1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại việt nam giai đoạn 2011-2020_Luận văn thạc sĩ

93 1K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 584 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách quản lý truyền hình trả tiền sẽ khuyến khích phát triển loạihình dịch vụ này theo công nghệ hiện đại nhằm hỗ trợ tối đa việc truyền tải cácchương trình, kênh chương trình phát

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, dịch vụ truyền hình trả tiền của Đài truyền hìnhViệt Nam đã có được nhiều thành tích góp phần vào công cuộc đổi mới đấtnước Số lượng người dân sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền ngày càng nhiều.Chất lượng của dịch vụ cũng được nâng lên rõ rệt Số lượng và chương trìnhtruyền hình ngày càng phong phú, góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sốngthưởng thức văn hóa, tinh thần của nhân dân Tuy nhiên việc quản lý nhà nướcđối với dịch vụ truyền hình còn nhiều bất cập, chất lượng chưa tương xứng, chưađáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốctế

Công cuộc đổi mới của nước ta ngày càng đòi hỏi phải hoàn thiện hơn,càng mới mẻ hơn, sâu sắc hơn Công cuộc đổi mới này đòi hỏi dịch vụ truyềnhình trả tiền phải đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và có ýnghĩa giáo dục, hướng tới những giá trị tích cực Nhận thức của các cơ quanquản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tuy có nhiều tiến bộ về xác địnhchủ trương, phương hướng, đường lối, nhưng việc xác định đối tượng, mục tiêu,cách thức quản lý còn chậm, gặp nhiều lúng túng

Những thay đổi trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và đặc biệt là sự thay đổitrong cơ chế vận hành của nền kinh tế đã dẫn đến những thay đổi tất yếu trongquản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền Việc chuyển đổi từ nền kinh tế

kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của nhà nước kéo theo nền hành chính phải có sự thay đổi phù hợp

Hiện nay, cả nước có khoảng 2,5 triệu thuê bao và có khoảng 100 kênhloại hình dịch vụ thông tin, giải trí này Hiện tại, từ đô thị đến nông thôn, truyền

Trang 2

hình trả tiền được nhiều người dân sử dụng Cùng với đó, các đơn vị là nhà cungcấp dịch vụ truyền hình trả tiền (Đài Truyền hình Việt Nam, các đài phát thanhtruyền hình các tỉnh thành, các doanh nghiệp ) đang có xu hướng áp dụng mạnh

mẽ thành tựu khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhucầu của người sử dụng Tuy nhiên, do đây là một loại hình dịch vụ mới nên côngtác quản lý, nhất là các cơ chế, chính sách có liên quan chưa thống nhất, đồng

bộ, đầy đủ, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng dịch vụ cũng như công tác quản lýnhà nước đối với loại hình cung cấp dịch vụ và sử dụng dịch vụ này, đặc biệt làcác vi phạm về bản quyền hoặc cung cấp một số chương trình truyền hình chưađược phép hoặc chưa mua bản quyền, việc xem xét, kiểm soát, xét duyệt chươngtrình

Để thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền,ngày 24/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg banhành Quy chế hoạt động truyền hình trả tiền Theo đó, các đơn vị hoạt động dịch

vụ truyền hình trả tiền được tổ chức lại theo quy chế của Chính phủ; khuyếnkhích truyền hình trả tiền theo công nghệ hiện đại vừa phục vụ nhiệm vụ chínhtrị của Đảng và Nhà nước, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí ngày càng đadạng của người dân

Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, trong những năm qua, nhà nướcban hành nhiều chính sách phát triển dịch vụ truyền hình, nhờ đó, hệ thốngtruyền hình trả tiền đã có sự phát triển nhanh Hiện nay, mỗi tỉnh, thành phốtrong cả nước đều có một mạng truyền hình cáp, 43% hộ gia đình ở thành thị sửdụng truyền hình cáp, 18% hộ gia đình sử dụng thiết bị thu tín hiệu từ vệ tinh

Trang 3

Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho biết, truyềnhình trả tiền ở Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực, đã bộc lộ nhiều nội dungcần có sự quản lý và điều chỉnh để phát triển bền vững Đó là tình trạng buônglỏng quản lý, cạnh tranh không lành mạnh, vi phạm bản quyền xảy ra ở nhiềuđơn vị, cá nhân… Do đó, bên cạnh sự phát triển cần phải có sự quản lý chặt chẽcủa Nhà nước đề truyền hình trả tiền phát triển vững chắc.

Chính sách quản lý truyền hình trả tiền sẽ khuyến khích phát triển loạihình dịch vụ này theo công nghệ hiện đại nhằm hỗ trợ tối đa việc truyền tải cácchương trình, kênh chương trình phát thanh, truyền hình trong nước vừa phục vụnhiệm vụ chính trị thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, vừa góp phầnnâng cao dân trí đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần lành mạnh của người dân,bảo vệ và phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa tốt đẹp của dân tộc, góp phầnxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Bên cạnh đó, cần quản lý chặt chẽ việc cung cấp nội dung các chươngtrình, kênh chương trình tuyền hình trả tiền theo quy định của pháp luật về báochí; quản lý hạ tầng kỹ thuật truyền hình trả tiền theo qui định của pháp luật vềviễn thông; bảo đảm phát triển thị trường tuyền hình trả tiền có cạnh tranh lànhmạnh, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin giải trí đa dạng của người dân, vừa phùhợp với điều kiện thực tế của Việt Nam

Với tầm quan trọng của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực truyền hìnhtrả tiền đã có một số văn bản chỉ đạo một số cơ sở của trực thuộc lĩnh vực truyềnhình trả tiền phải nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình cũng như

chất lượng phục vụ Với yêu cầu cấp thiết này tác giả đã chọn đề tài: “Quản lý

Trang 4

nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020”

làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ quản lý hành chính công

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích hoàn thiện và đổi mới quản lý nhà nước về dịch vụ

truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nói chung cũng như Quản

lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Đài Truyền hình Việt Nam nóiriêng

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Phân tích, tổng hợp và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước

về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam nói chung và tại Đài Truyền hìnhViệt Nam nói riêng, bao gồm các vấn đề cơ bản như: Các khái niệm, bản chất,đặc điểm, nội dung và các yếu tố tác động

- Trên cơ sở lý luận của chương 1, chỉ ra được thực trạng, những mặt mạnh

và những vấn đề còn tồn tại của công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực truyềnhình trả tiền tại Việt Nam nói chung và tại Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng

- Trên cơ sở thực trạng luận văn đề ra một số nhóm giải pháp chung từ đó cónhững kiến nghi cụ thể để nhằm hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý nhànước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Những nội dung chủ yếu trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ truyềnhình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 nói chung và tại Đài Truyềnhình Việt Nam nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Trang 5

+ Khách thể chính: Nghiên cứ và khảo sát đối với các cơ quan có thẩm quyềnquản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020.

( Bộ Thông tin và truyền thông; cục quản lý phát thanh và truyền hình; các cơquan có thẩm quyền )

+ Khách thể phụ: Đài truyền hình Việt Nam Khảo sát từ thực tế, từ cácchuyên gia, các tổ chức, công dân khác

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận khoa học:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ ChíMinh và một số thành tựu của khoa học quản lý, khoa học tâm lý, văn hóa, xãhội, kinh tế, chính trị, pháp luật…

5.2 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Phân tích, tổng hợp, qui nạp, diễn dịch, đánh giá…

5.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Khảo sát, phỏng vấn sâu, thực nghiệm …

6 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:

- Trong quá trình nghiên cứu lý luận về truyền hình trả tiền, đề cập tới cáckhía cạnh khác nhau của đề tài đã có nhiều bài báo, báo cáo nghiên cứu khoahọc được đăng tải trên các tạp chí, các báo

Ngoài ra, vấn đề quản lý nhà nước về truyền hình trả tiền luôn được đề cậptới trong các cuốn sách nghiên cứu nghiệp vụ của các cơ sở đào tạo truyềnhình Tuy nhiên, như đã trình bày ở trên, hầu hết các tác giả mới chỉ dừng lại

ở mức độ đề cập giải quyết một số khía cạnh của vấn đề, những hiện tượngđơn lẻ của thực tiễn truyền hình trả tiền hiện nay Chưa có một công trình

Trang 6

nghiên cứu sâu, đầy đủ, có trọng tâm, trọng điểm và toàn diện về vấn đề nàyvới tư cách là một đề tài nghiên cứu khoa học Chưa có một đề tài nào nghiêncứu một cách trọn vẹn, toàn diện vai trò của quản lý nhà nước đối với truyềnhình trả tiền, thông qua hệ thống văn bản pháp lý và đánh giá ác động củaquản lý đối với truyền hình trả tiền, mặc dù đây là một vấn đề có ý nghĩa tolớn cả về lý luận và thực tiễn.

Với những lý do trên, luận án đi sâu vào khảo sát, nghiên cứu tìm hiểu sựquản lý của nhà nước đối với truyền hình trả tiền thông qua việc ban hành cácvăn bản quy phạm pháp luật (văn bản pháp lý), bước đầu tìm hiểu quá trìnhthực thi các văn bản đó trong thực tiễn hoạt động của truyền hình trả tiền, qua

đó đưa ra nhận xét ban đều về tính đúng đắn, sáng suốt và giá trị lý luận, giátrị thực tiễn của nội dung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về truyềnhình trả tiền

7 Những đóng góp mới của luận văn

- Xây dựng được các luận điểm khoa học mới về quản lý nhà nước đối vớidịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020

- Chỉ ra được thực trạng

- Đề xuất các giải pháp và xây dựng mô hình quản lý nhà nước về dịch vụtruyền hình trả tiền tại Việt Nam một cách hiệu quả

8 Gỉa thuyết nghiên cứu

Nếu nghiên cứu thành công kết quả của đề tài sẽ được ứng dụng trongthực tiễn quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giaiđoạn 2011-2020

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Trang 7

Chương 1 Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiềngiai đoạn 2011-2020.

Chương 2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trảtiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Chương 3 Những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và đổi mới dịch

vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020

Trang 8

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH

VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN TẠI VIỆT NAM

1.1 Quan niệm quản lý nhà nước về dịch vụ truyền hình trả tiền

1.1.1 Thế nào là truyền hình trả tiền

Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng

Hy lạp và có nghĩa là “xem được từ xa” Truyền hình được hiểu là một loạitruyền thông đại chúng, chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh bằngsóng vô tuyến điện

Truyền hình trả tiền (PayTV) là một ngành kinh doanh các sản phẩm dịch

vụ truyền hình mà người dùng phải trả phí để xem được chính các sản phẩm dịch

vụ đó Như vậy khác với truyền hình quảng bá, để sử dụng truyền hình trả tiềnngười tiêu dùng phải trả phí cho nhà cung cấp dịch vụ Điểm khác biệt này đemđến cho người xem có được sự lựa chọn chương phong phú, đa dạng và phù hợphơn thị hiếu người dùng Truyền hình trả tiền là sự biến đổi sâu sắc truyền hình

từ môi trường đại chúng sang môi trường đáp ứng sở thích riêng của người xem

Dịch vụ truyền hình trả tiền là hoạt động cung cấp dịch vụ truyền dẫn,phân phối nội dung thông tin dưới dạng các chương trình truyền hình và các dịch

vụ giá trị gia tăng khác trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trảtiền đến thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc cácthỏa thuận có tính ràng buộc tương đương Trong đó chương trình truyền hìnhtrả tiền là các chương trình trong nước, chương trình nước ngoài được cung cấp

Trang 9

đến thuê bao truyền hình trả tiền.

Các chương trình truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch

vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu)đến thuê bao truyền hình trả tiền

Đối tượng khách hàng của truyền hình trả tiền:

- Khách hàng tiêu dùng cuối cùng: Là các hộ gia đình sử dụng trực tiếpsản phẩm được phân phối bởi nhà cung cấp dịch vụ

- Khách hàng phân phối lại sản phẩm: Khách hàng này mua lại dịch vụtruyền hình trả tiền (Các kênh chương trình) và phân phối lại cho người tiêudùng cuối cùng Ví dụ như khách sạn, nhà thầu dịch vụ chung cư, nhà hàng hoặc

là nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền thứ cấp khác

- Khách hàng sử dụng các dịch vụ gia tăng trên hạ tầng mạng truyền hìnhtrả tiền Đối tượng khách hàng này muốn sử dụng hạ tầng truyền hình trả tiềnlàm phương tiện quảng bá thông tin sản phẩm dịch vụ của mình đến khách hàngcủa truyền hình trả tiền Ví dụ là các doanh nghiệp, tổ chức muốn quảng bátuyên truyền thông tin sản phẩm, sự kiện hay khai thác dịch vụ SMS trên mạnglưới của truyền hình trả tiền đối với người tiêu dùng cuối cùng của mạng lưới

- Hiện tại, trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang triểnkhai và phát triển một số loại hình dịch vụ truyền trả tiền như sau:

+ Truyền hình cáp vô tuyến MMDS

+ Truyền hình Cáp hữu tuyến CATV

+ Truyền hình kỹ thuật số mặt đất

+ Truyền hình vệ tinh DTH

+ Truyền hình theo yêu cầu

Trang 10

+ Dịch vụ truyền hình có độ phân dải cao

+ Dịch vụ truyền hình trên internet

+ Dịch vụ truyền hình IPTV

+ Truyền hình trên điện thoại di động mobile TV

Một số từ ngữ được sử dụng trong truyền hình trả tiền để tiện cho công tác

quản lý

- Dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn,

phân phối các kênh chương trình, chương trình truyền hình trả tiền và các dịch

vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đếnthuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận

có tính ràng buộc tương đương (gọi là Hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền hìnhtrả tiền) Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụtruyền hình trực tiếp) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đếnthuê bao truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình trực tuyến là dịch vụ truyền hình trả tiền cung cấp trực

tiếp các kênh truyền hình đến thuê bao truyền hình trả tiền không qua thiết bị lưutrữ, làm chậm của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

- Dịch vụ truyền hình theo yêu cầu là dịch vụ truyền hình trả tiền thực hiện

việc lưu trữ các chương trình, kênh chương trình truyền hình trả tiền và cung cấpđến thuê bao truyền hình trả tiền theo yêu cầu của thuê bao truyền hình trả tiền

- Kênh chương trình truyền hình trả tiền là kênh chương trình trong nước,

kênh chương trình nước ngoài được cung cấp đến thuê bao truyền hình trả tiền.Kênh chương trình bao gồm các chương trình

Trang 11

- Kênh chương trình trong nước là kênh chương trình phát thanh, truyền hình

do các đơn vị có giấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh, truyềnhình (báo nói, báo hình) của Việt Nam sản xuất hoặc liên kết sản xuất theo quyđịnh của pháp luật

- Kênh chương trình nước ngoài là kênh chương trình phát thanh, truyền hình

do các hãng phát thanh, truyền hình nước ngoài sản xuất, có ngôn ngữ thể hiệnbằng tiếng nước ngoài

- Dịch vụ giá trị gia tăng trên truyền hình trả tiền (gọi tắt là dịch vụ giá trị gia

tăng) là các dịch vụ làm tăng thêm tiện ích về thông tin được gửi kèm theo hoặcxen kẽ các kênh chương trình truyền hình trả tiền và được hiển thị trên thiết bịnghe nhìn của thuê bao truyền hình trả tiền

- Hạ tầng kỹ thuật cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền (gọi tắt là Hạ tầng

kỹ thuật truyền hình trả tiền) là hạ tầng mạng viễn thông có tính năng kỹ thuậtđáp ứng yêu cầu cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

Hỗ trợ kỹ thuật truyền hình trả tiền cung cấp tín hiệu cho thuê bao truyền hìnhtrả tiền tại điểm kết cuối theo quy định của pháp luật về viễn thông

- Thuê bao truyền hình trả tiền (gọi tắt là Thuê bao) là tổ chức, cá nhân sử

dụng dịch vụ truyền hình trả tiền của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiềntheo Hợp đồng cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

- Thiết bị đầu cuối thuê bao truyền hình trả tiền (gọi tắt là Thiết bị đầu cuối)

là thiết bị mà thuê bao sử dụng để kết nối với điểm kết cuối của hạ tầng kỹ thuật

Trang 12

truyền hình trả tiền để nhận tín hiệu của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trảtiền.

1.1.2 Quan niệm về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền

* Nhà nước: Là "sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấpkhông thể điều hoà được", là công cụ của quyền lực chính trị Nhà nước - theođúng nghĩa của nó - là một bộ máy trấn áp đặc biệt của giai cấp này đối với giaicấp khác, là bộ máy để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác

* Bộ máy nhà nước: Có thể được hiểu như là một tổng thể các cơ quantrong cơ cấu tổ chức nhà nước Bộ máy nhà nước bao gồm cả 3 loại tổ chứcđược phân công theo 3 quyền: Lập pháp (Quốc hội), Hành pháp (Chính phủ), Tưpháp (Toà án)

* Nhà nước pháp quyền: Là "nhà nước coi pháp luật là trên hết và thựchiện quản lý bằng pháp luật"

- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam "là công cụ chủ yếu đểthực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

vì dân", theo đó, "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Mọi cơ quan, tổchức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp vàpháp luật"

* Pháp luật: Là hệ thống các quy phạm do nhà nước đặt ra, được bảo đảmthi hành bằng các tổ chức, biện pháp mang tính chất nhà nước

* Hệ thống pháp luật: Là tổng thể các quy phạm pháp luật có tính thốngnhất, nhất quán, không chồng chéo, mâu thuẫn nhau, phù hợp với các quan hệ xãhội mà nó điều chỉnh

Trang 13

* Pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam: là hệ thống các quy phạm do Nhànước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành nhằm thể hiện ý chí củagiai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản Việt Nam, có tính bắt buộc chung và thực hiện lâu dài nhằm điềuchỉnh các mối quan hệ xã hội và biểu thị nền kinh tế-xã hội, được bảo đảm thựchiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế của bộ máy Nhànước.

* Khái niệm quản lý: Thuật ngữ quản lý trong hoạt động kinh tế-xã hội cónhiều nghĩa khác nhau, do đó cũng có nhiều các định nghĩa không giống nhautuỳ theo quan điểm cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu Có quan niệmcho rằng quản lý là các loại hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoànthành công việc thông qua những nỗ lực của người khác Quan niệm khác coiquản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sựkhác cùng chung một tổ chức Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là một hoạt độngthiết yếu bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đíchcủa nhóm

Bất kỳ một lao động xã hội nào hay cộng đồng nào được tiến hành trênquy mô tương đối lớn cũng đều cần sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hoàgiữa các công việc riêng rẽ và thực hiện các chức năng chung nhất xuất phát từ

sự vận động của từng bộ phận độc lập của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sựvận động của từng bộ phận độc lập trong nền sản xuất ấy)

Xuất phát từ luận điểm đó, quan niệm chung nhất hiện nay về quản lý là

sự tác động có định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó và hướng nó pháttriển phù hợp với những quy luật nhất định Nói cách khác, quản lý chính là sự

Trang 14

tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người làm cho chúng vận động phát triển phù hợp với quy luật, đạtđược tới mục đích và theo ý chí của người quản lý hay là sự tác động của chủ thểquản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biếnđộng của môi trường.

* Khái niệm về quản lý nhà nước:

- Trong xã hội có nhà nước thì hoạt động quản lý cao nhất - quản lý nhànước - được bảo đảm thực hiện nhờ yếu tố quyền lực nhà nước Do đó, quản lýnhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật củacác cơ quan nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của conngười để duy trì, phát triển các mối quan hệ cũng như trật tự pháp luật nhằmthực hiện các chức năng và nhu cầu của nhà nước theo các mục tiêu đã định Đó

là sự quản lý của "một chủ thể đặc biệt - bộ máy nhà nước - với đặc trưng làquyền lực công" , là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hànhpháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhànước Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: Nhà nước, cơ quan nhà nước, tổ chức

và cá nhân được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước

- Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, là toàn bộ hoạt động của bộmáy nhà nước từ hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đến hoạt động tưpháp; hiểu theo nghĩa hẹp, đó là việc thực hiện các hoạt động chấp hành và điềuhành của nhà nước (hay còn gọi là hoạt động quản lý hành chính nhà nước theo ýnghĩa vốn có của nó) Hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi hệ thống cơquan hành chính nhà nước, đứng đầu là Chính phủ Nội dung của hoạt động này

là điều chỉnh các quá trình, hành vi hoạt động của xã hội và con người bằng

Trang 15

quyền lực nhà nước được thể hiện bằng các quyết định của các cơ quan nhà nướcdưới hình thức các văn bản quy phạm pháp luật (hay còn gọi là văn bản pháp lý).Trong các văn bản đó, các nguyên tắc, quy tắc, tiêu chuẩn, biện pháp được quyđịnh chặt chẽ để không ngừng đáp ứng sự phù hợp giữa chủ thể và khách thểquản lý, bảo đảm sự cân đối hài hoà về sự phát triển của quá trình xã hội Đây làđặc trưng của hoạt động điều hành nhà nước.

Từ những luận điểm trên đây, theo chúng tôi, quản lý nhà nước về truyềnhình trả tiền được đề cập ở luận văn này là quản lý nhà nước được hiểu theonghĩa hẹp Quản lý nhà nước về truyền hình trả tiền là một trong những nội dungquản lý nhà nước về văn hoá, xuất phát từ chức năng tổ chức và quản lý của nhànước về văn hoá, cụ thể đó là quản lý truyền hình nói chung và truyền hình trảtiền nói riêng Có thể quan niệm quản lý nhà nước về truyền hình trả tiền là hoạtđộng của các chủ thể quản lý được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt độngquản lý nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện tốt vai trò điều tiết vĩ mô đối vớitruyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng trong công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

- Quan niệm chính về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền:

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển

sự nghiệp truyền hình trả tiền

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báochí; xây dựng chế độ, chính sách về truyền hình trả tiền

- Tổ chức thông tin cho truyền hình trả tiền, quản lý nội dung của truyềnhình trả tiền

Trang 16

- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghềnghiệp cho đội ngũ cán bộ công chức truyền hình trả tiền.

- Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực truyềnhình trả tiền

- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động truyền hình trả tiền của các đơn vị, tổchức, doanh nghiệp…

- Quản lý hợp tác quốc tế về truyền hình trả tiền, quản lý hoạt động truyềnhình trả tiền Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động truyền hình trảtiền nước ngoài tại Việt Nam;

- Tổ chức, chỉ đạo công tác khen thưởng trong hoạt động truyền hình trảtiền tại Việt Nam

- Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách, quyhoạch, kế hoạch phát triển truyền hình trả tiền, việc chấp hành pháp luật vềtruyền hình trả tiền; thi hành biện pháp ngăn chặn hoạt động truyền hình trả tiềntrái pháp luật; giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong hoạt động truyềnhình trả tiền

1.2 Nội dung về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền 1.2.1 Thể chế về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền

- Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân, trong những năm qua, nhà nước đãban hành nhiều chính sách phát triển dịch vụ truyền hình, nhờ đó, hệ thốngtruyền hình trả tiền đã có sự phát triển nhanh

- Quyết định số 877/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng

11 năm 1996 quy định về việc thu tín hiệu và sử dụng tín hiệu từ vệ tinh cácchương trình nước ngoài

Trang 17

- Quyết định số 79/TTg-QĐ2002 ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2002, Thủtướng Chính phủ đã ban hành về việc quản lý việc thu các chương trình truyềnhình nước ngoài

- Quyết định số 20/2011/ QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hànhngày 24/3/2011 nhằm phát triển gắn với quản lý hướng đến sự phát triển vữngchắc của truyền hình trả tiền tại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Kèm theo Quyếtđịnh này Thủ tướng Chính phủ đã ban hành về Quy chế quản lý Truyền hình trảtiền Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành một số Thông tư và một số văn bảnPháp luật khác liên quan đến lĩnh vực phát thanh truyền hình như Thông tư số07/2011/ TT – BTTTT ngày 01/3/2011, Quy định chi tiết và hướng dẫn việc cấpgiấy phép hoạt động báo chí trong lĩnh vực phát thanh truyền hình

Thông qua quyết định số 20/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cácđơn vị kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền sẽ thực hiện đúng theo từng điềukhoản của quyết định cũng như quy chế kèm theo

Như vậy trong 15 năm, ngoài những quyết định mang tính chất địnhhướng, quản lý vĩ mô Chính phủ đã ban hành 3 quyết định rất cụ thể phù hợpvới từng giai đoạn phát triển

1.2.2 Tổ chức bộ máy và năng lực công chức về quản lý nhà nước đối với dịch vụ truyền hình trả tiền

Do những tính chất và quy mô có tính đặc thù của các cơ quan báo chí nêncác cơ quan quản lý nhà nước đã ban hành Nghị định của Chính phủ để quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức, bộ máy của các cơ quan truyền hìnhnói chung và truyền hình trả tiền nói riêng Ban hành Quyết định của Chính phủ

để bổ sung nhiệm vụ quản lý, thành lập mới tổ chức trực thuộc; Ban hành Quyết

Trang 18

định của Bộ Văn hoá - Thông tin để quy định các vấn đề tổ chức, bộ máy cụ thểtrong phạm vi của mình:

- Đối với Đài Truyền hình Việt Nam, Chính phủ đã ban hành Nghị định số72-HĐBT ngày 30/4/1987 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chứccủa Đài Truyền hình Việt Nam Đến năm 1993, do yêu cầu của hoạt động truyềnhình trong giai đoạn mới, Chính phủ ban hành Nghị định số 52/Chính phủ ngày16/08/1993 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của ĐàiTruyền hình Việt Nam, trong đó bổ sung thêm những quy định mới

Đài Truyền hình Việt Nam là Đài quốc gia, là cơ quan thuộc Chính phủ cóchức năng quản lý thống nhất kỹ thuật truyền hình trong cả nước ( ) ĐàiTruyền hình Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Văn hoá - Thông tin vềcác loại hình truyền hình trong đó có truyền hình trả tiền

Chính phủ còn ban hành các Quyết định số 152/HĐBT ngày 05/10/1987

về việc chuyển giao nhiệm vụ quản lý kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu và phát sóngphát thanh, truyền thanh, truyền hình thuộc Bộ Thông tin sang Tổng cục Bưuđiện, Quyết định số 243/TTg ngày 24/05/1993 về việc chuyển giao quản lý các

cơ sở chuyên dùng truyền dẫn tín hiệu và phát sóng phát thanh và truyền hình,Quyết định số 692/TTg ngày 21/11/1994, Quyết định số 201/TTg ngày04/4/1997, Quyết định số 32/1998/QĐ-TTg ngày 10/02/1998, Quyết định số123/2001/QĐ-TTg ngày 22/8/2001 về thành lập các tổ chức trực thuộc của Đài

Ngoài ra, các văn bản quy định về nội dung trên đối với Đài Truyền hìnhViệt Nam còn có Quyết định số 48/QĐ-BTT ngày 27/4/1987 của Bộ Thông tin

về việc giao nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công nhân kỹthuật truyền thanh từ Vụ Tổ chức cán bộ - Lao động và Đào tạo chuyển sang Cục

Trang 19

Phát thanh - Truyền thanh - Truyền hình, Quyết định số 94/QĐ-BTT của BộThông tin ngày 08/04/1998 quyết định chức năng quản lý khoa học kỹ thuậttrong lĩnh vực phát thanh - truyền hình, Quyết định số 530/TC-QĐ ngày13/8/1988 của Bộ Thông tin về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục Thôngtin - Phát thanh - Truyền hình (cơ quan giúp Bộ VHTT thực hiện quản lý nhànước đối với truyền hình), Quyết định số 2 ngày 12/4/1990 của BộVHTTTT&DL về việc giữ nguyên tổ chức và công tác tổ chức văn hoá thôngtin,, phát thanh và truyền hình, du lịch ở tỉnh, huyện hiện có đảm bảo hoạt độngbình thường, Quyết định số 63/QĐ-LHKH ngày 12/01/1991 của BộVHTTTT&DL thành lập Ban Đầu tư phủ sóng truyền hình qua vệ tinh

Các văn bản về Đài Truyền hình Việt Nam có nội dung trên gồm có:Quyết định số 1935 QĐ/PT-TH ngày 04/11/1991 của Bộ trưởng Bộ VH-TT-TT

về việc uỷ quyền xét duyệt và ký thừa lệnh Bộ giấy cho phép lắp đặt, sử dụngthiết bị thu tín hiệu phát thanh - truyền hình trực tiếp từ vệ tinh (TVRO) và cácđài, trạm phát thanh - truyền hình, Quyết định số 605-TTg ngày 31/8/1996 củaThủ tướng Chính phủ cho phép ngành Truyền hình được sử dụng nguồn thu từquảng cáo để phát triển ngành, Quyết định số 1401/1998/QĐ-VBHTT ngày20/7/1998 của Bộ trưởng Bộ VHTT về việc thu hồi giấy phép thu chương trìnhtruyền hình nước ngoài của công ty BAT (Việt Nam), Quyết định số 46/QĐ-BCngày 10/01/1997 của Bộ trưởng Bộ VH-TT ban hành quy chế cấp giấy phép,kiểm tra xử lý vi phạm việc thu chương trình truyền hình nước ngoài từ vệ tinh(TVRO), Quyết định số 156/QĐ/VHTT ngày 01/02/1999 của Bộ trưởng BộVHTT cho phép Trung tâm khai thác bản quyền và trao đổi chương trình truyềnhình thuộc Đài Truyền hình Việt Nam được nhập phim, Quyết định số 87/2001/

Trang 20

QĐ-TTg ngày 01/06/2001 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm khoánthu, khoán chi tài chính đối với hoạt động của Đài Truyền hình Việt Nam.

1.2.3 Tài chính công về dịch vụ truyền hình trả tiền

Để thực hiện các mục tiêu quản lý tài chính đã đề ra, Nhà nước phải sử dụngcông cụ quản lý tài chính, tác động lên các cơ quan, tổ chức đang kinh doanhdịch vụ truyền hình trả tiền Đồng thời các cơ quan, tổ chức đang kinh doanhdịch vụ truyền hình trả tiền cũng có những công cụ riêng của mình tác động trựctiếp lên các bộ phận của mình

Đơn cử công tác quản lý tài chính công của Đài Truyền hình Việt Nam

Hiện nay, hoạt động tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam chủ yếu đượcquản lý thông qua công cụ pháp luật, cụ thể là các văn bản luật và văn bản dướiluật

Quy chế quản lý tài chính của Đài Truyền hình Việt Nam được xây dựng dựatrên những văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Nghị định số 52/CP ngày 16/08/1993 của Chính phủ quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Đài Truyền hình Việt Nam

- Luật Ngân sách Nhà nước ban hành năm 2002

- Quyết định số 87/2001/QĐ-TTg ngày 01/06/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về thực hiện thí điểm khoán thu, khoán chi tài chính đối với hoạt độngcủa Đài Truyền hình Việt Nam

- Nghị định số 10/2002/TT-BTC của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụngcho đơn vị sự nghiệp có thu

Trang 21

- Quyết định số 999/TC-QĐ-CĐKT ban hành ngày 02/11/1996 của Bộtrưởng Bộ Tài chính về việc ban hành hệ thống chế độ kế toán hành chính sựnghiệp.

- Thông tư số 121/2002/TT-BTC ban hành ngày 31/12/2002 của Bộ Tàichính hướng dẫn kế toán đơn vị sự nghiệp có thu

Đài Truyền hình Việt Nam cũng đưa ra Quyết định số 97/2002 của TổngGiám đốc Đài Truyền hình Việt Nam về việc ban hành Quy chế quản lý tàichình của Đài Truyền hình Việt Nam để cụ thể hoá những văn bản trên đốivới hoạt động quản lý tài chính của từng đơn vị trực thuộc

Ngoài ra, mọi hoạt động của Đài Truyền hình Việt Nam còn được địnhhướng thông qua công cụ chính sách của Nhà nước như chính sách giáo dục,chính sách đảm bảo xã hội, chính sách văn hoá…

Đài Truyền hình Việt Nam là đơn vị chủ quản ngân sách Ban Tài chính-kếtoán có trách nhiệm tham mưu tổng hợp về quản lý tài chính, giúp TổngGiám đốc điều hành, quản lý hoạt động tài chính của Đài theo đúng quy địnhcủa Nhà nước Trách nhiệm của các đơn vị được quy định rõ như sau:

- Thủ trưởng và kế toán trưởng các đơn vị trực thuộc Đài chịu trách nhiệmtrước Tổng Giám đốc và các cơ quan quản lý Nhà nước về mọi hoạt độngkinh tế, tài chính của đơn vị mình

- Các đơn vị phải chấp hành sự kiểm tra và hướng dẫn của Ban Tài chính

Kế toán trong việc xây dựng, thực hiện dự toán ngân sách; hạch toán kế toántrong phạm vi dự toán được phê duyệt, đảm bảo đúng chính sách, chế độ, tiêuchuẩn, định mức theo các văn bản của Nhà nước và của Đài Truyền hình ViệtNam quy định

Trang 22

- Ban Tài chính Kế toán có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, hướng dẫn hoạtđộng tài chính của các đơn vị theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn vàQuy chế hoạt động đã được Tổng Giám đốc ban hành.

- Tất cả các đơn vị trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam có sử dụng nguồnNgân sách Nhà nước, nguồn quảng cáo và thu dịch vụ khác, nguồn viện trợ,tài trợ, đặt hàng, vốn tín dụng trong nước, nước ngoài, ngoại tệ, lệ phí, họcphí… đều phải chấp hành quy chế quản lý tài chính áp dụng cho toàn ĐàiTruyền hình Việt Nam

- Đài Truyền hình Việt Nam quản lý, thực hiện chế độ kế toán, phân bổ vàđiều động các nguồn vốn, kinh phí cho các đơn vị trong Đài theo nguyên tắctập trung thống nhất Toàn bộ các khoản thu của Đài phải được quản lý tậptrung tại tài khoản tiền gửi do Tổng Giám đốc làm chủ tài khoản, mở tại Khobạc Nhà nước Trung ương

- Các khoản thu, chi của Đài phải được xác định trong dự toán để quản lý.Kinh phí chỉ sử dụng trong mức khoán, không bù cho những khoản giảm thu,vượt chi Tổng Giám đốc quyết định việc điều chỉnh kinh phí cho các đơn vịtrực thuộc nếu tăng thu và giảm chi, không toạ chi tại các đơn vị thu Trườnghợp đặc biệt, Đài báo cáo Bộ Tài chính xem xét quyết định

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về quản lý nhà nước đối với dịch

vụ truyền hình trả tiền

Truyền hình trả tiền ra đời với tư cách là một loại hình hoạt động chính trị-xã hội-kinh tế, do nhu cầu khách quan của xã hội khi đã đạt đến một trình độphát triển nhất định, truyền hình trả tiền mang trong mình những tiềm năng tolớn đối với đời sống xã hội

Trang 23

Bản thân sự ra đời, tồn tại và phát triển của truyền hình trả tiền đã khẳngđịnh một cách khách quan vai trò, tác dụng và ý nghĩa của nó trong xã hội Tổnghợp những vai trò, tác dụng của truyền hình trả tiền cũng chính là chức năng xãhội của nó.

- Truyền hình trả tiền còn có các nhóm chức năng: Thông tin (khả năngcung cấp thông tin phong phú, đa dạng, kịp thời về mọi lĩnh vực của đời sống xãhội và môi trường cho công chúng); Tư tưởng (khả năng tác động hết sức rộnglớn và mạnh mẽ vào ý thức xã hội, hình thành một hệ tư tưởng thống trị vớinhững định hướng nhất định) Tổ chức - quản lý (đóng góp một cách khác đểquản lý như các tổ chức, đơn vị kinh tế, mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội được truyền hình trả tiền phản ánh trên nhiều góc độ - sự chấp hành các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước, chống tiêu cực ) Phát triển văn hoá

và giải trí (giới thiệu tới đông đảo nhân dân các tác phẩm văn hoá, nghệ thuật,các giá trị văn hoá - nhân văn, đại chúng hoá những giá trị tinh thần của nhânloại, làm phong phú thêm đời sống của người dân)

Đối với mỗi Đảng, nhất là đối với Đảng công nhân, thì việc lập phổ biếnchủ trương chính sách của Đảng hàng ngày là cái mốc quan trọng để tiến lênphía trước Đó là trận địa ban đầu, từ đó Đảng sẽ tiến hành cuộc đấu tranh vớiđối thủ của mình bằng vũ khí tương xứng Truyền hình nói chung và truyền hìnhtrả tiền nói riêng là công cụ tuyên truyền, cổ động quần chúng có tác dụng mộtcách lan tỏa nhanh chóng không có gì thay thế được

Với vai trò của truyền hình trả tiền thì việc phổ biến tư tưởng, giáo dụcchính trị và thu hút những bạn đồng minh chính trị đã đóng góp không những chỉ

Trang 24

là người tuyên truyền tập thể và cổ động tập thể, mà còn là người tổ chức tậpthể

Nhiệm vụ của truyền hình trả tiền đóng góp công sức tuyên truyền, cổđộng, huấn luyện, giáo dục và tổ chức dân chúng để đưa dân chúng đến mụcđích chung

Như vậy, truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng của giaicấp, của nhóm xã hội nào, phản ánh tư tưởng, tình cảm, ý chí, nguyện vọng củagiai cấp đó, của nhóm xã hội đó và trong một xã hội có giai cấp, truyền hình luônthuộc về một giai cấp, thể hiện khuynh hướng chính trị, tư tưởng và bảo vệ cholợi ích của giai cấp đó Và, một khi được vận dụng một cách đúng đắn và tựgiác, có ý thức thì tính khunh hướng được phát triển ở một trình độ cao sẽ trởthành tính Đảng

Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng cần phải bảo vệ vàgiải thích rõ yêu cầu của Đảng, thể hiện rõ những ý kiến quan điểm của Đảng.Đồng thời, phải đấu tranh với kẻ thù của Đảng, bác bỏ ý kiến và tham vọng củachúng "Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng của Đảng làngười phát ngôn của Đảng, là đội tiền phong của giai cấp vô sản, là người tuyên

bố và bảo vệ luận cương và phương hướng của Đảng"

Như vậy, Đảng và Nhà nước đã chỉ rõ bản chất của tính khuynh hướng,khẳng định tính khuynh hướng là tất yếu của hoạt động truyền hình nói chung vàtruyền hình trả tiền nói riêng và còn phải vươn tới phát triển ở trình độ cao hơn -phát triển thành tích đảng, công khai và triệt để bảo vệ lợi ích của Đảng

* Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với truyền hình và truyềnhình trả tiền

Trang 25

Xuất phát từ nhận thức về vai trò to lớn của truyền hình trả tiền, Đảngluôn coi trọng công tác tuyên truyền trên truyền hình nói chung và truyền hìnhtrả tiền nói riêng, coi truyền hình là công cụ sắc bén trong công tác tư tưởng củaĐảng, là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng văn hoá Mặt khác, bản thântruyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng đã luôn luôn trung thànhvới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ, chức năng của cáchmạng, mang lại hạnh phúc cho nhân dân, văn minh cho xã hội, phấn đấu vì đấtnước phồn vinh Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là một đảm bảo chắcchắn cho nền truyền hình đó có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, hiện đại vàthực hiện sức mệnh cao cả của mình, đồng thời cũng cho phép Đảng kịp thờiphát hiện, khắc phục những thiếu sót của truyền hình trả tiền, ngăn chặn những

âm mưu nham hiểm của kẻ thù nhằm lợi dụng truyền hình trả tiền để phá hoạicách mạng, phá hoại sự nghiệp xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa của chúng ta.Đối với sự nghiệp truyền hình trả tiền, sự lãnh đạo của Đảng không những khônglàm hạn chế quyền tự do của truyền hình trả tiền mà còn là điều kiện tất yếu để

có truyền hình trả tiền tự do một cách đầy đủ, chân thực

* Nội dung và quan điểm của Đảng, nhà nước đối với truyền hình nóichung và truyền hình trả tiền nói riêng

- Như đã trình bày ở trên, sự lãnh đạo của Đảng đối với truyền hình nóichung và truyền hình trả tiền nói riêng là một nguyên tắc hàng đầu, bất di bấtdịch Đảng lãnh đạo và quản lý truyền hình bằng Cương lĩnh chính trị, bằng chủtrương, đường lối, bằng hệ thống những quan điểm, chủ trương, giải pháp lớnđối với công tác truyền hình Đảng lãnh đạo và quản lý truyền hình thông quacác tổ chức Đảng, công tác tổ chức - cán bộ truyền hình (đây là khâu then chốt,

có tính chất quyết định), lãnh đạo thông qua vai trò của đội ngũ đảng viên trong

Trang 26

các cơ quan Đài truyền hình, thể hiện cụ thể trên các mặt: định hướng nội dung;hoạch định chủ trương, chính sách phát triển; kiểm tra, đánh giá, xử lý kịp thờicác vấn đề này sinh; lựa chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng và kiểm tra hoạt độngcủa đội ngũ cán bộ Và điều đáng lưu ý là Đảng lãnh đạo, quản lý truyền hìnhthông qua nhà nước, trong đó đặc biệt quan trọng là việc thể chế hóa công tácxuất bản bằng các văn bản pháp lý (hay còn được gọi là văn bản pháp quy, vănbản pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật) của nhà nước Tăng cường quản lýtruyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng cũng chính là tăng cườngvai trò lãnh đạo của Đảng bởi sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện thông quachính hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước các cấp, các ngành, các địaphương.

Từ những vấn đề lý luận trên đây, có thể khẳng định:

- Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng là công cụ đểtuyên truyền các quan điểm chủ trương chính sách đến công chúng, tạo ra dưluận xã hội, đồng thời là phương tiện giáo dục định hướng dư luận xã hội vốnđược coi là "sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào

đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sựkiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trongmột thời điểm nhất định"

- Ở nước ta, "truyền hình vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, củacác đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân" - qua đó nối kết Nhà nước với quầnchúng, là cầu nối giữa Đảng với dân, là kênh liên hệ giữa dân với Đảng TrongNghị quyết Hội nghị Trung ương 6 lần thứ 2 (2/2/1999) Đảng ta đã khẳng định:

"Các báo cáo của Đảng là những cơ quan liên lạc của Đảng và quần chúng lao

Trang 27

khổ" Đảng lãnh đạo báo hình là một nguyên tắc bất di bất dịch, là điều kiện tấtyếu để có tự do ngôn luận một cách đầy đủ, chân thực.

- Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng không chỉ phảnánh dư luận xã hội một cách thụ động mà còn tác động vào dư luận xã hội, gópphần hình thành tâm lý, dư luận xã hội Là một hệ thống xã hội hoạt động trựctiếp trong lĩnh vực tư tưởng nên dưới chế độ nhà nước nào cũng phải có sự quản

lý và sử dụngtruyền hình như một công cụ, một tiểu hệ thống xã hội mà khi đãhình thành tâm lý xã hội thì nó có tác dụng điều chỉnh xã hội ở lĩnh vực này,truyền hình thực sự là một công cụ thực hiện dân chủ hoá đời sống xã hội và do

đó nó có sức mạnh góp phần quản lý xã hội Cũng vì thế, việc phổ biến, kiểmsoát và đánh giá thông tin trở thành vấn đề của nhà nước Đảng lãnh đạo, quản lýtruyền hình thông qua nhiều phương thức, trong đó có phương thức rất quantrọng là thông qua nhà nước với những thể chế được thể hiện bằng hệ thống vănbản pháp luật về truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng

Quan điểm của Đảng và nhà nước về truyền hình trả tiền trong thời kỳ mới.Tình hình và điều kiện của đất nước trong thời kỳ đổi mới đã được đánhgiá, khái quát trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá VIII và đặc biệt làĐại hội IX

- Khoa học và công nghệ sẽ có những bước nhảy vọt chưa từng thấy

+ Với tốc độ phát triển như vũ bão hiện nay, truyền hình trả tiền trong thế

kỷ này chắc chắn sẽ có nhiều kỳ tích, khối lượng tri thức của nhân loại sẽ tăngnhanh ghê gớm hơn nữa Từ đó, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vượt bậc,thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá, cuốn hút ngày càng nhiều quốc gia trên Thếgiới Song điểm lưu ý là các thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công

Trang 28

nghệ bị các nước tư bản phát triển, các tập đoàn công ty xuyên quốc gia chi phối,làm cho các nước kém phát triển, đang phát triển thua thiệt, càng nghèo thêm và

- Xu thế của thời đại là toàn cầu hoá, trước hết sẽ diễn ra trong lĩnh vựccông nghệ thông tin (trong đó có thông tin đại chúng)

+ Toàn cầu hoá là một vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội rất bao trùm củathời đại chúng ta, diễn ra trước hết trong lĩnh vực công nghệ thông tin, truyềnthông Truyền thông được trực tiếp biểu hiện trong quá trình toàn cầu hoá ít nhấtbằng 2 cách: Thứ nhất là do những phát triển kỳ diệu của các công nghệ truyềnthông và truyền hình, truyền thông và truyền hình ngày càng đóng vai trò quantrọng hơn trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Thứ hai là các phương tiệnthông tin thương mại, quảng cáo, và các thị trường viễn thông truyền hình đangnhanh chóng toàn cầu hoá, có ý kiến cho rằng còn hơn cả sự cân bằng kinh tếchính trị Quả thật các phương tiện thông tin và truyền thông truyền hình toàn

Trang 29

cầu trong một vài phương diện là những đội quân tiên phong của chủ nghĩa tưbản toàn cầu.

Như vậy, truyền thông truyền hình trong xã hội hiện đại phải mềm dẻohơn, linh hoạt hơn, phải có tính đa chiều và phải nghiên cứu từng nhóm đốitượng

Ngày nay, toàn cầu hoá thông tin đại chúng đã và đang diễn ra, trở thànhthực tế hiển nhiên, là kết quả tất yếu của sự vận động có tính quy luật Đó chính

là một hiện tượng khách quan, nằm trong xu thế vận động chung cũng như sự tácđộng lẫn nhau của nhiều lĩnh vực như: kinh tế, môi trường, khoa học và côngnghệ , là quá trình quy chuẩn hoá và mở rộng quy mô ra toàn cầu về phạm viảnh hưởng, nguồn tin, công chúng, phương tiện kỹ thuật, cách thức thông tin vàtiếp nhận thông tin của các loại hình hoạt động truyền thông truyền hình đạichúng

* Các bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về truyền hình trảtiền: Điểm qua những văn kiện của Đảng về công tác truyền hình, có thể thấy:

- Đến năm 1997, sau một thời kỳ rút kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo

sự nghiệp đổi mới của đất nước, Đảng ta khẳng định một lần nữa: "Truyền hìnhnói chung và truyền hình trả tiền nói riêng phải được đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, là tiếngnói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị, xã hội và là diễn đàn củanhân dân"

- Trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, lần 2 (ngày 02/02/1999), lầnđầu tiên, Đảng xác định rõ truyền hình là một trong bốn hệ thống giám sát xãhội: "Sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát

Trang 30

của tổ chức Đảng, trước hết là từ chi bộ, sự giám sát của nhân dân và các cơquan đại diện nhân dân, sự giám sát của công luận ".

Nhìn vào sự khẳng định trên về vai trò, vị thế xã hội của truyền hình nóichung và truyền hình trả tiền nói riêng, có thể thấy rõ sự phát triển trong nhậnthức của Đảng ta về truyền hình Từ quan điểm truyền hình là công cụ, là vũ khísắc bén của Đảng, đến thời kỳ đổi mới, Đảng xác định "truyền hình là tiếng nóicủa Đảng, đồng thời cũng phản ánh tiếng nói của quần chúng" Cùng với quátrình đổi mới, Đảng tiếp tục nhận thức rõ hơn, cụ thể hơn về truyền hình: Truyềnhình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng "vừa là tiếng nói của Đảng, củaNhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân " Hơn thế nữa, "Truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo củaĐảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, là tiếngnói của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị, xã hội và là diễn đàn củanhân dân

- Những định hướng của Đảng để phát triển truyền hình trả tiền trong tìnhhình mới

Như chúng tôi đã trình bày, xu thế toàn cầu hoá đã đưa lại xu thế pháttriển của truyền hình trả tiền và thông tin đại chúng Thế giới, đặc biệt là xuhướng phi đại chúng hoá và lẽ đương nhiên Việt Nam cũng không nằm ngoài xuthế đó Trong dòng chảy mạnh mẽ ấy, Đảng ta nhận định:

Toàn cầu hoá là một quá trình chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặttích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh không kém phầnkhó khăn gay gắt trong quan hệ quốc tế cả về kinh tế, chính trị và văn hoá

Trang 31

Rõ ràng, sự chuyển đổi vào kinh tế tri thức với sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học và công nghệ (đặc biệt là công nghệ truyền hình truyền thông rất gắn

bó và nhạy cảm đối với thông tin đại chúng) đã và đang đặt ra cho công tác quản

lý nhà nước về truyền hình trả tiền nhiều vấn đề phải giải quyết Chúng ta phải

có nhận thức mới về truyền hình trả tiền (đặc biệt là về vai trò xã hội của truyềnhình trả tiền), đồng thời phải có những định hướng lớn nhằm thúc đẩy truyềnhình trả tiền nước ta phát triển trong tình hình và điều kiện hiện đại, phục vụ sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước

- Các quan điểm đổi mới của Đảng về truyền hình nêu trên đã khẳng địnhbản chất của nền truyền hình Việt Nam, mặt khác, cũng khẳng định đòi hỏitruyền hình phải đổi mới, thông tin đa dạng, nhiều chiều, làm phong phú hơndiện mạo của nền truyền hình nói chung và truyền hình trả tiền nói riêng, tănghiệu quả của hoạt động truyền hình Chính nhận định "Truyền hình nói chung vàtruyền hình trả tiền nói riêng đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhànước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, là tiếng nói của Đảng, của Nhànước, của các tổ chức chính trị, xã hội và là diễn đàn của nhân dân" đã nhấnmạnh tính đa dạng, đa chiều của thông tin, nhấn mạnh đòi hỏi phải tăng cườngtính văn hoá, chất lượng văn hoá và tính thông tin đối ngoại trong thông tintruyền hình trả tiền nhằm xoá bỏ tình trạng rập khuôn, giáo điều, đơn điệu, côngthức và "đói thông tin" vốn tồn tại trong suốt một thời gian dài trước thời kỳ đổimới Đó cũng là biểu hiện của quá trình dân chủ hoá, công khai hoá đời sống xãhội (trong đó có hoạt động truyền hình trả tiền) theo phương châm "dân biết, dânlàm, dân bàn, dân kiểm tra" do Đảng đề ra

* Phát triển đi đôi với quản lý tốt mạng lưới thông tin truyền hình trả tiền

Trang 32

- Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng, thông tin đa dạng, nhiềuchiều, kịp thời, chân thực và bổ ích Từ đó, Đảng chủ trương phát triển mạnh vànâng cao chất lượng công tác thông tin đại chúng cả về nội dung và hình thức.

"Phát triển sự nghiệp thông tin truyền hình… theo hướng nâng cao chất lượng"

- Đến thời điểm 2006, sau quá trình 10 năm phát triển, truyền hình trả tiềnViệt Nam có những bước phát triển mạnh cả về quy mô, tính chất, và đã xuấthiện nhiều vấn đề phức tạp trong tình hình quốc tế có nhiều biến động, do đó cầnphải có những yêu cầu mới, đòi hỏi phải có sự quản lý tốt hơn thì Đảng bổsung quan điểm: Phát triển phải đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đạichúng được coi là một trong những quan điểm hàng đầu đối với công tác truyềnhình Việc quản lý tốt là cốt để tạo điều kiện cho truyền hình phát triển toàn diện

và phải được thể hiện trên 2 mặt: hệ thống tổ chức và bộ máy quản lý dựa trênmột "hành lang pháp lý Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác truyền hìnhcủa Bộ Chính trị đã nêu rõ yêu cầu của Đảng đối với quản lý truyền hình

Trước mắt cần phối hợp chặt chẽ, rà soát, chấm dứt tình trạng in ấn băngđĩa, chương trình truyền hình dịch từ nước ngoài, sản xuất băng đĩa có nội dungxấu, Hạn chế cấp giấy phép cho ra các doanh nghiệp không đủ thẩm quyền,không đủ năng lực kiểm duyệt nội dung Chỉ cho ra thêm những cơ quan, tổchức, doanh nghiệp ( ) thực sự có nhu cầu, phù hợp với quy hoạch chung và có

đủ điều kiện Thu hồi giấy phép đối với các tổ chức, doanh nghiệp thực hiệnkhông đúng luật pháp, sai tôn chỉ mục đích, không đúng với đối tượng Chấnchỉnh ngay tình trạng khoán trắng sự khai thác các kênh truyền hình nướcngoài…

Trang 33

Đồng thời, song song với yêu cầu nâng cao chất lượng nội dung chươngtrình truyền hình trả tiền, Đảng còn nêu lên yêu cầu phát triển tốt mạng lướithông tin, báo chí, phát thanh, truyền hình, điện ảnh và các hình thức nghệ thuậtkhác; không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hoá, khoa học, công nghệ,nghề nghiệp, từng bước hiện đại hoá.

Như vậy, với việc bổ sung phương châm "Phát triển đi đôi với quản lý tốt"vào quan điểm phát triển truyền hình trả tiền trong thời kỳ mới, Đảng ta đã cómột nhận thức mới, một định hướng nhạy bén, kịp thời, đúng lúc và kế thừađược các quan điểm truyền thống của Đảng ta về truyền hình, càng làm chúng tahiểu rõ thêm rằng: chỉ có thể phát huy sức mạnh của báo hình khi tiến hành quản

lý chúng một cách có hiệu quả, và việc "phát triển đi đôi với quản lý" cần phảiđược tiến hành theo hướng vừa bảo đảm sự tăng trưởng về số lượng, vừa đảmbảo về quy mô của truyền hình trả tiền sao cho phù hợp với nhu cầu, điều kiện

và khả năng thực tế của nước ta

* Đổi mới hoạt động quản lý truyền hình trả tiền, tiếp tục xây dựng vàhoàn chỉnh các chế độ, chính sách phù hợp

- Trong số những phương thức quản lý, việc hoàn thiện môi trường pháp

lý của hoạt động truyền hình trả tiền chính là công việc thể hiện rõ nhất vai tròquản lý của Nhà nước Hành lang pháp lý cho hoạt động truyền hình trả tiềnđược xem xét như sự tổng hợp của một loạt chính sách đồng bộ, hệ thống cácvăn bản pháp lý phù hợp với sự phát triển của đất nước, đòi hỏi sự kịp thời,nhanh chóng trong việc hoàn thiện các chế định pháp lý bảo đảm sự phát triểncân đối, nhịp nhàng, đạt tới hiệu quả cao của nền công nghệ thông tin Trên thực

tế, có một số quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật về truyền

Trang 34

hình chậm được đổi mới theo hướng hợp lý, vì vậy cần xem xét, sửa đổi, bổ sungmột số điểm cần thiết "Quản lý tốt các phương tiện truyền thông đại chúngkhông tách rời điều kiện quan trọng là xây dựng và hoàn thiện một hành langpháp lý Sự phát triển năng động của lĩnh vực này đòi hỏi phải thường xuyên bổsung, cụ thể hoá về luật pháp và các chế định pháp lý, tạo ra các chuẩn mực hợp

lý, tích cực cho cả người quản lý và người bị quản lý Chỉ khi có hành lang pháp

lý tốt thì bộ máy quản lý Nhà nước mới có khả năng thực hiện tốt chức năngquản lý của mình đối với các phương tiện thông tin đại chúng"

* Xây dựng và từng bước thực hiện Chiến lược phát triển truyền hình trảtiền phù hợp với nước ta và xu thế phát triển thông tin đại chúng Thế giới

Một trong những vấn đề hàng đầu để xây dựng hệ thống truyền hình trảtiền trong thời kỳ mới, việc xây dựng một chiến lược quốc gia về thông tintruyền hình là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với mục tiêu tăng cường lãnhđạo, quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động truyền hình.Đảng ta khẳng định: Để lãnh đạo, quản lý tốt đối với truyền hình, cần sớm hoạchđịnh một chiến lược quốc gia về thông tin Một chiến lược phát triển dựa trên cáccăn cứ khách quan, khoa học phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng ta làchỗ dựa cho công tác quản lý nói chung Đó phải là những kế hoạch, hoạch định

cơ bản, dài hạn, vạch ra những định hướng, mục tiêu quan trọng nhất, phác họađược lộ trình phát triển đại thể, chỉ ra các điều kiện, phương pháp bảo đảm thựcthi, xác định những ưu tiên hàng đầu cho từng giai đoạn phát triển truyền hìnhtrả tiền, đề ra các nguyên tắc, tính chất, giải pháp chủ yếu, quan trọng nhất trongviệc xây dựng, tổ chức, quản lý hệ thống thông tin truyền hình trả tiền Vì thế,sớm hoạch định chiến lược phát triển truyền hình trả tiền là một đòi hỏi cấpbách

Trang 35

Những định hướng phát triển truyền hình trả tiền trong tình hình mới củaĐảng ta đã cho thấy, để phát triển theo những định hướng đó, dịch vụ truyềnhình trả tiền rất cần sự lãnh đạo, quản lý chặt chẽ hơn nữa của Đảng và Nhànước, mặt khác, bản thân dịch vụ truyền hình trả tiền Việt Nam cũng phải tự vậnđộng, tự hoàn thiện đổi mới để vươn lên, phân đấu thực hiện tốt vai trò, vị trí củađội quân tiên phong trên mặt trận tư tưởng - văn hoá - kinh tế của Đảng.

Tóm lược kết luận chínhcủa QLNN về truyền hình trả tiền

- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển

sự nghiệp truyền hình trả tiền.

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về truyền hình trả tiền.

- Tổ chức thông tin cho truyền hình trả tiền, quản lý nội dung của truyền hình trả tiền.

- Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ công chức truyền hình trả tiền.

- Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực truyền hình trả tiền.

- Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động truyền hình trả tiền của các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp…

- Quản lý hợp tác quốc tế về truyền hình trả tiền, quản lý hoạt động truyền hình trả tiền Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động truyền hình trả tiền nước ngoài tại Việt Nam;

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỊCH

VỤ TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN TẠI VIỆT NAM

2.1 Thực trạng về dịch vụ truyền hình trả tiền tại Việt Nam

- Đối với hoạt động dịch vụ truyền hình trả tiền hiện nay, có thể nói kể từkhi công cuộc đổi mới về dịch vụ truyền hình trả tiền được khởi xướng, hệ thốngdịch vụ truyền hình trả tiền Việt Nam cũng đã có bước phát triển vượt bậc cả vềhình thức và nội dung, chất lượng và số lượng, đề cập đến hầu hết các lĩnh vựccủa đời sống, văn hóa thể thao cả trong và ngoài nước, đóng góp đáng kể vào sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước Nội dung của truyền hình trả tiền trở nênphong phú, có tính thời sự hơn nhiều so với trước, khẳng định được chức nănglàm diễn đàn cho nhân dân tham gia vào công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước.Đồng thời, với tư cách là một công cụ sắc bén của Đảng và Nhà nước trên mặttrận văn hoá, tư tưởng, kinh tế, xã hội, truyền hình trả tiền Việt Nam cũng ngàycàng bám sát, phản ánh kịp thời và chân thực các vấn đề đang nảy sinh, tồn tạitrong xã hội, đề xuất các chính sách, chủ trương mới, cổ vũ động viên nhân dântiếp tục đẩy mạnh công cuộc phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ đốingoại Bên cạnh đó, tiếp thu các thành tựu khoa học và công nghệ của Thế giới,các loại hình phát thanh, truyền hình và báo điện tử khác đã có sự phát triểnmạnh mẽ, trong khi công nghệ tin học và các công nghệ mới khác trong sản xuấtchương trình, trình bày mỹ thuật đã góp phần làm cho bộ mặt của dịch vụ truyềnhình trả tiền trở nên sinh động, hấp dẫn công chúng…

Trang 37

Với những đặc điểm trên đây, việc phát triển truyền hình trả tiền trongđiều kiện và tình hình mới có nhiều nét mới, đòi hỏi phải có sự quản lý phù hợp.Chính vì vậy, để tiếp tục khẳng định vị trí của truyền hình trả tiền trong thời kỳđổi mới, tiếp tục tạo ra những tác động tích cực cho công cuộc xây dựng, pháttriển đất nước (nhất là khi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vìmục tiêu dân giàu, nước mạnh, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minhđược coi là nhiệm vụ chính trong giai đoạn hiện nay), Đảng và Nhà nước ta phải

có những phát triển mới cả trong nhận thức, cả trong hệ thống quan điểm vềtruyền hình trả tiền thời kỳ này Đồng thời, hệ thống dịch vụ truyền hình trả tiềncũng phải không ngừng tự nâng cao chất lượng nội dung về mọi mặt

Cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, mức sống của người dâncũng tăng lên đáng kể, nhất là mức sống và thu nhập của người dân thành thị.Nhu cầu giải trí của người dân cũng tăng lên nhanh chóng Trong đó truyền hìnhtrả tiền trở thành một ngành kinh doanh có tốc độ nhanh nhất hiện nay Nếu nhưtháng 9/2002, lượng thuê bao truyền hình trả tiền mới chỉ đạt hơn 25.000 thuêbao thì đến nay con số này đã tăng lên tới 2,5 triệu thuê bao Lượng thuê baotăng gấp gần 100 lần trong 10 năm, chưa có nước nào phát triển nhanh đến vậy.Lượng thuê bao hầu hết ở khu vực thành thị

BH 2.1 - Kết quả phát triển thuê bao PayTV tại Việt Nam

Trang 38

tranh gay gắt của hoạt động truyền hình quảng bá Tuy chỉ mới phát triển nở rộtrong mấy năm trở lại đây nhưng vào thời điểm cuối năm 2005, đã có tới 14công ty truyền hình cáp trên cả nước như Trung tâm Kỹ thuật truyền hình cápViệt Nam (VCTV), Công ty Truyền hình cáp Saigontourist (SCTV), Công tydịch vụ truyền thanh truyền hình Hà Nội (HCTV), truyền hình Cáp của ĐàiTruyền hình TP.HCM (HTVC), Đài Truyền hình Bình Dương (BTV)… Nhưngphần lớn các công ty đó là do các đài truyền hình địa phương liên doanh vớinước ngoài (chủ yếu là Trung Quốc và Hàn Quốc) để kinh doanh truyền hìnhcáp Số công ty làm ăn tốt không nhiều, còn lại phần lớn công ty chỉ có một vàinghìn thuê bao và chương trình thì chủ yếu là khai thác trái phép (không muabản quyền) của các đài trong nước và nước ngoài Do thu nhập của người dânViệt Nam còn thấp nên giá thuê bao thường rất rẻ, hơn nữa khán giả Việt Namchưa có thói quen trả tiền để xem truyền hình và cũng rất không hài lòng vớinhững quảng cáo xen ngang Có thể nói trên thế giới không ở đâu như Việt Nam,khán giả có thể xem tất cả các trận đấu World Cup trên truyền hình quảng bá,không phải trả tiền mà cũng không cho quảng cáo xen ngang Đặc điểm nàycũng là một trở ngại cho việc phát triển loại hình kinh doanh truyền hình trả tiền

ở Việt Nam

Đài Truyền hình Việt Nam cũng đi vào nghiên cứu và thử nghiệm kinh doanhtruyền hình trả tiền từ khá lâu Tiền thân của Trung tâm Truyền hình cáp ngàynay là Trung tâm truyền hình MMDS, hệ thống phân phối truyền hình nhiềukênh đến nhiều điểm bằng kỹ thuật phát sóng viba

- Năm 1995, dịch vụ truyền hình MMDS được Đài THVN đưa vào sửdụng gắn liền với sự ra đời của trung tâm truyền hình cáp MMDS có tư cách làđơn vị sự nghiệp có thu có con dấu và tài khoản riêng, hạch toán gắn thu bù chi

Trang 39

- Ngày 14/01/2000 thành lập Hãng truyền hình cáp Việt Nam với tư cách

là doanh nghiệp nhà nước hạng 2, hoạt động kinh doanh độc lập, có tư cách phápnhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự theo luật định, tự chịu trách nhiệm vềtoàn bộ hoạt động kinh doanh trước pháp luật, có con dấu và được mở tài khoảntại các ngân hàng trong và ngoài nước

- Ngày 13/06/2001 thành lập Chi nhánh Hãng Truyền hình cáp Việt Namtại thành phố Hồ Chí Minh Chức năng của chi nhánh này là giao dịch và tổchức thực hiện việc phát triển truyền hình trả tiền tại khu vực phía Nam theo kếhoạch được giao của hãng, trao đổi và khai thác các chương trình truyền hình vớicác đài địa phương để phục vụ cho hệ thống truyền hình cáp, truyền hình trả tiền

- Ngày 28/03/2001 Trung tâm Kỹ thuật Truyền hình cáp Việt Nam liêndoanh với công ty điện tử học Hải Phòng thực hiện tổ chức kinh doanh dịch vụtruyền hình cáp tại Hải Phòng

- Ngày 05/06/2002 Hợp tác liên doanh với công ty truyền thanh truyềnhình cáp Hải Dương mở mạng cáp kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền tại địaphương, phát triển thuê bao, mở mạng cáp kinh doanh dịch vu tại Hải Dương

- Ngày 24/09/2002 Kết hợp với Điện lực Việt Nam xây dựng hệ thống cápquang nội hạt tại Hà Nội hoà mạng cáp quang Headend MMDS

- Ngày 17/02/2003 Thành lập Trung tâm Dịch vụ Kỹ thuật Truyền hìnhcáp trên cơ sở tổ chức lại Hãng Truyền hình cáp Việt Nam

- Ngày 28/04/2003 Đài THVN ban hành quyết định số 284/QĐ - THVN

về việc ban hành tạm thời chức năng nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Trung tâmDịch vụ Truyền hình cáp Việt Nam Trung tâm có chức năng kinh doanh hệthống dịch vụ truyền hình trả tiền, xây dựng kế hoạch định hướng và kế hoạchphát triển hệ thống kỹ thuật, quản lý về công nghệ, thuê bao, tổ chức thực hiện

Trang 40

xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật truyền hình trả tiền, phát sóng các kênh chươngtrình truyền hình trả tiền, sản xuất lắp ráp kinh doanh các thiết bị vật tư chuyêndụng và dân dụng, được huy động các nguồn vốn, hợp đồng hợp tác kinh doanhvới các đối tác trong và ngoài nước, ký kết hợp đồng kinh tế với các cá nhân tậpthể về hoạt động dịch vụ truyền hình trả tiền.

- Ngày 08/05/2003 Thành lập Trung tâm Truyền thanh và Truyền hình cáptại Hải Dương Là đơn vị sự nghiệp có thu, Trung tâm có chức năng và nhiệm vụthực hiện chức năng thông tin tuyên truyền, quản lý sự nghiệp truyền thanhtruyền hình và cung cấp dịch vụ truyền hình cáp trên địa bàn tỉnh Hải Dương

- Ngày 21/11/2003 Đài THVN ban hành quyết định số 1173/QĐ - THVN

về việc ban hành chức năng nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trungtâm Kỹ thuật Truyền hình cáp Việt Nam với nội dung: đổi tên Trung tâm Dịch

vụ Kỹ thuật Truyền hình cáp Việt Nam (truyền hình trả tiền) thành Trung tâm

Kỹ thuật Truyền hình cáp Việt Nam Chức năng nhiệm vụ chính là tham mưu vềquy hoạch, tổ chức quản lý, kinh doanh dịch vụ, xây dựng kế hoạch định hướng

và kế hoạch phát triển hệ thống kỹ thuật dịch vụ truyền hình trả tiền, tổ chứcthực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quản lý về công nghệ thuê bao,

tổ chức kinh doanh dịch vụ phát triển khách hàng thuê bao các loại hình dịch vụtrong hệ thống truyền hình trả tiền, dịch vụ internet và các dịch vụ gia tăng khác,trực tiếp ký kết các hợp đồng với các cá nhân tập thể về hoạt động dịch vụ truyềnhình cáp, tổ chức sản xuất lắp ráp , kinh doanh hợp đồng hợp tác với các đối tác,huy động các nguồn vốn…

BH 2.2 - Kết quả hoạt động kinh doanh của TTKTTH cáp Việt Nam

Đơn vị tính: VNĐ

Ngày đăng: 07/02/2015, 22:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ tài chính (2007), báo cáo tình hình thực hiện nghị định 43 và về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu (2005 - 2007), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tình hình thực hiện nghị định 43 và về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu (2005 - 2007)
Tác giả: Bộ tài chính
Năm: 2007
9. Chính phủ (2009), Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 2 2009 – – của Thủ tớng Chính phủ phê duyệt qui hoạch truyền dẫn, phát sóng Phát thanh, Truyền hình đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 2 2009"– –
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
11.Thảo Duyên (2003), Bước tiến mới của dịch vụ nghe nhìn, Báo Hà nội mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước tiến mới của dịch vụ nghe nhìn
Tác giả: Thảo Duyên
Năm: 2003
12. Đài Truyền hình Việt Nam (2011), Đề án phát triển Đài Truyền hình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2025, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án phát triển Đài Truyền hình Việt Nam giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng đến năm 2025
Tác giả: Đài Truyền hình Việt Nam
Năm: 2011
13. Đài THVN, Quy hoạch tài chính đài THVN Từ năm 2010 đến năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tài chính đài THVN Từ năm 2010 đến năm 2015
14. Nguyễn Thị Minh Huyền (2002), Kinh tế mạng viễn thông chi phí đầu tư và khai thác, Nhà xuất bản Bưu điện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế mạng viễn thông chi phí đầu tư và khai thác
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Huyền
Nhà XB: Nhà xuất bản Bưu điện
Năm: 2002
15. Phan Thị Loan (1996), Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế ngành Truyền hình Việt Nam, Luận án phó tiến sỹ khoa học kinh tế, trường đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế ngành Truyền hình Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Loan
Năm: 1996
16. Hoàng Anh Minh (2001), Truyền hình cáp sẽ là sự lựa chọn số 1, (Vietnam Economic Time) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình cáp sẽ là sự lựa chọn số 1
Tác giả: Hoàng Anh Minh
Năm: 2001
20. Nguyễn Tấn Phước (1996), Quản trị chiến lược và chính sách kinh doanh, Nhà xuất bản Thống kê Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị chiến lược và chính sách kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Tấn Phước
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê Hà nội
Năm: 1996
21. Bùi Tiến Quý (2000), Phát triển và quản lý Nhà nước về Kinh tế dịch vụ, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý Nhà nước về Kinh tế dịch vụ
Tác giả: Bùi Tiến Quý
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật
Năm: 2000
22. Lê Văn Tâm (2000), Giáo trình quản trị chiến lược, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị chiến lược
Tác giả: Lê Văn Tâm
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2000
23. Nguyễn Minh Tâm (2000), Xu hướng phát triển truyền hình cáp hữu tuyến, Bộ Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng phát triển truyền hình cáp hữu tuyến
Tác giả: Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2000
24. Nguyễn Minh Tâm (2001), Phát triển truyền hình cáp phải phù hợp với quy hoạch đô thị, Bộ Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển truyền hình cáp phải phù hợp với quy hoạch đô thị
Tác giả: Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2001
25. Nguyễn Minh Tâm (2002), Truyền hình cáp cơ hội cho người nghèo, Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền hình cáp cơ hội cho người nghèo
Tác giả: Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2002
26. Nguyễn Minh Tâm (2003), Chất lượng truyền hình cáp do khán giả đánh giá chứ không phải hoàn thành định mức, Bộ Văn hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng truyền hình cáp do khán giả đánh giá chứ không phải hoàn thành định mức
Tác giả: Nguyễn Minh Tâm
Năm: 2003
27.Trương Bá Tiện (Bản dịch 2002), Một cách nhìn về việc xây dựng mạng truyền hình cáp tại Việt Nam, Nhuận Bang Hồng Kông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách nhìn về việc xây dựng mạng truyền hình cáp tại Việt Nam
28. Minh Tú (1999), Khán giả cả nước mong chờ truyền hình cáp “CATV”, Bộ Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khán giả cả nước mong chờ truyền hình cáp “CATV”
Tác giả: Minh Tú
Năm: 1999
2. Bộ TT và TT-Bộ Nội vụ (2008), Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT- BTTTT-BNV ngày 30/3/2008 giữa Bộ TTTT và Bộ NV hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Sở TTTT thuộc UBND cấp Tỉnh và Phòng Văn hoá Thông tin thuộc UBND cấp Huyện Khác
4. Chỉ thị số 58/2000/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin Khác
5. Chính phủ (1996), Quyết định số 877/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22 tháng 11 năm 1996 quy định về việc thu tín hiệu và sử Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w