Ở nước ta pháp luật điều chỉnh về cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vựcgiáo dục được quy định rải rác trong một số văn bản khác nhau như Luật giáodục năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009, L
Trang 1Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếuchung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội, donhà nước chịu trách nhiệm và không vì mục tiêu lợi nhuận Trên thực tế, có rấtnhiều loại dịch vụ công rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của cả cộng đồng.Một trong các lĩnh vực dịch vụ công ngày càng được nhà nước coi trọng là giáodục Đây là loại hình dịch vụ khá đặc biệt vì cung ứng dịch vụ này cũng đồngthời là đầu tư tạo nguồn nhân lực cho tương lai nên chất lượng dịch vụ khôngchỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người thụ hưởng dịch vụ mà còn ảnhhưởng đến lợi ích của toàn xã hội Cũng chính vì vậy, các vấn đề có liên quanđến dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục luôn được cả xã hội quan tâm, đồngthời cần và có khả năng thu hút rất nhiều lực lượng tham gia trực tiếp hoặc giántiếp vào quá trình cung ứng dịch vụ này.
Ở nước ta pháp luật điều chỉnh về cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vựcgiáo dục được quy định rải rác trong một số văn bản khác nhau như Luật giáodục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), Luật giáo dục đại học năm 2012 (cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013), Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày30/05/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động tronglĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường, Nghị định số49/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáodục…Các quy định này đã thể hiển rõ chủ trương của Đảng và nhà nước ta trongviệc quản lý cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục
I NỘI DUNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
1 Quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục
Nhà nước ra đời gắn với chức năng quản lý xã hội, dịch vụ công là nhữnghoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của đại đa số dân chúng nên dịch vụ côngảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của xã hội, lợi ích của dân cư Để bảo vệ các lợiích này nhà nước tất yếu phải thực hiện quản lý với dịch vụ công Pháp luật về
Trang 2dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục với tư cách là công cụ quản lý của nhànước bao gồm những nội dung cụ thể:
Thứ nhất, Xác lập những quy định pháp luật về việc xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Ở tầm quản lý vĩ mô nhà nước xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển,xác định những nhiệm vụ, mục tiêu trong từng khoảng thời gian nhất định và kếhoạch thực hiện những nhiệm vụ đó Mục tiêu giáo dục là đào tạo con ngườiViệt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghềnghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành
và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 2 Luật Giáo dục năm 2005).Nhà nước ta coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Việc phát triển giáo dục phải gắn vớinhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học, công nghệ, củng cố quốcphòng, an ninh; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; bảo đảm cân đối
về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền; mở rộng quy mô trên
cơ sở bảo đảm chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào tạo và sử dụng
Quy hoạch phát triển dịch vụ công tạo điều kiện để nhà nước định hướngphát triển dịch vụ công trong cả nước hoặc tại một địa phương nào đó Trên cơ
sở chiến lược và quy hoạch phát triển, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽban hành các chính sách thích hợp để khuyến khích xã hội hóa dịch vụ côngtrong lĩnh vực giáo dục và thúc đẩy sự phát triển của loại hình dịch vụ này Hiệnnay, nhà nước đã ban hành và thực hiện các chính sách như xã hội hóa việc cungứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục, chính sách ưu đãi về tài chính, thuế,tín dụng, chính sách ưu tiên phát triển nhân lực phục vụ…
Thứ hai, Xác lập các quy đinh pháp luật về thực hiện các công tác thống
kê, thông tin, ứng dụng khoa học, công nghệ vào việc cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục
Việc thống kê và thông tin giúp các nhà quản lý dự báo, đánh giá tìnhhình phát triển của dịch vụ công trên cơ sở đó hoạch định chính sách, xây dụng
Trang 3kế hoạch phát triển phù hợp Trên cơ sở phân tích các số liệu thống kê, các nhàquản lý có thể nắm bắt được tình hình và kết quả của việc cung ứng dịch vụcông để có biện pháp khuyến khích hoặc điều chỉnh phù hợp Các thông tin cầnthiết cho việc cung ứng và hưởng thụ dịch vụ công giúp cho cá nhân, tổ chức dễdàng lực chọn cho phù hợp, đồng thời giúp cho việc cung ứng dịch vụ công vàhoạt động quản lý của nhà nước được thực hiện một cách minh bạch, công khai.
Khoa học công nghệ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnhvực giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức trong việc hưởngthụ dịch vụ công Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dịch vụ công vàquản lý nhà nước đối với dịch vụ công tạo ra sự liên kết giữa các nhà cung ứngdịch vụ với nhau, giữa tổ chức cung ứng dịch vụ và gười hưởng thụ; giúp nhànước quản lý được nhanh chóng, dễ dàng Chỉ thị 55/2008/CT- BGDĐT ngày30/09/2008 về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tintrong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm
và các biện pháp tổ chức thực hiện nhằm ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnhvực giáo dục
Thứ ba, Xác lập các quy đinh pháp luật về quản lý việc thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Ở Việt Nam, nhà nước thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục, Bộ giáodục và đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lýnhà nước về giáo dục và đạo tạo, điều này được quy định tại Điều 100 Luật Giáodục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) Bên cạnh đó các Bộ, cơ quan ngang
bộ và các cơ quan trực thuộc Chính phủ cũng thực hiện chức năng này nhưngquản lý theo lĩnh vực chuyên môn của Bộ mình đối với một lĩnh vực đào tạo cóliên quan đến ngành của mình quản lý Bộ và các cơ quan ngang bộ được quyđịnh phải phối hợp với Bộ Giáo dục và đào tạo để thực hiện việc thống nhấtquản lý nhà nước trong giáo dục ở Việt Nam Ở cấp địa phương, UBND các cấpthực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục địa phương theo quy định củaChính phủ
Trang 4Luật giáo dục hiện hành cũng quy định các điều kiện để thành lập và thẩmquyền thành lập các cơ sở giáo dục; các trường hợp bị đình chỉ hoạt động hoặcgiải thể Theo Điều 51 Luật Giáo dục năm 2005 thì thẩm quyền thành lập và chophép thành lập được quy định như sau: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyệnquyết định đối với trường mầm non, trường mẫu giáo, trường tiểu học, trườngtrung học cơ sở, trường phổ thông dân tộc bán trú; Chủ tịch Uỷ ban nhân dâncấp tỉnh quyết định đối với trường trung học phổ thông, trường phổ thông dântộc nội trú, trường trung cấp thuộc tỉnh; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang
bộ quyết định đối với trường trung cấp trực thuộc; Bộ trưởng Bộ Giáo dục vàĐào tạo quyết định đối với trường cao đẳng, trường dự bị đại học; Thủ trưởng
cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề quyết định đối với trường cao đẳng nghề;Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với trường đại học
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép hoạt động giáo dục đối với
cơ sở giáo dục đại học Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quanquản lý nhà nước về dạy nghề quy định thẩm quyền cho phép hoạt động giáodục đối với nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo khác Người có thẩmquyền thành lập hoặc cho phép thành lập nhà trường thì có thẩm quyền thu hồiquyết định thành lập hoặc cho phép thành lập, quyết định sáp nhập, chia, tách,giải thể nhà trường Người có thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục thì cóthẩm quyền quyết định đình chỉ hoạt động giáo dục
Theo quy định, Bộ giáo dục và đào tạo có chức năng quản lý nhà nước đốivới các trường đại học và các trường đại học cũng chịu sự quản lý hành chínhtheo lãnh thổ của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi trường có trụ
sở tại địa phương đó Mặc dù theo quy đinh hiện hành, các trường đại học cóquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về chiến lược, kế hoạch phát triển nhàtrường, tổ chức hoạt động, tổ chức và nhân sự trong nội bộ trường, xây dựngchương trình, kế hoạch giảng dạy; tuy nhiên quy hoạch và kế hoạch phát triểnnhà trường phải phù hợp với chiến lược phát triển giáo dục và quy hoạch mạnglưới các trường đại học của nhà nước, các chương trình, kế hoạch giảng dạy phảidựa trên cơ sở chương trình khung do bộ giáo dục dào tạo ban hành Bộ cũng là
Trang 5cơ quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ về mô hình tổ chức của các loạitrường đại học, quy định thủ tục và quyết định việc thành lập, sát nhập, chiatách, giải thể, đình chỉ hoạt động của các trường đại học, cao đẳng.
Bộ Giáo dục và đào tạo là cơ quan ban hành các quy chế tổ chức và điều
lệ hoạt động cho các tổ chức giáo dục và các loại trường học từ giáo dục mầmnon đến giáo dục phổ thông, bậc trung học chuyên nghiệp, bậc đại học và sauđại học Nhưng việc quản lý tổ chức và nhân sự của các cơ sở giáo dục công lập
là do UBND các cấp và các bộ chủ quản (đối với các tổ chức sự nghiệp giáo dụccủa bộ) quản lý Tại địa phương, Sở GD-ĐT là cơ quan chuyên môn tham mưugiúp UBND tỉnh, thành phố rực thuộc trung ương thực hiện chức năng quản lýnhà nước về giáo dục và đạo tạo Sở giáo dục chịu sự chỉ đạo của Bộ giáo dục
và đạo tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, hướng dẫn và kiểm tra, còn quản lý về tổchức, biên chế và công tác khác chịu sự chỉ đạo của UBND tỉnh, thành phố.Tương tự ở cấp huyện, phòng giáo dục là cơ quan chuyên môn thuộc UBNDhuyện và giúp cho UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo
dụ, phòng giáo dục đào tạo chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn,nghiệp vụ của Sở Giáo dục và đào tạo
Thứ tư, Xác lập các quy định pháp luật về nhân sự, cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Điều 54 Luật giáo dục quy định hiệu trưởng là Hiệu trưởng là người chịu
trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩmquyền bổ nhiệm, công nhận Bổ nhiệm hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng cáctrường THPT do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định theo tiêu chuẩn chuyên môn,nghiệp vụ do Bộ GD-ĐT quy định; còn UBND cấp huyện có quyền bổ nhiệm
hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng các trường từ THCS trở xuống.
Với chính sách hiện hành thì hiệu trưởng các trường công lập chỉ cóquyền bổ nhiệm, miễn nhiệm các chức danh từ trường hoặc phó các tổ chứcthuộc trường mà không có các quyền này đối với cấp phó (hiêu phó) của tổ chứcmình Ở cấp đại học cũng tương tự, Hiệu trưởng trường Đại học có quyền quyết
Trang 6định thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể các tổ chức của cơ sở giáo dục đạihọc theo nghị quyết của hội đồng trường, hội đồng quản trị, hội đồng đại học; bổnhiệm, bãi nhiệm và miễn nhiệm các chức danh trưởng, phó các tổ chức của cơ
sở giáo dục đại học (Điều 20 Luật giáo dục đại học năm 2012)
Qua phân tích có thể thấy rằng, việc quản lý tổ chức và bộ máy vẫn cònmang nặng tính chất hành chính theo phương thức điều hành từ trên xuống, vẫncứng nhắc, không linh hoạt Hiệu trưởng các trường vẫn chưa có đầy đủ quyềnhạn trong việc giải quyết mọi vấn đề về tổ chức và bộ máy trong nội bộ trườngmình, điều đó làm giảm đi tính hiệu quả và linh hoạt trong công tác tổ chức vàquản lý các đơn vị này
Về cơ cấu tổ chức nhân sự: Theo quy định tại Luật giáo dục năm 2005,Luật giáo dục đại học năm 2012, thì các trường có quyền tự chủ về nhân sựtrường mình nhưng trên thực tế các trường vẫn gặp khó khăn trong tuyển dụng
và sử dụng cán bộ của đơn vị mình, còn chịu ảnh hưởng của cấp trên tùy theophân cấp quản lý
Thứ năm, Xác lập các quy đinh pháp luật về tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục.
Thanh tra, kiểm tra là một giai đoạn trong quản lý nhà nước đối với dịch
vụ công Thanh tra, kiểm tra được coi là biên pháp hữu hiệu nhất giúp các cơquan nhà nước nắm bắt được tình hình thực tiến của các cá nhân, tổ chức trongviệc cung ứng dịch vụ công Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra giúp pháthiện nhanh chóng các hành vi vi phạm pháp luật trong việc cung ứng dịch vụcông, các hạn chế khiếm khuyết trong tổ chức cung ứng ịch vụ công cũng đượcphát hiện Tuy nhiên, thanh tra, kiểm tra không thể là biện pháp để nhà nước canthiệp vào hoạt động của các tổ chức cung ứng dịch vụ công nên việc thanh trakiểm tra phải diễn ra trong khuôn khổ pháp luật
Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục rất đa dạng và khác nhau vềtính chất và mức độ Các vi phạm có thể được thực hiện bởi cá nhân, tổ chứccung ứng dịch vụ hay người thụ hưởng dịch vụ, tuy nhiên có thể thấy vi phạm
Trang 7của các cá nhân, tổ chức cung ứng dịch vụ thường có tính chất, mức độ nguyhiểm cho xã hội cao hơn do nó ảnh hưởng tới lợi ích của số đông Hiện nay cáchành vi vi phạm và việc xử phạt vi phạm hành chính về cung ứng dịch vụ côngtrong lĩnh vực giáo dục được quy định tại Luật giáo dực năm 2005, Luật giáodục đại hoạc năm 2012 và được quy định chi tiết, cụ thể trong Nghị định số49/2005/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáodục Việc xử phạt vi phạm hành chính nghiêm minh vừa nhằm phạt trực tiếpngười vi pham vừa có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa vi phạm tiếp tụcxảy ra.
Theo Quy định tại Điều 113 Luật giáo dục thì tổ chức hoạt động củaThanh tra giáo dục gồm thanh tra Bộ, thanh tra Sở và hoạt động của thanh tragiáo dục được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra Hoạt động của thanhtra giáo dục cấp huyện do trưởng phòng giáo duc và đào tạo cấp huyệt trực tiếpphụ trách theo sự chỉ đạo nghiệp vụ của thanh tra Sở giáo dục và đào tạo; hoạtđộng thanh tra giáo dục trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đạihọc do thủ trưởng cơ sở trực tiếp phụ trách theo quy định của Bộ trưởng BộGiáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
Về các hành vi vi pạm và các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực giáo dục được quy định rõ tại Điều 118 Luật giáo dục năm 2005 vàĐiều 71 Luật giáo dục đại học năm 2012, bao gồm các hành vi như: Thành lập
cơ sở giáo dục hoặc tổ chức hoạt động giáo dục trái phép; Vi phạm các quy định
về tổ chức, hoạt động của nhà trường, cơ sở giáo dục khác; Tự ý thêm, bớt sốmôn học, nội dung giảng dạy đã được quy định trong chương trình giáo dục;Xuất bản, in, phát hành sách giáo khoa trái phép; Làm hồ sơ giả, vi phạm quychế tuyển sinh, thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; Xâm phạm nhân phẩm, thânthể nhà giáo; ngược đãi, hành hạ người học; Gây rối, làm mất an ninh, trật tựtrong nhà trường, cơ sở giáo dục khác; Làm thất thoát kinh phí giáo dục; lợidụng hoạt động giáo dục để thu tiền sai quy định; gây thiệt hại về cơ sở vật chấtcủa nhà trường, cơ sở giáo dục khác
Trang 8Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bao gồm hai hình phạt chính làcảnh cáo và phạt tiền, ngoài ra còn có các hình thức xử phạt bổ sung như: Tướcquyền sử dụng các quyết định thành lập, giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thờihạn hoặc không thời hạn đối với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quyđịnh sử dụng quyết định, giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật,phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; Trục xuất nếu người vi phạm
là người nước ngoài Ngoài ra các cá nhân, tổ chức vi phạm còn có thể bị ápdụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc khôi phục lại tìnhtrạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra theo yêu cầu của cơquan có thẩm quyền; Buộc đình chỉ hoặc chấm dứt hoạt động giảng dạy, giáodục; Buộc huỷ bỏ kết quả các môn thi hoặc chấm lại bài thi; Buộc thực hiệngiảng dạy, hướng dẫn thực hành, thực tập bổ sung đủ số tiết, nội dung, chươngtrình theo đúng quy định; cung ứng tài liệu, thiết bị theo đúng kế hoạch đã đượcphê duyệt; Buộc huỷ bỏ quyết định sai, trái với quy định của cơ quan có thẩmquyền; Buộc khôi phục quyền học tập của người học, bảo đảm quyền của ngườiđược sử dụng văn bằng, chứng chỉ (Điều 7 Nghị định số 49/2005/NĐ-CP)
2 Quy định của pháp luật về tổ chức thực hiện cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục
Đại hội lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “Giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu để phát huy nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển” Đó là một sự khẳng định hết sức đúng đắn
xuất phát từ lợi ích của nhân dân ta, đồng thời phù hợp với chân lý phổ biến củalịch sử thế giới Từ đó đến nay nhiều hội nghị chuyên đề của Đảng tiếp tục banhành các nghị quyết về đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo Chính
vì vậy mà sự nghiệp giáo dục - đào tạo nước ta ngày càng phát triển cả về quy
mô và chất lượng
Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật để tổ chức thực hiện cungứng dich vụ công trong lĩnh vực này như Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đạihọc…Luật Giáo dục quy định việc phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trunghọc cơ sở Với sự đầu tư của Nhà nước và truyền thống hiếu học của dân tộc,
Trang 9chúng ta đã hoàn thành việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, đang thựchiện phổ cập trung học cơ sở và phát triển mạnh các trường dạy nghề, giáo dụcđại học và chuyên nghiệp.
Xác định rõ mục tiêu đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, Nhà nước
ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợppháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổchức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục, Nhà nước đã không ngừng tăng
tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục và tích cực vận động, thu hút vốn ODA, tài trợcủa các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước dưới hình thức viện trợ khônghoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi
Nhà nước mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế, các cá nhânnước ngoài và Việt kiều nhằm khai thác mọi tiềm năng bên ngoài để phát triểngiáo dục Chính phủ đã ban hành các văn bản nhằm khuyến khích đầu tư nướcngoài vào lĩnh vực giáo dục như cho phép thành lập các cơ sở giáo dục và đàotạo 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, mở rộng liên kết giữa các cơ sở đào tạotrong nước và các tổ chức nước ngoài…Nhờ có chính sách đúng đắn, ngànhgiáo dục đã tận dụng được mọi nguồn viện trợ thông qua các chương trình hợptác song phương và đa phương với các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chứcphi chính phủ để tăng cường đầu tư chô giáo dục Nhiều cán bộ, nhà giáo, nhàkhoa học của Việt Nam đã được ra nước ngoài trao đổi kinh nghiệm, nâng caotrình độ giảng dạy Số học bổng và việc tiếp nhận học bổng do các tổ chức quốc
tế, cá nhân trao tặng cho giáo dục ngày càng tăng Để nâng cao chất lượng dịch
vụ công trong lĩnh vực giáo dục pháp luật quy định nhà giáo và các cán bộ giáodục pháp luật phải không ngừng học tập, rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng caotrình độ chuyên môn, năng lực quản lý Nhà nước có chính sách đào tạo, bồidưỡng nhà giáo, có các chính sách đãi ngộ, nâng cao trình độ quản lý, chất
lượng đội ngũ quản lý giáo dục Pháp luật về giáo dục quy định rõ ràng chương
trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở từng cấp học để đảm bảo chất lượngnguồn nhân lực, thể hiện hiệu quả của việc cung ứng dịch vụ cho xã hội
Trang 10Cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục ngoài hệ thống giáo dụccông lập, tức Nhà nước là chủ thể cung ứng dich vụ, pháp luật còn cho phép cácchủ thể ngoài công lập được thực hiện hoạt động cung ứng loại dịch vụ này đểđáp ứng ngu cầu phát triển của xã hội.
Ngay từ trước khi có chủ trương xã hội hóa, vào cuối những năm 1980 vàđầu những năm 1990, Đảng và Nhà nước ta đã khởi xướng công cuộc cải cáchgiáo dục và đào tạo theo hướng phát triển hệ thông giáo dục và đào tạo ngoàicông lập tồn tại song song với hệ thống của Nhà nước Cho đến khi Chính phủban hành Nghị quyết 90/CP (1997), nước ta đã có một hệ thống cơ sở giáo dụcngoài công lập ở tất cả các cấp học Đây là tiền đề rất quan trọng cho việc đẩymạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo trong những năm tiếp theo Thực hiện Nghịquyết 90C/CP, công tác xã hôi hóa giáo dục đã đi vào chiều sâu và đem lạinhững đóng góp đáng kể cho sự nghiệp phát triển giáo dục Bên cạnh sự pháttriển của các cơ sở công lập, hệ thống các cơ sở ngoài công lập đã hình thành vàphát triển ở mọi bậc học cấp học trên khắp các vùng, miền Cơ sở ngoài cônglập thuộc ba loại hình chính:
- Cơ sở bán công: do Nhà nước thành lập trên cở sở huy động các tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất; hoặc
cơ sở bán công thuộc sở hữu nhà nước, do các cơ quan nhà nước quản lý, nhưngmọi chi phí hoạt động được trang trải bằng lệ phí do học sinh đóng góp
- Cơ sở dân lập: do các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức phi
chính phủ, tổ chức kinh tế thành lập và đầu tư vốn Giống như cơ sở bán công,các cơ sở dân lập tự trang trải toàn bộ kinh phí
- Cơ sở tư thục: do cá nhân hay một nhóm cá nhân thành lập và đầu tư
vốn
Để khuyến khích phát triển xã hội hóa cung ứng dịch vụ công trong lĩnhvực giáo dục nói riêng và các lĩnh vực dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môitrường nói chung, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30tháng 5 năm 2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa Theo đó, tạo điềukiện thuận lợi và các chính sách ưu đãi về giao đất, cho thuê đất, ưu đãi về thuế
Trang 11thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về tín dụng để khuyến khích đầu tư Nhà nướckhuyến khích các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất
là các chủ thể phi nhà nước tham gia vào hoạt động xã hội hóa cung ứng dịch vụcông trong đó có lĩnh vực giáo dục Nhà nước tạo môi trường phát triển, môitrường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật để thúc đẩy các cơ sởcông lập và ngoài công lập phát triển cả về quy mô và chất lượng
Giáo dục và đào tạo được coi là động lực để phát triển kinh tế - xã hội,giáo dục và đào tạo được đặt lên vị trí quốc sách hàng đầu Trong số các giảipháp phát triển giáo dục thì xã hội hóa được coi là giải pháp mang tính chiếnlược, nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội cho phát triển giáo dục, đáp ứngnhu cầu học tập của các tầng lớp nhân dân và đào tạo nguồn nhân lực cho sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
II THỰC TIỄN THỰC HIỆN CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG TRONG
LĨNH VỰC GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM
1 Những thành tựu đã đạt được
Trong lĩnh vực giáo dục, với sự đầu tư của Nhà nước và truyền thống hiếuhọc của dân tộc, chúng ta đã hoàn thành việc xóa mù chữ và phổ cập giáo dụctiểu học, đang thực hiện phổ cập trung học cơ sở và phát triển mạnh các trườngdạy nghề, giáo dục đại học và chuyên nghiệp Số trẻ em trong độ tuổi từng cấphọc được đi học đạt tỷ lệ cao Năm 2005 tỷ lệ này ở cấp tiểu học là 97%, trunghọc cơ sở là 80%, trung học phổ thông là 45% Cả nước có 17 triệu học sinh phổthông, trong đó 48% là học sinh nữ Các trường phổ thông hầu hết là công lập.Trường ngoài công lập còn ít, phần lớn ở bậc trung học phổ thông và tập trung ở
đô thị Các trường công lập không thu học phí ở bậc tiểu học, các bậc học caohơn có thu học phí nhưng kinh phí đầu tư và hoạt động vẫn dựa chủ yếu vàongân sách nhà nước Trong lĩnh vực đào tạo (dạy nghề, giáo dục đại học, caođẳng và chuyên nghiệp), số trường dân lập ngày càng tắng, nhưng tỷ trọng chưacao Năm 2004 có 1,32 triệu sinh viên đại học, cao đẳng, 465 nghìn học viêntrung học chuyên nghiệp, trong đó 10,5% học ở các trường ngoài công lập Sốhọc sinh học nghề mới tuyển năm 2005 là 1,18 triệu người Sinh viên, học sinh
Trang 12nghèo được nhà nước trợ giúp thông qua chính sách học phí và cho vay dài hạn;nhiều địa phương đã vận động nhân dân lập quỹ khuyến học để giúp cho họcsinh nghèo và khuyến khích học sinh giỏi Bên cạnh việc không ngừng tăng tỷ lệchi ngân sách cho giáo dục Nhà nước ta đã tích cực vận động, thu hút vốnODA, tài trợ của các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước dưới hình thức việntrợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất ưu đãi Đầu tư cho lĩnh vựcgiáo dục nhằm thực hiện các mục tiêu về phổ cập giáo dục, bồi dưỡng giáo viên
và cán bộ quản lý giáo dục; phát triển dạy nghề và củng cố chất lượng đại học
Hệ thống giáo dục công lập được phát triển mạnh trong toàn quốc với đầy
đủ các cấp bậc học và trình độ đào tạo từ mầm non đến sau đại học Hệ thốngcác trường công lập đã được tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao nănglực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, đổi mới nội dung chương trình Mạnglưới cơ sở giáo dục đã được mở rộng đến khắp các xã, phường trên cả nước, gópphần xõa xã trắng về giáo dục mầm non, củng cố vững chắc kết quả xóa mù chữ
và phổ cập giáo dục tiểu học Quy hoạch mạng lưới các trường đại học đã đượctriển khai tích cực Các vùng khó khắn như Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Đồng bằngsông Cửu Long đã thành lập thêm các trường đại học, cao đẳng, tạo điều kiệncho việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ Hai đại học quốc gia (Đại học Quốc gia
Hà Nội và Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh) đã được tổ chức lại; ba đại họckhu vực (Thái Nguyên, Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng) tiếp tục được nâng cấp,phát triển; các trường đại học trọng điểm của các khối sư phạm, công nghệ,nông nghiệp, kinh tế được tăng cường
Bên cạnh sự phát triển của các cơ sở công lập, hệ thống các cơ sở ngoàicông lập đã hình thành và phát triển ở mọi bậc học, cấp học trên khắp các vùng,miền trong cả nước Hoạt động của các cơ sở giáo dục và đào tạo ngoài công lập
đã đóng góp một phần rất quan trọng vào sự nghiệp giáo dục của nước ta Việc
đa dạng hóa các loại hình giáo dục đã góp phần mở rộng cơ hội học tập chonhân dân, thu nhận nhiều trẻ em, học sinh, sinh viên tham gia học tập, từ đótrang bị những kiến thức cần thiết đáp ứng nhu cầu việc làm cho một bộ phậndân cư