1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ

119 554 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 739,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG...52 2.1.1- Điều kiện về lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH ĐỔI VỚI

NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Quản lý hành chính công

Mã số: 60 34 82

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

HÀ NỘI - NĂM 2012

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua thời gian học tập tại Học viện và cho đến hôm nay để hoàn thànhđược luận văn này, tôi kính bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám đốcHọc viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, các thầy, cô Khoa Sauđại học cùng các thầy cô giáo giảng dạy các môn học trong quá trình học tập tạiHọc viện

Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn Tiến sỹ Nguyễn Thị Tuyết Mai đã tậntâm, nhiệt tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn đến Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang, Ban Quản lý cácKCN tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện về thời gian và cung cấp số liệu, tài liệu

để đưa vào nghiên cứu, dẫn chứng trong luận văn, giúp tôi hoàn thành đề tài tốtnghiệp này

Xin trân trọng cảm ơn!

Bắc Giang, tháng 8 năm 2012

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 3

KCNC Khu công nghệ cao

CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóaBT-GPMB Bồi thường, giải phóng mắt bằngGPMB Giải phóng mặt bằng

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 4

SỰ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 25 1.2.1- Sự cần thiết ra đời, phát triển các khu công nghiệp 25 1.2.2-Vai trò của năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp 33

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG

52 2.1 KHÁI QUÁT ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ, TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 52 2.1.1- Điều kiện về lịch sử, tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình xây dựng và phát triển các khu công nghiệp 52 2.1.2- Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh 55 2.2- THỰC TRẠNG NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH 67 2.2.1- Thực trạng năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh 67 2.2.2- Nguyên nhân của những hạn chế về năng lực điều hành của NNL quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh 86

Trang 5

CHƯƠNG III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 94

3.1- BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA BẮC GIANG HIỆN NAY VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH 94 3.1.1 Bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến phát triển các khu công nghiệp ở Bắc Giang 94 3.1.2 Định hướng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bắc Giang làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực điều hành của nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn 99 3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP NHẰM PHÁT HUY MẶT TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TIÊU CỰU TRONG PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG THỜI GIAN TỚI 104 3.2.1- Đổi mới công tác qui hoạch nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp .104 3.2.2- Tạo động lực duy trì đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp 107 3.2.3- Đào tạo, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp 109 3.2.4- Nâng cao chất lượng công tác đánh giá nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp 111

KẾT LUẬN 114 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước ta đang đi vào thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, một trong những mũi nhọn nhằm thực hiện các nhiệm vụ trên là quátrình xây dựng phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất Trong

đó nguồn nhân lực được xác định là lợi thế và là nguồn lực quan trọng nhất cho

sự phát triển Phát triển nguồn lực là đòi hỏi cấp thiết, khách quan và là yếu tốhàng đầu bảo đảm cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và sự phát triểnbền vững của đất nước Trong đó, đặc biệt là NNL quản lý, tham gia vào cácquá trình điều hành, quản lý hoạt động nhằm phát huy tối đa những lợi thế củaquá trình CNH, HĐH và hạn chế tối thiểu những mặt trái của nền kinh tế thịtrường tác động đến xã hội

Vận dụng những kinh nghiệm từ quốc tế vào thực tế của Việt Nam, từnăm 1991 Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương thí điểm và triển khai việc xâydựng các KCN, tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, KCX đã thu hút được4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng kýđạt 59,6 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốnđầu tư đăng ký Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN,KCX chiếm từ 35 - 40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong

đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80%

tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước [17, tr.2].

Có thể khẳng định các KCN và Khu chế xuất đã và đang trở thành điểm thu hútcác nguồn đầu tư nước ngoài, đón nhận các tiến bộ KH – CN và tạo ra những

Trang 7

nhân tố quan trọng góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển KT - XH của đấtnước.

Bắc Giang là tỉnh nằm cách Thủ đô Hà Nội 50 km về phía Bắc, cách cửakhẩu quốc tế Hữu Nghị 110 km về phía Nam, cách cảng Hải Phòng hơn 100

km về phía Đông, một tỉnh có nhiều tiềm năng về đất đai, tài nguyên khoángsản Địa lý lãnh thổ không những có nhiều vùng núi cao, mà còn có nhiều vùngđất trung du trải rộng xen kẽ với các vùng đồng bằng phì nhiêu Kể từ khi cóchủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng các KCN đến nay, Bắc Giang

đã xây dựng và phát triển được 11 khu và cụm công nghiệp, đã thu hút được

109 dự án đầu tư trong nước và nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 11.122 tỷđồng Quá trình phát triển KCN ở Bắc Giang đã đạt được một số thành tựuquan trọng, góp phần tích cực vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH

Tuy nhiên, việc phát triển KCN ở Bắc Giang còn có không ít khó khăn

và thách thức Sức thu hút các dự án đầu tư vào KCN còn chưa hấp dẫn CácKCN chủ yếu mới thu hút các doanh nghiệp chế biến nông sản, hàng dệt may

và một số sản phẩm khác, còn thiếu những dự án sử dụng công nghệ cao Cònnhiều bất cập trong giải quyết vấn đề môi trường sinh thái, việc làm và thunhập của người dân mất đất do phát triển KCN Những khó khăn, bất cập đó đã

và đang là những lực cản làm cho các KCN chưa phát huy tốt vai trò đẩy mạnhCNH, HĐH và phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh

Có rất nhiều yếu tố liên quan tác động đến hiệu quả hoạt động của cácKCN trên địa bàn tỉnh, trong đó đặc biệt là vai trò của nguồn nhân lực quản lý.Hiện nay, nguồn nhân lực tham gia quản lý các khu công nghiệp tỉnh giữ vaitrò chủ đạo là Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh; ngoài ra còn có cácnguồn nhân lực quản lý tác động, liên quan như: nguồn nhân lực thuộc cơ quantrực thuộc UBND tỉnh (Sở Tài nguyên môi trường; Sở Kế hoạch đầu tư, Sở Tàichính, Cục thế, Sở khoa học và công nghệ, Công an tỉnh), UBND cấp huyện,cấp xã có khu công nghiệp đóng… Công tác tham mưu với UBND tỉnh xây

Trang 8

dựng cơ chế, chính sách và quản lý các lĩnh vực của một số sở, ngành còn chưachủ động; sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước còn chưa được nhịpnhàng; công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, bồi thường, hỗ trợ tái định

cư còn một số hạn chế; một số địa phương chưa chủ động xử lý những vướngmắc, phát sinh, giải quyết kiến nghị, khiếu nại của người dân làm cho việc bồithường, giải phóng mặt bằng chậm, ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư của các dự án…

Xuất phát từ những thực tế nêu trên, tôi nhận thấy rằng cần phải cónhững nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn vai trò của nguồn nhân lựcquản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh để có thể đưa ra giải pháp pháthuy tối đa năng lực điều hành của nguồn nhân lực này đóng góp vào quá trìnhphát triển mạnh mẽ hơn nữa của các KCN trên địa bàn tỉnh; đồng thời có nhữnggiải pháp điều tiết, hạn chế những tác động tiêu cực ảnh hưởng đến năng lựcđiều hành của NNL quản lý các khu công nghiệp địa bàn tỉnh Xuất phát từ

những suy nghĩ đó tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nâng cao năng lực điều

hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang”.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH và hội nhập quốc

tế, đòi hỏi cần có nguồn nhân lực có chất lượng, có trình độ, có năng lực và cótay nghề cao Trong thời gian qua các KCN, khu kinh tế, khu chế xuất đã gópphần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng giá trịsản xuất công nghiệp, giải quyết việc làm, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và tăngcường an ninh quốc phòng

Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, luậnvăn thạc sỹ nghiên cứu về hiệu quả kinh tế xã hội của các KCN, các giải phápphát triển KCN ở một số địa phương, hoặc nghiên cứu vấn đề việc làm và thunhập của người dân có đất bị thu hồi xây dựng KCN, vấn đề nhà ở cho ngườilao động làm việc tại KCN v.v Đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc

Trang 9

sỹ nghiên cứu các về vấn liên quan đến KCN, như: "Hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (qua thực tiễn KCN các tỉnh phía Bắc)" luận án tiến sĩ của tác giả Lê Hồng Yến, trường Đại học Thương mại, (1996); "Cung cầu về nhà ở cho công nhân các KCN hiện nay" luận văn thạc sỹ Kinh tế của tác giả Phạm Xuân Đức, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2005); "Thu nhập của người lao động ở KCN Tân Bình - quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh", luận văn thạc sỹ Kinh tế

của tác giả Lê Công Đồng Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, (2005);

"Hiệu quả KT - XH của các KCN ở thành phố Hà Nội" luận văn thạc sỹ Kinh tế của

tác giả Nguyễn Duy Cường, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006);

“Tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai”, luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công của tác giả Lê Thị

Mỹ, Học viện Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh,(2005)…

Đã có một số cuốn sách viết về các vấn đề liên quan đến khu công

nghiệp, như: "Kinh nghiệm thế giới về phát triển Khu công nghiệp, khu chế xuất

và đặc khu kinh tế" của Viện Kinh tế học năm 1994; "Khu công nghiệp và khu chế xuất các tỉnh phía Nam" của Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản năm 2002

nhằm đánh giá khái quát về những thành công và hạn chế của các KCN, KCXtại các tỉnh phía nam nước ta Cũng trong năm 2002, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

còn tổ chức nghiệm thu đề tài cấp Bộ "Nghiên cứu mô hình quản lý nhà nước về khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam" nội dung giới thiệu kinh nghiệm

quản lý các KCN, KCX của nước ngoài, đánh giá những mặt tốt và những hạnchế của mô hình quản lý hiện đang áp dụng tại Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuấtmột số mô hình quản lý mới nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các KCN, KCXtrong thời gian tới Năm 2004, nhà xuất bản Khoa học xã hội đã xuất bản cuốn

"Các giải pháp nhằm nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường ở các khu công nghiệp, khu chế xuất" của tiến sĩ Trương Thị Minh

Sâm, đánh giá khá chi tiết và toàn diện tình trạng ô nhiễm môi trường ở cácKCN, KCX vùng kinh tế trọng điểm phía nam, những thách thức đặt ra đối với

Trang 10

công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, đề xuất một hệ thống các giảipháp nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với vấn đề này ở các KCN,KCX thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam Ngày 17/2/2012, tại Hà Nội, Bộ

Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng và phát triểnKCN, KCX, KKT ở Việt Nam Mục đích chính của Hội nghị là tổng kết, đánhgiá đầy đủ và toàn diện quá trình xây dựng và phát triển KCN, KCX, KKTtrong 20 năm qua, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống quan điểm, định hướng pháttriển KCN, KCX, KKT trong giai đoạn tới…

Đã có một số các công trình nghiên cứu khoa học, luận án tiến sỹ, luậnvăn thạc sỹ nghiên cứu đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho quá trìnhCNH – HĐH đất nước nhưng phần nhiều là nghiên cứu về NNL nói chungcung cấp cho quá trình CNH – HĐH đất nước; hoặc có luận văn thạc sỹ chuyên

ngành Quản lý hành chính công của tác giả Lê Thị Mỹ nghiên cứu về Tăng cường Quản lý nhà nước về phát triển NNL các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai…

Tuy nhiên, những vấn đề nghiên cứu liên quan đến nguồn nhân lực cho

các khu công nghiệp đặc biệt là nghiên cứu về năng lực điều hành của nguồn

nhân lực quản lý các khu công nghiệp là rất ít Rõ ràng tầm quan trọng của các

khu công nghiệp tham gia vào quá trình CNH – HĐH đất nước là rất lớn, trong

đó vai trò mang yếu tố quyết định là nguồn nhân lực quản lý, năng lực điềuhành, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ này Vì vậy để góp phần vào việcphát huy những thế mạnh của hoạt động khu, cụm công nghiệp và giải quyếtvấn đề bất cập, những mặt hạn chế của hoạt động khu công nghiệp cần thiếtphải có những nghiên cứu về năng lực điều hành của NNL quản lý này

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

3.1-Mục đích: nghiên cứu về mặt lý luận và đánh giá thực tiễn về năng lực

điều hành của nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh BắcGiang, từ đó đưa ra những giải nhằm nâng cao năng lực điều hành đối với NNLquản lý các KCN trên địa bàn tỉnh

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực điều hành của NNL quản lý các KCN

trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian nghiên cứu là địa bàn tỉnh Bắc Giang;

+ Về thời gian nghiên cứu: từ khi thành lập Ban Quản lý các khu côngnghiệp của tỉnh Bắc Giang đến nay (từ năm 2002 – năm 2012)

+ Về khách thể nghiên cứu: cán bộ Ban Quản lý dự án Các khu côngnghiệp tỉnh; cán bộ, công chức nhà nước tại các cơ quan trực thuộc UBND tỉnhtham gia vào công tác quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang(Sở Kế hoạch – đầu tư; Sở Tài nguyên và môi trường; Sở Khoa học và côngnghệ; Sở Tài chính; Cục thuế tỉnh; Công an tỉnh Bắc Giang…) Do giới hạnthời gian nghiên cứu, tại luận văn này chúng tôi không đề cập đến đội ngũ cán

bộ quản lý của các doanh nghiệp tại các KCN

5 Cơ sở lý luận và phương pháp luận

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng một số phươngpháp nghiên cứu:

Trang 12

- Về mặt lý luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở nhữngnguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tổ chức hoạt động của bộmáy nhà nước.

- Về mặt nghiên cứu: sử dụng phương pháp điều tra, phương pháp thống

kê, phân tích, so sánh, phân tích tổng hợp, logic và lịch sử

6 Những đóng góp khoa học của luận văn

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực, năng lực điều hành của NNLquản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tác động đến quá trình phát triển

KT – XH

- Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực điều hành của NNL quản lý củacác KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ khi tỉnh xây dựng và phát triển các KCNđến nay, tìm ra nguyên nhân tác động mặt tích cực và mặt hạn chế của thựctrạng đó

- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát huy năng lực điều hànhNNL quản lý cũng như những giải pháp nhằm ngăn ngừa hạn chế mặt tiêu cựcảnh hưởng đến năng lực điều hành của NNL này nhằm góp phần xây dựng vàphát triển các KCN của tỉnh Bắc Giang nói riêng và các tỉnh có KCN nói chungtrong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương I: Cơ sở lý luận về năng lực điều hành của nguồn nhân lực quản

lý các khu công nghiệp

Chương II: Thực trạng năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ quản lý

các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 13

Chương III: Giải pháp góp phần nâng cao năng lực điều hành của nguồn

nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 14

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN

LỰC QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

1.1- LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC, NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NNL QUẢN LÝ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

1.1.1- Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực quản lý các KCN

1.1.1.1- Nguồn nhân lực:

Trong kinh tế chính trị học, con người được coi là yếu tố trung tâm củaquá trình sản xuất xã hội Khi đề cập đến lực lượng sản xuất thì con người đượccoi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự vậnđộng và phát triển của LLSX, quyết định quá trình sản xuất và năng suất laođộng Chính vì vậy, NNL là nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế – xã hội

NNL trong lý thuyết tăng trưởng kinh tế được xác định là nguồn lực chủyếu tạo động lực cho sự phát triển, do đó NNL đóng vai trò là yếu tố cơ bảnhàng đầu quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế

Trong quá trình SXKD khi nói về vốn, con người được đề cập đến nhưmột loại vốn, nó đóng vai trò quan trọng, cơ bản và quyết định thành bại củaquá trình này Đề cập đến vấn đề này thống đốc ngân hàng (WB) cho rằng:

“NNL con người được hiểu là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu Như vậy nguồn lực con người coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn khác như tiền (tư bản), công nghệ tài nguyên thiên nhiên, đất đai…

Liên hợp quốc (UN) đề cập đến vấn đề này thì cho rằng: “NNL là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người liên quan đến sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” Trong quan niệm này NNL được xem xét

Trang 15

chủ yếu ở phương diện chất lượng con người, cùng với vai trò của nó trongviệc phát triển kinh tế – xã hội.

Có thể điểm thêm một số quan niệm, có nhiều cách đánh giá nhìn nhậnkhác nhau về NNL, của một số học giả, nhà nghiên cứu trong nước để thấyđược tính đa dạng phong phú, rộng lớn của vấn đề này

Trong đề tài khoa học mã số KX – 07 “Con người Việt Nam – mục tiêu

và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội”, do giáo sư tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng: “Phát triển người tựu trung là gia tăng giá trị cho con người, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thể chất, vật chất”, phát triển NNL được hiểu cơ bản là gia tăng giá trị con người trên

mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực …làm cho con người trở thànhnhững người lao động có những năng lực phẩm chất mới cao đẹp, đápứng được những yêu cầu to lớn của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước

Trong luận án Tiến sĩ Triết học “Nguồn lực con người trong quá trình CNH – HĐN đất nước” tác giả Đoàn Văn Khải cho rằng “Nguồn lực con người là chỉ số dân, cơ cấu và dân số và nhất là chất lượng con người với tất

cả các đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển xã hội”.

Trong Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công “Nâng cao chất lượng nguồn lực trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” tác giả Phạm Thị Lan Anh cho rằng: “Nguồn lực không chỉ được xem xét dưới góc

độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng Chất lượng NNL là một khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức

và phẩm chất Nó thể hiện trạng thái nhất định của NNL với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và quan

hệ xã hội”.

Trong Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công “Xây dựng qui hoạch cán bộ quản lý của tỉnh Lạng Sơn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH” của

Trang 16

tác giả Lâm Thanh Hiền cho rằng: “Nguồn nhân lực xã hội là dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động”.

Một số nhà khoa học đưa ra quan điểm: NNL được xem là số dân và chấtlượng con người, bao gồm thể chất, tinh thần, sức khoẻ, trí tuệ, năng lực, phẩmchất thái độ và phong cách lao động Chất lượng NNL phải gắn liền với truyềnthống văn hoá dân tộc NNL là nguồn cung cấp sức lao động, là yếu tố cấuthanh của LLSX mà nó giữ vai trò trung tâm và quyết định đến sự phát triển

KT – XH của một quốc gia, đồng thời được xem xét là một yếu tố đánh giá sựphát triển, tiến bộ xã hội của đất nước

Nói đến NNL là nói đến nguồn lực về con người, nó được nghiên cứudưới nhiều khía cạnh Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hộithì NNL bao gồm sức mạnh cả thể chất, trí tuệ, tinh thần và sự tương tác giữacác cá nhân trong một tập thể, cộng đồng, trong một xã hội, một quốc gia, đượcđem ra hoặc có khả năng đem ra sử dụng vào những việc hữu ích.Với tư cách làyếu tố của sự phát triển KTXH thì NNL là khả năng lao động của xã hội

Theo những phân tích các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,khi xem xét NNL người ta thường xem xét dưới hai góc độ, đó là số lượng vàchất lượng NNL

Về số lượng: Được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ

tăng NNL Các chỉ tiêu này liên quan đến chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân

số, tuổi thọ bình quân …NNL đóng vai trò quan trọng đến sự phát triển KTXHmột đất nước, nếu số lượng không phù hợp không tương xứng với sự phát triển(cả trong trường hợp thiếu hoặc thừa) sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển.Như vậy số lượng NNL xã hội bằng tổng số người đang có việc làm, số ngườithất nghiệp và số người dự phòng Đối với doanh nghiệp thì NNL không baogồm những người trong độ tuổi lao động của toàn xã hội mà chỉ tính nhữngngười trong độ tuổi lao động đang làm việc trong doanh nghiệp

Trang 17

Về chất lượng: NNL được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần, thái độ,

phong cách, động cơ và ý thức lao động Nói đến chất lượng NNL là nói đếnsức khỏe, trí tụê và phẩm chất đạo đức…ba mặt thể lực, trí lực, tinh thần cóquan hệ chặt chẽ với nhau và thống nhất cấu thành chất lượng NNL Trong đóthể lực là yếu tố cơ sở, nền tảng để phát triển, truyền tải tri thức, trí tuệ vào hoạtđộng thực tiễn, tinh thần (phong cách đạo đức, tác phong, ý thức…) đóng vaitrò chi phối chuyển hoá thể dục, trí tuệ vào thực tiễn hoạt động Trí tuệ là yếu

Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phải nâng cao chất lượng cả

ba mặt: thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất Tuy nhiên, mỗi yếu tố trên lạiliên quan đến những vấn đề rất rộng lớn Thể lực và tình trạng sức khỏe liênquan với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe Trí lực gắn với giáo dục – đàotạo Còn phẩm chất, đạo đức chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tọc,nền tảng văn hóa và thể chế chính trị…

1.1.2.2- Các loại nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động các KCN

NNL tham gia vào hoạt động các KCN gồm những bộ phận sau:

- NNL xã hội (còn gọi là nguồn lao động xã hội, lực lượng lao động):

NNL xã hội là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả nănglao động NNL xã hội được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng

Trang 18

Số lượng nhân lực phụ thuộc vào việc qui định độ tuổi lao động của mỗinước Mỗi nước có qui định riêng về độ tuổi tổi thiểu và tối đa đối với lựclượng lao động Bộ Luật Lao động của Việt nam qui định độ tuổi lao động baogồm những người có đủ 15 tuổi trở lên đến 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đốivới nữ có khả năng lao động Nguồn nhân lực xã hội chịu ảnh hưởng trực tiếpcủa biến động qui mô và cơ cấu dân số ở từng thời kỳ.

- NNL doanh nghiệp: là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số

người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương NNLdoanh nghiệp được cơ cấu theo chức năng, trình độ chuyên môn và thời gianlàm việc

NNL xã hội và NNL doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Chính NNL xã hội là nguồn bổ sung, cung cấp NNL cho các doanh nghiệp

- NNL quản lý, điều hành các KCN: là đội ngũ cán bộ, công chức, viên

chức làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào hoạt động quản

lý, điều hành các KCN Tạo dựng những dịch vụ công cho hoạt động của KCN,quản lý hoạt động của các KCN nhằm phát huy tối đa những tác động tích cực

và hạn chế tối thiểu những tác động tiêu cực của các KCN đến nền kinh tế - xãhội quốc dân

Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta hiện nay, cán bộquản lý được hiểu là những người có chức vụ, chức trách điều hành, cầm đầutrong cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh doanh như Giám đốc, trưởng ban,trưởng phòng…họ đều là các chủ thể ra quyết định, điều khiển hoạt động củamột tổ chức

Cán bộ quản lý được hiểu đó là người điều hành, quản lý, có chức trách

và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môntrong một khâu, một công đọan, một chương trình, dự án…Cán bộ quản lýđược hiểu tương đương với thuật ngữ Manager trong tiếng Anh

Trang 19

Người cán bộ quản lý phải là người giỏi nghiệp vụ chuyên môn, phải cónăng lực và phẩm chất để điều hành, điều khiển, chỉ huy, tổ chức công việc vàđoàn kết cộng đồng Người quản lý cần phải có những tố chất chuyên biệt, phùhợp với điều kiện, yêu cầu, đòi hỏi, thách thức của quá trình phát triển của xãhội, đòi hỏi của tiến trình lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước

1.1.2.3- Nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp địa bàn cấp tỉnh

Theo Nghị định số 29/2008/NĐ – CP, ngày 14/3/2008 của Thủ tướngChính phủ, Nghị định qui định về KCN, KKT, KCX; Chỉ thị số 07/CT-TTg,ngày 02/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chính công tác quản lý,nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm côngnghiệp; Các quyết định của UBND các tỉnh về việc ban hành Quy chế phối hợpquản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chỉ rõ mốiquan hệ quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý nhà nước tham gia quản lýcác khu công nghiệp địa bàn cấp tỉnh

Qua đó, xác định NNL tham gia quản lý các khu công nghiệp cấp tỉnh làcán bộ, công chức, viên chức thuộc Ban quản lý các KCN tỉnh, các sở, banngành trực thuộc UBND tỉnh có liên quan và một số đơn vị địa phương cóKCN đóng trên địa bàn Trong đó nguyên tắc phối hợp được chỉ rõ: Việc phốihợp quản lý nhà nước dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơquan chuyên môn, UBND cấp huyện, các quy định hiện hành, nhằm đảm bảo sựthống nhất tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình đầu tư, sảnxuất kinh doanh trong KCN; Mọi hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quanchức năng đối với các doanh nghiệp KCN đều phải thông qua cơ quan đầu mối

Trang 20

- Sở Kế hoạch đầu tư;

- Sở Tài nguyên môi trường;

Xuất phát từ hoạt động quản lý các KCN tại địa bàn cấp tỉnh và nhữngvăn bản qui định về hoạt động các KCN, tác giả luận văn đề xuất khái niệm

NNL quản lý các KCN như sau: Nguồn nhân lực quản lý các KCN trên địa bàn tỉnh là cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các Khu công nghiệp được giao trên địa bàn tỉnh; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong khu công nghiệp.

Trang 21

1.1.2- Khái niệm năng lực, năng lực điều hành

1.1.2.1- Khái niệm về năng lực:

Từ năng lực có rất nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau về thuật ngữ này.Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1996 thì năng lực là “khả năng làm việctốt” Theo gốc và nghĩa của từ Việt thông dụng thì năng lực được chia ra: năng

là làm nổi việc, lực là sức mạnh Năng lực được hiểu là sức mạnh có thể làmnổi việc

Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ thì năng lực được hiểu là

“khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có thể thực hiện một công việcnào đó”

Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặcđiểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của mộthoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Cácnăng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân, năng lựccủa con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, phần lớn do công tác,

do tập luyện

Theo sách Tâm lý học trong xã hội và quản lý của PTS Bùi Ngọc Oánh

do nhà xuất bản Thống kê phát hành năm 1995 thì: “năng lực là khả năng của con người có thể thực hiện một hoạt động nào đó, làm cho hoạt động ấy đạt đến một kết quả nhất định”.

Từ điển Bách Khoa Việt Nam định nghĩa: Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo tức là có thể thực hiện một cách thành thục

và chắc chắn một hay một số dạng của hoạt động nào đó Năng lực gắn liền với những phẩm chất trí nhớ, tính nhạy cảm trí tuệ và tính cách của cá nhân Năng lực có thể phát triển trên cơ sở của năng khiếu (đặc điểm tâm sinh lý của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương) Song không phải là bẩm

Trang 22

sinh mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện cá nhân).

Năng lực là khả năng của một người để làm được một công việc, mộtnhiệm vụ được giao trong hoàn cảnh, điều kiện nhất định Khả năng đó là quátrình biến các tiềm lực mà người đó có như kiến thức, kỹ năng và các phẩmchất khác để đạt được mục tiêu định trước

Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, năng lực được hiểu như sau:

Năng lực được biểu hiện ở những dạng thức cụ thể như năng lực về nhận thức, đánh giá; năng lực về hành vi và kỹ năng; năng lực về tham gia thực hiện tổ chức chỉ đạo và khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân Năng lực là phương tiện

để chủ thể đạt được mục đích cá nhân cũng như những đòi hỏi và yêu cầu mà

xã hội đề ra.

Từ các khái niệm, định nghĩa trên và theo kết quả của nhiều nhà nghiêncứu cho thấy năng lực bao gồm 03 thành tố cơ bản: kiến thức, kỹ năng, thái độhành vi…

Thứ nhất, là kiến thức - tri thức (những hiểu biết có được) về khoa học tự

nhiên, về xã hội nói chung hoặc về những lĩnh vực cụ thể như: chính trị, kinh

tế, pháp luật, tâm lý, xã hội học, nhân chủng học…kiến thức của cá nhân đượchình thành thông qua quá trình đào tạo tại các trường lớp hoặc tự đào tạo;

Thứ hai, kỹ năng thực hiện công việc – khả năng vận dụng những kiến

thức thu thận được trong lĩnh vực nào đó vào thực hiện công việc Kỹ năngđược thể hiện trong mức độ thành thạo, kỹ xảo trong thực hiện công việc.Thành thạo do đã quen làm và có kinh nghiệm Kỹ xảo là kỹ năng đạt đến mứcthành thục Kỹ năng của một cá nhân được hình thành thông qua quá trình thựchiện công việc hay còn gọi là thâm niên, kinh nghiệm công tác Những ngườilàm việc lâu năm và thường xuyên thì có nhiều kinh nghiệm, có kỹ năng cao vàngược lại Tuy nhiên, kỹ năng của mỗi người còn phụ thuộc vào yếu tố bẩmsinh, đôi khi còn phụ thuộc vào yếu tố bí quyết truyền lại từ các thế hệ trước

Trang 23

Người có kỹ năng cao thì hoàn thành công việc với chất lượng cao, thời gianngắn và ngược lại.

Trình độ - mức độ hiểu biết về kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theotiêu chuẩn nhất định của mỗi cá nhân cao hay thấp, được thể hiện bằng vănbằng, chứng chỉ mà cá nhân đó nhận được thông qua quá trình học tập Người

có bằng cấp càng cao (qua các cấp học cao hơn theo phân loại trong hệ thốnggiáo dục, đào tạo quốc dân và quốc tế) thì chứng tỏ cá nhân đó có trình độ cao

và được nhà nước thừa nhận Và tương ứng với trình độ cao thì cá nhân đượchưởng lương, phụ cấp…tương xứng và có thể được bổ nhiệm và chức vụ caohoặc ngạch chuyên môn cao hơn Tuy nhiên, trong thực tế cho thấy có nhữngngười trải qua rất ít các khóa học, đào tạo, bồi dưỡng và nhận được chứng chỉ,bằng cấp thấp nhưng lại rất có khả năng trong công tác quản lý Bởi họ đã trảiqua rất nhiều thực tiễn quản lý; tri thức của họ được hình thành nhờ quá trình tựnghiên cứu, tự học tập, rèn luyện, tổng kết thực tiễn công tác và phần nào cóyếu tổ bẩm sinh Tất nhiên, số lượng này không phải là nhiều

Thư ba, thái độ, hành vi (tác phong hay phong cách của cá nhân): là khả

năng làm chủ hành vi, thái độ, trạng thái tinh thần của bản thân trong việc giảiquyết các công việc nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra

Tác phong là thái độ và cách ứng xử của mỗi cá nhân trước những sự vật,hiện tượng Người có tác phong tốt là người có thái độ và cách ứng xử phù hợpvới từng sự việc hoặc người cộng tác với mình Nhờ có thái độ và cách ứng xửphù hợp mà tạo điều kiện giải quyết công việc nhanh chóng, được sự ủng hộcủa các cá nhân khác Đặc biệt đối với những người làm công tác quản lý lànhững người làm công việc đòi hỏi sự phối hợp của nhiều người thì tác phonggiữ vai trò hết sức quan trọng, nó giúp họ tăng thêm sức mạnh trong thực hiệnnhiệm vụ thông qua sự hỗ trợ, ủng hộ của cấp dưới, của đồng nghiệp và củanhững người cùng hợp tác đồng thời ngược lại

Trang 24

Muốn nâng cao năng lực, nếu chỉ trang bị kiến thức và rèn luyện kỹ năngthì chưa đủ mà cần phải có hành vi, thái độ phù hợp.

1.1.2.2- Khái niệm năng lực điều hành

Quản lý là điều khiển tổ chức thực hiện công việc Quản lý khác với lãnhđạo, lãnh đạo thường giải quyết những việc có tính tổng thể hơn là cụ thể, cònquản lý thường giải quyết những việc có tính cụ thể hơn là tổng thể Năng lựcquản lý là năng lực điều khiển tổ chức, năng lực giải quyết những công việc cótính chất cụ thể của tổ chức Có thể hiểu năng lực quản lý là khả năng làm tốtnhất công việc cụ thể của tổ chức [27, tr13]

Năng lực điều hành là một phần tiêu chí để đánh giá năng lực quản lý, làmột trong những kỹ năng của hoạt động quản lý Để đánh giá năng lực điềuhành cần xem xét ở những khía cạnh sau:

- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị:

Đó là trình độ học vấn, trình độ lý luận chính trị có được do đào tạo ở cáctrường lớp tạo nên cho con người đó một thế giới quan khoa học, óc nhận xét,khả năng tư duy, xét đoán và quyết định cho hành động của mình

Kiến thức cơ bản của một người thể hiện ở bằng cấp chuyên môn đượcđào tạo ở các trường, lớp Người có bằng cấp chuyên môn thuộc lĩnh vực nàothì có nghĩa cá nhân đó có trình độ kiến thức thuộc lĩnh vực đó càng nhiều vàkiến thức đó được Nhà nước công nhận Tuy nhiên việc đánh giá năng lực conngười không chỉ thông qua văn bằng họ có được mà cần đánh giá một cáchtổng thể hơn bằng nhiều khía cạnh như trình độ hiểu biết kiến thức tự nhiên, xãhội, Những kiến thức này vô cùng phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiềungành khác nhau Những kiến thức này không nhất thiết phải học qua trườnglớp và có bằng cấp mới biết, có nhiều cách tiếp cận và tiếp thu khác như quaphương tiện thông tin đại chúng, qua sách báo, qua lao động thực tiễn…

Trang 25

Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ theo từng lĩnh vực nghề nghiệp, từngcương vị công tác là đòi hỏi tất yếu đối với người cán bộ chuyên nghiệp Kiếnthức và trình độ chuyên môn là điều kiện giúp người cán bộ có khả năng lôicuốn mọi người và kiểm tra công việc của họ Không có kiến thức và trình độchuyên môn thì người quản lý không thể khẳng định năng lực của mình tronghoạt động thực tiễn.

- Kỹ năng thực hiện công việc:

Đó là những khả năng vận dụng những hiểu biết có được vào hoạt độngthực tế, mức độ vận dụng càng thành thạo, nhuần nhuyễn thì kỹ năng càng cao

Có nhiều kỹ năng như: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng hành chính, kỹ năng ứngdụng, kỹ năng phân tích, kỹ năng tổng hợp, kỹ năng diễn đạt, truyền đạt…Kỹnăng có được thường do quá trình làm việc thâm niên, kinh nghiệm tạo nên,ngoài ra còn có yếu tố bẩm sinh (năng khiếu) và do kinh nghiệm truyền giao.Người có kỹ năng tiến hành công việc tự tin, nhanh chóng và chất lượng, dễ thuhút sự hài lòng của mọi người có liên quan Đối với cán bộ chủ chốt cần có kỹnăng lãnh đạo điều hành

Kỹ năng lãnh đạo điều hành đó chính là kỹ năng ra quyết định, kỹ năngtrong việc tìm hiểu, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cấp dưới, của nhân dân

và doanh nghiệp; kỹ năng trong việc giải quyết những khiếu kiện của cấp dưới

và nhân dân; kỹ năng giao tiếp ứng xử đối với đồng nghiệp, nhân dân và doanhnghiệp; kỹ năng thu thập và xử lý thông tin; kỹ năng trong việc phát huy tinhthần tập thể, đoàn kết để phát huy sức mạnh của tập thể

- Thái độ, cách ứng xử (tác phong) trong thực thi công việc:

Thái độ làm việc là sự đánh giá đúng, sai và nỗ lực tự thân, sự cố gắng,mức độ nhiệt tình, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với công việc mà họđang thực hiện Thái độ làm ảnh hưởng đến năng lực thực thi công việc củanguồn nhân lực quản lý Nhiều cán bộ, công chức, viên chức có trình độ, kiếnthức tốt, kỹ năng vững chắc nhưng không hoàn thành nhiệm vụ được giao do

Trang 26

có thái độ không đúng Đó có thể là sự chủ quan, cẩu thả, bất cẩn, thiếu ý thứctrách nhiệm hoặc thậm chí cố ý làm trái vì mục đích và động cơ khác Tuynhiên, thái độ là một phẩm chất thuộc về yếu tố chủ quan của cá nhân Chúng

ta có thể nhận biết được thái độ thông qua biểu hiện của nó ra ngoài bằng hành

vi Do vậy, chỉ có thể đánh giá được thái độ thực thi công việc thông qua việclàm cụ thể của mỗi cán bộ, công chức, viên chức

Thái độ tích cực của cán bộ trong thực thi công việc được hình thành liênquan đến đạo đức và trách nhiệm công vụ, nó gắn liền với việc nâng cao đờisống vật chất tinh thần của cán bộ Do vậy, việc nâng cao thái độ tích cực trongthực thi công việc gắn liền với nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cán

bộ phù hợp với công việc, vị trí, trách nhiệm mà họ phải thực hiện

Từ những phân tích trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, năng

lực điều hành của NNL quản lý được hiểu là: Năng lực điều hành là một trong những khả năng giúp thực thi công việc của mỗi cá nhân theo sự phân công của tổ chức Năng lực điều hành có được dựa vào trình độ chuyên môn nghiệp

vụ, kinh nghiệm công tác, kinh nghiệm quản lý, năng lực phân tích đánh giá tình hình thực tế, phong cách điều hành quản lý và kỹ năng giao tiếp.

1.2- NĂNG LỰC ĐIỀU HÀNH CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUẢN LÝ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP

1.2.1- Sự cần thiết ra đời, phát triển các khu công nghiệp

1.2.1.1- Khái niệm khu công nghiệp:

Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, khi các KCN bắt đầu đượchình thành và phát triển Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về KCN.Các quan niệm này được xây dựng để thực hiện các mục tiêu nhất định nhưphát triển các KCN, quản lý nhà nước về KCN hoặc khai thác tác động củaKCN đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Theo quan điểm thông thường, KCN là khu vực có tính chất độc lập,

Trang 27

trong đó có các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng hóa, thực hiện các hoạtđộng dịch vụ và có chế độ quản lý riêng

Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc(UNIDO) trong tài liệu KCX tại các nước đang phát triển (Export processingZone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì KCN là khu vực tươngđối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu

tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho cácngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt

so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà

Theo quan điểm của Hiệp hội Thế giới về KCX (World Export ProcessingZone Association - WEPZA), KCX là tất cả khu vực được chính phủ các nướccho phép thành lập và hoạt động như Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự

do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thương hoặc khu vực khác được tổ chức nàycông nhận Cũng từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của các mối quan hệthương mại và đầu tư quốc tế ngày càng được mở rộng, xuất phát từ yêu cầubức thiết của quá trình công nghiệp hóa, hướng về xuất khẩu của các nước đangphát triển, khái niệm này đã được bổ sung bằng những quan niệm mới như Khukinh tế mở, Thành phố mở, Đặc khu kinh tế Như vậy, quan niệm của Hiệp hộithế giới về KCX là một quan niệm rất rộng, nó đòi hỏi các chính sách quản lý

có độ linh hoạt cao và mức độ tự do hóa khá lớn

Các nước như Thái Lan, Philippin, quan niệm KCN như một thành phốcông nghiệp, vì thực tế KCN là một cộng đồng tự túc và độc lập Ngoài việc cungcấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện tích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải,KCN còn bao gồm khu thương mại, dịch vụ ngân hàng, trường học, bệnh viện,các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân Các KCN ở Indonesia và Thái Lanthường gồm ba bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuấthàng xuất khẩu và khu thương mại và dịch vụ [18, tr 30,31,33.]

Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ

Trang 28

(Subregion), không nhất thiết phải có sự ngăn cách, biệt lập Trên thực tế cónhiều tập đoàn và tổ hợp công nghiệp với một chuỗi đồ sộ các xí nghiệp, nhàmáy liên kết với nhau trên một khu vực rộng lớn Việc bố trí mặt bằng các khusản xuất trên quy mô lớn như vậy hình thành là một loại hình tổ chức mới củaKCN mà không nhất thiết phải có quy mô đặc thù.

Những quan niệm trên mặc dù có những điểm khác nhau về KCN, KCX,nhưng về cơ bản chúng thống nhất ở những đặc trưng sau:

Thứ nhất: KCN, KCX là bộ phận không thể thiếu và không thể tách rời

của một quốc gia, thường là những khu vực địa lý riêng biệt thích hợp, có hàngrào giới hạn với các vùng, lãnh thổ còn lại của nước sở tại và được chính phủ n-ước đó cho phép hoặc rút phép xây dựng và phát triển;

Thứ hai: KCN, KCX là nơi hội tụ và thích ứng với nhau về mặt lợi ích và

mục tiêu xác định giữa chủ đầu tư và nước chủ nhà KCN, KCX là nơi có môitrường kinh doanh đặc biệt phù hợp, được hưởng những quy chế tự do, cácchính sách ưu đãi kinh tế (đặc biệt là thuế quan) so với các vùng khác ở nội địa.Chúng là nơi có vị trí thuận lợi cho việc phát triển sản xuất, thương mại dịch

vụ, đầu tư trên cơ sở các chính sách ưu đãi về cơ sở hạ tầng, cơ chế pháp lý,thủ tục hải quan, thủ tục hành chính, chính sách tài chính - tiền tệ, môi trư-ờng đầu tư

Thứ ba: Là nơi thực hiện mục tiêu hàng đầu về ưu tiên chính sách hướng

ngoại, thu hút chủ yếu vốn đầu tư nước ngoài, phát triển các loại hình kinhdoanh, sản xuất, phục vụ xuất khẩu Đây là mô hình thu nhỏ về chính sách KT

- XH mở cửa của một đất nước

Ở Việt Nam, khái niệm về KCN được quy định tại Nghị định 192/CP ngày15/12/1994 của Chính Phủ về Quy chế KCN, các KCN được định nghĩa là:

Các khu vực công nghiệp tập trung, được thành lập do quyết định của Chính phủ với các danh giới được xác định, cung ứng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất và không có dân cư

Trong Điều 2 Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ ban hành

Trang 29

về “Quy chế hoạt động của các KCN, KCX, KCNC” có đưa ra khái niệm đầy đủ hơn về KCN Theo đó thì KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao quanh), không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ Tướng Chính phủ quyết định thành lập [33, tr.2]

Nghị định 36/ CP của Chính Phủ có giải thích một số thuật ngữ sau đây:

- KCN: Là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuấthàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranhgiới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướngChính phủ quyết định thành lập

- KCX: Là KCN tập trung các doanh nghiệp chế xuất chuyên sản xuấthàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu Những doanh nghiệp này được hưởngnhững ưu đãi đặc biệt về thuế quan: miễn thuế đối với tất cả các hàng hóa xuấtnhập khẩu Tuy nhiên, sản phẩm của các doanh nghiệp này chỉ được phép xuấtkhẩu chứ không được tiêu thụ trên thị trường nội địa Trong trường hợp bántrên thị trường nội địa thì sẽ phải chịu thuế nhập khẩu như đối với các hàng hóanhập khẩu thông thường

- KCNC: Là KCN tập trung những doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao

và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, bao gồm nghiêncứu, triển khai KH - CN, đào tạo và các dịch vụ liên quan, có ranh giới xácđịnh, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong khucông nghệ cao có thể có doanh nghiệp chế xuất

+ Doanh nghiệp chế xuất: Là doanh nghiệp chuyên sản xuất và chế biếnhàng xuất khẩu, được thành lập và hoạt động theo quy chế này

+ Doanh nghiệp KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạt độngtrong KCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ

+ Doanh nghiệp sản xuất KCN: Là doanh nghiệp sản xuất hàng côngnghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN

Trang 30

+ Doanh nghiệp dịch vụ KCN: Là doanh nghiệp được thành lập và hoạtđộng trong KCN, thực hiện dịch vụ và các công trình kết cấu hạ tầng KCN,dịch vụ sản xuất công nghiệp

Có thể thấy rằng ba thuật ngữ KCN, KCX, khu công nghệ cao có liênquan đến nhau, trong đó thuật ngữ KCN có ý nghĩa cơ bản và phổ biến, haithuật ngữ kia là sự phát triển tiếp theo với những đặc trưng nhất định

Xuất phát từ khái niệm của Nghị định 36/ CP cùng các thuật ngữ nghịđịnh giải thích ta thấy rằng khái niệm KCN là một khái niệm động, gắn liềnvới điều kiện cụ thể nơi nó hình thành và phát triển Như vậy, KCN có một

số điểm:

- Là khu vực tập trung tương đối nhiều xí nghiệp trong một khu vực córanh giới rõ ràng, sử dụng chung kết cấu hạ tầng sản xuất Vì vậy, các xínghiệp này có điều kiện thuận lợi để tiết kiệm tối đưa chi phí sản xuất, hạ giáthành sản phẩm

- Các xí nghiệp trong KCN thường được hưởng một quy chế riêng củanhà nước và địa phương sở tại Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ưu đãi,tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển

- KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thíchhợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đưa cho các xí nghiệp công nghiệp

và các doanh nghiệp hoạt động

- Khả năng hợp tác sản xuất giữa các xí nghiệp công nghiệp và các doanhnghiệp với nhau trong KCN tùy thuộc vào sự tự liên kết với nhau giữa chúngtrong quá trình phát triển để đạt được hiệu quả cao

- KCN thường có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và

có thể được ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào cứng Không có dân cưtrong KCN

- Hoạt động chính trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp

Trang 31

Tuy nhiên, có thể coi khái niệm KCN mà chúng ta sử dụng là kháiniệm hẹp bởi chúng ta chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành choviệc xây dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trìnhphúc lợi xã hội không nằm trong phạm vi quy định Quan niệm này dẫn đếnmột thực tế là khi xây dựng KCN, người ta không quan tâm đến tính đồng bộcủa nó theo nghĩa rộng, dẫn đến yếu tố bất cập, ảnh hưởng lớn tới hiệu quả

KT - XH của KCN

Cho nên, việc quy hoạch phát triển sản xuất nhất thiết phải đi kèm quyhoạch phát triển hạ tầng xã hội, hai vấn đề này phải được đồng thời triển khaithực hiện

Như vậy, sự ra đời của các KCN nhằm mục đích cung cấp các điều kiện

về cơ sở hạ tầng tốt nhất cho việc xây dựng và vận hành của các cơ sở sản xuấtcông nghiệp Đặc biệt là đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vàonước sở tại sẽ có được đầy đủ điều kiện (mặt bằng, đường xá, hệ thống cungcấp điện nước, hệ thống xử lý nước thải ) tốt để sản xuất kinh doanh mang lạilợi ích cho cả hai phía

1.2.1.2- Sự cần thiết ra đời các khu công nghiệp

- Sự phát triển tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất dưới tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật đòi hỏi phải hình thành các KCN tập trung

để phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp trong các ngành.

CNH, HĐH để phát triển lực lượng sản xuất, chuyển từ sản xuất nhỏ lênsản xuất lớn là vấn đề có tính quy luật chung của nhiều nước hiện nay trên thếgiới Để đạt được mục tiêu nói trên, mỗi nước tùy thuộc vào điều kiện và hoàncảnh cụ thể mà xác định con đường và giải pháp thực hiện CNH, HĐH theocách riêng Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới ở vào giai đoạn toàn cầu hóa vàhậu công nghiệp, những thành tựu phát triển vượt bậc của khoa học - công nghệ

và cách mạng tin học làm cho các quốc gia không thể đứng ngoài xu thế toàncầu hóa kinh tế Mỗi sản phẩm được sản xuất ra trên thị trường trong điều kiện

Trang 32

hiện nay không còn là sản phẩm thuần túy riêng của mỗi nước, nó là sự kết tinhchung của những giá trị mang tính nhân loại Do vậy, liên kết kinh tế và chủđộng tham gia quá trình phân công lao động quốc tế là một lợi thế cần đượckhai thác một cách triệt để, trong đó, phát triển KCN là một phương thức rấtquan trọng để phát triển Nói cách khác, sự phát triển tính chất xã hội hóa củalực lượng sản xuất dưới sự tác động của cách mạng KH - CN đòi hỏi phải hìnhthành các KCN tập trung để phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp trongcác ngành Như vậy, phát triển KCN là con đường tham gia vào quá trình phâncông lao động quốc tế theo hướng chuyên môn hóa, tập trung hóa và xã hội hóasản xuất Phương thức này cho phép khai thác tốt nhất tài nguyên, nguồn lựccon người, sử dụng vốn, KH – CN, trình độ quản lý của thế giới vào quá trìnhsản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

- Sản xuất công nghiệp càng phát triển thì càng nảy sinh nhiều vấn đề phải xử lý, cần tập trung các doanh nghiệp vào một KCN.

Mục tiêu chung của việc hình thành KCN là tăng trưởng nhanh và vữngchắc, tạo việc làm, đô thị hóa các vùng nông thôn lạc hậu, nâng cao dân trí CácKCN sẽ góp phần tích cực bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sửdụng đất, hiệu quả vốn đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp liên kết, hợptác với nhau, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh, tạo điềukiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế KCN phát triển sẽ tác động đếnviệc hình thành các vùng nguyên liệu, các vùng công nghiệp vệ tinh

Sản xuất công nghiệp phải xây dựng thành từng khu bởi vì hoạt độngcông nghiệp là loại hoạt động khẩn trương, nhanh nhạy, kịp thời thích ứng với

sự biến đổi của thị trường, của những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ, là một loạihoạt động rất chính xác, ăn khớp và đồng bộ Hơn nữa, theo quan niệm củaCNH, HĐH thì quy mô xí nghiệp phần nhiều là vừa và nhỏ nhưng không phân

bố tản mạn, không đứng đơn độc mà phải nằm trong hệ thống phân công liênhoàn ngày càng rộng rãi

Trang 33

Tính chất đặc thù đó của hoạt động công nghiệp đòi hỏi tính đồng bộ,chất lượng cao của cơ sở hạ tầng, đòi hỏi sự quản lý và điều hành nhanh nhạy,thủ tục đơn giản Hơn nữa, sự phân bố tập trung của công nghiệp sẽ tạo điềukiện thuận lợi cho quản lý nhà nước kịp thời nắm bắt tình hình, kịp thời xử lýcác vụ việc phát sinh Những xí nghiệp quy mô lớn với khả năng và sức mạnhcủa nó, có thể tồn tại riêng biệt trên một địa điểm nhất định Còn xí nghiệp vừa

và nhỏ, muốn hoạt động có hiệu quả cần được quy tụ vào một khu vực nhấtđịnh, nơi đã có sẵn cơ sở hạ tầng và dịch vụ, có sẵn bộ máy quản lý, các thủ tụcđơn giản, nhanh

Về cơ bản, KCN tập trung nhằm mục tiêu thu hút vốn đầu tư Bên cạnh

đó, mục tiêu quan trọng của việc hình thành KCN tập trung là để tăng hiệu quả

sử dụng vốn đầu tư vào kết cấu hạ tầng Trong KCN tập trung, các doanhnghiệp dùng chung các công trình hạ tầng nên giảm được chi phí trên một đơn

vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo quyhoạch thống nhất, kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch lãnhthổ Mặt khác, việc tập trung các doanh nghiệp trong KCN tập trung sẽ tạo điềukiện dễ dàng hơn trong việc xử lý chất thải công nghiệp, bảo vệ môi trườngsinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các doanh nghiệp công nghiệp cóđiều kiện thuận lợi liên kết, hợp tác với nhau, đổi mới công nghệ, nâng cao hiệuquả hoạt động và sức cạnh tranh

Ngoài ra, tập trung các doanh nghiệp vào KCN còn là một mô hình pháttriển năng động và nhạy bén, phù hợp với nền kinh tế thị trường Trong việcphát triển và quản lý các KCN này, các thủ tục hành chính đã được giảm thiểuđến mức tối đưa thông qua cơ chế một cửa, tại chỗ, tập trung vào Ban quản lýcác KCN đó Những chính sách áp dụng trong các KCN tập trung gắn quyềnlợi và nghĩa vụ của nhà đầu tư với một hợp đồng, giảm thiểu thủ tục hànhchính, do đó tạo sự an toàn, yên tâm cho các nhà đầu tư

- Đối với nước đang phát triển, việc phát triển các KCN còn là một giải

Trang 34

pháp thu hút và tập trung đầu tư tạo ra khu vực kinh tế động lực thúc đẩy CNH, HĐH và phát triển KT - XH của đất nước.

Bước sang thế kỷ mới, tình hình kinh tế thế giới có những biến đổi nhanhchóng và sâu sắc do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật vàcông nghệ Để thích ứng với sự biến đổi đó, nhiều nước đã tận dụng tốt nhữnglợi thế so sánh của mình, đồng thời mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế Phù hợpvới xu thế chung, các nước đang phát triển tiến hành cải cách kinh tế theohướng mở cửa Việc khuyến khích đầu tư trong nước, đồng thời thu hút vốnđầu tư nước ngoài là giải pháp mang tính tối ưu Trong khi nguồn vốn trongnước còn hạn chế, chưa tạo ra môi trường huy động tối đưa vốn đó thì nguồnlực bên ngoài chiếm tỷ trọng lớn, có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệpCNH, HĐH Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một trong những bộ phậnquan trọng nhất của chính sách mở cửa nhằm thu hút vốn, kỹ thuật, giải quyếtviệc làm, mở rộng thị trường, học tập kinh nghiệm quản lý, sản xuất hàng xuấtkhẩu đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Như vậy, KCN được sử dụngnhư những công cụ để thu hút đầu tư nước ngoài và huy động vốn tối đa nguồnvốn trong nước, làm động lực thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và phát triển KT -

XH của đất nước

Việc thành lập KCN để tăng năng lực xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước, tận dụngtối đa lợi thế so sánh của nước chủ nhà trong nền kinh tế thế giới và khu vực,góp phần vào công cuộc CNH, HĐH theo hướng hướng vào xuất khẩu là mộttất yếu khách quan và cần thiết, là bước phát triển có tính logic của các chính sáchphát triển kinh tế đất nước nói chung và hợp tác đầu tư nước ngoài nói riêng

1.2.2-Vai trò của năng lực điều hành đối với NNL quản lý các khu công nghiệp

1.2.2.1- Vai trò của NNL quản lý các KCN đối với sự phát triển kinh tế

- xã hội ở địa phương và công cuộc CNH, HĐH đất nước

Nước ta đang trong quá trình CNH, HĐH, chuyển nền kinh tế đang phát

Trang 35

triển lên nền kinh tế phát triển, đây là bước đi tất yếu nhằm giải phóng sức sảnxuất trong nước, phát huy cao độ các nguồn lực trong nước, đồng thời ra sứctìm cách thu hút các nguồn lực từ bên ngoài Việc xây dựng các KCN đượcxem như là giải pháp hết sức quan trọng nhằm tạo điều kiện, môi trường thuậnlợi cho quá trình thu hút, sử dụng các nguồn lực như vốn, công nghệ, phươngthức quản lý từ bên ngoài Trên cơ sở đó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình CNH,HĐH đất nước Tuy nhiên, vai trò trung tâm, hạt nhân của những thế mạnh,những ưu điểm trên vẫn nằm ở NNL NNL là lực lượng sản xuất đặc biệt vàtrong đó đặc biệt là NNL quản lý, họ đóng vai trò trọng tâm trong việc phát huymạnh mẽ những hiệu quả mà các KCN mang lại:

Thứ nhất, vai trò đối với thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước, tập trung các doanh nghiệp công nghiệp vào một khu vực địa lý tăng cường mối liên kết trong sản xuất kinh doanh.

Xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay đang tạo ra những cơ hội to lớncho việc phát triển kinh tế của các nước, nhất là các nước đang phát triển Tuynhiên, hầu hết các nước này đang phải đối đầu với những khó khăn về thiếu hụtvốn, cơ sở hạ tầng kinh tế còn thấp kém, kỹ thuật - công nghệ lạc hậu, chưa đủsức sản xuất ra được các mặt hàng đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới,trình độ quản lý, tay nghề chưa cao, môi trường, thể chế đầu tư chưa hoànthiện Do vậy, khắc phục những yếu kém trên là vấn đề hết sức khó khăn vàquan trọng

Trong khi chưa thể tiến hành cùng một lúc trên phạm vi cả nước, thì việcquy hoạch, phát triển KCN là phương thức phù hợp nhằm tập trung đầu tư chomột số khu vực có ưu thế hơn Việc xây dựng các KCN sẽ giảm bớt một cáchđáng kể những khó khăn cho nhà đầu tư KCN với những ưu đãi đặc biệt về thủtục hành chính, cơ chế quản lý, tài chính, thuế quan so với sản xuất trongnước đã trở thành môi trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, vì vậy mà thuhút được vốn đầu tư từ cả hai nguồn trong và ngoài nước

Thực tế trong những năm qua ở nước ta, KCN đã đóng vai trò tích cực

Trang 36

vào việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là FDI Số dự án đầu tư (cả trong nước vàngoài nước) vào các KCN chiếm tỷ trọng khá lớn Sự gia tăng vốn đầu tư vàocác KCN góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tư của toàn xã hội,đóng góp trực tiếp vào việc tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mặtkhác còn tác động, kích thích tăng đầu tư mới vào các doanh nghiệp ngoàiKCN Ở Việt Nam vài năm gần đây, dòng vốn đầu tư trong nước trong KCNtăng đáng kể, số dự án trong nước trong các KCN hai năm gần đây đã vượt trộihẳn Kết quả này cho thấy rõ tiềm lực của khu vực kinh tế trong nước và là kếtquả của chủ trương phát huy nội lực để xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng

và Nhà nước ta Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì thu hútđược nhiều vốn đầu tư nước ngoài là rất quan trọng KCN là một giải pháp hữuhiệu nhằm huy động vốn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thực

tế từ khi xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng số vốn đầu tư nướcngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số vốn FDIđầu tư trên cả nước Có thể nói, KCN là nơi chính sách ưu đãi với khu vực cóvốn đầu tư nước ngoài được thể hiện rõ nét nhất, các nhà đầu tư nước ngoàinhìn chung cảm thấy yên tâm hơn khi đầu tư vào KCN, bởi lẽ trong KCN cómột hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại và sẵn có, một môi trường pháp lý thuậnlợi và thống nhất, là nơi cơ chế một cửa, tại chỗ được thực thi rõ ràng nhất Đâychính là những lợi thế chủ yếu để thu hút nhà đầu tư vào KCN

Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, việc tậptrung các doanh nghiệp công nghiệp vào một khu vực địa lý, hình thành KCNtập trung là một vấn đề không kém phần quan trọng, bởi trong KCN tập trung,các doanh nghiệp dùng chung các công trình hạ tầng nên giảm được chi phítrên một đơn vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệptheo một quy hoạch thống nhất, kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành vớiquy hoạch lãnh thổ Mặt khác, việc tập trung các doanh nghiệp trong KCN tậptrung sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc xử lý chất thải công nghiệp, bảo

vệ môi trường sinh thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất Các doanh nghiệp công

Trang 37

nghiệp có điều kiện thuận lợi liên kết, hợp tác với nhau đổi mới công nghệ,nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh.

Thứ hai, tạo điều kiện tiếp nhận chuyển giao công nghệ hiện đại và phương pháp quản lý tiên tiến của các nước phát triển.

Cùng với việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc tiếp thu công nghệhiện đại và các phương pháp (kinh nghiệm) quản lý tiên tiến của các nhà đầu tưđược thực hiện khá tốt thông qua các KCN nhằm góp phần nâng cao trình độcông nghệ, khả năng hấp thụ các công nghệ mới, nâng cao năng lực quản lý Đểtạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới và thị trường nội địa,các nhà đầu tư nước ngoài thường đưa vào KCN các công nghệ tương đối hiệnđại Mặc dù, ở các KCN, đầu tư nước ngoài chủ yếu thực hiện các hoạt độngsản xuất, tiêu dùng, dệt may, gia công giày da, lắp ráp điện tử sau đó là sảnxuất cơ khí, linh kiện điện tử song, quá trình chuyển giao công nghệ vẫn diễn

ra thông qua nhiều hình thức như: đào tạo công nhân nước chủ nhà để sử dụngmáy móc, thiết bị, công nghệ sản xuất, đưa máy móc hiện đại sang để tiến hànhsản xuất nhằm mục đích tạo năng suất lao động cao Các công ty ở các KCN

có thể chuyển giao một số các công nghệ mới vào giúp đỡ kỹ thuật cho các nhàcung cấp địa phương hoặc các công ty sản xuất các chi tiết sản phẩm củaKCN Như vậy, các KCN là yếu tố thúc đẩy việc hình thành và phát triểnnhanh chóng các ngành công nghiệp mới đáp ứng yêu cầu của quá trình CNHnền kinh tế Mặt khác, các doanh nghiệp KCN còn thu hút một lượng lớn ngườilao động Việt Nam vào các vị trí quản lý doanh nghiệp quan trọng, đội ngũ laođộng này được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiệnđại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự Đội ngũ lao độngnày khi chuyển đi làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam, hoặc tự mình khởi

sự doanh nghiệp sẽ áp dụng phương thức quản lý tiên tiến đã tiếp thu được vàohoạt động của doanh nghiệp mình Từ đó sẽ vừa nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa doanh nghiệp, vừa truyền đạt những kiến thức quản lý cho người lao độngViệt Nam khác

Thứ ba, tạo việc làm và thu nhập

Sự hình thành và phát triển các KCN không chỉ thu hút lao động vào các

Trang 38

doanh nghiệp bên trong KCN mà còn kích thích các hoạt động dịch vụ pháttriển, do đó thu hút vào các hoạt động này một số lớn lao động khác Việc xâydựng KCN sản xuất cũng như các dịch vụ hỗ trợ bên ngoài KCN đã giải quyếtđược một số lượng lao động khá lớn Theo con số thống kê, đến nay, các doanhnghiệp trong KCN, KCX đã tạo việc làm cho khoảng 750 nghìn người lao độngtrực tiếp, và hơn 1 triệu lao động gián tiếp Phần lớn những lao động này là laođộng trẻ, có khả năng nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật mới Trong tổng số lượnglao động trong các KCN, có đến 90% lao động có độ tuổi từ 18 đến 35 Nếu sosánh với khả năng tạo việc làm của các KCN, KCX thì con số 750 nghìn laođộng trực tiếp và hơn 1 triệu lao động gián tiếp chưa phải là lớn, chưa tươngxứng với tiềm năng Nhưng điều quan trọng là số lao động này được tiếp cậnvới công nghệ sản xuất hiện đại, phương thức quản lý tiên tiến Đây là điềukiện hết sức quan trọng để xây dựng đội ngũ lao động mới có kỷ luật, cóchuyên môn, kỹ thuật và có năng suất lao động cao đáp ứng nhu cầu của côngcuộc CNH, HĐH đất nước Mặt khác, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao độngcủa các doanh nghiệp, nhiều KCN, KCX đã mở các cơ sở đào tạo nghề Việcthành lập các trung tâm dạy nghề và đào tạo trong các KCN, KCX đã góp phầnnâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp trong KCN nóiriêng, cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nói chung Thực tế cho thấy, tại cácđịa phương có KCN, tỷ lệ thất nghiệp giảm rõ rệt, điều đó tác động khá tích cựcđến việc xóa đói giảm nghèo, đồng thời góp phần làm giảm các tệ nạn xã hội

do thất nghiệp gây nên Theo điều tra thì có khoảng 40% số lao động làm việctrong các KCN, KCX là những người có thu nhập thấp đến từ nhiều địaphương Như vậy, việc mở mang các KCN, KCX không chỉ góp phần tạo việclàm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, mà còn góp phần đáng kể vào việcxóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, mở rộng thị trường tiêu thụ tại địa phương,kích thích sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, từ đó tạo thêm việc làm mới, gópphần làm ổn định đời sống cho người lao động ở nước ta

Trang 39

Thứ tư, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hợp lý

và hiệu quả

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân theo hướng CNH, HĐH là một nộidung quan trọng trong đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta Dự thảoBáo cáo Chính trị Đại Hội X của Đảng đã xác định: Mục tiêu đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Tuynhiên, để trở thành một nước công nghiệp, trong những năm tới tốc độ tăngtrưởng kinh tế không chỉ nhanh mà còn phải đảm bảo yêu cầu bền vững Cơcấu kinh tế phải chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng nông, lân, thủy sản, tăng

tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ Để đạt được mục tiêu đó, có nhiềuviệc phải làm, trong đó có nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chínhsách và giải pháp đồng bộ và tích cực để phát triển các KCN, KCX, thu hútnguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước

KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ côngnghiệp Xét về mặt lượng, đương nhiên KCN góp phần nâng cao tỷ trọng ngànhcông nghiệp trong tổng số GDP của các ngành kinh tế tạo ra trên cả nước.Nhưng quan trọng hơn về mặt chất, KCN thu hút được các dự án có hàm lượngvốn lớn, công nghệ cao Mặc dù số lượng các dự án này trong KCN còn ít,nhưng cũng góp phần phát triển ngành nghề mới, đa dạng hóa cơ cấu ngànhnghề công nghiệp Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngànhcông nghiệp nhẹ như dệt may, da giày và công nghiệp chế biến thực phẩm,đây là dự án thu hút nhiều lao động và có tỷ lệ xuất khẩu cao Các ngành côngnghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm là những ngành truyền thống, đã có từ lâu ởnước ta,nhưng các dự án trong KCN đã góp phần nâng cấp các ngành này vềdây chuyền công nghệ, chất lượng sản phẩm

Mặt khác, phải kể đến sự đóng góp của KCN vào việc nâng cao tỷ trọngcác ngành dịch vụ công nghiệp như dịch vụ tư vấn, thiết kế xây dựng, bưuchính viễn thông, bảo hiểm Đây là những dịch vụ có chất lượng cao, đạt tiêuchuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế

Trang 40

Tóm lại, KCN đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,

HĐH cả về mặt chất và mặt lượng Mặc dù đến nay vẫn còn nhiều bất hợp lýtrong cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành nghề trong công nghiệp Tỷ trọngcác ngành công nghiệp nặng và công nghiệp kỹ thuật cao so với đòi hỏi cònthấp, còn tồn tại những hậu quả do các công nghệ lạc hậu do thiếu kinh nghiệm

và trình độ du nhập vào Việt Nam Tuy nhiên, những đóng góp của KCN vàoviệc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước là hết sức quan trọng và không thểphủ nhận được Trong đó vai trò chủ đạo, quyết định đường hướng, cách thức

và tạo điều kiện cần thiết để có những cơ chế cho hoạt động của các KCN làNNL quản lý lĩnh vực này

Thứ năm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường, bảo

vệ môi trường sinh thái cho phát triển bền vững.

Bảo vệ môi trường là nội dung cơ bản của phát triển bền vững Các nướcđang phát triển thực hiện CNH, HĐH cần chú ý sự phát triển cân bằng cả kinh

tế, xã hội và môi trường Vấn đề môi trường là một yếu tố quan trọng mà bất cứmột doanh nghiệp sản xuất nào đều phải giải quyết và xử lý Với mục tiêuchỉnh trang các đô thị theo hướng hiện đại, văn minh và bảo vệ môi trường,phải di dời nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong các đô thị ra cácvùng ngoại thành Nếu các doanh nghiệp phân bố phân tán, mặt khác việc xử lýchất thải do từng doanh nghiệp thực hiện riêng rẽ sẽ rất tốn kém và không đồng

bộ Việc tập trung nhiều doanh nghiệp trên cùng một địa bàn sẽ cho phép xâydựng các trung tâm xử lý chất thải với chi phí ít tốn kém hơn, đồng bộ hơn, tạođiều kiện thuận lợi hơn cho việc quản lý môi trường của các cơ quan chức nănghơn KCN là nơi tiếp nhận các nhà máy, xí nghiệp, tạo nên một địa bàn sảnxuất đồng bộ, tập trung Do tập trung các cơ sở sản xuất nên có điều kiện thuậnlợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và bảo vệ môi trường, do vậy KCN làđịa điểm tốt để di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường từ nội thành,

từ các vùng dân cư, phục vụ tốt cho mục tiêu phát triển bền vững Đây là mộttrong số mục tiêu đặt ra đối với việc thành lập các KCN Cho đến nay, hầu hết

Ngày đăng: 07/02/2015, 22:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Trần Thị Dung (2004), "Về việc phát triển các khu công nghiệp tại các khu vực Bắc Bộ", Thông tin khu công nghiệp Việt Nam, tr 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc phát triển các khu công nghiệp tại các khu vực Bắc Bộ
Tác giả: Trần Thị Dung
Năm: 2004
13. Nguyễn Thành Dũng (2002), "Vai trò của khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế trước thực trạng toàn cầu hóa kinh tế ngày nay", Tạp chí Phát triển kinh tế, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của khu chế xuất, khu thương mại tự do, đặc khu kinh tế trước thực trạng toàn cầu hóa kinh tế ngày nay
Tác giả: Nguyễn Thành Dũng
Năm: 2002
14. Lê Tuấn Dũng (2004), "Hướng đi cho phát triển KCN tại một số tỉnh miền núi Bắc Bộ", Thông tin khu công nghiệp Việt Nam, tr 8-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng đi cho phát triển KCN tại một số tỉnh miền núi Bắc Bộ
Tác giả: Lê Tuấn Dũng
Năm: 2004
15. Đặng Đình Đào (2006), Một số vấn đề phát triển KCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam , Kỷ yếu Hội nghị - Hội thảo khoa học quốc gia 15 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam, Long An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề phát triển KCN trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Đình Đào
Năm: 2006
16. Lê Văn Hòa (2003), Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở
Tác giả: Lê Văn Hòa
Năm: 2003
17. Cao Thái Hưng (2002), Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của đội ngũ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của đội ngũ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc Bộ Y tế
Tác giả: Cao Thái Hưng
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Cơ cấu kinh tế - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế (Trang 55)
Bảng 2.2: Các khu, cụm công nghiệp tiếp tục phát triển giai đoạn 2006 - 2010 - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.2 Các khu, cụm công nghiệp tiếp tục phát triển giai đoạn 2006 - 2010 (Trang 57)
Bảng 2.3: NNL quản lý thuộc Ban QLCKCN tỉnh - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.3 NNL quản lý thuộc Ban QLCKCN tỉnh (Trang 70)
Bảng 2.4: NNL tham gia quản lý các KCN tại các các sở, ban, ngành - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.4 NNL tham gia quản lý các KCN tại các các sở, ban, ngành (Trang 71)
Bảng 2.5: Trình độ lý luận chính trị - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.5 Trình độ lý luận chính trị (Trang 71)
Bảng 2.6: Trình độ quản lý nhà nước - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.6 Trình độ quản lý nhà nước (Trang 72)
Bảng 2.7: Trình độ ngoại ngữ - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.7 Trình độ ngoại ngữ (Trang 73)
Bảng 2.8: Trình độ tin học - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.8 Trình độ tin học (Trang 73)
Bảng 2.9: Thâm niên công tác quản lý các KCN - Nâng cao năng lực điều hành đối với nguồn nhân lực quản lý các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bắc giang_luận văn thạc sĩ
Bảng 2.9 Thâm niên công tác quản lý các KCN (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w