PHẦN MỞ ĐẦU - Tên đề tài: “Đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện”.. - Mục tiêu: Xác định chỉ
Trang 1Phụ bìa
Mục lục
Danh sách các chữ viết tắt
Danh sách bảng
Danh sách biểu đồ và hình vẽ
1.1.3 Đặc tính năng lượng học của xe đạp thể thao 12 1.1.4 Đặc điểm sinh lý và quá trình cung cấp năng lượng cho VĐV
1.2 Trình độ tập luyện của các vận động viên xe đạp đường trường 17
1.2.1 Khái niệm và các quan điểm đánh giá trình độ tập luyện 17 1.2.2 Các yếu tố xác định trình độ tập luyện của VĐV XĐĐT 20
1.3 Đặc điểm sinh lý phụ nữ tham gia tập luyện TDTT 22
1.4 Tổng hợp các công trình nghiên cứu liên quan đến đánh giá
trình độ tập luyện của VĐV XĐĐT trong và ngoài nước 27 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 37
Trang 22.1.4 Phương pháp nhân trắc học 47
2.1.6 Phương pháp kiểm tra chức năng thần kinh – tâm lý 51
3.1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá TĐTL đánh giá TĐTL VĐV
nữ 16 – 17 tuổi môn XĐĐT tại TP Hồ Chí Minh 60
3.1.1 Hệ thống hóa các nội dung đã được sử dụng để đánh giá trình
độ tập luyện của vận động viên xe đạp thể thao 60
3.1.3 Kiểm nghiệm độ tin cậy và tính thông báo các chỉ tiêu 64
3.2 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá TĐTL VĐV nữ 16 –
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn phân loại và thang điểm đánh giá TĐTL
3.2.2 Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đánh giá
TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi với thành tích thi đấu 80 3.2.3 Kiểm nghiệm tiêu chuẩn phân loại và thang điểm đánh giá
TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi theo từng nội dung 85 3.2.4 Hướng dẫn cách sử dụng tiêu chuẩn đánh giá TĐTL của nữ
3.3 đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi
môn xe đạp đường trường của TP HCM sau 1 năm tập luyện 88
Trang 3– 17 tuổi môn xe đạp đường trường của TP Hồ Chí Minh sau 1 năm
PHỤ LỤC
Trang 4SỐ TÊN BẢNG SỐ LIỆU TRANG
3.1 Tổng hợp các chỉ tiêu kiểm tra, đánh giá và tuyển chọn VĐV XĐTT của các tác giả trong và ngoài nước trang 60 Sau 3.2 So sánh kết quả hai lần phỏng vấn các chỉ tiêu đánh giá TĐTL các nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi tại Tp Hồ Chí Minh trang 63 Sau 3.3 Hệ số tin cậy các chỉ tiêu đánh giá TĐTL các nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi tại Tp Hồ Chí Minh 65 3.4 Hệ số tương quan thứ bật giữa các chỉ tiêu đánh giá TĐTL các nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi với thứ hạng thi đấu trang 66 Sau 3.5 Hệ số tương quan thứ bật giữa các chỉ tiêu trong test đạp xe 20 phút với thứ hạng thi đấu 67 3.6 Kiểm định tính chuẩn tập hợp số liệu từng chỉ tiêu đánh giá TĐTL nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 ở TP Hồ Chí Minh 79 3.7 Thang điểm đánh giá TĐTL các nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi theo từng nội dung ở lần kiểm tra ban đầu trang 79 Sau 3.8 Bảng điểm phân loại TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi 80 3.9 Mối tương quan giữa các chỉ tiêu đánh giá TĐTL các nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi tại Tp Hồ Chí Minh trang 81 Sau 3.10 Hệ số tương quan giữa các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi với nhau và với thành tích thi đấu 82 3.11 Tỷ trọng ảnh hưởng (β) các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi với thành tích thi đấu 83 3.12 Bảng điểm tổng hợp phân loại TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi theo tỷ trọng ảnh hưởng 84 3.13 Điểm phân loại TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 tham gia giải năng khiếu toàn thành năm 2011 (n = 8) 85 3.14 Tổng hợp thành tích các chỉ tiêu đánh giá TĐTL VĐV XĐĐT nữ 16 – 17 tuổi tại Tp Hồ Chí Minh 88 3.15 Điểm phân loại TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 giai đoạn ban đầu 89 3.16
So sánh thành tích các chỉ tiêu thể lực của nữ VĐV XĐĐT 16 –
17 tuổi tại TP.HCM với tiêu chuẩn đánh giá VĐV XĐĐT trẻ
Trang 53.18 tuổi 16 – 17 khi thực hiện test đạp xe 20 phút trang 94 3.19 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau 1 năm tập luyện 98 3.20 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu ưa khí đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau một năm tập luyện 102 3.21 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu yếm khí đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau một năm tập luyện 106
3.22 Tổng hợp diễn biến các chỉ số sinh lý của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 khi thực hiện test đạp xe 20 phút sau một năm tập
luyện
Sau trang109 3.23 Điểm phân loại TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau 1 năm tập luyện 114
Trang 61.1 Quỹ đạo chuyển động của một điểm trên bánh xe 7 1.2 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của công suất đạp xe vào tốc độ quay của pedal 13 1.3 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của công suất đạp xe vào chiều dài giò đạp 14 1.4 Đồ thị mô tả sự thay đổi công suất trong các pha đạp xe 15 1.5 Sự thay đổi thế năng trọng trường khi leo dốc 16 2.1 VĐV kiểm tra khả năng hoạt động thể lực tối đa trên xe đạp lực kế 41 2.2 VĐV thực hiện test Wingate trên xe đạp lực kế 45
3.2 Trục và hướng quay các đoạn của chân khi nhấn pêđan 70 3.3 Hệ thống đòn bẩy tạo lực khi đạp xe [43, tr41] 100
DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
3.4 Tỷ lệ % mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi với thành tích thi đấu 83 3.5 Diễn biến thể tích khí O17 tuổi khi thực hiện test đạp xe 20 phút 2 và khí CO2 của nữ VĐV XĐĐT 16 – 94 3.6 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu thể lực đánh giá TĐTL của nữ VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau 1 năm tập luyện 99 3.7 Sự tăng trưởng các chỉ tiêu đánh giá chức năng sinh lý của nam VĐV XĐĐT lứa tuổi 16 – 17 sau một năm tập luyện 107 3.8 Diễn biến thể tích khí O17 tuổi khi thực hiện test đạp xe 20 phút sau một năm tập luyện 2 và khí CO2 của nữ VĐV XĐĐT 16 – 109
Trang 7CNSL Chức năng sinh lý
Trang 8
CO2 Khí cacbonic
RPP Công suất yếm khí tương đối alactat (w/kg)
ACP Công suất yếm khí tương đối lactat (w/kg)
VCO2max Thể tích khí cacbonic thở ra tối đa (ml/ph)
VO2/HR (O2 pulse) Chỉ số oxy/ mạch đập (ml/lđ)
VO2max Thể tích hấp thụ oxy tối đa (ml/ph)
VO2max/kg Thể tích hấp thụ oxy trên trọng lượng cơ thể (ml/ph/kg)
%VO2max@LT Tỷ lệ oxy hấp thụ ở thời điểm xuất hiện ngưỡng
yếm khí so với VO2max (%)
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
- Tên đề tài: “Đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17
tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm
tập luyện”
- Họ và tên chủ nhiệm: PGS.TS HUỲNH TRỌNG KHẢI
- Cơ quan chủ trì: Trường ĐHSP Thể dục thể thao TP.Hồ Chí Minh
- Thời gian thực hiện: 24 tháng (từ 12/2009 đến 12/2011) theo hợp
đồng số: 41 /HĐ – SKHCN ký ngày 08/12/2009
- Mục tiêu: Xác định chỉ tiêu, xây dựng tiêu chuẩn và ứng dụng
đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp
đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh
- Nội dung:
1 Xác định các chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ
16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh
2 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh
3 Đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh sau 1 năm tập luyện
Ngày nay, quá trình huấn luyện và đào tạo vận động viên được xem như một quá trình điều khiển Quá trình điều khiển không thể thành công nếu không có những thông tin “ngược” phản ánh hiệu quả điều khiển Hiện nay xe đạp đường trường Việt Nam đang đứng trước một thực tế là
Trang 10thiếu sự chuẩn hóa trong quy trình huấn luyện vận động viên Không thể có một quy trình chuẩn nếu không có một hệ thống đánh giá chuẩn
Mặt khác nhờ có những thông tin chính xác về trình độ tập luyện của vận động viên nguời huấn luyện viên mới điều chỉnh kế hoạch huấn luyện, điều chỉnh lượng vận động một cách hợp lý, mới có thể đưa ra những dự báo đáng tin cậy về tiềm năng và khả năng phát triển của các vận động viên do mình huấn luyện Điều đó làm cho quá trình huấn luyện đạt hiệu quả cao hơn
Trong thể thao hiện đại, việc đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên có một vị trí vô cùng quan trọng trong quy trình huấn luyện nhiều năm Đối với vận động viên trẻ, việc đánh giá trình độ tập luyện trong giai đoạn này mang ý nghĩa dự báo khả năng tiềm tàng của họ, để từ đó xác định
nội dung thi đấu chuyên môn hóa của từng vận động viên
Đánh giá trình độ tập luyện của vận động viên ở nhiều môn thể thao khác nhau đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu như: Novicov A.D – Mátveev, Aulic I.V, I.V Xmirơnốp, Harre.D, Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn, Trịnh Trung Hiếu, Nguyễn Sĩ Hà, Lê Nguyệt Nga, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Kim Minh, Trần Quốc Tuấn, Bùi Huy Quang, Nguyễn Tiên Tiến, Chung Tấn Phong, Nguyễn Kim Xuân, Nguyễn Kim Lan.v.v Đánh giá trình độ tập luyện ở môn xe đạp thể thao ở nước ta hiện nay chỉ có luận án của Nguyễn Quang Vinh (2009) với đề tài “Xác định nội dung và tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện của nam VĐV xe đạp đường trường lứa tuổi 16 – 18 trong giai đoạn chuyên môn hóa” Mặc dù có ý nghĩa thực tiễn và được các nhà nghiên cứu, các huấn luyện viên
Trang 11quan tâm rất nhiều nhưng vấn đề đánh giá trình độ tập luyện của các vận động viên xe đạp đường trường ở tất cả các độ tuổi vẫn còn là đòi hỏi bức thiết của phong trào xe đạp Việt Nam
Ở Thành phố Hồ Chí Minh môn xe đạp thể thao phát triển mạnh, với nhiều đội đua mạnh và số lượng người tham gia tập luyện thường xuyên phát triển rộng khắp 16/24 quận huyện Ở các quận trọng điểm có hệ thống đào tạo năng khiếu trọng điểm quận/huyện, năng khiếu trọng điểm Thành phố, năng khiếu dự bị tập trung, đội tuyển trẻ cho tới đội tuyển Thành phố Thành tích của đội tuyển nữ Thành phố từ năm 2006 trở về trước luôn đứng đầu trên toàn quốc Sau thời kỳ đỉnh cao một số VĐV thôi không tham gia thi đấu nữa, do lực lượng VĐV trẻ không thể thay thế kịp thế hệ trước nên Thành phố Hồ Chí Minh đã đánh mất vị trí số một trên toàn quốc Để xe đạp thể thao Thành phố Hồ Chí Minh lấy lại vị trí đã mất thì việc đào tạo lực lượng vận động viên xe đạp thể thao trẻ kế cận có trình độ cao là việc làm quan trọng và cần thiết Từ đó chúng tôi nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh sau một năm tập luyện”
Đề tài nghiên cứu với mục tiêu nhằm xác định chỉ tiêu, xây dựng tiêu chuẩn và ứng dụng đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 –
17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh
Để thực hiện mục tiêu trên, chúng tôi giải quyết các nội dung sau:
Nội dung 1: Xác định các chỉ tiêu đánh giá trình độ tập luyện vận
động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của TP Hồ Chí Minh
Trang 12- Xác định các chỉ tiêu về hình thái
- Xác định các chỉ tiêu về thể lực
- Xác định các chỉ tiêu về tâm lý
- Xác định các chỉ tiêu về chức năng
- Xác định các chỉ tiêu về kỹ thuật
Nội dung 2: Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập
luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành
phố Hồ Chí Minh
- Xây dựng thang điểm (thang điểm C)
- Xây dựng tiêu chuẩn phân loại
- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp
Nội dung 3: Đánh giá trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của TP Hồ Chí Minh sau 1 năm tập luyện
- Đánh giá thực trạng trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của Thành phố Hồ Chí Minh
- Đánh giá sự phát triển trình độ tập luyện vận động viên nữ 16 – 17 tuổi môn xe đạp đường trường của TP Hồ Chí Minh sau 1 năm tập luyện
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 ĐẶC ĐIỂM MÔN XE ĐẠP THỂ THAO:
1.1.1 Đặc tính động học của xe đạp thể thao:
1.1.1.1 Chuyển động tịnh tiến của khối tâm xe đạp [55], [70], [71]
Khối tâm của một vật là điểm đặt của trọng lực tác dụng vào vật đó
Vị trí khối tâm của được xác định bằng công thức sau:
i
i i G
m
rmr
Ta có thể chia xe làm 3 phần: Bánh trước (khối lượng m1); bánh sau (khối lượng m2) và khung xe (khối lượng m3) Dựa vào cách phân chia này công thức khối tâm được viết lại như sau:
3 2
1
3 3 2
2 1
1 G
m m
m
r m r
m r
m
Từ đây ta có thể thấy rằng trọng tâm G của xe có vị trí không đổi và nằm trong mặt phẳng khung xe Sự chuyển động của xe đạp rất phức tạp và có thể được phân tích thành 3 dạng chuyển động: chuyển động tịnh tiến của khối tâm xe; chuyển động quay quanh một trục của bánh xe và chuyển động đạp xe Khi chuyển động tịnh tiến các bộ phận trên khung xe sẽ vạch
ra những quỹ đạo giống nhau Trong quá trình di chuyển khối tâm của xe chủ yếu chuyển động theo 2 quỹ đạo: quỹ đạo thẳng và quỹ đạo cong
1.1.1.2 Tốc độ góc của bánh xe – tần số đạp xe:
Chọn hệ quy chiếu có gốc tọa độ trên xe Chuyển động của một
Trang 14điểm trên bánh xe là chuyển động tròn (quỹ đạo của chuyển động là quỹ đạo tròn) Chuyển động của bánh xe là chuyển động của vật rắn quay quanh trục cố định Tốc độ góc là đại lượng đặc trưng cho việc bánh xe quay nhanh hay chậm Kí hiệu là và có đơn vị là rad/s Tốc độ góc là đạo hàm của góc quay và được xác định bằng công thức:
dt
d
[rad] là góc quay của bánh xe quanh trục
Khi bánh xe quay đều ta có tốc độ góc không đổi theo thời gian và được tính bằng thương số của góc quay và thời gian quay hết góc đó
t
Gia tốc góc là đại lượng đặc trưng cho sự biến thiên nhanh hay chậm của tốc độ góc kí hiệu là và có đơn vị là rad/s2 Gia tốc góc được tính bằng đạo hàm của tốc độ góc theo thời gian và bằng đạo hàm bậc hai của góc quay theo thời gian
dt
ddt
> 0 bánh xe quay nhanh dần
< 0 bánh xe quay chậm dần
= 0 bánh xe quay đều
Mối quan hệ giữa tốc độ góc và tốc độ chuyển động của trục bánh
xe (cũng chính là tốc độ của khối tâm) là
0
R
Trang 15R0 [m] là bán kính của bánh xe
Với cùng một tốc độ góc bánh xe có bán kính càng lớn sẽ có tốc độ khối tâm càng lớn Mặt khác :
f
f [Hz] là tần số quay của bánh xe cũng chính là tần số quay của líp Chọn hệ quy chiếu có gốc tọa độ trên mặt đất Chuyển động của một điểm trên bánh xe là tổng hợp của 2 dạng chuyển động Một là chuyển động tròn quanh trục và trục bánh xe chuyển động tịnh tiến Tốc độ của một điểm trên bánh xe đối với đường đua cần phải tổng hợp các vận tốc thành phần Do đó quỹ đạo của một điểm trên là dạng quỹ đạo cong phức tạp, chuyển động này có thể được mô tả như hình sau
Hình 1.1 Quỹ đạo chuyển động của một điểm trên bánh xe
1.1.1.3 Mối liên hệ giữa tần số đạp xe và tốc độ của xe
Gọi n1 là số răng của dĩa, n2 là số răng của líp Kích thước của răng dĩa và răng líp là bằng nhau Từ đây ta có thể nói rằng cứ một răng dĩa quay sẽ kéo một ăng líp quay Gọi hệ số k là tỉ số giữa số răng dĩa và răng
líp, k được tính bằng công thức:
2
1
n
n k
Do kích thước của các răng dĩa và răng líp là bằng nhau nên tỉ số răng cũng chính là tỉ số về chu vi của dĩa và líp
Trang 16R 2 L
L n
Với cùng một dĩa và hai líp khác nhau Líp càng nhỏ (số răng càng ít) thì tỉ số k sẽ lớn vì vậy số vòng líp quay được càng nhiều khi đó xe chạy nhanh hơn và đạp nặng hơn Líp càng lớn (số răng càng nhiều) thì tỉ số k sẽ nhỏ vì vậy số vòng líp quay được càng ít khi đó xe chạy chậm hơn và đạp nhẹ hơn.(Cơ sở toán học: hai phân số có cùng tử số thì mẫu số nào lớn hơn thì giá trị (trong đây là giá trị k) của phân số đó nhỏ hơn)
Với cùng một líp và hai dĩa khác nhau Dĩa càng nhỏ (số răng càng ít) thì tỉ số k sẽ nhỏ vì vậy số vòng líp quay được càng ít khi đó xe chạy chậm hơn và đạp nhẹ hơn Dĩa càng to (số răng càng nhiều) thì tỉ số k sẽ to
vì vậy số vòng líp quay được càng nhiều khi đó xe nhanh hơn và đạp nặng hơn.(Cơ sở toán học: hai phân số có cùng mẫu số thì tử số lớn hơn thì có giá trị (trong đây là giá trị k) lớn hơn)
Vậy tỉ số k nhỏ thì đạp chậm và nhẹ, tỉ số k to thì đạp nhanh và nặng Hay nói một cách dễ hiểu hơn rằng dĩa to và líp nhỏ thì đạp nặng và chạy nhanh, còn dĩa nhỏ và líp to thì đạp nhẹ và chậm
Ta sử dụng hệ số k vào việc thiết lập mối quan hệ tần số đạp xe và tốc độ xe Ở đây chúng ta xét chuyển động của xe là do vận động viên đạp
Trang 17mà không xét đến trường hợp chuyển động theo quán tính (xe đạp đang chuyển động và vận động viên dừng đạp xe vẫn chuyển động theo quán tính) Do một răng dĩa kéo một răng líp nên tốc độ dài của răng dĩa và răng líp bằng nhau Do đó tốc độ góc của dĩa và líp tỉ lệ nghịch với bán kính
k
1R
1 1
1
f1 [Hz] là tần số đạp xe
Tốc độ của khối tâm cũng chính là tốc độ dài của một điểm trên bánh xe và được xác định bằng công thức:
1 0 0
Đây chính là công thức xác định mối liên hệ tốc độ của xe đạp với tần số đạp xe
1.1.2 Đặc điểm động lực học trong xe đạp:
Trong khi đạp xe, phần thân trên gồm lưng, tay, ngực cơ bản ở trạng thái tĩnh, còn hai chân lại luôn luôn ở trạng thái vận động nên yêu cầu VĐV (vận động viên) phải giữ thăng bằng cũng như cảm giác không gian tốt Đặc biệt yêu cầu chức năng cao về tim mạch, hô hấp, năng lực trao đổi năng lượng ưa khí và yếm khí tốt Nổi bật là sức mạnh rất tốt của đôi chân
Từ những đặc điểm trên, trạng thái hoạt động của VĐV XĐTT so với các VĐV của các môn thể thao khác có những đặc điểm khác sau đây:
Trọng lượng VĐV đè nặng thẳng đứng trên xe đạp trong quá trình đua
Trang 18gây lực ma sát Nên trong quá trình thi đấu môn XĐTT VĐV phải chịu ngoại lực tác động Ngoại lực quan trọng nhất là lực ma sát sản sinh ra khi bánh xe tiếp xúc với đất, khi VĐV chuyển động Lực ma sát này tính theo công thức:
Fmasát = Kn x r / h
Kn : Là tổng trọng lượng của xe đạp và cân nặng của VĐV
r : Là bán kính của bánh xe đạp
h : Là cự ly giữa bánh xe trước thực tế tiếp xúc với mặt đất và điểm chống lý thuyết mặt đất với bánh xe
Ngoại lực quan trọng nữa là sức cản của gió, VĐV xe đạp trong quá trình thi đấu phải chịu lực cản của không khí, gió ngược
Theo tác giả Hill – nhà sinh học – vật lý người Anh thì công thức sức cản của gió như sau:
F = ½ P S Cd 2
V
Trong đó: F : Là sức cản của gió (Niutơn – N)
P : Là mật độ không khí (1,2 kg/ 3
gy )
S : Là tiết diện tiếp xúc thẳng góc vào vật thể ( 2
m )
Cd: Là hệ số lực cản nghịch gió, hệ số này phụ thuộc vào hình thái cơ thể
V : Là tốc độ chuyển động của VĐV (m/gy)
Theo các nhà sinh cơ học thì sức cản của gió của VĐVxe đạp được tính theo công thức:
F = 0.043 S V2
Trong đó 0.043 là giá trị gần đúng của ½ tích số P Cd
S : Là diện tích tiếp xúc chính diện đến cơ thể VĐV(m2)
V : Là tốc độ VĐV xe đạp (km/giờ)
Trang 19Chúng ta cũng cần lưu ý rằng xác định diện tích tiếp xúc chính diện của VĐV xe đạp tương đối khó khăn Bởi vì hình thể VĐV xe đạp khác nhau và ngồi đạp xe với tư thế khác nhau thì tiết diện tiếp xúc thẳng góc vào vật thể cũng thay đổi Theo nghiên cứu của một số tác giả thì khi VĐV đứng diện tích tiếp xúc trực diện của VĐV với không khí chiếm 30 – 36% diện tích toàn bộ cơ thể, lúc đi bộ chiếm 31%, lúc chạy chiếm 26 – 28%, lúc cưỡi xe đạp chiếm 21%, nếu cưỡi tư thế cao chiếm 24% Diện tích cơ thể phụ thuộc vào chiều cao và cân nặng của vận động viên
Theo các tác giả y học thì diện tích cơ thể được tính theo công thức:
S = 71,84 x W 0,432 x h 0,725
Trong đó: W là trọng lượng (Kg) và h : chiều cao (cm) [29, tr 7 – 9] Những cơ sở nguyên lý khí động học trên, VĐV xe đạp phải chịu lực cản không khí rất lớn khi phải tiến hành thi đấu ngược gió Để giảm sức cản này trong quá trình thi đấu phải tập luyện sức bền, sức mạnh và thực hiện các kỹ thuật động tác: đẩy ép vai về trước, nằm ngang lưng để giảm sức cản không khí và hai tay cùng nắm vào phần dưới của tay lái, giữ trọng tâm cân bằng và đồng thời VĐV phải quan sát kịp thời các tình huống thay đổi trong đường đua và suy nghĩ chiến thuật, phản ứng kịp thời [65, tr 141]
VĐV xe đạp khi hoạt động có trạng thái bị hạn chế về kích thước xe đạp, nên khả năng hoạt động hẹp, khu vực hoạt động đùi cố định, nhưng nhiệm vụ là phải cưỡi xe lao về trước Do vậy huấn luyện kỹ thuật chuyên môn phải tỉ mỉ và kiên trì tập luyện mỗi một mắt xích kỹ thuật và các yếu tố tạo thành chúng Ngoài ra trong khi thực hiện các kỹ thuật trên đường đua phải chú ý đến tính ổn định tư thế đạp xe, tính nhịp điệu của động tác
Trang 20đạp xe và tính hợp lý điều khiển tốc độ Những yếu tố này rất quan trọng trong quá trình huấn luyện cũng như thi đấu môn xe đạp thể thao
Môn XĐTT dùng sức người để điều khiển phương tiện, làm chuyển động lực, cho nên VĐV phải biết sử dụng hết các đặc điểm có lợi của chiếc xe để phát huy hết tiềm năng hoạt động của cơ thể Do vậy, sử dụng hợp lý chiếc xe đạp đua là vấn đề quan trọng của công tác huấn luyện và thi đấu môn xe đạp Ví dụ: sử dụng hợp lý sự chuyển động với độ dài khác nhau của giò đạp, bàn đạp [66, tr 903]
1.1.3 Đặc tính năng lượng học của xe đạp thể thao
1.1.3.1 Công đạp xe
Trong cơ học người ta định nghĩa công của một lực F là dụng lên một vật làm cho vật đó di chuyển một đoạn s được tính bằng công thức
cosFss
.F
là góc hợp bởi phương của lực và phương của quãng đường
Có một cách khác để định nghĩa công đó là dựa vào số đo độ biến thiên của động năng (năng lượng do chuyển động)
2 1 2
v m 2
1 A
A [J] là tổng công
m [kg] là khối lượng của vận động viên
v1 [kg] là tốc độ ban đầu v2 [kg] là tốc độ lúc sau
Nếu xe chạy đều ta có A 0 Nghĩa là công phát động của vận động viên bằng với công của lực cản (công phát động dương, công cản âm) Nếu muốn tăng tốc thì công phát động sẽ phải lớn hơn công cản và ngược lại
Trang 211.1.3.2 Công suất đạp xe
Công suất đạp xe của vận động viên chính là tốc độ sinh công của vận động viên Công suất là công sinh ra trong một đơn vị thời gian
t
A
P0 là công suất của vận động viên
A0 [J] là công vận động viên sinh ra
t [s] là thời gian sinh công
Đơn vị của công suất là W (Oát) hay mã lực (Hp) 1 Hp = 746 W Công suất trung bình của một vận động viên vào khoảng 250 W (khoảng 0,3 Hp) Một vận động viên chạy nước rút có thể đạt 3000 W (khoảng 2,5 Hp) [69] Công suất của vận động viên phụ thuộc vào tốc độ đạp pedal Hình 1.2 biểu diễn sự phụ thuộc của công suất vào tốc độ quay của pedal (trục hoành là tốc độ quay của pedal đơn vị radian trên phút, trục tung là công suất đơn vị là W) Công suất đạp xe đạt giá trị lớn nhất khi tốc độ gốc của pedal vào khoảng 120 rad/phút (khoảng 19 vòng/phút)
Hình 1.2 : Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của công suất đạp xe
vào tốc độ quay của pedal
Trang 22Ngoài ra công suất đạp xe còn phụ thuộc vào chiều dài của bàn đạp Hình 1.3 biểu diễn sự phụ thuộc của công suất và chiều dài của bàn đạp Sự chênh lệch giữa giá trị cực đại và giá trị cực tiểu khi chiều dài bàn đạp biến thiên từ 120 mm đến 220 mm là 3,9% Công suất đạt giá trị lớn nhất khi chiều dài giò đạp vào khoảng 145 mm [55]
Hình 1.3: Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của công suất đạp xe vào chiều
dài giò đạp
Công suất của Pedal bằng tổng công suất cơ bắp và công suất của các yếu tố khác Sự phụ thuộc của các dạng công suất vào vị trí của pedal được minh họa trong hình 1.4 [55] Từ đồ thị ta có nhận xét rằng công suất
cơ bắp sinh ra có lúc lớn lúc nhỏ nhưng luôn có giá trị dương Công suất của các yếu tố khác có giá trị âm khi góc của giò đạp từ 180o đến 360o (0okhi giò đạp thẳng đứng) Như vậy tổng công suất sẽ có giá trị âm trong khoảng từ 190o đến 360o Tương tự công suất cho giò đạp còn lại nhưng chú ý rằng giữa hai giò đạp có sự lệch pha 180o Khi đó công suất giò đạp bên trái dương thì bên phải âm và ngược lại Giá trị âm lớn nhất nhỏ hơn nhiều so với giá trị dương lớn nhất nên tổng công suất hai bên giò đạp là dương [55]
Trang 23Hình 1.4: Đồ thị mô tả sự thay đổi công suất trong các pha đạp xe
1.1.3.3 Cơ năng
Động năng của xe bao gồm động năng chuyển động tịnh tiến của
xe và chuyển động quay quanh trục của bánh xe và được xác định bằng công thức:
2 2
2 2
đ
R
vI2
1Mv2
1I
2
1Mv2
1E
M [kg] là khối lượng tổng cộng của xe đạp và vận động viên
I [kgm2] là momen quán tính của bánh xe
v [m/s] là tốc độ của xe
Khi xe chạy trên đường đua địa hình bằng phẳng thì động năng này bằng hiệu của công đạp xe và công của lực cản Nếu xe di chuyển trên địa hình đèo dốc thì cần phải tính đến sự thay đổi về thế năng trọng trường Ví dụ xe tăng độ cao một khoảng là hnhư hình vẽ 1.5 Lúc đó sự biến thiên thế năng trọng trường là:
h Mg
Công suất pedal Công suất cơ Công suất các yếu tố khác
Trang 24,
9
g (m/s2) là gia tốc trọng trường
Hình 1.5: Sự thay đổi thế năng trọng trường khi leo dốc
Từ trên ta rút ra nhận xét là nếu như hcàng lớn thì sự biến thiên thế năng càng lớn, công do vận động viên sinh ra sẽ bù vào sự biến thiên thế năng động năng có giá trị nhỏ
1.1.4 Đặc điểm sinh lý của VĐV XĐĐT
Đua XĐĐT là môn thể thao sức bền hoạt động trong thời gian dài, nên nhu cầu năng lượng cung cấp cho VĐV là rất lớn và liên quan mật thiết đến thành tích thi đấu của họ Để thực hiện chiến thuật có những đoạn VĐV cần phải bứt phá vượt đối thủ hoặc rút về đích, với cường độ vận động tối đa nên năng lượng cung cấp phải lớn và biến đổi tùy thuộc vào tốc độ trên đường đua Về các nguồn cung cấp năng lượng, có những đoạn chỉ cần sử dụng năng lượng ưa khí nhưng cũng có đoạn phải huy động năng lượng yếm khí để tăng cường cung cấp năng lượng cho những pha đua tốc độ
Theo nghiên cứu của các tác giả (J.F.Mayer – G Peres 1982) khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mối quan hệ giữa các cự ly thi đấu của một số môn đua xe đạp và tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng ưa khí và yếm
Trang 25khí thì sức bền của VĐV XĐĐT chủ yếu do hệ năng lượng oxy hóa (glucose và axít béo) cung cấp, chiếm tỷ lệ 95% [6, tr18] và nhận định này cũng trùng với TS Nguyễn Thế Truyền [36, tr 27 – 28] Tuy nhiên với những pha đua tốc độ năng lượng được cung cấp từ nguồn yếm khí là rất quan trọng Như vậy, đặc điểm riêng biệt của môn đua XĐĐT thì các nguồn năng lượng cung cấp chủ yếu cho VĐV trên đường đua biến đổi liên tục theo tốc độ của tay đua như: bắt đầu cuộc đua xuất phát để đạt tốc độ cao VĐV phải huy
động năng lượng từ nguồn yếm khí; tiếp theo là duy trì tốc độ VĐV được cung cấp năng lượng từ nguồn ưa khí; trong quá trình đua có những đoạn
phải tấn công, bức phá hoặc đi qua những khu vực có địa hình đồi, dốc hoặc
leo núi cơ thể VĐV cần phải tăng cường thêm năng lượng từ nguồn yếm khí;
và cuối cùng là rút về đích với cường độ vận động lớn nên cơ thể VĐV
phải tăng cường nguồn năng lượng yếm khí để đạt tốc độ cao nhất
Có thể diễn tả quá trình cung cấp năng lượng cho VĐV trong môn đua XĐĐT như sau:
YẾM KHÍ – ƯA KHÍ – YẾM KHÍ – ƯA KHÍ YẾM KHÍ 1.2 TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG
1.2.1 Khái niệm và các quan điểm đánh giá trình độ tập luyện:
TĐTL là một trạng thái động luôn luôn phát triển tuân theo các quy luật phát triển của TTTT Với tầm quan trọng trên, vậy TĐTL là gì? Khái niệm này được các tác giả trong và ngoài nước hiểu theo những góc độ khác nhau như Aulic I.V [1], Xmirơnốp [42], Dietric Harre [13], Nguyễn Ngọc Cừ [8], Trịnh Trung Hiếu và Nguyễn Sĩ Hà [16], Lưu Quang Hiệp
Trang 26[14], Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn [33], Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Kim Minh và Trần Quốc Tuấn [35], Nguyễn Quang Vinh, từ điển TDTT Trung Quốc xuất bản năm 1991, Nguyễn Kim Lan (thể dục nghệ thuật), Nguyễn Kim Xuân (thể dục dụng cụ), Nguyễn Danh Thái và Nguyễn Tiên Tiến (bóng bàn), Dương Nghiệp Chí và cộng sự (bóng đá), Lê Nguyệt Nga (bóng rổ), Chung Tấn Phong (bơi lội) …[41]
Qua các khái niệm trên thì quá trình biến đổi lâu dài của TĐTL luôn luôn gắn liền với phạm trù “phát triển” và “thích nghi” Phát triển là một quá trình những biến đổi trạng thái của tất cả các thành tố tạo nên thực thể trong tự nhiên và xã hội, diễn ra theo quy luật nhất định Sự biến đổi các thực thể đó có mối quan hệ tương hỗ về lượng và chất, tính ngẫu nhiên, tính đa dạng của những biến đổi đó theo xu hướng chung và tồn tại lâu dài Sự phát triển TĐTL nhờ tác dụng lâu dài của LVĐ tạo nên những biến đổi về chức năng và cấu trúc trong cơ quan và các hệ thống cơ thể
Thích nghi – thích ứng “thích ứng là sự biến đổi của các hệ thống chức năng tâm lý và sinh lý trên một trình độ cao hơn, sự thích nghi với các điều kiện chuyên môn bên ngoài Sự thích nghi về sinh lý và tâm lý luôn được coi là một quá trình thống nhất” [13, tr 121]
Quá trình phát sinh giai đoạn thích nghi cũng gần giống như sự phát triển TĐTL song giữa TĐTL và giai đoạn thích nghi cũng có sự khác nhau TĐTL có trạng thái động, nó tạo cơ sở để phát triển không ngừng các TTTT, trong khi đó giai đoạn thích nghi đánh dấu những kết quả đã đạt được của khả năng thích nghi của cơ thể ở mức độ ổn định cụ thể nào đó và giai đoạn này chỉ nói lên khả năng có thể nâng cao LVĐ lên nữa – Visu.A.A (1980)
Trang 27Nếu xem xét những luận điểm cơ bản về lý thuyết phát triển trên cơ sở lý thuyết thích nghi chúng ta nhận thấy rằng sự phát triển TĐTL thực chất là chu kỳ của những phản ứng thích nghi Như vậy, quá trình thích nghi là một trong những mặt quan trọng của quá trình phát triển TĐTL lâu dài [35, tr 9]
Trong mỗi chu kỳ phát triển TĐTL có một giai đoạn thích ứng lâu dài với những biến đổi hình thái, chức năng tương ứng trong các cơ quan và hệ thống cơ thể Những biến đổi về cấu trúc chịu sự tác động nhiều lần không thể diễn ra tức thời mà đòi hỏi một thời gian nhất định
Sự biến đổi của TĐTL theo thời gian không diễn ra theo một lộ trình tuyến tính, ngay cả khi nâng LVĐ tập luyện một cách hệ thống, mà diễn ra có tính chất giai đoạn và thang bậc khác nhau Bởi vậy trong lý luận cũng như trong thực tiễn phải có những thông tin đầy đủ kịp thời về sự biến động diễn
ra trong quá trình tập luyện lâu dài của các biến đổi về chức năng, hình thái và sinh hoá trong các cơ quan và hệ thống khác nhau của cơ thể [35, tr 13]
Từ các quan điểm nêu trên, TĐTL của VĐV được các nhà khoa học nhìn nhận qua những luận điểm chính sau đây:
TĐTL là một trạng thái động luôn luôn phát triển tuân theo các quy luật phát triển của TTTT tuỳ thuộc vào đặc điểm giới tính, độ tuổi và môn thể thao chuyên sâu
TTTT là thành tố cơ bản, quan trọng nhất phản ánh TĐTL
TĐTL bao gồm nhiều mặt, nhiều thành phần như: y sinh, tâm lý, trí tuệ, sư phạm, kỹ thuật, chiến thuật, thể lực, thi đấu Trong đó chức năng sinh học là nền tảng của TĐTL
Trang 28TĐTL được nâng cao thông qua con đường tập luyện thể thao
Tóm lại, TĐTL được các nhà khoa học nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, nó tuỳ thuộc vào môn thể thao chuyên môn Tuy nhiên họ cũng thống nhất ở các yếu tố chung nhất của TĐTL là: sư phạm, sinh học và tâm lý Trong đó, yếu tố sư phạm là trình độ kỹ thuật, chiến thuật và thể lực (chung và chuyên môn); yếu tố sinh học là những thay đổi về cấu trúc và chức năng của các cơ quan và hệ thống của cơ thể; còn yếu tố tâm lý là các trạng thái tâm lý, phẩm chất tâm lý, trí tuệ, năng lực chú ý và sự nổ lực ý chí của con người v.v
Căn cứ vào tính chất đặc trưng của môn XĐĐT, mục đích và nhiệm vụ huấn luyện cho VĐV XĐĐT 16 – 17 tuổi Tôi cho rằng TĐTL của VĐV
XĐĐT 16 – 17 tuổi là tổng hòa các yếu tố y – sinh học, thể lực, kỹ thuật,
chiến thuật, tâm lý của VĐV XĐĐT thích nghi ngày càng cao với quá trình tập luyện và thi đấu được phản ánh cụ thể thông qua sự phát triển của TTTT
1.2.2 Các yếu tố xác định trình độ tập luyện của VĐV XĐĐT:
Theo Biriuc E.B và Bơlacova A.T xác định TĐTL là việc sử dụng các phương tiện và phương pháp đo lường thích hợp để thu thập thông tin về TĐTL của VĐV trong một giai đoạn nhất định của quá trình huấn luyện dài hạn [10, tr 32]
Theo nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về đánh giá TĐTL cho các VĐV [35], [36], [34], tuy ở các môn thể thao khác nhau nhưng họ đều thống nhất với nhau về những nội dung cơ bản đánh giá TĐTL gồm các yếu tố về chức năng và các yếu tố về năng lực thể thao
Trang 29D Harre, Diên Phong và Phạm Danh Tốn đều có cùng quan điểm năng lực thể thao bao gồm một tập hợp các tiền đề của VĐV để đạt được TTTT và TTTT của VĐV do năng lực thể thao quyết định Các yếu tố năng lực thể thao là một cấu trúc tổng hợp gồm: năng lực về hình thái, chức năng, kỹ chiến thuật, trí tuệ và năng lực tâm lý [23, Tr 101] [33, tr 59] [34, tr 26] TĐTL của VĐV thể hiện ở sự nâng cao năng lực thể thao nhờ ảnh hưởng của LVĐ tập luyện, LVĐ thi đấu và các biện pháp bổ trợ khác [13, tr 101]
Khi đánh giá TĐTL của VĐV trong huấn luyện, chúng ta nhất định phải định lượng được những thành tố tiềm năng bên trong cơ thể, đó là chỉ tiêu y – sinh gồm hình thái, sinh lý, sinh hóa, sinh cơ đồng thời xác định những thành tố biểu hiện bên ngoài gồm các chỉ số sư phạm về thể lực chung, thể lực chuyên môn, kỹ – chiến thuật và những phẩm chất tâm lý của từng VĐV vào những thời điểm sung mãn nhất tức là trước các cuộc thi đấu quan trọng
Theo các tác giả người Pháp và Nga trong quyển sách “Xe đạp thể thao” và BS Bùi Văn Đức thì các yếu tố xác định TĐTL của VĐV XĐTTlà: hình thái cơ thể, tố chất thể lực, kỹ chiến thuật, tâm lý và khả năng về năng lượng sinh học trong cơ thể, cũng như các khả năng hồi phục và dinh dưỡng cho VĐV [12], [5] Do XĐTT là môn lấy thể lực làm chính, nên việc phát triển các tố chất thể lực và các cơ quan chức năng của cơ thể đóng vai trò vô cùng quan trọng
Thực tế huấn luyện, TĐTL là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất các hệ thống chức năng của cơ thể tham gia vào quá trình giải
Trang 30quyết các nhiệm vụ vận động phức tạp Do đó việc đánh giá TĐTL cho VĐV XĐĐT trên yếu tố thể lực và chức năng cơ thể là chính, nhưng cũng phải dựa trên nguyên tắt toàn diện Từ các quan điểm trên ta thấy, TĐTL của VĐV XĐĐT được xác định qua các yếu tố cơ bản đặc trưng sau: hình thái, kỹ chiến thuật, thể lực, tâm – sinh lý Trong đó các yếu tố về thể lực dưới sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng của cơ thể đóng vai trò then chốt
1.3 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ PHỤ NỮ THAM GIA TẬP LUYỆN TDTT:
Tình trạng sức khỏe, cũng như khả năng đề kháng, thích ứng với hoàn cảnh môi trường, trạng thái tâm thần, tuổi thọ … của con người đều phải tuân theo những quy luật sinh học và chịu sự tác động của nhiều nhân tố Trong đó, việc tập luyện TDTT là một trong những nhân tố tích cực và có hiệu quả rõ rệt Tập luyện TDTT thường xuyên và hệ thống là phương tiện có hiệu quả để tăng cường sức khỏe, giúp cho cơ thể phát triển một cách cân đối, hài hòa, chuẩn bị cho các chức năng làm mẹ, nuôi dạy trẻ, đồng thời là phương tiện nâng cao năng suất lao động Phụ nữ đến với thể thao từ thời cổ Hy Lạp , tuy nhiên một thời gian không được khuyến khích và thừa nhận “Đến năm 1928 tại Amsterđam lần đầu tiên phụ nữ được tham gia thi điền kinh tại Đại hội Olympic” Những nguyên lý chung trong huấn luyện TDTT nói chung, bộ môn điền kinh nói riêng cho phụ nữ cũng giống như nam song cần phải chú ý đến trạng thái tâm lý và sinh lý
1.3.1 Về mặt tâm lý: Phải thống nhất giữa công việc chung, gia đình
với tập luyện Phụ nữ thường hay xúc động, giàu tình cảm, hay suy nghĩ, dễ mất bình tĩnh, các tác động này ảnh hưởng rất mạnh cần phải sử dụng nghệ thuật cư xử trong huấn luyện, nhất là khi nhận xét, đánh giá
Trang 311.3.2 Về mặt sinh lý: Cơ chế thích nghi của cơ thể với vận động của
phụ nữ, về nguyên tắc như nam giới, không có khác biệt đáng kể Tuy nhiên, về mặt hình thái và chức năng, cơ thể phụ nữ có một số đặc điểm riêng mà một trong những đặc điểm quan trọng nhất là chức năng làm mẹ
- Việc tập luyện TDTT ảnh hưởng tốt đến toàn bộ trạng thái chức năng của cơ thể phụ nữ, giúp họ mang thai và sinh con thuận lợi hơn Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định rằng: Những phụ nữ tập luyện TDTT có hệ thống thì con của họ có chiều cao và trọng lượng cơ thể trên mức trung bình và đặc biệt là những đứa trẻ ấy thích nghi tốt hơn với những điều kiện không thuận lợi của môi trường bên ngoài, nhất là các bệnh truyền nhiễm
- Điều thú vị là khi so sánh sự khác nhau giữa đàn ông và đàn bà, khoa học ngày nay đã đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy đàn ông có cấu tạo về mặt vật lý, sinh lý, tâm lý, trên nhiều mặt yếu hơn hẳn so với phụ nữ Người đàn ông chỉ hơn phụ nữ ở chiều cao, sức mạnh cơ bắp và sức đề kháng chống mắc bệnh của cơ thể còn thì họ thua tất cả
- Mạch máu của người phụ nữ mềm mại, dẻo dai hơn và do đó có khả năng kéo dài tuổi thọ hơn nam giới (trung bình 3 đến 5 năm) Cơ thể phụ nữ so với nam giới có những đặc điểm riêng về hình thái chức năng Khi so sánh các chỉ tiêu về hình thái thấy ngay sự khác biệt rõ nét nhất giữa nam và nữ là chiều cao và cân nặng Trung bình chiều cao đứng của phụ nữ thấp hơn nam giới khoảng 10 - 12cm, trọng lượng cơ thể nhẹ hơn từ
10 - 12kg, chu vi lồng ngực nhỏ hơn từ 10 - 11cm, dung tích sống từ 1400 - 1600ml, lực đẩy từ 15 -20kg, lực nâng từ 70 - 100kg, còn vòng đùi và vòng
Trang 32hông tương đối lớn hơn, lớp mỡ dày hơn so với nam giới từ 2,5 - 5mm Tổ chức cơ ở phụ nữ chiếm từ 30 - 32% trọng lượng cơ thể, trong khi đó cơ ở đàn ông là 40% hoặc cao hơn
- Tổ chức mỡ của phụ nữ nhiều hơn 10% so với nam giới Ở phụ nữ mỡ thường tập trung ở quanh bụng, ngực và mông, còn nam thì mỡ tập trung ở vùng dưới bụng Do vậy khả năng làm việc và duy trì cơ thể trong lượng vận động lớn ở phụ nữ kém phát triển hơn so với nam giới, cho nên dễ dẫn đến sự mệt mỏi Bộ xương của phụ nữ kém phát triển hơn so với nam giới, một số xương nhỏ hơn, thành xương mảnh hơn và bề mặt tương đối nhẵn Với cấu tạo xương như vậy làm cho khả năng chịu đựng trọng tải lớn ở phụ nữ rất kém Mức độ phát triển cơ thể và hệ thống dây chằng bị hạn chế, do vậy phụ nữ dễ bị chấn thương khi mang vác hoặc hoạt động mạnh Sự mệt mỏi nhanh trong quá trình vận động của phụ nữ chứng tỏ khả năng thích nghi cơ thể kém
- Phụ nữ có cấu tạo cột sống khác so với nam, tỷ lệ các đốt sống cổ và ngực so với toàn bộ cột sống của cơ thể là ngắn, trong khi các đốt sống cổ và thắt lưng lại dài hơn, do đó cột sống của phụ nữ có tính linh hoạt hơn
so với nam giới Độ linh hoạt của cột sống còn được tăng cường thêm do dây chằng và đĩa sụn chêm ở cột sống của phụ nữ có độ đàn hồi tốt hơn
- Phụ nữ có tỷ lệ chiều dài thân mình so với chiều cao cơ thể nói chung lớn hơn nam giới, trong khi đó chiều dài của các chi ngắn hơn và kích thước xương chậu lại lớn hơn Đặc điểm này làm cho cơ thể phụ nữ thấp hơn so với nam giới và giúp cho cơ thể phụ nữ có ưu thế trong khi thực hiện những động tác thăng bằng có chi dưới làm trụ Nhưng cũng
Trang 33chính đặc điểm này làm hạn chế tốc độ chạy, độ cao bật nhảy của phụ nữ Sự phát triển cơ thể ở giai đoạn trưởng thành ở các em nữ nhanh hơn các
em nam kể cả về mặt tâm lý lẫn sinh lý theo lứa tuổi, nhất là ở giai đoạn từ 12 đến 18 tuổi
- Thể tích tim của nữ cũng nhỏ hơn nam, do đó lượng máu tống ra sau một lần co bóp ít hơn và tần số co bóp của tim nhanh hơn Cùng một lượng vận động thì mạch của phụ nữ nhanh hơn, sự tăng huyết áp động mạch tối
đa ít hơn và khả năng hồi phục chậm hơn so với nam giới Theo nghiên cứu của giáo sư Bueger (người Đức) sau khi nghiên cứu huyết áp của gần 13.000 người trong nhiều năm đã đi đến kết luận rằng: phụ nữ ở lứa tuổi thanh niên từ 16 - 18 tuổi có huyết áp thấp hơn nam giới Tới 40 tuổi thì sự khác biệt đó giảm đi nhưng từ 42 tuổi trở lên có sự gia tăng rất nhanh, hiện tượng này xuất hiện do sự thay đổi nội tiết (sự giảm sút các nội tiết tố nữ nhất là estrogen) trong cơ thể người phụ nữ, từ đó nảy sinh ra những trục trặc nhất là tuổi 45-50 Các hormone của nữ giới khiến các thành mạch máu giãn nở rất tốt giúp lượng máu lưu thông tăng lên rất nhiều khi người phụ nữ có thai Ngoài ra các hormone này còn kích thích sản sinh nhiều HLD cholesterol giúp cho các động mạch ở nữ giới ít bị tắc nghẽn bất ngờ như ở nam giới
- Tần số hô hấp ở phụ nữ cao hơn nam, từ 20 - 24 lần / phút, độ sâu hô hấp, thông khí phổi, dung tích sống thấp hơn so với nam giới Lượng huyết sắc tố (hemoglobin) trong máu ít hơn, nhưng tốc độ lắng máu cao hơn so với nam giới Dưới ảnh hưởng của sự luyện tập TDTT, tần số hô hấp của phụ nữ giảm từ 6-8 lần / phút, dung tích sống tăng từ 1 lít -1 lít 5, thậm chí ở một số nữ VĐV dung tích sống có thể đạt đến 5 lít
Trang 34- Ngoài ra cơ thể người phụ nữ còn có chức năng đặc biệt quan trọng là làm mẹ nên ở người phụ nữ có hiện tượng sinh lý đặc thù là kinh nguyệt Chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ là một quá trình sinh lý do những biến đổi trong hoạt động của các tuyến sinh dục gây ra Quá trình này lặp đi lặp lại theo chu kỳ thường từ 27 – 28 ngày, bắt đầu từ khi cơ thể phụ nữ trưởng thành về mặt sinh dục, vào khoảng từ 12 – 14 tuổi và kết thúc vào thời kỳ mãn kinh (sau 45-50 tuổi) Trong quá trình tập luyện TDTT cần đặc biệt lưu
ý đến những biến đổi sinh lý xảy ra trong cơ thể người phụ nữ liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt để điều chỉnh lượng vận động cho phù hợp
- Ở những phụ nữ tập luyện TDTT thường xuyên, các chức năng sinh lý của cơ thể thường ổn định, còn đối với phụ nữ ít hoặc không tham gia tập luyện TDTT, thường hay xuất hiện những bệnh lý ảnh hưởng đến sức khỏe, gây sự rối loạn của các chức năng trong cơ thể
Vì vậy trong quá trình xây dựng kế hoạch giảng dạy, huấn luyện cần chú ý đến những biến đổi trạng thái của người tập ở các giai đoạn khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt, trên cơ bản việc giảng dạy, huấn luyện cho nữ tương tự như đối với nam Tuy nhiên do các đặc điểm của cơ thể nên cần bổ sung vào nhiệm vụ ở thời kỳ chuẩn bị các bài tập phát triển, củng cố các nhóm cơ: bụng, đáy chậu, hông, lưng, thắt lưng, các dây chằng, giữ ổn định các cơ quan nội tạng, điều chỉnh độ cong cột sống, vị trí cơ quan sinh dục bên trong ở tư thế bình thường, đây là điều cần thiết cho việc mang thai và sinh nở dễ dàng
Các bài tập nên dùng khối lượng vận động nhỏ hơn nam, phải phù hợp với khả năng, chức năng và trình độ thể lực của người tập, các bài tập
Trang 35có số lần lập lại gần như nam nhưng tổng cự ly chạy trong buổi tập phải ít hơn, các bài tập nâng tạ, phát triển sức bền khối lượng phải nhỏ hơn, cần phải cẩn thận với các bài tập với cường độ tối đa khi chưa được chuẩn bị thể lực đầy đủ
Sức mạnh tuyệt đối ở nữ thua kém nhiều so với nam, để đạt được sức mạnh tuyệt đối cần thiết, phải thực hiện với các bài tập sức mạnh với khối lượng cực lớn như trọng vật thì nhẹ, huấn luyện sức mạnh phải có trong mọi thời kỳ huấn luyện và phải chú ý cùng phát triển sức mạnh nhanh (mạnh tốc độ), hiệu quả của huấn luyện sức mạnh tối ưu cho người tập chỉ có được nếu các buổi tập sau thực hiện khi thể lực của người tập được hồi phục đầy đủ
Khả năng phối hợp động tác của phụ nữ tốt nên nhanh chóng nắm được kỹ thuật động tác một cách trôi chảy và với biên độ khá lớn, nhưng để tiếp tục nâng cao và hoàn thiện kỹ thuật thì không đủ sức mạnh và nhanh, vì vậy trong quá trình giảng dạy, huấn luyện kỹ thuật cần phải tiến hành song song với việc phát triển thể lực chung và chuyên môn Độ khó, khối lượng của bài tập tăng dần theo thời gian, các bài tập theo nguyên tắc từ đơn giản đến phức tạp
1.4 TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐÁNH GIÁ TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN
XE ĐẠP ĐƯỜNG TRƯỜNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
Trong môn xe đạp thể thao, hiện nay trên thế giới việc kiểm tra đánh giá TĐTL, tuyển chọn và huấn luyện không nằm ngoài xu hướng chung của các môn thể thao khác Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước
Trang 36nghiên cứu các vấn đề liên quan đến môn XĐTT ơ ûcác khía cạnh khác nhau như: Nghiên cứu về lý luận cơ bản môn XĐTT có nhóm tác giả Nga và Pháp cùng hợp tác [45], nhóm tác giả Australia [49], Arnie Baker, M.D [48], Edmund R Burke, PhD [50], Edmund R Burke, PhD / Mary M.Newsom, MLS [51], Endra Wenzel – René Wenzel [52], Irvin E.Faria, Ed.D [53], John Forester [56], Stacy Dawn Lancaster [57], Raymond D Ignosh, Jr [59], Nguyễn Ngọc Cừ [8], Phan Hồng Minh [20], Võ Hoàng Phong [24], Trịnh Hùng Thanh [29], Huỳnh Trọng Khải [18], Nguyễn Quang Vinh [41],
Để đánh giá TĐTL của VĐV XĐĐT một cách chính xác, khoa học thì phải xây dựng được một hệ thống các chỉ số đánh giá khoa học, phù hợp với lứa tuổi và giới tính cũng như đặc điểm của môn XĐĐT Để làm được việc trên thì việc tổng hợp các chỉ số đánh giá TĐTL môn XĐĐT của các tác giả trong và ngoài nước vô cùng quan trọng Xác định được hệ thống các chỉ tiêu đánh giá TĐTL cho VĐV XĐĐT sẽ góp phần giải quyết nội dung nghiên cứu của đề tài
Tổng hợp các chỉ số đánh giá TĐTL của các VĐV XĐTT trong và ngoài nước ta thấy:
Ở Australia [49, tr 130 - 132], khi đánh giá VĐV thành tích cao môn XĐĐT, lòng chảo và leo núi các chuyên gia đánh giá theo các chỉ số về hình thái, thể lực và y sinh học như sau:
Về hình thái:
3 Tỷ lệ mở của cơ thể (F%) 4 FSA (m2): diện tích bề mặt cơ thể
Trang 37Với: FSA (m 2 ) = 0.00215 x Wt BM (kg) + 0.18964 x Ht ccđ (m) – 0.07961 Trong đó: Wt: Trọng lượng cơ thể (Kg)
Về các test thể lực:
2 Bật cao tại chỗ (cm) 5 Tần số đạp chân (vòng/phút)
3 Tốc độ đạp xe (km/giờ)
Về các chỉ số y học:
2 Nhịp tim (lần/phút) 8 Công sinh ra (W)
6 VO2 (ml.kg-1.phút-1) 12 Log VO2 (L/phút)
Trong quyển XĐTT [45] nhóm tác giả người Nga và Pháp đã đưa ra một số chỉ số kiểm tra và đánh giá VĐV XĐTT là:
Về thể lực:
Trang 38Nhóm tác giả đã đưa ra một số chỉ số thử nghiệm đánh giá trong thời
kỳ chuẩn bị chung và chuẩn bị chuyên môn là:
Chuẩn bị chung:
1 Bật cao tại chỗ (cm) 5 Nhảy 3 bước chân chụm (cm)
3 Nâng tạ thẳng tay (lần) 7 Đứng lên – ngồi xuống (l/p)
4 Leo dây 3m (giây) 8 Kéo tay xà đơn (lần)
Chuẩn bị chuyên môn:
1 100m xuất phát đẩy (giây) 4 200m xuất phát đẩy (giây)
2 500m xuất phát đẩy (giây) 5 750m DA xuất phát đứng (giây)
3 3km DA xuất phát đứng (giây) 6 Test 20 phút [42, tr 125, 126]
Về chức năng:
1 Khả năng hấp thụ oxy tối đa (VO2max)
2 VO2max/ cân nặng (ml/kg/ph)
3 Lượng lactate trong máu và cơ sau một bài tập có cường độ tối đa
Ở Trung Quốc [20], theo TS Phan Hồng Minh các trị số về hình thái, thể lực và chức năng đánh giá chức năng VĐV XĐTT là:
Về hình thái:
1 Chiều cao đứng (cm) 5 Cân nặng (kg)
2 Lượng mỡ cơ thể 6 Vòng ngực (cm)
3 Vòng cánh tay thuận (cm) 7 Vòng đùi (cm)
4 Trọng lượng cơ thể bỏ lượng mỡ
Về lực cơ:
1 Lực lưng (kg) 2 Lực bóp tay (kg)
Trang 39Về chức năng:
1 Dung tích sống (ml) 5 Tần số tim (lần/phút)
Theo Trịnh Phước Tiến (1998) các yếu tố đánh giá chiến thuật VĐV đua XĐĐT là: quan sát, núp gió, thời điểm tấn công hợp lý và rút về đích giành thắng lợi [66, tr 141 – 149]
Theo TS Nguyễn Ngọc Cừ [8, tr 21 – 22] các chỉ tiêu đánh giá TĐTL VĐV XĐTT là:
Về hình thái:
1 Chiều cao đứng (cm) 3 Chỉ số Quetelet
2 Vòng đùi (cm) 4 Tỷ lệ mở cơ thể (F%)
Về chức năng:
1 Dung tích sống (ml) 3 VO2max (l/ph)
2 VO2max/ cân nặng (ml/kg/ph) 4 Công suất anaerobic (W)
Về tâm lý:
Loại hình thần kinh
Tố chất vận động:
1 Bật xa tại chỗ (cm) 5 Bật cóc 20m (giây)
2 Hất tạ 4kg qua đầu ra sau (cm) 6 Gập gụng có tì chân (lần/phút)
3 Tần số đạp chân (lần/phút) 7 Đạp tốc độ 200m (giây)
4 Đạp nhanh 1.000m (giây) 8 Đạpđường trường 30km (phút)
Đánh giá của HLV:
Trang 40Về kỹ thuật và ý thức chiến thuật của vận động viên
Theo chương trình huấn luyện VĐV xe đạp chương trình thể thao quốc gia [43] thì tiêu chuẩn kiểm tra giai đoạn chuẩn bị chuyên môn gồm các chỉ số sau:
Về thể lực:
Thể lực chung:
1 Bật xa tại chỗ (cm) 2 Bật cao tại chỗ (cm)
3 Nằm sấp chống đẩy (lần)
Thể lực chuyên môn:
1 4 km cá nhân tính giờ (giây) 2 10 km cá nhân tính giờ (giây)
Về kỹ thuật:
1 Bài tập đi xe đạp giữa hai chậu
2 Bài tập đi xe đạp thành hình số 8 giao nhau
Theo Nguyễn Thế Truyền [36, tr 14] và Nguyễn Thị Tuyết [38, tr 17] một trong những yếu tố tâm lý đánh giá trình độ tập luyện VĐV XĐTT là loại hình thần kinh và thời gian phản xạ
Theo Omri Inbar [25], [57] đánh giá năng lực yếm khí VĐV đua xe đạp bằng Wingate test qua hai chỉ số công suất yếm khí alactac (RPP) và công suất yếm khí lactate (RMP)
Theo Huỳnh Trọng Khải và các cộng sự [18], các tác giả đã sử dụng các chỉ tiêu để tuyển chọn VĐV XĐĐT trẻ là:
Chỉ tiêu điều kiện:
Các chỉ tiêu về hình thái: F%, dài chân A/ chiều cao đứng x 100, dài
đùi/ dài cẳng chân A x 100, dài bàn chân/ dài cẳng chân A x 100