác động) được tiến hành khi kết
thúc một can thiệp (hoặc một pha của can thiệp đó) để xác định mức độ đạt được của những kết quả dự kiến và tác động đem lại Đánh giá này có ý định cung cấp thông tin về giá trị và tác động của một chương trình Những đánh giá tổng kết có thể gồm: đánh giá tác động, nghiên cứu chi phí-hiệu quả, kinh nghiệm và những kinh nghiệm ngẫu nhiên
Đánh giá sau (kết quả/tác động) nhìn chung được tiến hành sau khi can
thiệp đã hoàn thành Chúng được sử dụng để trả lời những câu hỏi về tính liên quan, hiệu quả, tác động, tính bền vững, sự ứng dụng bên ngoài và những bài học nhận được
Trang 37Thông thường, cần phải có sự cân đối giữa 2 loại đánh giá trên Các tổ chức thường cần đến và sử dụng cả hai loại đó
Các tổ chức cũng có thể có được ích lợi nếu áp dụng việc đánh giá triển vọng Đánh giá này phần nào tương tự như đánh giá giá trị khả dĩ đưa lại Chúng trả lời những câu hỏi: ―Liệu có đáng tiến hành đánh giá chương trình/dự
án này không?‖ và ―Liệu những lợi ích thu được có xứng đáng với nỗ lực/nguồn lực bỏ ra hay không?‖ Đánh giá triển vọng ―tổng hợp những thông tin theo dõi và đánh giá của những khảo sát trước đây để đánh giá những kết quả khả dĩ của những dự án/chương trình/chính sách mới được đề xuất [Ví dụ, các ủy ban quốc hội Mỹ và các cá nhân nghị sĩ thường yêu cầu Tổng cục Kế toán (General Accounting Office-GAO) để được cố vấn về dự báo những kết quả khả dĩ của đạo luật được đề xuất‖] GAO dựa vào một cơ sở dữ liệu rất bao quát về các dữ liệu KT-XH theo từng thời kỳ để có được thông tin cho những công trình đánh giá như vậy Những đánh giá đó được thực hiện kém thường xuyên hơn ở các quốc gia đang phát triển, nơi mà những dữ liệu bao quát như vậy có thể không có, tuy nhiên họ thường có những thông tin theo dõi và đánh giá, có thể sử dụng được để chuẩn bị cho một công trình đánh giá triển vọng của dự án/chương trình/chính sách
1.3.3 Phương diện cần được đánh giá và cách thức sử dụng đánh giá dự án phát triển giáo dục
Các công trình đánh giá có thể xem xét nhiều phương diện khác nhau của công cuộc phát triển Dưới đây là một số phương diện đó:
- Các dự án: một can thiệp độc nhất được đưa ra ở một địa phương hoặc
một dự án độc nhất được thực hiện ở nhiều địa phương;
Các chương trình: một can thiệp bao gồm những hoạt động hoặc dự án
khác nhau cùng đóng góp cho một mục tiêu chung
- Các chính sách: những đánh giá về các tiêu chuẩn, hướng dẫn hoặc quy
tắc do một tổ chức đề ra để hiệu chỉnh những quyết định phát triển;
Trang 38- Các tổ chức: nhiều chương trình can thiệp được cung cấp bởi một tổ chức;
- Ngành: những đánh giá về các can thiệp ở toàn bộ một lĩnh vực chính
sách cụ thể, chẳng hạn như giáo dục, lâm nghiệp, nông nghiệp và y tế;
- Chủ đề: những đánh giá về các vấn đề cụ thể, thường mang tính liên
ngành, chẳng hạn như vấn đề bình đẳng giới, hàng hóa sản phẩm toàn cầu, hoặc phát triển Mục tiêu Thiên niên kỷ;
- Hỗ trợ quốc gia: những đánh giá về sự tiến bộ so với kế hoạch, tác
dụng chung của viện trợ, những bài học nhận được
Có nhiều cách sử dụng kết quả đánh giá Các đánh giá cung cấp phản hồi
về chính sách/chương trình/dự án cho các khách hàng, cơ quan Chính phủ, NGOs, công chúng và những đối tượng khác Các kết quả đó có thể cung cấp thông tin về cách thức sử dụng các quỹ công
Các đánh giá có thể giúp làm cho những chính sách, chương trình và dự
án có trách nhiệm giải trình về cách thức mà những chính sách/chương trìinh/
dự án đó đã sử dụng quỹ công như thế nào Chúng cũng có thể giúp những đối tượng hưởng lợi biết được nhiều hơn về các chính sách/chương trình/dự án của
họ để đưa lại những cải tiến nhất định Các kết quả của đánh giá cũng có thể đem lại lợi ích cho việc cấp kinh phí và sở hữu Carol Weiss, một chuyên gia
có uy tín trong lĩnh vực đánh giá, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nhận dạng những sử dụng dự kiến của đánh giá trong giai đoạn lập kế hoạch ban đầu Weiss nhấn mạnh rằng từ đầu đến cuối, quy trình đánh giá phải được thiết kế
và thực hiện xoay quanh những nhu cầu của người sử dụng chủ yếu được dự kiến Những người này sẽ chịu trách nhiệm thực hiện sự thay đổi dựa trên sự liên quan của họ với quá trình đó, hoặc với những phát hiện của công trình đánh giá
Weiss cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đàm phán giữa nhà đánh giá hoặc nhóm đánh giá với người sử dụng chủ yếu được dự kiến để xác định những cách thức sử dụng đánh giá Phần lớn các đánh giá đều có nhiều cách sử
Trang 39dụng Nhờ vào sự giao tiếp của các nhà đánh giá với những người sử dụng được
dự kiến, có thể thiết lập sự đồng thuận về những cách thức sử dụng đánh giá
Làm sáng tỏ các quy trình thực hiện, những thất bại hoặc những thành công có thể xảy ra ở mọi cấp;
Giúp cung cấp những bài học, những lĩnh vực thành tựu và tiềm năng nổi bật và đưa ra những khuyến nghị cụ thể để hoàn thiện và cải cách
Các nhà đánh giá chuyên nghiệp đã phát triển một số cách, cả thực dụng lẫn lý thuyết/khái niệm để xem xét việc một đánh giá được sử dụng hoặc có thể được sử dụng như thế nào Ở đây, chúng ta sẽ chú trọng vào các cách sử dụng đánh giá mang tính thực dụng
Những cách sử dụng thực dụng đối với đánh giá
- Giúp đề ra quyết định phân bổ nguồn lực;
- Giúp tư duy lại về các nguyên nhân của vấn đề;
- Nhận dạng những vấn đề đang nổi lên;
- Hỗ trợ việc ra quyết định về những phương án thay thế đang cạnh tranh nhau hoặc tốt nhất;
- Hỗ trợ cải cách và đổi mới khu vực công;
- Xây dựng sự đồng thuận về các nguyên nhân của vấn đề và cách thức ứng phó
Tóm lại, các nhà quản lý có thể sử dụng thông tin từ công trình đánh giá
để chú trọng vào:
Những vấn đề thiết kế và chiến lược chính trị ở phạm vi rộng (Những công việc cần làm có được thực hiện hay không?)
Trang 40Những vấn đề tác nghiệp và thực hiện (Những công việc có được thực hiện đúng cách không?)
Có những cách thức tốt hơn để tiếp cận với vấn đề không (Những điều gì đang học tập được?)
1.3.4 Tiêu chí và lĩnh vực đánh giá tác động của dự án phát triển giáo dục
1.3.4.1 Tiêu chí đánh giá dự án phát triển giáo dục
Lĩnh vực đánh giá phát triển đã được xây dựng theo tiêu chí của Ủy ban
Hỗ trợ Phát triển (Development Assistance Committee - DAC) Năm 1991,
DAC-Ủy ban của OECD đã hậu thuẫn và nâng cấp những nguyên tắc phát triển trong phạm vi rộng Mạng lưới của DAC về đánh giá phát triển đã tụ họp 30 Cục phát triển song phương và đa phương Các Cục này có nhiệm vụ nghiên
cứu tìm cách cải thiện công tác đánh giá để hỗ trợ phát triển hiệu quả hơn
Với các mục đích đặt ra, chúng ta sẽ chú trọng vào 4 tiêu chí của DAC
đối với công tác đánh giá sự hỗ trợ phát triển
Tiêu chí của DAC đối với công tác đánh giá dựa án phát triển là:
- Tính liên quan: Mức độ mà hoạt động viện trợ thích hợp với những ưu
tiên và chính sách của các nhóm đối tượng mục tiêu, nơi tiếp nhận và nhà tài trợ;
- Hiệu quả: Số đo mức độ mà hoạt động viện trợ nhận được các mục tiêu
đề ra;
- Hiệu suất: Số đo các đầu ra - cả chất lượng lẫn số lượng - liên quan tới
các đầu vào Đây là một thuật ngữ kinh tế, cho thấy việc viện trợ sử dụng những nguồn lực với khả năng ít tốn kém nhất để đạt được những kết quả cần thiết Điều này nhìn chung đòi hỏi so sánh các cách tiếp cận thay thế nhau trong việc đạt được những đầu ra như nhau để xét xem quy trình nào có hiệu suất cao
nhất được áp dụng;
Tính bền vững:
+ Những thay đổi tích cực và tiêu cực do sự can thiệp phát triển tạo ra,
trực tiếp hoặc gián tiếp, mong muốc hoặc không mong muốn Điều này liên