Tổng hợp loài cây bóng mát có hoa đẹp trong các trường phổ thông Số cây STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật Số cây thành Nội Vùng ven 1 Phượng vĩ Delonix regia Caesalpiniace
Trang 1PHỤ LỤC 1 :
KHẢO SÁT THỰC TRẠNG MÃNG XANH
1.1 Hiện trạng mảng xanh trong các trường phổ thông
Kết quả khảo sát cây xanh, hoa kiểng trong các trường phổ thông ở địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bao gồm 89 loài cây, được chia ra làm 2 nhóm chính: cây bóng mát và cây trang trí (gồm cây kiểng và hoa lá kiểng)
1.1.1 Cây bóng mát
1.1.1.1 Thành phần loài
Gồm 30 loài, thuộc 14 họ thực vật, trong đó có 15 loài (chiếm 50%) là không nên trồng vì không đảm bảo độ an toàn, 4 loài nên hạn chế trồng vì không phát huy tốt tác dụng của cây xanh
Tổng số 930 cây được chia thành 3 nhóm: cây cho bóng mát thông thường, cây xanh vừa cho bóng mát vừa cho hoa đẹp, và cây ăn quả
Về cây cho bóng mát thông thường, thì cây xanh ưu thế là Bàng Trong một trường có thể trồng đến 12 cây, chứng tỏ loài này hầu như gắn liền với trường học Nhưng Bàng cùng với Sọ khỉ, Keo lá tràm lại là những loài có nhánh giòn, dễ gãy, rất nguy hiểm nhất là khi đến mùa mưa gió mạnh Các trường trồng những loài cây này cần phải lưu ý mé nhánh cây thường xuyên
Còn 2 loài Dầu rái và Sao đen là các loài cây gỗ lớn, rất cao, chỉ thích hợp cho những trường có diện tích sân chơi rộng lớn Nhưng theo kết quả điều tra, 2 loài này xuất hiện trong cả các trường tiểu học với khoảng không gian nhỏ Tuy nhiên, đa số là những cây nhiều năm tuổi, đã tồn tại từ khi mới thành lập trường
Trang 2hoặc đã có sẵn trước lúc trường được xây dựng Còn những cây mới trồng chiếm số lượng rất ít (khoảng 14%), chứng tỏ các trường cũng nhận thấy điểm hạn chế của hai loài cây to cao này
Cây Đa bồ đề tuy dáng vẻ uy nghi, được trồng phổ biến ở các đình chùa nhưng không phù hợp cho trường học vì có hệ rễ phát triển mạnh, có thể làm hư hại công trình Bã đậu là loài cây có nhánh dễ gãy, hạt độc, thân có gai, hoàn toàn không nên trồng trong các trường phổ thông
Bảng 1.1 Tổng hợp loài cây cho bóng mát thông thường trong các trường phổ thông
Số cây STT
Trang 3Bảng 1.2 Tổng hợp loài cây bóng mát có hoa đẹp trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên tiếng
Việt Tên khoa học Họ thực vật
Số cây thành Nội Vùng ven
1 Phượng vĩ Delonix regia Caesalpiniaceae 97 74 23
2 Lim sét Peltophorum
5 Muồng
hoa vàng
Cassia splendida
6 Bằng lăng
tím
Lagerstroemia reginae
7 Bằng lăng
nước
Lagerstroemia speciosa
8 Sứ cùi
trắng
10 Bò cạp
nước
11 Mò cua Alstonia
scholaris
Tập hợp cây xanh vừa cho bóng mát vừa cho hoa đẹp chỉ có 11 loài, không thể hiện được sự đa dạng; trong đó, có 3 loài nên hạn chế trồng Thứ nhất là Mò cua, cây tuy có dáng đẹp, nhưng hương hoa rất nồng, gây cảm giác khó chịu nếu trồng tập trung nhiều cây ở một khu vực Thứ hai là Bằng lăng, tuy có hoa đẹp, dễ trồng và chăm sóc nhưng cây lại thấp, tán thưa không tạo bóng mát nhiều Các loài cây khác như Móng bò sọc, Lim sét,… thích hợp cho môi trường học đường Việc chọn trồng các loài cây có hoa làm cảnh cũng ít khác biệt giữa các địa phận hành chính
Trang 4Bảng 1.3 Tổng hợp các loài cây ăn quả trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên tiếng
Việt
Tên khoa học Họ thực vật Số
cây thành Nội Vùng ven
1.1.2.1 Sự phân bố cây bóng mát trong các trường phổ thông
Chủng loại cây trồng trong trường học tuy ít phong phú, nhưng tại các khu xây dựng cơ bản đều có cây xanh để tăng cường mỹ quan và hiệu ứng cây xanh đối với con người Việc bố trí mảng xanh còn đơn điệu, phần lớn chỉ có tầng cây bóng mát, thiếu tầng trung gian, thảm cỏ, cây kiểng bên dưới để tạo nên sự đa
Trang 5Sự phân bố cây bóng mát theo cấp chiều cao và đường kính tán
Ghi chú cho các bảng 4.4, 4.5, 4.6:
Chiều cao vút ngọn Hvn (m): H1 < 10 m, 10 m < H2 < 15 m, H3 >15 m
Trang 6Bảng 1.6 Phân bố cây ăn quả theo cấp chiều cao và đường kính tán
ít gặp các cây mới trồng ở cấp chiều cao H1 của những loài này, điều đó cho thấy nhà trường cũng nhận biết được những nhược điểm của chúng Còn cây có
H1 là những cây do trường chọn trồng sau này (trừ những loài cây có chiều cao hạn chế như viết, đại,…) Các trường có xu hướng trồng cùng loài với cây sẵn có trong trường, nên ít có sự đa dạng, phong phú về loài, chủ yếu tập trung vào hai loài là bàng và viết
Hầu hết các cây đều có tán rộng từ trên 2 m đến gần 8 m, do đó phát huy được công dụng tạo bóng mát, nhất là khi được bố trí ở sân chơi Tuy nhiên, ở một vài trường, cây to tán rộng lại trồng ở sát tường hoặc hành lang, khiến cây không đủ không gian sinh trưởng và phát triển, và cũng có thể gây ảnh hưởng đến công trình xây dựng
Số lượng cá thể ít chênh lệch nhất là ở tập hợp cây bóng mát có hoa đẹp, với thành phần loài thích hợp cho môi trường học đường, thể hiện xu hướng
Trang 7chung hiện nay của các trường Số lượng cây bóng mát tuy nhiều nhưng chỉ tập trung trong một số ít loài, và hầu như không khác biệt giữa các khu vực nội – vùng ven
Sự phân bố cây bóng mát ở các cấp học
Bảng 1.7 Phân bố cây xanh bóng mát ở các cấp học
STT Tên tiếng Việt Số
Bảng 1.8 Phân bố cây bóng mát có hoa đẹp ở các cấp học
Nội thành Vùng ven
TT Tên tiếng Việt Số
Trang 810 Bò cạp nước 11 8 2 0 0 0 1
Bảng 1.9 Phân bố cây ăn quả ở các cấp học
TT Tên tiếng Việt Số
1.1.2 Cây hoa trang trí
Hoa kiểng chiếm 67% tổng số loài, nhưng phân bố không đồng đều giữa các vùng nội – vùng ven Các loài cây này có giá trị chủ yếu về mặt thẩm mỹ Trong 59 loài chỉ có được 4 loài nằm trong danh mục sách giáo khoa là trắc bách diệp, vạn tuế, cỏ lông heo và xương rồng, nhưng cũng chưa được sử dụng cho mục đích giảng dạy môn học
Theo đặc tính sinh học – hình thái của cây, có thể chia cây kiểng ra thành
Trang 9m đến 4 m, cây kiểng nhỏ có chiều cao dưới 1 m Còn hoa lá cảnh thì được chia thành 3 nhóm sau: hoa lâu năm, hoa ngắn ngày và các loài kiểng lá
1.1.2.1 Thành phần loài
Gồm 59 loài, thuộc 31 họ, 850 cây; trong đó các trường nội thành có 585 cây, các trường vùng ven chỉ có 255 cây Sự khác biệt rõ ràng này thể hiện mức độ đầu tư khác nhau trong các trường giữa hai khu vực
Số lượng loài khá lớn cho thấy có sự chọn lựa phong phú hơn so với cây bóng mát, một phần là do thị trường cây hoa kiểng ngày nay rất phát triển, luôn cung cấp các giống cây mới, đẹp, đa dạng về kết cấu, màu sắc,…
Bảng 1.10 Tổng hợp các loài kiểng lớn trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật
Số cây Nội thành
Vùng ven
1 Hoàng nam Polyalthia
4 Cau vàng Chrysalidocarpus
7 Cau kiểng
đỏ
Cyrtostachys lakka
hán
Podocarpus brevifolius
9 Chuối rẽ
quạt
Ravennala madagascariensis
Trang 10Bách tán và Hoàng nam chiếm số lượng nhiều nhất vì đây là những loài cây có dáng đẹp và ít sâu bệnh Hoàng nam cao, tán hẹp, dạng tháp rất thích hợp để trồng ở các khuôn viên hạn chế về diện tích, và cũng có thể tạo cảnh quan đẹp nếu được trồng thành 2 hàng đối xứng chạy dọc giữa sân trường (đối với những trường rộng lớn)
Bách tán với dáng vẻ uy nghiêm, sang trọng rất được ưa chuộng khi đặt cây ở vị trí trước khối văn phòng
Cau bụng và Tùng la hán là các loài có giá thành cao, lại tốn nhiều công chăm sóc Chỉ nên trồng những cây này ở những trường có nguồn kinh phí dồi dào
Bảng 1.11 Tổng hợp các loài kiểng vừa trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên Việt tiếng Tên khoa học Họ thực vật Số cây Nội
thành
Vùng ven
1 Nguyệt quới Murraya
Chiếm đa số về mặt số lượng là phi lao và nguyệt quới Phi lao tuy là loài
Trang 11được trồng trong nhà trường thì chiều cao bị hạn chế bằng cách tỉa ngọn, và cũng
do điều kiện trồng khác với ngoài đất trống Phi lao rất dễ sống, thích nghi với hầu hết các điều kiện ngoại cảnh, là đặc điểm rất cần thiết cho cây trồng trong nhà trường phổ thông, nhất là đối với khu vực trung tâm, nơi đất kém dinh dưỡng và đã bị ảnh hưởng bởi công trình xây dựng
Nguyệt quới thường được trưng bày ở sân chơi hoặc sân trước, dáng cây cứng cáp, điểm nhiều hoa trắng, bắt mắt khách tham quan ngay từ xa Tuy nhiên, loài cây này chỉ phát huy tối đa tác dụng thẩm mỹ khi được chăm sóc, uốn tỉa cành lá thường xuyên
Trong một số trường có trồng trúc đã tạo ra được một khoảng không gian đẹp và yên bình Thân trúc vàng, lá xanh rủ xuống có tác dụng làm mềm khung cảnh, làm dịu tinh thần người thưởng ngoạn Điều này cũng cần thiết cho giáo viên và học sinh sau những giờ học tập
Bảng 1.12 Tổng hợp các loài cây kiểng nhỏ trong các trường phổ thông
Số cây
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật cây Nội Số
thành
Vùng ven
7 Kè quạt Thrinax
Trang 129 Thiên niên
kiện
Homalomena occulta
Trắc bách diệp, vạn tuế, xương rồng nằm trong danh mục thực vật của sách giáo khoa môn sinh, dây là hình ảnh sinh động cho bài học liên quan Ngoài giá trị về giáo dục, những loài này cũng thể hiện tốt vai trò trang trí trong các trường học
Trắc bách diệp làm mềm cảnh quan, thường được trưng bày ở những khu vực kiến trúc “nặng” (nhiều công trình xây dựng cơ bản, hạn chế khoảng trống), giúp không gian nơi đó được cân bằng lại Loài cây này còn được biết đến với tên gọi “cây thuộc bài”, học sinh thường ép lá cây vào tập vở
Xương rồng rất dễ trồng và chăm sóc, là ví dụ điển hình cho tính thích nghi của thực vật đối với ngoại cảnh bất lợi
Bảng 1.13 Tổng hợp các loài hoa lâu năm trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật Số cây Nội
thành
Vùng ven
3 Mỏ két đỏ Heliconia
5 Phong huệ
trắng
Zephyranthes candida
Trang 13lá hẹp neriifolia
Bảng 1.14 Tổng hợp các loài hoa ngắn ngày trong các trường phổ thông
Số cây STT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật cây Số Nội
thành
Vùng ven
1 Dừa cạn Catharanthus
8 Sao nhái
vàng
Cosmos sulphureas
Các loài hoa được trồng với số lượng ít vì người thưởng thức chỉ có thể ngắm hoa trong khoảng thời gian nhất định, tuỳ thuộc vào mùa ra hoa của từng loại cây Sau đợt hoa, cây không còn tác dụng trang trí nhiều nữa, nhất là đối với loài hoa ngắn ngày, khi đó nhà trường lại phải tốn chi phí trồng lại các loài khác Nếu nhà trường chọn trồng các cây hoa lâu năm, ra hoa nhiều đợt trong năm, mỗi loài cho hoa vào thời gian khác nhau, thì có thể bảo đảm tác dụng trang trí Nhưng cách giải quyết này cũng chỉ đạt hiệu quả cao khi tập hợp các loài cây được trồng chung ở một bồn rộng lớn hoặc được bố trí trong tiểu cảnh
Trang 14Mặt khác, hoa kiểng đòi hỏi được chăm sóc thường xuyên và đúng kỹ thuật thì cây mới phát triển tốt, cho hoa đều và đẹp Đây cũng là một việc khó khăn cho các trường phổ thông
Bảng 1.15 Tổng hợp các loài lá kiểng trong các trường phổ thông
Số cây
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học Họ thực vật cây Số Nội
thành
Vùng ven
1 Cỏ lông heo Zoysia
7 Lá trắng Cordia latifolia Boraginaceae 9 0 9
8 Đinh lăng Polyscias
12 Đinh lăng
răng
Polyscias serrata
Trang 151.1.2.2 Sự phân bố cây trang trí ở các trường phổ thông
Các trường vùng ven do kinh phí thấp và diện tích khá rộng nên chủ yếu trồng cây xanh bóng mát và trồng thẳng xuống đất, lượng hoa kiểng không nhiều, nhất là không có các loài giá thành cao Ngược lại, các trường nội thành lại chú trọng nét thẩm mỹ hơn, với đa số cây hoa kiểng nhiều hình dáng, màu sắc khác nhau, được trồng trong chậu Tuy nhiên, sự khác biệt loài giữa các trường là không đáng kể
Bảng 1.16 Phân bố cây kiểng lớn trong các trường phổ thông
Các cá thể được trồng trong chậu tương đối nhiều hơn so với lượng cây trồng bồn (trồng thẳng xuống đất, xây thành bồn bao quanh) Theo kết quả điều
Trang 16tra thì những cây trồng bồn phát triển tốt hơn do có không gian sinh trưởng rộng hơn Tuy nhiên, nhà trường cũng cải thiện được tình trạng của cây bằng cách cung cấp lớp đất phủ mặt giàu dinh dưỡng
Hạn chế này chỉ xảy ra đối với cây kiểng lớn, còn đối với cây kiểng nhỏ và vừa thì ảnh hưởng không đáng kể Ngược lại, các cá thể trồng chậu lại có lợi thế là khả năng linh động, nhà trường có thể di chuyển chậu sang trưng bày ở những
vị trí khác nhau, tuỳ theo mục đích sử dụng
Bảng 1.17 Phân bố cây kiểng vừa trong các trường phổ thông
Hình thức
STT Tên tiếng Việt Số cây
Trang 17trí trong bồn, các bồn thường dài và hẹp với diện tích từ 1 - 4m2, cây trồng dày đặc trong bồn, một trường thường có từ 2 bồn trở lên
Bảng 1.18 Phân bố cây kiểng nhỏ trong các trường phổ thông
Trang 187 Huỳnh anh lá
to nhỏ lẫn lộn, các cây gần nhau lại có màu hoa lá không hợp nhau, tất cả tạo thành khung cảnh hỗn độn, không làm nổi bật được nét đẹp của từng loài
Trong các hành lang nằm giữa các khu phòng học và tường rào, là nơi có bề rộng nhỏ và ít người qua lại Một số trường lại bày bồn hoa hay chậu hoa kiểng, làm như thế sẽ ít phát huy được tác dụng thẩm mỹ của cây
Trang 19Giữa các cấp học không có khác biệt về loài, có thể vì đây là các loài phổ biến, dễ tìm thấy trên thị trường
Bảng 1.21 Phân bố các loài kiểng lá màu trong các trường phổ thông
Trang 2016 Cùm rụm 3 0 3 0 3 0 0 0 0
1.1.3 Tình hình sinh trưởng và phát triển của mảng xanh trong các trường phổ thông
Bảng 4.22 Tỉ lệ diện tích xanh trong các trường phổ thông
Diện tích trường (m2)
Diện tích mảng xanh (m2)
Tỉ lệ M/S (%) Khu vực
Tỉ lệ M/S (%) T1<20 20<T2<50 T3>50
Diện tích các trường ở vùng vùng ven thường lớn hơn nhưng tỉ lệ mảng xanh trên diện tích trường lại không bằng so với các trường trong nội thành Điều này chứng tỏ mức độ đầu tư khác biệt nhau giữa các khu vực
Cũng có trường hợp là trường mới thành lập, tuy có trồng rất nhiều cây nhưng do cây còn nhỏ nên diện tích mảng xanh thấp
Trang 21Tỉ lệ mảng xanh trên diện tích trường không khác biệt rõ ràng giữa các cấp học, có nghĩa là các trường bố trí mảng xanh tuỳ thuộc vào diện tích và kinh phí chứ không dựa vào nhu cầu học tập và giảng dạy
Bảng 1.23 Tình hình sinh trưởng và phát triển của mảng xanh trong các trường phổ thông
Chi phí chăm sóc/năm (triệu đồng)
Bảo dưỡng của trường Độ phát triển của cây Bảng tên Khu
Độ phát triển của cây: A1: cây xanh tốt, không sâu bệnh
A2: chậm phát triển, bị sâu bệnh
A3: cây còi cọc, khô héo
Một số trường rất quan tâm chăm sóc mảng xanh, có bố trí người chuyên bảo dưỡng cây xanh hoa kiểng của trường Nhưng hầu hết các trường chỉ tưới nước, thỉnh thoảng bón phân, rồi để mặc cây tự sinh trưởng và phát triển
Vài trường ở khu vực vùng ven do thiếu nước nên ít tưới cho cây, khiến cây
bị còi cọc trong suốt mùa khô, tán lá hầu như rụng hết, cành nhánh phát triển không đồng đều, hoa kiểng và thảm cỏ cũng trong tình trạng khô héo
Trang 22Một số trường trồng cây con do chưa rõ cách bảo dưỡng nên cây chết dần hay không phát triển được, phải thay cây khác khiến rất tốn kém
Đa số các trường lớn trong nội thành có mảng xanh sinh trưởng tốt, nhưng lại không thường xuyên xén tỉa cành nhánh, tạo dáng cây nên lại tạo ra vẻ mất cân bằng, lộn xộn trong cấu trúc cây
Về đầu tư cho mảng xanh thì các trường nội thành có nguồn học phí, nguồn vận động từ cha mẹ học sinh nên có mức đầu tư cao Trong đó mua các loại cây kiểng đắt tiền đòi hỏi sự chăm sóc tỉ mỉ như cau bụng, các loại bonsai cần phải uốn tỉa, có những loại không sử dụng trong giảng dạy Nếu kết hợp các loài cây cần thiết cho giảng dạy thì chỉ cần đầu tư mức thấp vẫn có mảng xanh hữu dụng trong nhà trường với cơ cấu cây trồng phù hợp
Chi phí chăm sóc nếu rút từ ngân sách thì trang trải được 0,2 - 0,4 triệu đồng/ tháng Đa số các trường huy động sự hỗ trợ của cha mẹ học sinh, một số trường có chi phí rất cao (lên đến 20 - 25 triệu đồng/ năm) nhưng mảng xanh cũng không đẹp, không đáp ứng nhu cầu giáo dục
Chi phí bảo dưỡng cao thường đem lại hiệu quả cao, nhất là đối với thành phần hoa cảnh, đặc biệt đối với các loài đòi hỏi nhiều công chăm sóc Tuy nhiên, đối với cây xanh lớn, do đã thích ứng được với điều kiện nơi trồng nên không thấy khác biệt rõ ràng giữa các trường có chi phí chăm sóc hàng tháng chênh lệch nhau
Về bảng tên cây gồm tên Việt, tên khoa học thì một số các trường trung học cũng có nhưng không viết chính xác tên khoa học, kích cỡ bảng lớn nhỏ khác nhau thiếu thẩm mỹ và đồng bộ
1.2 Ý kiến của người sử dụng
Cán bộ quản lý (48 phiếu)
Trang 23Tỉ lệ phụ thuộc vào nguồn đầu tư (%) Nguồn đầu tư Số phiếu Tỉ lệ trên tổng số phiếu (%)
Nguồn khác là quỹ riêng dựa vào các hoạt động riêng của nhà trường hoặc
do giáo viên cùng cán bộ đóng góp Có 12 trường nội thành rút từ nguồn quỹ này để tạo ra gần 70% kinh phí đầu tư vào mảng xanh
Từ đó hình thành sự chênh lệch giữa các trường về mức đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc hàng tháng, dẫn đến hiện trạng cây xanh hoa kiểng khá khác biệt nhau giữa các trường có lực kinh tế khác nhau
Bảng 1.25 Số tiết giảng dạy có sử dụng cây xanh trong nhà trường để phục vụ cho các môn học trong năm học 2002 – 2003
Số trường Môn học
Sinh Địa lý GDCD Môn
Trang 24môn học trong suốt một học kỳ Các môn học còn lại hoàn toàn hoặc rất ít khi dùng đến cây xanh
Hầu hết các trường chưa sử dụng mảng xanh của mình vào giáo dục, một phần là do chủng loài cây xanh hoa kiểng trong trường chưa đủ để đáp ứng cho chương trình học của các cấp lớp
Bảng 1.26 Ý kiến của Cán bộ quản lý các trường về việc sử dụng mảng xanh để dạy học
(%)
1 Giáo viên chưa chú ý sử dụng mảng xanh
trong quá trình giảng dạy
2 Nên đưa vào chương trình dạy với số tiết nhất
định trong chương trình phân phối, vì đây là
nội dung quan trọng
4 Thấy được lợi ích trước mắt (che nắng) và lâu
dài (môi trường sạch đẹp, thoáng mát)
5 Các em học sinh biết bảo quản, giữ gìn cây
xanh trong nhà trường, bảo vệ bầu không khí
trong lành
Cán bộ quản lý thấy được tầm quan trọng của mảng xanh đối với môi trường và thống nhất ý kiến trong việc đề ra một số tiết quy định phải sử dụng mảng xanh cho một số môn học nhưng lại chưa chỉ hướng giáo viên của trường thực hiện, cũng có thể là do thói quen giảng dạy thuần lý thuyết từ trước đến nay Ban Giám hiệu cũng cho nhận xét rằng khi trong trường có cảnh quan đẹp thì học sinh có ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh, và không có hiện tượng phá hại cây
Giáo viên (186 phiếu)
Trang 25Bảng 1.27 Mức độ nhận biết cây trong nhà trường của giáo viên
Mức độ nhận biết theo tỉ lệ %
Bảng 1.28 Ý kiến của giáo viên Bộ môn về việc sử dụng mảng xanh trong giảng dạy
1 Có mảng xanh thì thuận lợi cho việc giảng dạy 186 100
3 Không phù hợp với yêu cầu của giáo viên 74 40
5 Không cần có mẫu chung cho từng bậc học 70 38
Tất cả giáo viên đều đồng ý rằng mảng xanh là hình ảnh trực quan sinh động giúp học sinh dễ hiểu bài học hơn, đồng thời qua các buổi học thực hành, học sinh sẽ nắm rõ kiến thức Nhưng việc dùng mảng xanh trong trường để giảng dạy thì không được chú trọng từ trước đến nay, các trường không có khu vườn sưu tập dành cho học sinh thực hành Đa số ý kiến cho rằng mảng xanh nhà trường đã phù hợp nhu cầu vì chính bản thân họ ít sử dụng Còn nếu muốn dùng
Trang 26cây thật để minh hoạ cho bài học thì cây xanh hoa cảnh trong trường vẫn còn thiếu rất nhiều
Nhiều giáo viên đồng ý nhà trường nên xây dựng mảng xanh bao gồm các loài cây phục vụ cho giáo dục, đáp ứng cho từng cấp học cụ thể Cũng có các ý kiến ngược lại vì cho rằng có thể dễ dàng tìm mua trên thị trường các loại nguyên liệu cần thiết dùng cho thực hành theo cách vẫn làm từ trước đến nay
Bảng 1.29 Ý kiến của Giáo viên về mảng xanh trường học
1 Giáo viên cần giáo dục bảo vệ môi
trường cho học sinh
2 Bóng mát để học sinh vui chơi, sinh hoạt 186 100
4 Hình ảnh trực quan sinh động cho bài học 186 100
7 Tổ chức các phong trào trồng, chăm sóc
cây xanh cho học sinh tham gia
8 Những loài cây yêu thích thuộc thành
phần cây xanh
9 Những loài cây yêu thích thuộc thành
phần cây hoa kiểng
Tất cả giáo viên đều thống nhất ý kiến là cần phải tăng cường việc giáo dục môi trường cho học sinh thông qua việc tổ chức các phong trào chăm sóc, trồng cây cho vườn trường Khi tham gia vào các hoạt động liên quan đến cây xanh, học sinh sẽ yêu thích thiên nhiên hơn, và có ý thức hơn trong việc giữ gìn môi trường xanh – sạch – đẹp Có một số trường đã tổ chức “Ngày Chủ nhật
Trang 27xanh”, tất cả học sinh tham gia nhặt bỏ cành lá già yếu, bị sâu bệnh, vệ sinh khu vực trồng cây và khuôn viên trường, tưới nước cho cây
Những loài cây được giáo viên yêu thích đa số thuộc thành phần hoa kiểng, nghiêng về mặt trang trí, thẩm mỹ của cây, chứ không phải vì mục đích giáo dục
Học sinh (342 phiếu)
Học sinh tự đóng góp cây trồng (16/48 trường) thể hiện cách thức huy động xây dựng mảng xanh của nhà trường, qua đó đưa các em tham gia vào việc bảo dưỡng, chăm sóc cây xanh
Bảng 1.30 Ý kiến cuả học sinh về những kiến thức học được từ mảng xanh
4 Môi trường sống tốt cho sức khỏe tốt 342 100
Học sinh được học nhiều kiến thức về cây xanh trong các bài học lý thuyết của các môn Sinh, Địa Nhưng lại ít được thực hành trên cây thật nên cũng chưa nắm rõ được cách vận dụng bài học vào thực tế, không liên tưởng được nguyên nhân và kết quả của các hiện tượng đang xảy ra Ví dụ như khi được hỏi có phải mất rừng là một trong những nguyên nhân dẫn đến xói mòn đất, hầu hết học sinh đều biết câu trả lời nhưng không thể giải thích được lý do
Bảng 1.31 Ý kiến cuả học sinh về sự thích thú mảng xanh
Trang 282 Công dụng cây xanh 267 78
4 Ngồi dưới gốc cây học bài, trò chuyện 342 100
Qua bảng kết quả trên, có thể nhận thấy học sinh cảm nhận cây xanh hoa cảnh qua hình dáng, màu sắc Và sử dụng mảng xanh trong nhà trường chủ yếu với tác dụng tạo bóng mát cho những giờ ra chơi, chứ chưa có ý thức học hỏi từ mảng xanh về đặc điểm loài cây, môi trường sống, …
Học sinh tích cực tham gia những hoạt động chăm sóc cây do nhà trường tổ chức Nhưng thường ngày lại không có ý thức đó Hầu hết học sinh không quan tâm đến việc chăm sóc cây xanh (93%) Và chỉ có 24% học sinh thỉnh thoảng tưới nước, vệ sinh cho các loài hoa kiểng Điều này thể hiện học sinh chưa thật sự quan tâm, gắn bó với thiên nhiên quanh mình
1.3 Đề xuất tiêu chí cho việc chọn loài cây trồng trong các trường phổ thông ở TPHCM
Trên cơ sở về hiện trạng cây xanh hoa kiểng của các trường phổ thông, đối với từng điểm đạt cần phát huy và từng điểm không đạt cần khắc phục, rút ra được các tiêu chí chọn loài cây trồng
Đối chiếu với ý kiến của người sử dụng và các nguyên tắc chung về chọn loài để xác định tiêu chí cụ thể hơn Các tiêu chí sẽ được đánh số theo thứ tự của số đếm
Trang 29Kế thừa những tiêu chí chung đã có sẵn, đó là về độ an toàn Đây là tiêu chí đầu tiên cần lưu ý khi chọn trồng cây cho nhà trường nói riêng và cho các khuôn viên công cộng nói chung
(1) Tiêu chí về độ an toàn bao gồm các nội dung sau: cây không có nhánh giòn, dễ gãy; thân không có gai; không có nhựa độc; không thu hút ruồi nhặng; không là cây ăn trái
Tiêu chí được xây dựng với mục đích hoàn thiện về mặt chủng loài cho mảng xanh trong các trường phổ thông Dựa trên các loài mà nhà trường hiện có, đề xuất thêm các loài cây trồng bổ sung khác theo các cơ sở sau:
1.3.1 Tiêu chí giáo dục
Dựa theo chương trình học trong sách giáo khoa môn sinh, các trường cần chọn trồng các loài cây thích hợp cho thực hành và quan sát, minh hoạ cho bài học Đây là tiêu chí mà các trường nên thực hiện để phục vụ nhu cầu giáo dục (2) Tiêu chí về giáo dục trong cấp tiểu học, phục vụ cho các nội dung bài học: mô tả đặc điểm cây hoa, quan sát cây xung quanh và nói về môi trường sống (cây trên cạn, cây sống dưới nước), kể tên các bộ phận của cây, các dạng thân cây (thân gỗ, thân leo, thân bò, thân thảo, thân mọng nước), các dạng rễ (cọc, chùm), công dụng các loài cây
Cây bóng mát: Muồng hoa vàng, Thông, Móng bò tím
Cây trang trí: Cẩm chướng, Rong, Sen súng, cỏ, Vạn tuế, Trắc bá diệp, Dây huỳnh anh, Mười giờ, Thuốc bỏng, Dâm bụt, Hoa hồng
(3) Tiêu chí về giáo dục trong cấp trung học cơ sở, phục vụ cho các nội dung bài học: sự sinh sản ở thực vật và động vật, sưu tầm hoa của một số loài thực vật, thực hành trồng cây bằng hạt và cây con mọc từ nách lá, đặc điểm chung của thực vật, môi trường sống, thí nghiệm về sự hô hấp và quá trình quang
Trang 30hợp, thực hành giâm cành hoa cảnh, sự phát triển của thực vật từ đơn giản đến phức tạp, vai trò của thực vật, kết hợp tham quan thiên nhiên
Cây bóng mát: Móng bò tím, Viết, Muồng hoa vàng, Đại lá tù, thông Cây trang trí: Mười giờ, Trang, Thuốc bỏng, Rong, Tía tô cảnh, Môn đốm hoặc các loài lá cảnh khác
(4) Tiêu chí về giáo dục trong cấp trung học phổ thông, phục vụ cho các nội dung bài học: thực hành ghép, chiết cây Mối quan hệ giữa cây xanh và môi trường, sự hình thành các hệ sinh thái, các môi trường sống Sự trao đổi chất ở sinh vật tự dưỡng: quang hợp và hô hấp, sự sinh sản của cây có hoa ngành hạt kín, tính cảm ứng của thực vật, sự tạo thành tinh bột trong quá trình quang hợp Cây bóng mát: Muồng hoa vàng, Đại lá tù
Cây trang trí: Mai, Xương rồng, Sứ thái
1.3.2 Tiêu chí về sự đa dạng
(5) Đa dạng về kết cấu tầng tán: từ tầng cây xanh ở trên cao, tầng trung gian cây kiểng đến tầng hoa cảnh dưới thấp và lớp hoa nền hoặc thảm cỏ che phủ đất Cần lưu ý đến sự bố cục hợp lý về kích thước, hình dáng, màu sắc của tập hợp loài và sự đa dạng về loài nghĩa là trồng nhiều loài cây cho một kiểu tầng tán Do đó, tuy một tập hợp loài đã được xác định để trồng cho một cấp học cụ thể theo tiêu chí giáo dục, nhưng từng thành phần của tập hợp loài đó vẫn có thể được chọn trồng trong các cấp học khác
Chọn trồng cây bóng mát cần đạt các yêu cầu sau: dùng các loài cây thường xanh, tán rộng, sinh trưởng nhanh để mau tạo tán, đồng thời cho hoa đẹp như me tây, phượng vỹ, lim sét, bò cạp nước, …Hạn chế trồng những loài cây rừng, gỗ lớn vì ít phát huy tác dụng tạo bóng mát và chiếm quá nhiều không gian sinh trưởng
Trang 31Nên chọn các loài chịu bóng để trồng dưới tán cây xanh: sinh trưởng và phát triển bình thường trong điều kiện thiếu ánh sáng như tía tô cảnh, các loài lá màu, …
Chọn các loài kiểng, hoa cảnh và lá cảnh đẹp, dùng để trang trí như Bách nhật, Huỳnh anh, Phất dụ, Trang, … Chọn các loài thực vật che phủ đất nhanh, bền như cỏ nhung, Mười giờ, Aùc ó, …
Các loài cây hoa kiểng và che phủ nền trên rất đa dạng và phong phú, tuỳ theo sở thích và nhu cầu thẩm mỹ của mỗi trường mà chọn trồng loài thích hợp, nên tuân theo nguyên tắc sau:
dễ trồng, ít yêu cầu chăm sóc,
khả năng sinh trưởng tốt trong thời gian lâu
Ngoài việc bố trí các loài cây một cách độc lập, còn có thể kết hợp các loài cây kiểng lớn, hoa kiểng nhỏ, cây phủ đất, thảm cỏ, dây leo, và các loại vật liệu trang trí khác như đá sỏi, khung sắt, tượng đài, vòi phun nước,… tạo thành tiểu đảo với rất nhiều mô hình, mỗi mô hình có nét đặc sắc riêng, và các cách thiết kế cũng rất đa dạng
(6) Đa dạng về môi trường sống: bao gồm thực vật trên cạn và thực vật thuỷ sinh Có thể thiếp lập vườn treo hoặc hồ nước
Nên chọn các loài cây thuỷ sinh trồng trong hồ nước là những loài cây phát triển tốt trong môi trường nước, ít tốn công chăm sóc và có khả năng làm trong sạch môi trường nước
Hồ nước là mô hình mà cấp tiểu học nên xây dựng Hồ nước phải có đường kính ít nhất là 1m, nên xây cố định bằng ximăng cho bền lâu, bề mặt hồ có thể trang trí hoa văn Hồ được xây theo nhiều hình dạng như hình tròn, bán nguyệt, hình chữ nhật, hay chiếc thuyền,…Trong hồ trồng các loài cây thủy sinh như lục