Tuy nhiên nhờ những chính sách hợp lý của chính phủ Nhật Bản nhanhchóng phục hồi và đạt bước phát triển mạnh mẽ vượt bậc, đặc biệt từ cuối thập niên 90thế kỷ 20 cho tới ngày nay.Để đảm b
Trang 1Đại học quốc gia Hà Nội
KHOA LUẬT
Môn học: Cải cách hành chính
Hà Nội, 10/2012
Trang 2Danh sách nhóm 5
1 Nguyễn Thanh Bình
2 Trần Văn Lý
3 Phan Trà My
4. Nguyễn Thị Kim Oanh
5 Nguyễn Văn Thái
6. Phan Thanh Thủy
Trang 3Các cuộc cải cách hành chính trên thế giới và
kinh nghiệm áp dụng cho nước ta
Hướng tới một nền hành chính đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong giaiđoạn mới Sự chuyển mình mạnh mẽ của đất nước cùng với những sự thay đổi to lớn củabối cảnh quốc tế đặt ra những yêu cầu và thách thức mới, đòi hỏi cải cách hành chínhtrong giai đoạn tới phải thay đổi hẳn phương hướng và cách thức tiến hành
Việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ủyviên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã tạo cơ hội lớn cho ViệtNam tham gia vào thị trường thế giới; đồng thời, cũng đặt ra những thách thức không nhỏtrong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO Hơn lúc nào hết, cải cách hànhchính là một yêu cầu cấp bách để Việt Nam phát triển kinh tế và tăng sức cạnh tranh trênthị trường quốc tế, biến cơ hội thành thế mạnh của mình Ngày nay, cải cách hành chính
là vấn đề mang tính toàn cầu Cả các nước đang phát triển và các nước phát triển đều xemcải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ để thúc đẩy tăng trường kinh tế, pháttriển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, trongkhoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế thì cải cách hành chính cũngđược tiến hành Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thuđược nhiều kết quả rất đáng khích lệ Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quantrọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển đất nước Việt Nam đang là nước xuấtkhẩu gạo đứng hàng thứ hai, thứ ba trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ phát triển, đầu
tư nước ngoài xu hướng chung là tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được giải quyết tốt…Tuy nhiên, Ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đã tồn tại từ lâu và mớinảy sinh cần phải được giải quyết tích cực và có hiệu quả Bên cạnh đó, bối cảnh toàn cầuhoá đang đặt ra trước Việt Nam những thách thức và cơ hội mới đòi hỏi phải có những cốgắng cao độ Điều đó cũng có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rấtnhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết Cái khó trong cải cách hành chính Ở
Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách hành chính có tính chất cách mạng sang
quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ Do đó, việc tham khảokinh nghiệm cải cách hành chính ở các nước (trong đó có Nhật Bản) là hết sức cần thiết
để đẩy mạnh và có kết quả hơn nữa công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước
Bài làm của nhóm chúng tôi tập trung tìm hiểu một vài cuộc cải cách hành chínhnổi tiếng trên thế giới qua đó rút ra bài học kinh nghiệm cho cuộc cải cách hành chínhđang diễn ra ở Việt Nam
1 Cải cách hành chính ở nhóm các quốc gia có tương đối nhiều điểm tương đồng
với nước ta (vị trí địa lý, chế độ chính trị, xuất phát điểm của nền kinh tế…) 1.1 Nhật Bản
Trang 41.1.1 Tóm tắt quá trình cải cách
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật là nước bại trận nền kinh tế bị tàn phá kiệt quệ lànước đông dân, nguyên liệu đều phải nhập khẩu cho nên sau chiến tranh Nhật gặp rấtnhiều khó khăn Tuy nhiên nhờ những chính sách hợp lý của chính phủ Nhật Bản nhanhchóng phục hồi và đạt bước phát triển mạnh mẽ vượt bậc, đặc biệt từ cuối thập niên 90thế kỷ 20 cho tới ngày nay.Để đảm bảo sự phát triển bền vững chính phủ Nhật đã khôngngừng tiến hành các chính sách cải cách kinh tế, xã hội.Đặc biệt là việc cải cách hànhchính nhằm tinh gọn bộ máy lãnh đạo, giảm số người làm tại các cơ quan hành chínhnhằm đạt hiệu quả cao trong giải quyết công việc đồng thời giảm chi tiêu công
Việc cải cách được bắt đầu từ tháng 10-1996, Nhật Bản thành lập Hội đồng Cải cáchhành chính và cải cách cơ cấu để tiến hành nghiên cứu, soạn thảo một báo cáo để trìnhlên Chính phủ Hơn một năm sau, tháng 12-1997, bản báo cáo cuối cùng của Hội đồng đãhoàn tất và được Chính phủ thông qua
Dựa vào kết quả khảo sát, nghiên cứu trên, tháng 6-1998, Nhật Bản đã ban hành mộtđạo luật (cơ bản) về cải cách cơ cấu Chính phủ Trung ương và lập ra Ban Chỉ đạo Cảicách cơ cấu Chính phủ Trung ương Trên cơ sở Luật Cải cách Chính phủ, Nhật Bản đãban hành liên tiếp 17 luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan trung ương và cơ quanhành chính độc lập (7-1999), 61 luật quy định vai trò, chức năng của các bộ và các cơquan mới dự kiến sẽ thành lập (12-1999) và 90 nghị định của Chính phủ về tổ chức bêntrong của các bộ, các hội đồng và các tổ chức khác (5-2000)
Sau gần 4 năm tiến hành từng bước những công việc trên, một bộ luật cơ bản, các luậtkhác và nhiều văn bản dưới luật về cải cách hành chính và cơ cấu của Nhật Bản đã lầnlượt được ban hành và tất cả bắt đầu có hiệu lực từ ngày 6-1-2001 Với việc ban hànhmột hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như vậy, cuộc cải cách hành chính và cơcấu tại Nhật Bản, về cơ bản được xem là thành công Các tổ chức lâm thời được lập ra đểlàm nhiệm vụ cải cách đã hoàn thành công việc và đã giải tán
Kết quả thu được rất thành công, bộ máy Chính phủ ở trung ương được thu gọn đáng
kể, từ 23 Bộ và một Văn phòng xuống còn 12 Bộ và một Văn phòng; số lượng các tổchức bên trong của các CQHC giảm đáng kể, từ 128 đơn vị cấp vụ, cục và tương đươngthuộc các CQHC trước đây, nay đã giảm xuống còn 96 đơn vị; từ 1.600 đơn vị cấp phòng
và tương đương thuộc các cơ quan, tổ chức, nay giảm xuống còn 995 đơn vị Số lượngcông chức làm việc tại các CQHC giảm khoảng 300.000 người và sẽ còn tiếp tục giảmtrong thời gian tới; vai trò của Văn phòng Nội các đã được nâng tầm so với các Bộ; tăngcường quyền lực và khả năng kiểm soát của Thủ tướng đối với các Bộ Trước cải cách, đaphần các chính sách được các Bộ đề xuất, sau cải cách thì những chính sách quan trọng
có tầm chiến lược được Thủ tướng chỉ đạo và đề xuất…
Cuộc cải cách hành chính và cải cách cơ cấu tại Nhật Bản hiện nay được đánh giá làmột cuộc cải cách lớn nhất kể từ thời Minh Trị đến nay Nhật Bản tiến hành cuộc cải cáchnày với những lý do :
Trang 5- Sau những thành công rực rỡ về kinh tế, Nhật Bản có tâm lý chung là ỷ lại : các đơn
vị hành chính cấp dưới chờ đợi cấp trên, thiếu chủ động, không dám tự quyết ; nhân dâncũng có tâm lý ỷ lại vào Nhà nước
- Trong nội bộ Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP) – đảng cầm quyền hiện nay – có
sự phân hóa sâu sắc, chia thành nhiều phe phái, mỗi phe phái có thủ lĩnh riêng Vì sự tồntại của mình, Thủ tướng luôn coi trọng mối quan hệ giữa các phe phái trong đảng và làmsao cố gắng giữ mối quan hệ hài hòa giữa họ
Mặt khác, theo cơ chế hiện hành, Chủ tịch Đảng cầm quyền đương nhiên sẽ trở thànhThủ tướng, làm cho Thủ tướng luôn có những hạn chế nhất định
- Bản thân nền hành chính Nhật Bản cũng có những hạn chế nhất định, nhất là sự chia
rẽ theo ngành dọc Mỗi bộ dường như là một lãnh địa riêng Các chính trị gia cũng cónhững quyền lợi riêng trong việc hoạch định chính sách Trên thực tế, trong Chính phủNhật Bản hiện nay hình thành các nhóm lợi ích cục bộ Nền hành chính Nhật Bản, vì thế,được đánh giá là không thông suốt, thiếu ổn định và thiếu khả năng thay đổi chính sáchmột cách hiệu quả, thiếu khả năng phản ứng nhanh trong các tình huống cấp bách vềthiên tai, chưa nói đến những vấn đề lớn khác như an ninh, quốc phòng
Các nhà nghiên cứu và quản lý đều cho rằng, Chính phủ, Thủ tướng và nói chung cả
hệ thống hành chính Nhật Bản hiện nay có xu hướng phục vụ quyền lợi của các nhómnhỏ, không đại diện quyền lợi của đông đảo công chúng
Những vấn đề trên đặt ra yêu cầu về một cuộc cải cách lớn nhằm nâng cao tinh thần
tự lập, giảm bớt sự ỷ lại vào Chính phủ ; tăng cường vai trò lãnh đạo, kiểm soát của Thủtướng đối với các phe phái trong đảng cầm quyền và đối với nền hành chính ; đồng thờixây dựng bộ máy Chính phủ gọn nhẹ, minh bạch, hiệu quả hơn
Mục tiêu cải cách của Nhật Bản là xây dựng một chính phủ có bộ máy gọn nhẹ, hiệuquả ; hoạch định được những chính sách mang tầm chiến lược, toàn diện để đáp ứng với
sự thay đổi thường xuyên của tình hình ; có những quan điểm linh hoạt, mềm dẻo đểquản lý tốt những vấn đề khẩn cấp, bất thường và có những quan điểm rõ ràng, thể hiệntinh thần trách nhiệm cao đối với nhân dân
Nội dung cơ bản của cải cách cơ cấu ở Nhật Bản là tăng cường sự lãnh đạo của Thủtướng và Nội các ; tổ chức lại các bộ theo hướng giảm số lượng các bộ, tăng cường vaitrò tập trung quyền lực cho Thủ tướng ; xây dựng hệ thống các cơ quan hành chính độclập
Phương pháp thực hiện cải cách là quy định rõ phạm vi thẩm quyền của các bộ vàthiết kế những thủ tục chặt chẽ để phối hợp công tác giữa các bộ ; thiết lập một hệ thống
tổ chức để đánh giá giá trị, đánh giá chính sách và đặc biệt là xây dựng các bộ phận thôngtin mạnh ; tách bộ phận kế hoạch, hoạch định chính sách khỏi các cơ quan có chức năng
tổ chức, thực hiện và tư nhân hóa những công việc có thể tư nhân hóa được
Trang 61.1.2 Bài học kinh nghiệm
Để thúc đẩy công cuộc CCHC nói chung và cải cách thể chế hành chính nói riêng ởViệt Nam, việc học tập kinh nghiệm nước ngoài trong bối cảnh hội nhập là hết sức cầnthiết Sở dic chúng ta có thể học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản là do những lý do sau :
- Nhật Bản là quốc gia - do yếu tố lịch sử - có rất nhiều kinh nghiệm trong việc tiếp thunhững thành tựu của pháp luật nước ngoài cũng như các xu thế cải cách tiến bộ trên thếgiới
- Nhật Bản là điển hình của quốc gia chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ của hai hệ thốngpháp luật tiêu biểu trên thế giới là hệ thống luật châu Âu lục địa (ảnh hưởng trước Thếchiến II) và hệ thống luật Anh - Mỹ (sau thất bại trong Thế chiến II và sự đầu hàng lựclương Đồng minh), nhưng vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng trong tổng thể quátrình CCHC và cải cách tư pháp;
- Nhật Bản là quốc gia có nền hành chính phát triển hiện đại với công cuộc CCHC diễn
ra lâu đời, từng bước và có kế hoạch, chiến lược cụ thể
- Nhật Bản là một trong hai quốc gia (cùng với đối tác Thụy Điển) tiến hành các dự ánhợp tác pháp luật sớm nhất với Việt Nam, từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
XX, cho tới nay vẫn luôn là đối tác lâu năm và tin cậy
Học tập kinh nghiệm của Nhật Bản liên quan đến cải cách thể chế hành chính chothấy nhiều ưu điểm có thể chia sẻ với Việt Nam trong bối cảnh Chính phủ đang đánhgiá Chương trình tổng thể CCHC giai đoạn 2000 - 2010 và xây dựng Chương trình cảicách giai đoạn 2010 - 2020 CCHC ở Việt Nam cần phải tiếp tục mở rộng nghiên cứu
cả phương diện lý luận và học hỏi kinh nghiệm thực tiễn nước ngoài, trên cơ sở củaviệc xây dựng chương trình, kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cải cách trongtừng giai đoạn, với mục tiêu xây dựng một nền hành chính hiện diện trong mô hìnhNhà nước pháp quyền XHCN thực sự dân chủ, hiện đại và vững mạnh
Cải cách thể chế hành chính ở Nhật Bản luôn bắt nguồn từ khung Hiến pháp hiệntại của Nhật Bản (1947) với các thay đổi lớn như: xóa bỏ nguyên tắc quân chủ chuyênchế, thay vào đó là nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân => Đây là nguyên tắc quantrọng nhất khi Việt Nam muốn tiến hành cải cách hành chính, đó là thật sự trao quyềnlực về tay nhân dân như trong bản Hiến pháp 1946
Khi tiến hành cải cách hành chính, Nhật Bản đề cao nguyên tắc quản lý dựa trên phápluật đã được mềm hóa Chính sách tư nhân hóa và phi tập trung hóa đã được xây dựngtrên những quan điểm của chủ nghĩa tự do mới Hướng dẫn hành chính là một nội dungmới trong quản lý hành chính của Nhật Bản bên cạnh việc duy trì các mệnh lệnh, quyếtđịnh hành chính mang tính bắt buộc, cứng nhắc Việc tư nhân hóa ba công ty lớn củaNhà nước, trong đó có Công ty đường sắt Nhật Bản vào cuối những năm 1980, việc
Trang 7chuyển giao các quyền quy định của Nội các thông qua các lệnh từ năm 1983, việc mởrộng quyền tự quản của cư dân địa phương… là những minh chứng cho nguyên tắcmềm hóa quản lý nhà nước dựa trên pháp luật => Hiện nay ở Việt Nam nhà nước nắmgiữ các tập đoàn và tổng công ty lớn trong những lĩnh vực then chốt của cả nước nhưDầu khí, Than Điện… việc chịu sự quản lý của nhà nước khiến các tập đoàn nàykhông thể tự chủ được trong sản xuất kinh doanh, đa số các tập đoàn này đều rơi vàotinh trạng thô lỗ(vinashin,vinalines, điện lực…), tạo lên gánh nặng cho ngân sách nhànước cũng như kéo lùi tăng trưởng kinh tế đất nước Việc quản lý chạt chẽ từ trungương tới địa phương bên cạnh mặt tích cực cũng có những hạn chế như han chế quyền
tự quyết, quyền dân chủ ở địa phương và phụ thuộc chính quyền trung ương tạo sự ỷlại ở cấp trên Vì vậy tiến hành cải cách hành chính đồng thời với việc nới lỏng cácquyền tự do cho người dân để họ tham gia 1 cách sâu rộng vào việc quản lý giám sátcác cơ quan nhà nước, tư nhân hóa, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo
sự cạnh tranh công bằng trong nền kinh tế giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nướcThành lập các tổ chức công cộng độc lập Các doanh nghiệp tư nhân được cho phépthành lập và hoạt động nhằm xử lý các công việc chung của cộng đồng một cách đơngiản hóa và đạt hiệu quả, như các công ty môi trường, xử lý rác thải, thu gom đồ đạc đãqua sử dụng Từ tháng 4/2004, các trường đại học công lập đã được chuyển từ quy chếquản lý đội ngũ cán bộ, công chức sang quy chế quản lý như đối với người lao độngtrong khu vực kinh tế tư nhân và nâng cao tính tự chủ của các tổ chức công cộng độclập này
- Chính phủ Nhật Bản nỗ lực cải cách hệ thống công vụ, theo đó chế độ thâm niên côngtác bị bãi bỏ, thay vào đó là hệ thống tuyển dụng và trả lương dựa trên năng lực
Cải cách thể chế, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương Cải cách chínhquyền địa phương trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc của Hiến pháp, trong đó các cơquan này phải thực sự là các tổ chức bảo vệ và thực thi có hiệu quả các quyền conngười và quyền tự do cơ bản của người dân
- Thành lập các tổ chức công cộng độc lập trong mỗi tỉnh và liên tỉnh nhằm xử lý cáccông việc chung một cách hiệu quả và đơn giản hóa
Theo đề xuất cải cách của Nội các do Thủ tướng Hashimoto Ryutaro khởi xướngnăm 1997 với khẩu hiệu: “Tập trung cải cách Chính phủ và bộ máy hành chính hướngtới thế kỷ XXI”, một cơ cấu chính quyền mới, rút gọn và hiệu quả đã được xây dựngnăm 2001 Theo đó, cơ cấu 12 bộ như trước đây đã được tổ chức lại thành 10 bộ =>Việt Nam hiện nay có 18 Bộ và 4 cơ quan ngang bộ(năm 2007 là 26 Bộ và cơ quanngang bộ 12 cơ quan thuộc chính phủ) điều đó cho thấy chúng ta đang tinh gon bộ máynhà nước nhằm hạn chế sự chồng chéo công việc giữa các Bộ tạo hiệu quả trong giảiquyết công việc
1.2 Hàn Quốc
1.2.1 Tóm tắt quá trình cải cách
Trang 8Trong những thập niên gần đây, Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tốc độphát triển kinh tế nhanh nhất Tuy nhiên không phải vì thế mà bộ máy điều hành chínhphủ Hàn Quốc không có những hạn chế và yếu kém Cuộc khủng hoảng kinh tế cuối năm
1997 đã cho thấy điều đó Bộ máy điều hành của Chính phủ Hàn Quốc đã bộc lộ nhữngđiểm yếu và cần được cải tiến để có thể thích ứng với thực tế hiện nay Ðể có một Chínhphủ nhỏ vững mạnh và hiệu quả, Hàn Quốc đã không ngừng đẩy mạnh công cuộc cảicách Chính phủ trong thời gian qua
Khủng hoảng năm 1997 đã buộc Hàn Quốc đối diện với một nhận thức thực tế là,các phương thức cũ trong điều hành bộ máy nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạnmới và cần có những thay đổi cơ bản để vực lại nền kinh tế của đất nước Hàn Quốc đãkhẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng Chương trìnhcải cách khu vực công, nhằm khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ,tập trung trên bốn lĩnh vực chính: hợp tác, tài chính, lao động và khu vực công, trong đóxem việc tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là nhiệm vụ trọng tâm
Hàn Quốc đã thành lập Uỷ ban đặc trách trực thuộc Tổng thống, chịu trách nhiệmlập kế hoạch ngân sách, cải cách Chính phủ và đưa vào thử nghiệm nhiều ý tưởng cảicách mới, một trong số đó là chế độ lương, thưởng dựa theo đánh giá chất lượng hoạtđộng của từng cá nhân (hoàn toàn trái với cơ chế trả lương dựa theo cấp bậc kiểu truyềnthống), tiến hành giảm biên chế, từng bước thực hiện việc thuê khoán dịch vụ công, mởrộng phạm vi hoạt động của khu vực tư…
Cải cách được tiến hành tại tất cả các đơn vị thuộc khu vực công, với trọng tâm làtái cơ cấu nhằm làm gọn nhẹ bộ máy, áp dụng nguyên tắc cạnh tranh và nguyên tắc chấtlượng thực thi công việc, đã xây dựng một hệ thống tiêu chí và đánh giá cải cách, theo đócác Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, theo định kỳ, phải nộp báo cáo cải cách hàng quý cho
Ủy ban đặc trách Kết quả việc thực hiện nhiệm vụ cải cách của từng cơ quan sẽ là cơ sở
để tính toán phân bổ ngân sách cho cơ quan này vào năm sau Đồng thời, việc phản hồithông tin và chế độ thưởng phạt minh bạch đã khuyến khích việc thực hiện sự cam kếtđối với cải cách…
Kết quả thu được từ quá trình cải cách rất khả quan Về thể chế, đã sửa đổi các quyđịnh của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trườngtrên nguyên tắc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước và giảm chi phí cho người dân Cáclĩnh vực được cải cách về thể chế là quản lý hành chính (QLHC), nhân sự, quản lý tàichính; quản lý doanh nghiệp công và quản lý lao động Cải cách tổ chức bộ máy hànhchính (BMHC), chú trọng phân cấp là vấn đề mấu chốt nhất Về cải cách công vụ và côngchức, đã đưa yếu tố cạnh tranh vào chế độ tuyển dụng theo nguyên tắc minh bạch và côngkhai Ban hành cơ chế đánh giá công chức đi đôi với điều chỉnh chế độ tiền lương Hiệnnay, tại Hàn Quốc, bình quân có 27 công chức/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là75,4, Pháp là 82,2…; đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhấttrên thế giới, thiết lập xong hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ các cơ quanhành chính (CQHC) thông qua mạng điện tử, tiến hành việc cung cấp dịch vụ công thông
Trang 9qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di động, côngkhai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng…
Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định trong CCHC, nhưng Hàn Quốc vẫntiếp tục tiến trình cải cách Ngày 14/11/2010, Tổng thống Hàn Quốc đương nhiệm LeeMyung-bak cho biết, Chính phủ đang lập kế hoạch cụ thể về cải cách khu vực hành chínhgiai đoạn tiếp theo và sẽ công bố kế hoạch này trong thời gian sớm nhất
1.2.2 Bài học kinh nghiệm
Việt Nam với điều kiện thiên nhiên thuận lợi và tài nguyên dồi dào hơn Hàn Quốc
mà hiện nay Nước ta vẫn còn đang phải tiếp tục cố gắng rất nhiều để phát triển Như vậy,học hỏi kinh nghiệm từ công cuộc cải cách của Hàn Quốc cũng là một điều quan trọng để
có thể rút ra được bài học cho chính mình:
- Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt đề cao nhiệm vụ cải cách Cuộc cải cách bộ máy nhànước được đẩy mạnh hơn từ khi Tổng thống Roh Moo-Hyun lên nắm quyền và nhữngbiện pháp mạnh mẽ được áp dụng từ đầu năm 2003 trở lại đây Mục tiêu đề ra là xâydựng Chính phủ có hiệu quả, cởi mở, gần dân, được dân tin cậy, minh bạch, hoạt độnglinh hoạt, có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng cao và loại trừ tham nhũng
=> Việt Nam cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết của Đảng cầm quyền Từ kinhnghiệm CCHC Hàn Quốc nêu trên, ta thấy rằng sở dĩ việc tổ chức, thực hiện thành công
là nhờ sự kiên quyết của Đảng cầm quyền mà đại diện là Tổng thống, Thủ tướng, Chủtịch nước… tùy theo thể chế chính trị tại mỗi quốc gia.Ta cần phải có quyết tâm và sựlãnh đạo quyết liệt từ ngay cấp cao nhất của hệ thống chính trị thì cải cách mới có thểthành công
- Về cải cách thể chế của Hàn Quốc, Tư tưởng xuyên suốt được đề ra là sửa đổi các quiđịnh của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển của thị trường theo hướngchuyển từ quản lý chặt sang định hướng mở Thay đổi cơ bản mối quan hệ Nhà nước - thịtrường - xã hội Bốn lĩnh vực được ưu tiên sửa đổi về thể chế là: quản lý hành chính,nhân sự, quản lý tài chính; quản lý doanh nghiệp công và quản lý lao động
Năm 1997, Luật cơ bản về pháp quy hành chính (The Basic Act on AdministrativeRegulation) đã được ban hành Đạo luật này định rõ nguyên tắc cải cách thể chế, xác địnhnội dung đổi mới quy trình ban hành, sửa đổi bổ sung và công khai hoá các qui định củaNhà nước, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nước và giảm chi phí cho dân Dựa trên Luậtnày, Chính phủ đã thành lập Uỷ ban cải cách lập quy để thực hiện việc giám sát, phốihợp, rà soát các qui định theo chỉ thị của Tổng thống Cơ cấu của Uỷ ban gồm 20 uỷ viên
do Thủ tướng đứng đầu, 7 thành viên thuộc Chính phủ gồm các Bộ trưởng Tài chính,Thương mại, Công nghiệp và Năng lượng, Nội vụ, Tư pháp Có 13 thành viên không nằmtrong Chính phủ (giáo sư đại học, chủ doanh nghiệp, đại diện giới báo chí, đại diện ngườitiêu dùng…), Uỷ ban naỳ được sự hỗ trợ cao của Tổng thống Uỷ ban họp thường kỳ 2tuần 1 lần Các quyết định của Uỷ ban có hiệu lực cao và do Tổng thống phê chuẩn
Trang 10Mục tiêu của Chính phủ là đến hết năm 2003 phải giảm 50% thủ tục hành chínhhiện hành, trong đó 10 lĩnh vực được ưu tiên là: đầu tư nước ngoài, tài chính, thuế, thànhlập khu công nghiệp, hải quan, đất đai, nhà cửa, an toàn thực phẩm, thể thao, du lịch
=>> Tổng hợp một số các giải pháp từ nhận thức đến quan điểm và những quy tắc,phương thức tổ chức hoạt động nhằm từng bước chuyển đổi vai trò của nhà nước để thíchhợp với yêu cầu mới của một xã hội đang phát triển không ngừng và có xu thế hội nhậprất cao Thuộc một trong những Nước đang có công cuộc cải cách hành chính, Việt Namcần phải xác định trong giai đoạn tiếp theo nên tập trung vào 4 loại chức năng cơ bản:điều tiết kinh tế, giám sát thị trường, quản lý xã hội và cung ứng một phần dịch vụ công.Ngoài ra, cùng với việc tinh giản bộ máy, giảm số lượng cán bộ, công chức là nâng caonăng lực chuyên môn, trách nhiệm với công việc, tinh thần thái độ phục vụ người dân vàchế độ đãi ngộ tương xứng và minh bạch
- Cải cách cần được tiến hành một cách kiên trì, lâu dài và đồng bộ, toàn diện trong toàn
bộ hệ thống chính trị và hành chính Hàn Quốc đã bắt đầu cải cách Hành Chính từ rất đãtiến hành hàng chục năm và chưa có dấu hiện kết thúc, hay nói cách khác là cải cách mộtcách liên tục, kéo dài đến nay và sẽ tiếp tục trong thời gian tới
- Việc cải cách chế độ công vụ và công chức cũng được đẩy mạnh từ năm 1998 trở lạiđây, Hiện tại số lượng công chức ở Hàn Quốc khá thấp (576.000 người; bình quân 27công chức/1.000 dân, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 75,4, Pháp là 82,2) Nhờ sắp xếp lạikhối sự nghiệp, từ 1997 đến nay Hàn Quốc đã giảm được 7% tổng biên chế
=>> Xây dựng, đào tạo đội ngũ công chức nhà nước đủ năng lực, có khả năng đáp ứngđược các yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới Kinh nghiệm CCHC của các nướctrên thế giới cho thấy việc xây dựng được đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước đủ nănglực chuyên môn, tinh thần thái độ, có trách nhiệm trong thực hiện công vụ có vai trò rấtquan trong trong thành công của cải cách
- Hàn Quốc đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thếgiới, đã hoàn tất việc kết nối mạng trung ương-địa phương, thiết lập xong hệ thống xử lýcông việc hành chính trong nội bộ các cơ quan hành chính thông qua mạng điện tử Hiệnđang hoàn thiện việc cung cấp dịch vụ công thông qua Internet, kể cả việc cung cấp dịch
vụ hành chính thông qua điện thoại di động
=>> Trong thời đại internet, cùng với việc khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão là xuthế hội nhập quốc tế thì tăng cường đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở kỹ thuật hạ tầngphục vụ nền hành chính cần được coi như một trong các giải pháp quan trọng hàng đầu
để nâng cao hiệu quả, hiệu lực của BMHC nhà nước
- Để quản lý và kiểm soát quá trình cải cách, bảo đảm các mục tiêu cải cách được thựchiện có kết quả, tháng 4/2003 một cơ quan mang tên "Uỷ ban của Tổng thống về đổi mớichính quyền và phân cấp" đã được thành lập Chức năng chính của Uỷ ban là tham vấncho Tổng thống về các vấn đề có liên quan đến đổi mới chính phủ và phân cấp Tổ chức
Trang 11của Uỷ ban gồm Ban chỉ đạo, 5 Tiểu ban điều hành, các tổ công tác cố vấn và Văn phòng
kế hoạch và quản lý
=>> Đề ra, lập ra công cuộc cải cách hành chính là chưa đủ, muốn đạt được kết quả sátthực nhất với những gì đã đề ra, chúng ta phải kiểm tra và giám sát chặt chẽ từng bướchoạt động.Có như vậy mới đảm bảo được tính minh bạch, công bằng và rõ ràng
1.3 Singapore
1.3.1 Tóm tắt quá trình cải cách
Vấn đề cải cách hành chính ở Singapore được đặt ra khá sớm Từ đầu những năm 70Chính phủ đã khuyến khích công chức nêu sáng kiến cải cách hoạt động của cơ quanhành chính nhà nước Giữa những năm 80 đề ra phong trào "hướng tới sự thay đổi" màtrọng tâm là kiến nghị các giải pháp về đổi mới cơ chế quản lý để thích ứng với sự thayđổi Năm 1991 Chính phủ đề ra chương trình cải cách công vụ mang tên "Nền công vụthế kỷ 21"
Mục tiêu của chương trình là xây dựng nền công vụ có hiệu quả, hiệu lực, công chứcnêu cao tinh thần liêm chính, tận tuỵ và có chất lượng dịch vụ cao Nội dung chươngtrình gồm 2 bộ phận:
Thứ nhất: Nâng cao chất lượng công vụ gắn với hợp lý hoá tổ chức bộ máy và
Thứ hai: Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử.
*Những kết quả đáng chú ý:
Về cải cách công vụ
Với khẩu hiệu "Kịp thời cho tương lai", ba vấn đề mang tính chiến lược đòi hỏi phảiđược thấu suốt về mặt nhận thức là:
- Coi sự thay đổi là cơ hội, chứ không thuần tuý chỉ là thách thức;
- Chấp nhận và chủ động chuẩn bị phương án, giải pháp phù hợp để thích ứng với sựthay đổi;
- Thực hiện sự thay đổi thông qua hành động nhanh chóng, kịp thời
Trên tinh thần đó, nội dung ưu tiên được xác định gồm: đầu tư cho việc đào tạo độingũ công chức; đổi mới tổ chức gắn với tạo cơ chế quản lý phù hợp; nâng cao chất lượngdịch vụ công để làm hài lòng khách hàng (dân)
Để thực hiện mục tiêu đề ra, Chính phủ Singapore đã áp dụng đồng bộ nhiều biệnpháp, trong đó đáng chú ý là:
Thứ nhất: áp dụng bộ quy chuẩn ISO 9000 trong bộ máy hành chính, coi đó vừa là
công cụ cải tiến lề lối làm việc, vừa là công cụ đánh giá hiệu quả, phân loại công chức
Trang 12Thứ hai, khuyến khích phát huy sự sáng tạo, đưa tinh thần "doanh nghiệp" vào hoạt
động của bộ máy hành chính mà cốt lõi là lấy hiệu quả làm thước đo; cải cách triệt để cácthủ tục hành chính theo hướng chuyển từ bắt buộc, can thiệp sang khuyến khích, hỗ trợ.Chính phủ Singapore đã thành lập Uỷ ban hỗ trợ doanh nghiệp với chức năng chủ yếu
là thu thập ý kiến phản hồi từ các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăntrong hoạt động, đồng thời lập ra một nhóm công tác gồm khoảng 100 cán bộ, có trình độcao đủ sức tìm hiểu, đánh giá và giải quyết các kiến nghị của các doanh nghiệp Bằngcách làm này, chỉ trong một thời gian ngắn, trên 50% trong tổng số 1.104 đề nghị của cácdoanh nghiệp đã được tiếp nhận và xử lý
Thứ ba, đề ra chương trình xoá bỏ cách làm việc quan liêu, nhiều tầng nấc của bộ máy
hành chính mang tên "Zero-In-Process" Mục tiêu đề ra là việc gì cũng phải có cơ quanchịu trách nhiệm, các sáng kiến và đề xuất của dân liên quan đến hoạt động của các cơquan hành chính, của công chức phải được xem xét xử lý nhanh Theo thống kê của bạn,20% trong tổng số 210 đề xuất xoá bỏ quan liêu của bộ máy hành chính được chấp nhận;
21 trường hợp trùng lắp chức năng giữa các cơ quan đã được loại bỏ
Thứ tư, thường xuyên rà soát để loại bỏ những qui định lỗi thời không còn phù hợp.
Để làm việc này, một Ban rà soát văn bản đã được thành lập với thành phần là 5 Tổng thư
ký của các bộ; cứ 5 năm tiến hành tổng rà soát một lần
Về đổi mới công tác đào tạo công chức
Chính phủ Singapore đặc biệt chú trọng đầu tư cho đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ côngchức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả
Theo qui định, mỗi cán bộ công chức bắt buộc phải được bồi dưỡng 100 giờ/năm;Mỗi công chức phải tự đề ra chương trình học tập cho mình, trong đó có việc sử dụng
100 giờ học theo qui định, tối thiểu phải bảo đảm 60% thời lượng phục vụ công việctrong cương vị hiện tại, 40% cho công việc tương lai Để khuyến khích việc tự đào tạo,Chính phủ qui định hỗ trợ 50% chi phí cho người tự học để phục vụ cho công việc đangđảm trách
Các hình thức đào tạo, bồi dưỡng công chức được áp dụng là: đào tạo ban đầu (cơbản), đào tạo nâng cao, đào tạo mở rộng và đào tạo bổ sung Trường Công vụ Singaporethành lập năm 1971 Từ năm 2001 là đơn vị tự chủ của Ban Công vụ trực thuộc Vănphòng Thủ tướng nhưng không có tài trợ từ phía Chính phủ Các bộ tự quyết định việcchọn nơi đào tạo công chức, không nhất thiết phải gửi vào trường công vụ
Về việc xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử
Chương trình chính phủ điện tử ở Singapore được phát động rất sớm (1983), bắt đầu
từ chủ trương điện toán hoá hoạt động công vụ Chính phủ đề ra chương trình phát triểncông nghệ thông tin trong hoạt động của Chính phủ, thành lập Hội đồng quốc gia về tinhọc hoá (sau này sáp nhập với Cơ quan quản lý truyền thông thành Cơ quan phát triển
Trang 13thông tin của Chính phủ) Từ những năm 90, do nhận thấy áp dụng công nghệ thông tinkhông chỉ là công cụ thúc đẩy hoạt động của Chính phủ mà còn là cơ hội để nâng caochất lượng cung cấp dịch vụ cho dân, năm 2000 Chính phủ đã ban hành chưong trìnhhành động với nhiệm vụ chủ yếu là: phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho công nghệthông tin, đào tạo tăng cường năng lực cho đội ngũ công chức về khả năng áp dụng côngnghệ công mới và cung cấp dịch vụ công thông qua Internet Trên cơ sở đó, Chính phủ đãthông qua một loạt các dự án lớn để thực hiện chương trình này như đề án hỗ trợ doanhnghiệp, đề án cung cấp dịch vụ công thông qua mạng điện tử, đề án đào tạo…
Theo đánh giá, cho đến nay, các mục tiêu đề ra cơ bản đã đạt được Hầu hết thông tin
về hoạt động của Chính phủ đã được cung cấp trên mạng Hàng tháng số lượng giao dịchcủa dân với chính quyền được thực hiện qua mạng đạt khoảng 14,4 triệu lượt (trong khidân số là khoảng 4 triệu) Khoảng 1.600 loại dịch vụ công trong xã hội được tiến hànhqua mạng
Chương trình hành động thứ 2 được đề ra cho giai đoạn 2003-2006 với 3 nhiệm vụtrọng tâm là:
- Kết nối và phối hợp các mạng để bảo đảm việc cung cấp thông tin đầy đủ, côngkhai, minh bạch
- Nâng cao chất lượng các dịch vụ được cung cấp trên mạng;
- Mỗi công dân được trực tiếp giao dịch với cơ quan Chính phủ thông qua mạng Chính phủ Singapore chủ trương sớm hoàn thiện hệ thống cung cấp dịch vụ theo môhình "chính phủ di động" Với số dân khoảng 4 triệu người, nhưng trên 3 triệu người sửdụng điện thoại di động, vì vậy, bằng công nghệ thông tin, cơ quan nhà nước và côngchức có thể giải quyết công việc của dân qua điện thoại di động trong mọi thời điểm Ngân sách dành cho phát triển công nghệ thông tin giai đoạn 2001-2003 là 1,5 tỷ đôlaSingapore; giai đoạn 2003-2006 là 1,3 tỷ
1.3.2 Bài học kinh nghiệm
Đến nay Singapore đứng ở nhóm những nước dẫn đầu về tốc độ phát triển chính phủđiện tử và đang bước sang giai đoạn "phát triển công dân điện tử", trong nhóm đó 3 bàihọc kinh nghiệm được rút ra là:
Có chiến lược quốc gia tốt làm cơ sở xác định lộ trình cụ thể cho từng ngành, từnglĩnh vực trong từng giai đoạn;
Có cơ quan chuyên môn mạnh giúp chính phủ quản lý quá trình phát triển
Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực
Ngoài ra, quá trình cải cách Hành Chính của Singapore chúng ta có thể học tập và áp