Vào tháng 11 năm 2005, tại hội thảo với khoảng 100 người tham dự do Tổ chức Action Aid về đề tài “Bạo hành gia đình: kinh nghiệm và giải pháp”, bạo hành gia đình được xem là một vấn hành
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ trang 10
trang 11
1 TỔNG QUAN Y VĂN trang 13
1.1 Tổng quan ngoài nước 13
1.2 Tổng quan trong nước 17
1.3 Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn 17
2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP trang 18 18
2.1.1 Yếu tố nghiên cứu 18
2.1.2 Yếu tố kết cục 18
18
19
2 2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20
2.2.2 Dân số nghiên cứu 20
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 20
2.2.4 Cỡ mẫu 21
22
2.2.6 Tiêu chuẩn thu nhận 22
2.2.7 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.2.8 Phương pháp tiến hành 22
2.3 Công cụ chẩn đoán 23
Trang 32.3.2 EPDS 23
2.4 Thống kê sử dụng 25
2.5 25
3 KẾT QUẢ trang 26 3.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 26
3.2 Tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong nhóm có và không bị BHGĐ 26
3.3 Tỉ lệ BHGĐ trong thời kỳ mang thai và 4-6 tuần sau sinh 31
3.4 So sánh tăng cân trung bình thai phụ và các bệnh lý trong th 33
3.5 So sánh tăng cân trung bình thai nhi từ lúc sinh đến 4-6 tuần sau sinh 34
36
4 BÀN LUẬN trang 45 4.1 Điểm mạnh của nghiên cứu 45
4.2 Giới hạn của nghiên cứu 45
4.3 Tần suất BHGĐ 46
4.4 Ảnh hưởng của BHGĐ trên kết cục của thai kỳ/sức khỏe sinh sản 50
51
4.6 Tương quan giữa BHGĐ và trầm cảm 52
52
53
5 KẾT LUẬN trang 55
6 ĐỀ NGHỊ trang 57
Trang 4PHỤ LỤC 1 – MẪU CÂU HỎI NGHIÊN CỨU trang 59
Mẫu 1: Thu nhận đối tượng 59
Mẫu 2: Bạo hành gia đình trước và sau sinh CTS2 60
Mẫu 3: Đánh giá trầm cảm trước và sau sinh 63
Mẫu 4: Thông tin lúc sinh 63
Mẫu 5: Phỏng vấn 4 – 6 tuần sau sinh 64
PHỤ LỤC 2 – MỘT SỐ BIỂU ĐỒ KẾT QUẢ trang 66 1 Biểu đồ tổng số mẫu nghiên cứu theo địa điểm 66
2 Biểu đồ tần suất BHGĐ theo CTS2 trước sinh 66
3 Những yếu tố tương quan đơn/đa biến với BHGĐ trước sinh 67
4 Những yếu tố tương quan đơn/đa biến với Trầm cảm trước sinh 68
5 Phân bổ của BHGĐ và Trầm cảm 69
PHỤ LỤC 4 – TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 73
Trang 5DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
(theo trình tự xuất hiện)
YTTG Y Tế Thế Giới AAS (Abuse Assessment Screen) Thang điểm sàng lọc đánh giá lạm dụng CTS (Conflicts Tactics Scales) Thang điểm phương thức đối kháng CTS2 Thang điểm phương thức đối kháng hiệu chỉnh 2 AOR (Adjusted odds ratio) Tỉ suất chênh hiệu chỉnh
OR (Odds ratio) Tỉ suất chênh EPDS Thang điểm trầm cảm sau sinh Edinburgh SDSS (Stein’s daily scoring system) Thang đo hàng ngày của Stein TPHCM Thành Phố Hồ Chí Minh
Td Thí dụ APGAR (Appearance, Pulse, Grimace, Activity, Respiration) chỉ số APGAR BVHV Bệnh viện Hùng Vương KTC Khoảng tin cậy BHGĐ Bạo hành gia đình
BH Bạo hành CDC (Center for Disease Control) Trung tâm kiểm soát bệnh tật ĐN
ĐĐH
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
(theo trình tự xuất hiện)
) trang 19 Bảng tổng kết thu nhận trang 24 Bảng 1 Đặc điểm kinh tế xã hội của đối tượng nghiên cứu trang 24
Trang 7Bảng 13 BHGĐ trong thai kỳ với đặc điểm đối tượng trang 36 Bảng 14 Các yếu tố có tương quan (đa biến) với BHGĐ trước sinh trang 37
Bảng 21 Các yếu tố tương quan đa biến với trầm cảm sau sinh trang 42
Bảng PL3c Các hình thái BHGĐ theo đặc điểm của đối tượng trang 68 Bảng PL3d Các yếu tố tương quan đa biến các hình thái BHGĐ trước sinh trang 70
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Bạo hành trong gia đình ngày càng trở nên vấn đề nóng bỏng tại Việt Nam Đã có nhiều hội thảo, hội nghị được tổ chức nhằm đánh động sự chú ý của cộng đồng Vào tháng 11 năm 2005, tại hội thảo với khoảng 100 người tham dự do Tổ chức Action Aid về đề tài
“Bạo hành gia đình: kinh nghiệm và giải pháp”, bạo hành gia đình được xem là một vấn
hành chỉ xảy ra cho những phụ nữ sống phụ thuộc vào chồng nhưng khi chuyển qua thời
kỳ kinh tế thị trường, phụ nữ càng kiếm được nhiều tiền, bạo hành càng có thể xảy ra Vào tháng 12 năm 2007, trong một hội thảo về Bạo hành gia đình, phó chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam báo cáo 23% những gia đình được khảo sát trong 8 tỉnh cho biết
Bạo hành do những người thân trong gia đình ngày càng trở thành một vấn đề của sức khỏe cộng đồng Ước tính của những nghiên cứu về bạo hành trong vòng một năm trước
Cambodia báo cáo cứ 4 người thì có một người bị bạo hành thể xác hay tình dục trong
nữ thường gặp hơn những biến chứng của thai kỳ như tiểu đường và tiền sản giật, là những bệnh lý thường xuyên được sàng lọc
Bạo hành tâm lý, dù không kèm theo bạo hành thể xác và/hay tình dục, của người phối ngẫu đối với thai phụ cũng tác động xấu đến sức khỏe tâm trí sau sinh của họ Tiwari và cộng sự ghi nhận ở nhóm thai phụ chỉ bị bạo hành tâm lý có nguy cơ trầm cảm sau sinh cao hơn nhóm không bị và họ cũng có nguy cơ cao hơn tự hủy hoại mình và chất lượng
Theo tổ chức Y tế Thế Giới (TCYTTG), 450 triệu người trên thế giới có một lúc nào đó
bị ảnh hưởng của vấn đề về tâm trí, tâm thần hay nhân cách và gần 837.000 người chết vì
thời kỳ sinh sản, sau đó tần suất nầy giảm dần Vì những năm của đỉnh điểm trầm cảm
Trang 9những phụ nữ mang thai.7 Trầm cảm trong thời kỳ mang thai không chỉ làm hại phụ nữ
mà còn ảnh hưởng vì không tự chăm sóc tốt bản thân, ăn uống và ng ; họ có thể uống nhiều rượu và sử dụng thuốc gây nghiện mà còn làm họ ngại ngùng tìm đến hay tuân thủ
mức độ cortisol trong máu cao và thay đổi ß-endorphins, thai nhi của những phụ nữ bị
(British Confidential Enquiry into Maternal Deaths) mô tả tự tử là một nguyên nhân hàng
.10 .11
Dù có ít nghiên cứu về sức khỏe tâm trí ở phụ nữ mang thai bao gồm trầm cảm sau sinh
quan rất mạnh giữa trầm cảm sau sinh và điều kiện kinh tế xã hội của gia đình (td nghề nghiệp ổn định của cha mẹ), sức khỏe của thai nhi, thai kỳ có được mong đợi không và
không thể tâm sự cùng người phối ngẫu
Trang 10Mục tiêu tổng quát: Qua nghiên cứu n y, chúng tôi muốn tìm hiểu tầm vóc của vấn đề bạo hành do những người phối ngẫu và những người thân trong gia đình của phụ nữ
khỏe thai nhi Chúng tôi hy vọng với nghiên cứu n y sẽ góp một tiếng chuông cho cộng đồng để kêu gọi chương trình hành động bảo vệ tốt hơn cho bà mẹ và trẻ em
hai nhóm có và không có bạo hành gia đình
4 So sánh tăng cân trung bình của thai nhi lúc sinh và 4–6 tuần sau sinh ở hai nhóm mẹ có và không bị bạo hành gia đình
1 Những yếu tố nguy cơ của bạo hành gia đình
2 Những yếu tố nguy cơ của trầm cảm sau sinh
Trang 111 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Tổng quan ngoài nước
Theo báo cáo của YTTG, trong 48 cuộc khảo sát dựa vào cộng đồng trên khắp thế giới, 10–69% phụ nữ bị bạo hành thể xác do người phối ngẫu nam vào một thời điểm trong đời Trong những nghiên cứu quốc gia lớn, khoảngnày dao động từ 10–34%, cao nhất ở
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu ở các nước phát triển về bạo hành ở phụ nữ mang
thai McFarlane và cộng sự khi sử dụng bộ câu hỏi Sàng Lọc Đánh giá Lạm dụng (Abuse Assessment Screen–AAS) phát hiện tỉ lệ 17% bị lạm dụng thể xác hay tinh thần trong
Điểm Phương Thức Đối Kháng Hiệu Chỉnh (revised conflict tactics scales–CTS2) đo lường sự lạm dụng thể xác trong thời kỳ mang thai, Reichenheim ghi nhận tỉ lệ 18,4% và
Theo các nghiên cứu ở Mỹ, trong số những sản phụ đến khám thai có từ 11 đến 41% có tiền sử một lần bị bạo hành trong gia đình và 4–17% ghi nhận có bạo hành trong thai kỳ lần này.16,17,18,19
Bacchus và cộng sự khi thực hiện nghiên cứu trong một cộng đồng nói tiếng Anh tại một bệnh viện giảng dạy nội ô Luân Đôn cho thấy 23,5% phụ nữ ghi nhận có một lần bị bạo
Tại Úc, Webster và cộng sự trong năm 1996 đã tìm thấy tỉ lệ 29,7% đã hoặc đang bị bạo
Tại Trung Quốc, Leung và cộng sự năm 1999 khi tìm hiểu về những vấn đề của xã hội
tác động lên sức khỏe sinh sản ở phụ nữ Trung quốc cho thấy 17,9% phụ nữ đã từng bị bạo hành bởi những người thân trong gia đình (113/631 phụ nữ được phỏng vấn), chồng
Phụ nữ có nhiều nguy cơ bị bạo hành hơn trong thời kỳ hậu sản Một nghiên cứu tại
Thuỵ Điển cho thấy 24% phụ nữ bị đe dọa bạo hành hay lạm dụng thể xác, tình dục trong
Trang 12thời kỳ hậu sản.23 Trong thời kỳ hậu sản, Gielen ghi nhận bạo hành gia đình tăng cao từ
Guo khi phỏng vấn 12.044 phụ nữ tại 32 xã của 4 tỉnh của Trung Quốc năm 2002 cho thấy tần suất chung là 11,7% trong đó 8,5% xảy ra trong vòng 12 tháng trước khi mang thai, 7,4% trong thời kỳ hậu sản và thấp nhất là 3,6% trong thời gian mang thai, trong đó
Thananowan khi nghiên cứu 475 phụ nữ ghi nhận 13,1% có tiền sử bị bạo hành và 4,8%
Những yếu tố nguy cơ của bạo hành trong gia đình bao gồm tuổi trẻ, nghèo, con đông,
ít học và không được chăm sóc đầy đủ, chưa lập gia đình, thai ngoài ý muốn, sử dụng y tế
CI 1,41–4,02) và chồng hút thuốc lá (AOR=1,59; 95% CI 1,05–2,42) Phụ nữ có sự hỗ trợ của xã hội ít bị chồng bạo hành hơn (AOR=0,65; 95% CI 0,51–0,82)
Bạo hành ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống được Leung nghiên cứu trên các nhóm
1614 bệnh nhân sản phụ khoa tại Hồng Kông cho thấy tỉ lệ chung 7,2% phụ nữ được phỏng vấn báo cáo đã từng bị bạo hành; có đến 12,7% ở nhóm đến phá thai; trong khi chỉ
có 1,8% ở nhóm đến khám hiếm muộn; 4,7% bệnh nhân phụ khoa và 10,9% nhóm sản khoa So với nhóm không hề bị bạo hành, chỉ số chất lượng cuộc sống trung bình của nhóm có bị bạo hành thấp hơn có ý nghĩa cả về sức khỏe thể xác, tinh thần, lẫn môi
Ảnh hưởng của bạo hành trên sức khỏe sinh sản, Webster và cộng sự ghi nhận ở Úc,
301/1014 (29,7%) phụ nữ được sàng lọc trả lời đã từng hoặc đang bị bạo hành gia đình trong đó có 59 người bị bạo hành trong thời kỳ mang thai; tỉ lệ sẩy thai cao hơn, trẻ đẻ ra
Trang 13nhập viện điều trị trong thời gian mang thai nhiều hơn nhóm không có bạo hành.21 Bullock đầu tiên ghi nhận có sự liên quan giữa bạo hành và trẻ nhẹ cân, 12,5% phụ nữ đến sinh tại một bệnh viện tư đã từng bị bạo hành và 6,6% đang bị bạo hành sinh con nhẹ
thấy sự khác biệt này
thấp.32,33
Bạo hành cũng có liên quan đến tiền sử sản khoa không tốt như sẩy thai, nạo
Moraes và cộng sự khi nghiên cứu 394 phụ nữ đến sinh đủ tháng tại những bệnh viện sản khoa công lập của Rio de Janeiro, Brazil cho thấy những phụ nữ bị bạo hành thể xác tăng cân trung bình trong thời kỳ mang thai ít hơn từ 3245g đến 3959g so với những phụ nữ khác.36
Cripe và cộng sự nghiên cứu trên 2167 phụ nữ sinh tại Viện Sản Quốc gia ở Lima, Peru trong thời gian phục hồi sau sinh cho thấy 40% phụ nữ này bị bạo hành về thể xác và 65,3% là thai kỳ ngoài kế hoạch.So với những phụ nữ không bị bạo hành những phụ nữ này có nguy cơ mang thai ngoài ý muốn gấp 1,63 lần (95% CI 1,35–1,97) Nguy cơ này tăng gấp 3,31 lần nếu phụ nữ bị bạo hành thể xác kèm theo lạm dụng tình dục so với những người không bị Mức độ bạo hành cũng ảnh hưởng đến nguy cơ này, so với những phụ nữ không hề bị bạo hành, bạo hành thể xác mức độ vừa mang đến nguy cơ thai ngoài
ý muốn 1,43 lần (95% CI 1,15–1,77), ở mức độ nặng, nguy cơ này tăng đến 2,17 (95% CI
Những phụ nữ bị lạm dụng hay ép buộc tình dục thường không thể từ chối, không thể
quả vì sợ bị trừng phạt thêm do vậy có nhiều nguy cơ mang thai ngoài ý muốn hơn những phụ nữ khác Glander ước tính khoảng 40% phụ nữ muốn phá thai có trải nghiệm lạm dụng tình dục và/hay bạo hành thể xác trong đời, ngược lại thai ngoài ý muốn cũng có thể
Goodwin và cộng sự cũng ghi nhận ở những phụ nữ Mỹ bị bạo hành về thể xác có nguy
Trang 14cơ mang thai ngoài kế hoạch gấp 2,5 lần so với những phụ nữ không bị.33 Tương tự ở Tân
Bạo hành gia đình không chỉ ảnh hưởng rõ rệt trên sức khỏe thể xác mà còn ảnh hưởng
nhiều đến sức khỏe tâm trí của phụ nữ Leung và cộng sự trong một nghiên cứu tiền
cứu vào năm 2000–2001 trên 838 phụ nữ đến sinh tại một bệnh viện giảng dạy tại Hồng
cảm sau sinh của Edinburgh (EPDS) và hệ thống chỉ số hằng ngày của Stein (SDSS) vào ngày 2 hay 3 sau sinh, 1–2 ngày sau xuất viện và 6 tuần sau sinh đều cho thấy chỉ số EPDS cao hơn có ý nghĩa trong nhóm bị bạo hành so với nhóm không, quan sát này
cộng sự thực hiện một nghiên cứu tại Anh mặc dù cỡ mẫu nhỏ cũng cho thấy chỉ số EPDS ở những phụ nữ mang thai đã từng bị bạo hành cao hơn so với nhóm chứng (9,2 so với 7,7 với p=0,006) Biến chứng sản khoa như chảy máu trước 37 tuần, vỡ ối sớm, cao huyết áp, đau lưng, nghén nặng, thiếu máu, tiểu đường, tiền sản giật, nhiễm trùng tiểu, quan sát được cho thấy nguy cơ tăng ở nhóm bạo hành (OR=3,2 CI 1,4–7,3) kể cả sau khi
đã được hiệu chỉnh với những yếu tố nguy cơ khác như tuổi, hút thuốc lá, và các đặc
Bạo hành về tinh thần cũng gây một ảnh hưởng lớn trên sức khỏe phụ nữ mang thai đáng được lưu ý Tiwari và cộng sự trong một nghiên cứu tại Hồng Kông mới được công bố cho thấy trong 3245 phụ nữ mang thai đến khám tiền sản có 9,1% bị bạo hành trong số đó 73% chỉ bị bạo hành tinh thần so với 27% bị bạo hành thể xác và tình dục So với phụ nữ không phải nạn nhân của bạo hành, phụ nữ bị bạo hành tinh thần có nguy cơ trầm cảm sau sinh là 1,84 lần (95% CI 1,12–3,02), họ cũng có nguy cơ cao hơn nghĩ đến tự hủy hoại mình (OR=3,5; 95% CI 1,49–8,20) và có chất lượng cuộc sống liên quan đến sức
Trang 15Mặc dù điều này là một báo động cho cộng đồng, từ đó đến nay chưa có một động thái nào được thực hiện Sau này vào năm 2004,
1.3 Ý nghĩa và tính mới về khoa học và thực tiễn
- Lần đầu tiên tại Việt Nam có một nghiên cứu khảo sát ảnh hưởng của một vấn đề
xã hội lên sức khỏe sinh sản của phụ nữ một cách có hệ thống nhằm đề xuất những biện pháp giảm thiểu tác động xấu của nó như đưa vào giáo dục tiền sản, chủ động
sàng lọc trong chăm sóc tiền sản
- Những nhà làm chính sách sẽ có những dữ liệu tin cậy để xây dựng những chính
sách hỗ trợ cho đối tượng phụ nữ Việt Nam nói chung và phụ nữ TPHCM nói
Trang 162 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1.1 Yếu tố nghiên cứu:
- Đặc điểm kinh tế, xã hội của bản thân và gia đình (tuổi hai vợ chồng, địa điểm
cư trú, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hoàn cảnh kinh tế, dân tộc)
- Đặc điểm sản khoa (tiền thai, giới tính thai nhi lần này, các bệnh lý trong thai
kỳ, cân nặng của mẹ)
- Đặc điểm lúc sinh (tuổi thai khi sinh, APGAR sau 1’ và sau 5’, cân nặng thai nhi, dị dạng thai, thai chậm phát triển, cách sinh, biến chứng sản khoa)
- Đặc điểm trong thời kỳ hậu sản (cân nặng sơ sinh, cho con bú, chăm sóc con,
sự hỗ trợ của người thân, chia sẻ lo âu, những dấu hiệu của sức khỏe)
2.1.2 Yếu tố kết cục:
- Bạo hành trong gia đình (hình thức bạo hành, tần suất bạo hành, người bạo hành, thời gian xảy ra, mức độ bạo hành, ý muốn của phụ nữ về sự giúp đỡ,
- Trầm cảm (trước sinh, sau sinh)
2.1.3 Bạo hành gia đình:
- Là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi bạo lực giữa các thành viên trong cùng một gia đình: thường thấy nhất là giữa vợ và chồng, cha mẹ với con cái hay ông bà,
- Các hình thức bạo hành bao gồm bạo hành thể xác, bạo hành tình dục: ép buộc quan hệ, loạn luân, bạo hành tinh thần: chửi bới, mắng nhiếc, im lặng hay bạo hành xã hội: ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn bè, bao vây kinh tế
- Trung tâm kiểm soát bệnh tật của Hoa Kỳ (CDC) định nghĩa bạo hành gia đình trong thời kỳ mang thai là “bạo hành về cảm xúc/tâm sinh lý, tình dục, thể xác, hay những đe dọa về thể xác hoặc tình dục mà phụ nữ mang thai phải chịu đựng”
- Theo bộ luật “Phòng Chống Bạo Lực Gia Đình” số 02/2007/QH12 ngày 21 tháng
11 năm 2007, định nghĩa bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình
Trang 17gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình Ở điều 2 của bộ luật này xác định các hành vi bạo lực gia đình bao gồm a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng; b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh
dự, nhân phẩm; c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng; d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục; e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; i)
Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi ch
Những hình thái đe dọa hay xâm phạm chưa gây tổn thất vật chất rõ rệt không được xem là bạo lực gia đình
2.1.4 Trầm cảm sau sinh:
- Đ
những tiêu chí của các rối loạn khác vì không đủ thông tin
- Chẩn đoán trầm cảm lâm sàng đòi hỏi ít nhất có 5 triệu chứng trong số những
Thiếu động cơ/không cảm giác hưởng thụ (enjoyment) Năng lượng giảm
Mất ngủ Chán ăn/sụt cân Khó tập trung Tâm thần vận động trì trệ
Trang 18Suy nghĩ tiêu cực (cảm giác vô vọng, vô dụng,
)
Có tư tưởng/kế hoạch tự hủy hoại Các nhà lâm sàng thường sử dụng thang điểm Edinburgh (EPDS) để nhận diện khả
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
- Nghiên cứu đoàn hệ
2.2.2 Dân số nghiên cứu:
- Dân số đích: thai phụ tại TPHCM
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu:
- Nghiên cứu được tiến hành tại các cơ sở y tế trên địa bàn TPHCM, những phụ
nữ đến khám thai trong khoảng thai kỳ 36 tuần trở lên được mời
tham gia vào nghiên cứu sau khi giải thích về nghiên cứu
- Thực hiện tại các cơ sở nghiên cứu:
HCM tiếp nhận các quận 5, 6, 10, 11, Tân Bình, Tân Phú, Hóc Môn…;
đa số là buôn bán và công nhân viên chức; số ca sinh tại đây khoảng 35.000 ca/ mỗi năm
dân, hằng năm số sinh khoảng 2000 trường hợp
dân, số sinh trong năm 2009 là 1928 ca
nhân của các quận trung tâm thành phố, đa số phụ nữ thuộc thành phần khá giả, công nhân viên chức; số sinh trung bình 7,500 ca/năm, bệnh
Trang 19viện có hệ thống khám trẻ em lành mạnh kết hợp với tái khám hậu sản 4-6 tuần sau sinh
có ý nghĩa về mặt lâm sàng được chấp nhận Dưới đây là bảng tính p1 và p2 có thể phù hợp:
p’1=p1 x 0.83
Chúng tôi chọn dòng áp chót, tương ứng với p1=0.31 và p2=0.41
Trang 20- Tỉ lệ mất dấu dự kiến # 5%
Dùng phần mềm EPI INFO để tính cỡ mẫu, kết quả như sau:
Cỡ mẫu: n1=1099 (nhóm không bạo hành); n2=225 (nhóm có bạo hành);
16% tại Phụ sản Quốc Tế 225
2.2.6 Tiêu chuẩn thu nhận:
- Phụ nữ có địa chỉ rõ ràng, cho phép liên lạc sau sinh
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu và đồng ý trả lời phỏng vấn
2.2.7 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Sản phụ không thể trả lời được phỏng vấn do những hạn chế thể lực hoặc tâm lý (câm điếc, không hiểu ngôn ngữ,tâm thần …)
- Khi việc phỏng vấn được nhận định có thể gây bất lợi cho người phụ nữ
2.2.8 Phương pháp tiến hành:
Vì nghiên cứu thực hiện cho một vấn đề rất nhạy cảm đối với phụ nữ, việc tiếp cận đối tượng để có thể thu thập thông tin đáng tin cậylà điều kiện cần thiết và tiên quyết:
- Phải có sự tự nguyện tham gia của của đối tượng nghiên cứu: nhóm nghiên cứu cần giải thích rõ ý nghĩa, lợi ích và yêu cầu của nghiên cứu để phụ nữ có sự đồng thuận cao
Trang 21- Nhóm thu thập số liệu được lựa chọn phù hợp, được tập huấn kỹ các mẫu bệnh
án nghiên cứu, cách tiếp cận bệnh nhân
- Các điểm nghiên cứu bố trí nơi phỏng vấn riêng tư, thoải mái và thân mật
a) Phỏng vấn đầu tiên đƣợc thực hiện với
- Mẫu 1: nhằm thu thập những đặc điểm của đối tượng
- Mẫu 2: để phát hiện bạo hành trong thời kỳ mang thai
- Mẫu 3: sàng lọc trầm cảm trước sinhtheo thang điểm EPDS cho tất cả thai phụ tham gia nghiên cứu
Thai phụ được theo dõi thai thường quy theo hẹn của phòng khám thai cho đến lúc vào sinh tại bệnh viện Người nghiên cứu tại chỗ tổ chức theo dõi và kết hợp với phòng khám thai để được liên lạc hoặc thông báo khi sản phụ vào sinh tại bệnh viện
b) Trong vòng 24 giờ sau sinh
- Mẫu 4: bệnh án nghiên cứu thu thập những thông tin liên quan đến tình trạng sức khỏe của sản phụ và thai nhi được thực hiện
c) Tất cả sản phụ đƣợc phỏng vấn lần thứ hai 4 – 6 tuần sau
- Mẫu 2: nhằm phát hiện bạo hành trong thời kỳ hậu sản
- Mẫu 3: đánh giá chỉ số trầm cảm sau sinh
- Mẫu 5: một bảng câu hỏi liên quan đến sinh hoạt gia đình, chăm sóc con, những hỗ trợ từ phía gia đình Mẫu này được sử dụng trong một nghiên cứu trước tại bệnh viện Hùng Vương
d) Đối với những sản phụ không trở lại tái khám đƣợc
- Người nghiên cứu sẽ tìm mọi cách liên lạc bằng thư, đến nhà hay phỏng vấn qua điện thoại
2.3 Công cụ chẩn đoán
2.3.1 CTS:
- Thang điểm phương thức mâu thuẫn (Conflict Tactics Scales) do Strauss đề xuất, được sử dụng trong nhiều nghiên cứu từ 1992 với hơn 70.000 đối tượng tham gia
Trang 22từ nhiều nền văn hoá khác nhau, trên ít nhất 20 quốc gia và đã được đánh giá.47 Năm 1996 được hiệu chỉnh (Revised Conflict Tactics scales–CTS2) nhằm đo đạc thêm những lần tấn công của người phối ngẫu và việc sử dụng kĩ năng thương thuyết CTS2 có thêm những đề mục nhằm (1) làm gia tăng tính chính xác và độ tin cậy; (2) thay đổi từ dùng cho rõ nghĩa và đặc hiệu hơn; (3) phân biệt tốt hơn mức độ nhẹ và nặng của mỗi thang điểm; (4) thêm thang điểm mới để đánh giá ép buộc tình dục và tổn thương thể xác; (5) định dạng mới để đơn giản hóa việc sử dụng và giảm bớt trả lời
- Độ tin cậy của thang điểm (internal consistency reliability) được đánh giá 79%–95% Bộ câu hỏi này bao gồm 39 cặp (78) câu hỏi giống nhau cho cả vợ và chồng,
do vậy trong khi chỉ sử dụng cho phụ nữ mang thai chúng ta còn 39 câu hỏi đơn giản, rõ ràng và dễ hiểu Thử nghiệm cho thấy thời gian cho bộ câu hỏi có thể hoàn tất trong vòng 10–15 phút.Cách đánh giá bao gồm việc cộng các giá trị trung bình
- Chưa có một nghiên cứu nào chính thức được công bố việc sử dụng công cụ đánh giá hay phát hiện bạo hành gia đình này tại Việt Nam
2.3.2 EPDS:
- Công cụ để sàng lọc trầm cảm sau sinh Edinburgh EPDS bao gồm có 10 câu hỏi
về cảm giác của phụ nữ trong tuần lễ vừa qua, được phát triển nhằm giúp cho những nhân viên y tế tuyến cơ sở tại Livingston và Edinburgh khởi thủy sử dụng
để phát hiện các bà mẹ bị trầm cảm sau sinh nhưng hiện đã được đánh giá (validate) để sử dụng cả trước sinh Theo nghiên cứu của Bacchus ở điểm cắt 12/13 khi sử dụng sau sinh, phụ nữ có nhiều khả năng bị bệnh trầm cảm ở một mức độ nào đó; nếu thực hiện trước sinh, những phụ nữ đạt ngưỡng 14/15 có khả
- Tuy nhiên chỉ số EPDS cần được kiểm chứng lại bằng chẩn đoán lâm sàng để xác định chẩn đoán Trong những trường hợp nghi ngờ, bảng câu hỏi nên được thực hiện lại sau 2 tuần Thang điểm này không dùng để phát hiện những bệnh tâm
Trang 23thần hay rối loạn nhân cách Thang điểm EPDS có thể thực hiện trong vòng dưới 5 phút
2.4 Thống kê sử dụng:
khi phù hợp
- Thống kê có ý nghĩa khi α ≤ 0.05; độ mạnh của nghiên cứu là 80%
- Xem xét các mối tương quan giữa bạo hành và trầm cảm, giữa bạo hành và các đặc điểm kinh tế xã hội sử dụng OR, yếu tố gây nhiễu; phân tích tương quan đơn biến và hồi quy logistic sẽ được sử dụng
- Những trị số trên đi kèm với 95% KTC khi phù hợp
2.5 Vấn đề y đức
- Sản phụ tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi ngh
tiện của việc tham gia vào nghiên cứu Sản phụ cũng được cho hay có thể rút lui khỏi nghiên cứu bất kể khi nào
Khoa học Công nghệ Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Sức khỏe Sinh sản và BV Hùng Vương
- Những thông tin thu thập được hoàn toàn đảm bảo tính riêng tư và bảo mật bằng cách mã hóa các bảng thu thập số liệu sao cho danh tính của bệnh nhân không thể được nhận diện
- Khi tham gia vào nghiên cứu, nếu phát hiện chỉ số EPDS cao hơn 12, bệnh nhân
sẽ được giới thiệu khám tâm thần để được chẩn đoán xác định, chăm sóc và điều trị nếu cần; khi phát hiện bạo hành; nếu phụ nữ có yêu cầu sẽ được giới thiệu cho các tổ chức xã hội như Hội phụ nữ, công an đ nhờ giúp đ
- Lợi ích lớn hơn của nghiên cứu nầy là sẽ góp phần làm cho xã hội hiểu rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề bạo hành gia đình ảnh hưởng lên sức khỏe sinh sản và sức khỏe tâm trí của người phụ nữ để có những can thiệp có tính vĩ mô hơn
Trang 24Từ 15–1–2011 đến 15–8–2011 thu thập đối tượng nghiên cứu được tiến hành tại 4 địa điểm sau khi các nhóm nghiên cứu được tập huấn về cách thực hiện đề cương, cách điền các mẫu nghiên cứu và đóng vai cách phỏng vấn các phụ nữ tham gia nghiên cứu
1450; số mất dấu 63 (0,9%); 1387 phụ
nữ hoàn tất được phỏng vấn lần cuối cùng sau sinh 4–6 tuần
3.1 Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm kinh tế xã hội của đối tƣợng nghiên cứu
Trang 26Bảng 3 Đặc đi m sản khoa của đối tƣợng tham gia
Trang 27* 3 trường hợp điều trị hiếm muộn
Chúng tôi cũng ghi nhận thêm sự chênh lệch giới tính cũng thể hiện rõ tại TP Hồ Chí Minh với t lệ 52 trẻ nam/48 trẻ nữ (108/100) 90 (63,8%)
,sinh con gái so với chỉ 51 chị em sinh con trai
3.2 Tỉ lệ trầm cảm ở thai phụ trong nhóm có và không bị BHGĐ
51 (3,7%) phụ nữ có chỉ số EPDS từ 13 trở lên so với 27 (2%) người sau sinh,
sự thay đổi này không có ý nghĩa thống kê
Trang 28số quan sát được khá ít
Trang 293.3 Tỉ lệ BHGĐ trong thời kỳ mang thai và 4-6 tuần sau sinh
Trang 30bị BH vừa thể xác và tình dục trong thời kỳ hậu sản
Trang 313.4 So sánh tăng cân trung bình của thai phụ và các bệnh lý trong thai kỳ
Bảng 9
BHGĐ – N=609 (%)
BHGĐ + N=778 (%)
Biến chứng sau sinh
động mạch TC, tụ máu thành ÂĐ, may cầm máu TSM
10kg (49,6%) Chúng tôi ghi nhận có 5 trường hợp biến chứng cần can thiệp
bị BH; 1 trường hợp sướt tầng sinh môn phải may, 1 trường hợp co cơ cứng hàm trong nhóm không có BH; khác biệt không có ý nghĩa thống kê (Fisher exact=1) Có 16 trường
Trang 32hợp băng huyết sau sinh được ghi nhận không khác biệt giữa 2 nhóm Những biến chứng khác như truyền máu, hồi sức tích cực không được ghi nhận trong cả hai nhóm
Bệnh lý trong thai kỳ không được ghi nhận trong cả hai nhóm đối tượng mặc dù không
nản hơn nhóm khộng bị BH
3.5 So sánh tăng cân trung bình thai nhi từ lúc sinh đến 4-6 tuần sau sinh
Bảng 10a So sánh cân nặng thai nhi lúc sinh
Trang 331 thai nhi tử vong
Nguy cơ nằm viện hay phải đi khám bệnh cao hơn gấp 2 lần ở trẻ có mẹ bị BH so với
nhiên có sự khác biệt gi a tăng cân của thai nhi trong thời kỳ hậu sản
lệ trẻ phải đi khám và nằm bệnh viện cao hơn trong nhóm bị BHGĐ; lý do đi khám bao gồm 1 số dị dạng bẩm sinh (như chân khoèo, tim bẩm sinh, hở khớp háng, thận đa nang; bướu máu), những lý do khác chủ yếu là viêm hô hấp, hội chứng trào ngược… Các
lý do nằm bệnh viện của trẻ sơ sinh bao gồm viêm phổi, viêm ruột, viêm màng não, vàng
da, nằm dưỡng nhi kéo dài do thiếu tháng, nhiễm trùng huyết (3) tim bẩm sinh (1) ung thư máu (1)
BHGĐ – N=609 (%)
BHGĐ + N=778 (%)
Trang 34BHGĐ + N=778 (%)
Trang 353.6
Nguy cơ trầm cảm -
Nguy cơ trầm cảm +
BHGĐ + N=778 (%)
Trang 37* Trong 3 trường hợp có thai sau điều trị hiếm muộn, 2 người bị BH trong năm qua
cảnh sinh sống, trình độ học vấn của chồng, của vợ, tiền sử phá thai, thai kỳ được mong muốn, số lần mang thai, số con hiện sống, biết có luật bạo lực gia đình và có người tâm
sự được khi khó khăn Không có sự khác biệt có ý nghĩa trong sự phân bổ của BHGĐ và vùng cư ngụ.Khi xem xét riêng lẻ tỉ suất chênh của từng yếu tố so với BHGĐ trong năm
Bảng 14 Các yếu tố có tương quan đa biến với BHGĐ trước sinh
Khi xét tương quan đa biến chung giữa các yếu tố và BHGĐ, trầm cảm vẫn có tương
tương quan khá cao
Thai kỳ được mong muốn và biết có luật BLGĐ làm giảm nguy cơ bị BH 40 – 50% Tiền
sử phá thaivẫn còn khuynh hướng tăng nguy cơ mặc dù không có ý nghĩa Nghề nghiệp
nghĩa