HCM theo Khu vực cư trú hiện nay trên địa bàn Bảng p1 Mức độ đồng ý các dấu hiệu thể hiện nếp sống của Bảng c3 Thái độ của người dân với những nhận định 98-99 Bảng c6 Các hành vi bản thâ
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM ỦY BAN NHÂN DÂN TP.HCM
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆTRƯỜNG CÁN BỘ
Trang 25 Cách thức chọn mẫu cho phiếu khảo sát 10
8 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài 14
2.4 Thực trạng hành vi thực hiện nếp sống thị dân ở Tp.HCM 100 2.5 Những yếu tố tác động đối với việc thực hiện nếp sống thị dân ở
2.6 Nguyên nhân thực trạng thực hiện nếp sống thị dân ở Tp.HCM 108
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng c1 Mức độ người dân TP HCM biết về chủ trương lấy
năm 2008, 2009, và 2010 là năm thực hiện nếp sống
Bảng c1-c15 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
Bảng c1-c16 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
Bảng c1-c19 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
TP HCM theo Trình độ học vấn cao nhất 84 Bảng c1-c20 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
TP HCM theo Tính chất nghề nghiệp 86 Bảng c1-c21 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
Thành phố Hồ Chí Minh theo Mức sống hiện nay 87 Bảng c1-c22 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
Bảng c1-c23 Mức độ biết về chủ trương năm 2008, 2009, và 2010
là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở TP
HCM theo đăng ký nhân khẩu hiện nay 90
Trang 5Bảng c1-c24 Mức độ biết về chủ trương lấy năm 2008, 2009, và
2010 là năm thực hiện nếp sống văn minh đô thị ở
TP HCM theo Khu vực cư trú hiện nay trên địa bàn
Bảng p1 Mức độ đồng ý các dấu hiệu thể hiện nếp sống của
Bảng c3 Thái độ của người dân với những nhận định 98-99 Bảng c6 Các hành vi bản thân đã thể hiện trong sinh hoạt
Bảng c7 Những hành vi hay thói quen chưa phù hợp với nếp
sống đô thị vẫn còn tồn tại một cách phổ biến ở
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến những thay đổi trong nhận thức, thái độ và hành vi của con người trong quá trình thích ứng với môi trường và hoàn cảnh Nhiều địa phương ở nhiều quốc gia khác nhau có tốc độ phát triển
và tăng trưởng chóng mặt, điều đó làm tăng thêm những mâu thuẫn xã hội khi cộng đồng không có sự chuẩn bị và sẵn sàng để hòa nhập và hình thành nếp sống mới phù hợp với môi trường và yêu cầu phát triển mới Nhiều thành phố lớn đã phải đối diện với sự khủng hoảng giá trị khi các cộng đồng dân cư, nhóm xã hội không tìm được sự đồng thuận trong cách thức thể hiện mình và bộc lộ giá trị của chính mình Những phân hoá xã hội ở các thành phố lớn đã gia tăng đáng kể trong những thập kỷ qua trong quá trình toàn cầu hoá Những diễn biến mới về phát triển kinh tế - xã hội, tăng trưởng dân số cũng như tốc độ đô thị hoá gần đây đã làm cho những bất bình đẳng ngày càng gia tăng, nhất là của các thành phố của các nước đang phát triển Bên cạnh những bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn ở rất nhiều nước đang phát triển, sự bất bình đẳng ngay trong nội bộ một đô thị cũng đang ngày càng trở thành mối quan tâm chủ yếu Việt Nam là một trong những nước có những đặc điểm như vậy Chính việc vận dụng một cách sáng tạo từ đường lối đổi mới của Đảng sau Đại hội VI tạo tiền đề cơ bản giải quyết cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng của đất nước, phát triển kinh tế và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu đã mang lại nhiều thuận lợi cho sự phát triển xã hội nói chung và phát triển đô thị nói riêng Hiện nay với tốc độ phát triển đô thị hiện tại, nếu không nhanh chóng xác định cách sống, khuôn mẫu giá trị một cách phù hợp để đáp ứng yêu cầu của xã hội mới thì sự phát triển chắc chắn sẽ gặp những trở ngại nhất định
Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị ngày 10 tháng 8 năm 2012 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố đến năm 2020 đã xác định “Thành phố
Trang 7Hồ Chí Minh là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan toả lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có vị trí chính trị quan trọng của cả nước Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, phấn đấu bền bỉ, năng động, sáng tạo, đoàn kết, có những đóng góp quan trọng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất
là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay” [Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, 2012: 3] Bộ chính trị cũng xác định phương hướng phát triển thành phố đến năm 2020, trong đó có đoạn “phát triển Thành phố nhanh và bền vững với chất lượng và tốc độ cao hơn mức bình quân chung của cả nước, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm an ninh, quốc phòng Xây dựng Thành phố
Hồ Chí Minh văn minh, hiện đại với vai trò đô thị đặc biệt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đóng góp ngày càng lớn với khu vực và
cả nước; từng bước trở thành trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học - công nghệ của đất nước và khu vực Đông Nam Á; góp phần tích cực đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị, 2012: 7] Thành phố Hồ Chí Minh là một đô thị đặc biệt, đang được xây dựng theo hướng văn minh hiện đại, tuy nhiên “nếp sống văn minh đô thị còn kém” Chủ trương của Đảng bộ Thành phố là: “Tập trung xây dựng môi trường văn hoá đô thị lành mạnh, văn minh, nếp sống thị dân, tôn trọng pháp luật, tác phong công nghiệp” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 58] Hoặc là: “Sử dụng các biện pháp tổng hợp với nhiều hình thức sinh động để giáo dục, thực hiện nếp sống thị dân” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 84] Hiện nay việc nhận thức về văn minh đô thị, nếp sống thị dân chưa được nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống thuộc
Trang 8tính, yêu cầu, đặc điểm nếp sống thị dân chưa được xác định để có cơ sở đánh giá; hệ thống giải pháp xây dựng chưa được đề xuất để thực hiện
Nếp sống thị dân Thành phố Hồ Chí Minh có một quá trình phát triển mang tính đặc thù, cần phải có sự nghiên cứu xác định có cơ sở khoa học để lãnh đạo, chính quyền Thành phố đề ra các chính sách phù hợp, các cơ sở đào tạo bồi dưỡng, các cơ quan thông tin, tuyên truyền vận dụng thực hiện chức năng của mình có hiệu quả
Vấn đề còn được đặt ra trong quá trình hội nhập, những nếp sống văn minh, phù hợp phải được nghiên cứu để giữ gìn, phát huy Đồng thời những nếp sống không phù hợp với xu hướng văn minh đô thị, có tính pha tạp không phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng Thành phố văn minh hiện đại cần phải phê phán, khắc phục
Nghiên cứu nếp sống thị dân và đề ra hệ thống giải pháp xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ hướng tới một nếp sống đô thị hiện đại mà còn có ý nghĩa tích cực tác động, ảnh hưởng đến sự chuyển biến trên nhiều lĩnh vực khác của Thành phố: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, an ninh quốc phòng-trật tự an toàn xã hội, ngoại giao,
Đặc biệt Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định lấy năm 2008 và tiếp tục năm 2009, 2010 là năm “ ăn minh
đô thị”, do đó việc nghiên cứu đề xuất các tiêu chí và biện pháp để xây dựng nếp sống thị dân trong điều kiện hiện nay là rất cần thiết và có tính cấp bách Những thập niên vừa qua, nước ta đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đó là một quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, quản lý kinh tế, quản lý xã hội từ thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện tiên tiến hiện đại dựa trên cơ sở phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao Sự biến đổi
đó hướng tới xây dựng đất nước ta thành một nước dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh Thành phố Hồ Chí Minh cũng không nằm
Trang 9ngoài quỹ đạo chung đó, phấn đấu để “xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành một thành phố xã hội chủ nghĩa văn minh hiện đại, đóng góp ngày càng lớn cho khu vực phía nam và cả nước, từng bước trở thành một trung tâm công nghiệp dịch vụ, khoa học công nghệ của khu vực Đông Nam Á xứng đáng với thành phố mang tên Bác Hồ” [Nguyễn Sỹ Nồng, Nghị quyết 20 Bộ Chính trị, 2008: 349-350]
Để thực hiện mục tiêu trên, nhân dân và Đảng bộ Thành phố phải làm nhiều việc, trên nhiều lĩnh vực trước hết là xây dựng và phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị,… tuy nhiên không thể không “Tập trung xây dựng môi trường văn hóa đô thị lành mạnh, văn minh, nếp sống thị dân, tôn trọng pháp luật tác phong công nghiệp” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 58] hoặc là “sử dụng các biện pháp tổng hợp với nhiều hình thức sinh động để giáo dục, thực hiện nếp sống thị dân” [Văn kiện Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ VIII, 2005: 84] Theo phương hướng đó những năm qua Thành phố đã chủ trương và tổ chức thực hiện các phong trào xây dựng nếp sống văn minh đô thị Các phong trào đó đã
có những kết quả bước đầu, đã rút được nhiều kinh nghiệm Tuy nhiên vấn đề còn ở phía trước, muốn tạo được “nếp sống văn minh thị dân” còn phải làm lâu dài, kiên trì Nhóm nghiên cứu đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh xin được đóng góp một phần nhỏ về lý luận, khảo sát đánh giá thực trạng và đề xuất một số nội dung, giải pháp xây dựng “Nếp sống thị dân”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu thực trạng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh, những nguyên nhân của thực trạng đó; đề xuất một hệ thống yêu cầu, một hệ thống giải pháp đồng hành với cơ quan lãnh đạo, quản lý, cơ quan chức năng góp phần củng cố nếp sống thị dân ở Thành phố trong quá trình thực hiện văn minh đô thị, xây dựng Thành phố văn minh hiện đại Kết quả nghiên cứu là
Trang 10cơ sở khoa học để các nhà ý xã hội đề xuất, lựa chọn, quyết định,…và thực thi các chủ trương, chính sách nhằm ổn định môi trường xã hội, góp phần vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội,…
3 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận vấn đề
3.1 Cơ sở phương pháp luận
3.1.1 Tiếp cận họat động – nhân cách
Tâm lý, ý thức được nảy sinh bởi hoạt động Hoạt động đưa vào tâm lý học như là một sự vận động Hoạt động là qui luật chung nhất của tâm lý học người Sự phát triển phức tạp và các chuyển hóa của hoạt động kéo theo sự phát triển phức tạp và chuyển hóa của tâm lý Phản ánh tâm lý không bao giờ tách rời hoạt động, hoạt động vừa tạo ra tâm lý vừa sử dụng phản ánh tâm lý làm khâu trung gian của hoạt động, tác động vào đối tượng
Nghiên cứu thế giới tâm lý đặc biệt chú ý đến sự vận động của hệ thống các quan hệ giữa các thành tố cấu trúc vĩ mô của hoạt động – một bên là điều kiện, mục đích, động cơ và bên kia tương ứng với thao tác, hành động và hoạt động
Ở cấp bậc hoạt động, con người thực hiện một hoạt động nghĩa là thực hiện các thao tác để làm một hành động nhằm đạt một mục đích cụ thể hoặc một động cơ Trong hành động và hoạt động của con người, bên cạnh mặt có
Trang 11ý nghĩa khách quan do xã hội qui định, bao giờ cũng có một ý nghĩa riêng đối với từng người Chủ thể của một hoạt động phải là một nhân cách
Nghiên cứu hành vi, nếp sống thị dân của con người không tách rời hoạt động của chính họ nghĩa là thông qua các hoạt động của đối tượng (học tập, lao động, vui chơi giải trí, ) các hành vi, nếp sống thị dân sẽ được xem xét, nghiên cứu một cách cụ thể Tổ chức các hoạt động và sinh hoạt thiết thực là một cách để con người bộc lộ hành vi và định hướng thay đổi hành vi Mặt khác, hành vi, nếp sống thị dân được hình thành, biểu lộ phát triển sẽ góp phần khẳng định nhân cách của họ, hành vi, nếp sống thị dân là một trong những yếu tố thể hiện nhân cách con người
3.1.2 Tiếp cận Tâm lý học xã hội
Một phần của Tâm lý học xã hội nghiên cứu các qui luật hành vi và họat động con người trong các nhóm xã hội cũng như đặc điểm của chính các nhóm xã hội đó Nghiên cứu hành vi, nếp sống thị dân của chủ thể cần đặt trong mối quan hệ giữa hành vi cá nhân và hành vi xã hội, hành vi của các nhóm xã hội Mặt khác, các đặc điểm tâm lý-xã hội của con người cũng là một yếu tố cần xem xét, soi chiều khi phát hiện những đặc điểm về hành vi nói chung và nếp sống đô thị nói riêng của họ
3.1.3 Tiếp cận lịch sử
Qua trình phát triển xã hội luôn tôn trọng tính lịch sử, tất cả mọi sự kiện, hiện tượng đều có nguyên nhân và cơ sở xuất phát Xem xét một vấn đề cần tôn trọng những điều đã xảy ra trong quá khứ, tôn trọng những giá trị đã hình thành trong quá khứ để tiếp tục kế thừa và phát triển Nghiên cứu hành vi
và nếp sống thị dân là quá trình xem xét sự hình thành có tính tiếp nối, từ hành vi, nếp sống chưa phải của thị dân, không phải ở môi trường đô thị đến hình thành nếp sống văn minh đô thị Hành vi và nếp sống thị dân của các tầng lớp sẽ phụ thuộc vào tính chất, qui mô phát triển xã hội cũng như hoàn cảnh xã hội qua từng thời kỳ lịch sử, từng thời điểm và sự kiện trong lịch sử
Trang 12Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu sẽ kế thừa thành quả của các nghiên cứu khác, xem đó là cơ sở để đề xuất những nghiên cứu mới và đề xuất các hình thức tổ chức nghiên cứu lý thuyết và về hành vi, nếp sống thị dân của các chủ thể
3.1.5 Tiếp cận liên ngành
Do tính phức tạp của hành vi nên một chuyên ngành đơn lẻ không thể giúp hiểu biết đầy đủ về hành vi được Rõ ràng, việc đưa ra các biện pháp để thay đổi hành vi con người đòi hỏi phải có một cách tiếp cận toàn diện, hay nói cách khác là tiếp cận liên ngành Thông thường, hoạt động nghiên cứu hành vi là sự tích hợp của ba chuyên ngành chính – tâm lý học, xã hội học và nhân chủng học, trong đó tâm lý học đề cập đến các khía cạnh cá nhân, xã hội
Trang 13học đề cập đến hệ thống xã hội, và nhân chủng học đề cập đến hệ thống văn hóa Một số chuyên ngành khác cũng được lồng ghép vào như kinh tế, chính trị,…
3.1.6 Tiếp cận giá trị
Phương pháp tiếp cận giá trị xem xét mối quan hệ giữa các giá trị truyền thống với các giá trị đương đại tồn tại trong hành vi nếp sống, mối quan hệ tác động ảnh hưởng của các nền văn hoá đối với sự hình thành nếp sống ở Thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình nghiên cứu đối chiếu, so sánh sự chuyển đổi nếp sống các thời kỳ; nếp sống nông dân, nếp sống thị dân; nếp sống thị dân Thành phố Hồ Chí Minh, nếp sống thị dân các thành phố trong nước và một số thành phố trên thế giới
3.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
3.2.1 Phương pháp điều tra xã hội học
Xây dựng các angket để khảo sát nhận thức, thái độ, hành vi của người dân Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thích ứng với xã hội mới Phương pháp điều tra xã hội học được sử dụng để nghiên cứu thực trạng về thói quen sinh hoạt ở đô thị, thực trạng nếp sống đô thị hiện nay như: nếp sống gia đình; các quan hệ xã hội phong tục tập quán, tín ngưỡng,…; quan hệ
cá nhân với cộng đồng; công dân với pháp luật,… Việc điều tra xã hội học được tiến hành với 600 người gồm các nhóm khách thể khác nhau: công nhân, trí thức, nhà quản lý, học sinh sinh viên, lực lượng thực thi và bảo vệ pháp luật,… Kết quả khảo sát sẽ được xử lý và phân tích mức độ khác nhau, mối tương quan ý kiến giữa các nhóm khách thể,…[Phần I: Bản xử lý số liệu-định lượng: 1-10]
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để tìm mối tương quan giữa các nhóm đối tượng, nhóm khách thể nghiên cứu [Phần I: Bản xử lý số liệu-định lượng: 11-94]
Trang 142 Phương sai mẫu hiệu chỉnh
* Phương sai mẫu hiệu chỉnh không có trọng số
* Phương sai mẫu hiệu chỉnh có trọng số
3 Độ lệch chuẩn của mẫu
Trang 154 Chi bình phương (Chi-square)
Trong đó:
χ2 là giá trị Chi bình phương quan sát
Oij là tần số quan sát trong ô
Eij là tần số lý thuyết trong ô
3.2.2 Phương pháp tham khảo ý kiến các chuyên gia trên các lĩnh vực liên quan [Phần III: Tóm tắt ý kiến tọa đàm khoa học và kỷ yếu hội thảo:
1-6; 60-63].Phương pháp hội thảo khoa học để tìm kiếm các ý kiến sắc
sảo, mới mẻ [Phần III: Tóm tắt ý kiến tọa đàm khoa học và kỷ yếu hội thảo:
5 Cách thức chọn mẫu cho phiếu khảo sát
Thiết kế và hoàn thiện phiếu khảo sát có cấu trúc: để hoàn thiện bản
hỏi cẩn thận trước khi tiến hành thu thập thông tin đại trà, nhóm nghiên cứu
đã thực hiện phỏng vấn thử nghiệm 15 người dân, các thông tin thu thập được nhằm điều chỉnh các câu hỏi trong bảng hỏi cấu trúc Từ đó chỉnh sửa phiếu thu thập dữ liệu cấu trúc gồm hai phần (phần 1 có 63 câu hỏi, phần 2 có 24 câu hỏi), có câu hỏi một lựa chọn và câu hỏi nhiều lựa chọn các phương án trả lời, các câu hỏi tập trung làm rõ những dữ liệu cần nghiên cứu Các thang đo định danh, thứ bậc, khoảng cách, tỷ lệ được đặt ra nhằm thu thập dữ liệu phục
vụ cho việc xử lý và phân tích thông tin
Cỡ mẫu phỏng vấn bằng phiếu có cấu trúc: đề tài này thực hiện chọn
mẫu không lặp lại (chỉ hỏi một lần/người) nhằm ước lượng các tỷ lệ % của
Trang 16các tiêu thức từ mẫu khảo sát cho tổng thể nghiên cứu nên chúng tôi chọn cỡ mẫu cần khảo sát là 600 người
Quy trình chọn mẫu: thực hiện theo phương pháp chọn mẫu cụm
(cluster samping) kết hợp với chọn mẫu phi xác suất (thuận tiện)/xác suất
Giai đoạn 1: căn cứ vào vị trí địa lý, chọn 21 cụm (theo đơn vị hành
chính cấp quận/huyện)
Giai đoạn 2: tại mỗi cụm (quận/huyện) chọn được một số người mời
tham gia trả lời phỏng vấn (xem bảng tóm tắt phân bố các đơn vị mẫu theo cụm và số đơn vị mẫu tại mỗi cụm)
Trang 17Bảng tóm tắt phân bố các đơn vị mẫu theo cụm và số đơn vị mẫu tại mỗi cụm
Cư dân tại các cộng đồng dân cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 18Đơn vị thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát có cấu trúc là 600 người, các tiêu thức thống kê trong phiếu khảo sát nhằm thu thập thông tin về ý kiến
cá nhân, đơn vị phân tích thông tin là cá nhân
6 Giả thuyết khoa học
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nếp sống thị dân đã hình thành trong quá trình phát triển thành phố Tuy nhiên hiện nay, người dân Thành phố Hồ Chí Minh có nhận thức và thái độ chưa rõ về nếp sống thị dân và thực hiện nếp sống thị dân Nếu trang bị kiến thức và hình thành các thói quen tích cực thì
có thể thay đổi nhận thức, thái độ của người dân Khi phù hợp trên cơ sở điều kiện vật chất cụ thể thì sẽ có những chuyển biến nhất định, hình thành được nếp sống thị dân ở mức độ ổn định
7 Ý nghĩa về khoa học và thực tiễn
Đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm nghiên cứu một cách cụ thể về nếp sống thị dân ở Thành phố Vấn đề nếp sống thị dân và vấn đề văn minh đô thị đã được nhiều tác giả trong nhiều công trình nghiên cứu Tuy nhiên nhóm nghiên cứu đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh” hướng tới nghiên cứu “nếp sống thị dân” với
tư cách là những “nề nếp, thói quen, tập quán, hoạt động thường ngày”
của những người thị dân được hình thành từ những nhân tố khách quan, những quan hệ khách quan không chủ yếu phụ thuộc vào sự lãnh đạo quản lý của chính quyền Sự lãnh đạo quản lý của chính quyền không thể áp đặt một cách chủ quan mà phải xuất phát, phải tôn trọng những quy luật khách quan,
từ thực tế để thực hiện chủ trương xây dựng nếp sống văn minh đô thị Theo hướng đó nhóm nghiên cứu có nhiệm vụ tìm kiếm những đặc điểm, khái quát tổng kết hệ thống thuộc tính, yêu cầu, đặc điểm nếp sống thị dân ở Thành phố
Hồ Chí Minh và đề xuất một số giải pháp khả thi góp phần xây dựng nếp sống thị dân, xây dựng thành phố văn minh đô thị
Trang 198 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài
8.1 Ngoài nước
Ở nước ngoài có một số bài viết và công trình nghiên cứu về các thói quen sinh hoạt cộng đồng đô thị, các cách thức ứng xử văn minh trong giao tiếp và trong công tác quản trị nhân sự, những nét văn hóa mới trong hoạt động du
Quan điểm của Mác – Ănghen dù k
thị mà xem xét đô thị như một hiện tượng nằm trong tổng thể sự phát triển của các – có ảnh hưởng rất quan trọng tới sự hình
Tình cảnh giai cấp công nhân Anh, Ănghen, 1845; Hệ tư tưởng Đức, Mác –
Ănghen, 1845-1846
Thông qua nghiên cứu hiện tượng đô thị để tìm hiểu tình cảnh khốn khổ của giai cấp lao động nước Anh trong công cuộc phát tr
“…họ đều có nhu cầu nhất định và
để thõa mãn những nhu cầu đấy, họ cần phải có những người khác như thợ thủ công, thợ may, thợ giày, thợ làm bánh, thợ hồ, thợ mộc đều dọn đến ở gần
đó cả…” [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 2, 1980:49-50]
) Ănghen nói tới trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân
Anh về thân phận của những người lao động trong những t
Nó có sáu đặc điểm lớn mà Ănghen đã đề cập tới
-–
- , giai cấp công nhân Anh trong tác phẩm của mình đó là giai cấp công nhân lao động nước Anh sống trong tình trạng nghèo khổ khó hình
Trang 20dung nổi ở trong các khu nhà trọ của công nhân, ở trong các khu ổ chuột của
đô thị
- , có một cuộc cạnh tranh hay là chiến tranh vì cuộc sống ngay
cả giữa những người lao động với nhau
- , điều kiện lao động tồi tệ và mức sống thấp đã kéo theo rất nhiều bệnh tật cho những người lao động đô thị,
-tội ác, cho nạn mại dâm và nạn nghiện ngập phát triển một cách khác thường
- , mặc dù tình trạng, tình cảnh của những người lao động trong những khu đô thị lớn là nghèo khổ, thấp kém như vậy,
nước Anh [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 2, 1980:164-170]
Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ănghen đã có hai ý
tưởng rất quan trọng về sự phát triển
chính là ngọn nguồn quan trọng nhất tạo ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn
rõ nhất là trình độ phát triển của sự phân công lao động…”, “…Sự phân công lao động trong nội bộ một dân tộc, trước hết, dẫn đến sự tách rời giữa lao động công nghiệp và thương nghiệp một bên, còn bên kia là lao động nông nghiệp Và do đó dẫn đến sự tách rời giữa thành thị và nông thôn và sự đối lập lợi ích giữa đô thị với lợi ích của nông thôn…” [C.Mác và
Ph.Ănghen, Toàn tập, tập 3, 1980: 305-306]; Thành thị thể hiện sự tập trung
còn nông thôn thể hiện sự phân tán “…Thành thị đã là sự tập trung dân cư,
tập trung công cụ lao động sản xuất, tư bản, tập trung sự hưởng thụ và các nhu cầu Còn nông thôn thì cho thấy điều hoàn toàn ngược lại Đó là sự biệt lập và phân tán Sự đối lập giữa thành thị và nông thôn chỉ có thể tồn tại trong khuôn khổ của sở hữu tư nhân…” [C.Mác và Ph.Ănghen, Toàn tập, tập
3, 1980: 391-392]
Trang 21Trường phái “Sinh thái học nhân văn” (Human ecology) trong
(The City: suggestions for the investigation of human behavior in the
1916 “Nguồn gốc của thị dân; sự phân bố dân
cư thành thị trên địa bàn; sự thích ứng của các nhóm xã hội để hoà nhập vào
xã hội đô thị hiện đại; những thay đổi trong đời sống gia đình, trong các thiết chế giáo dục, tín ngưỡng; vai trò của báo chí trong công luận và dẫn dắt tình cảm của công chúng đô thị” [Robert E Park, 1916: 577-612]
-Wirth
-, Wirth
) Dân số quá đông, mật độ cư trú quá cao và tính chất xã hội khác biệt
Trang 22Những thay đổi to lớn về cơ cấu
và các thiết chế đã mang lại những hậu quả nghiêm trọng cho người thị dân
[Wirth Louis, 1938: 12-24] Nhà tâm lý học Stanley
“dưới áp lực của mệnh lệnh và khi không phải chị
cộng đồng đô thị tạo nên “sự quá tải” cho tâm lý của thị dân Người dân thành thị tham gia vào các quan hệ hời hợt,
đứt đoạn, ngắn ngủi và thậm chí là phi nhân văn là do tính cách thích nghi với
sự quá tải tâm lý do quy mô, sự đông đúc và sự đa dạng tạo ra [Milgram Stanley, 1967: 60-67]
, và tính phức tạp của đô thị
-)
Trang 23đô thị đang càng ngày càng định hình rõ nét hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước nói chung Các nghiên cứu trong nước tuy rất đa dạng và hết sức phong phú nhưng có thể khái quát trên các hướng sau đây:
- Một số nội dung, khái niệm thuộc nếp sống văn minh, thực trạng nếp sống xã hội hiện nay Nêu những bức xúc cần giải quyết trong xây dựng nếp sống văn minh Xác định hệ chuẩn mực nếp sống văn minh trong giai đoạn mới Một số lý luận về xây dựng nếp sống văn minh trong bối cảnh hiện nay
và dự báo về nếp sống của dân tộc đến năm 2020 Những hệ chuẩn mang tính qui tắc của nếp sống văn minh đô thị - những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng nếp sống văn minh đô thị Từ đây, những thay đổi bộ mặt của đô thị Việt Nam trong những năm qua dẫn đến những thay đổi về cách sống, về lối sống để thích nghi với “xã hội mới” Trong xu hướng này, những điều được
và chưa được những điều nên hoặc không nên khi tiếp cận với cái mới, phong cách “Tây hóa” trong một số lĩnh vực nhất định, nhất là trong phong cách sống với khuynh hướng cá nhân xa dần với truyền thống cộng đồng của người Việt chúng ta đang có chiều hướng gia tăng [Hà Học Hội, 2003: 45-50;
Trang 24Nguyễn Nghĩa Trọng, 2003: 15-27; Nguyễn Thế Cường, 2002: 18-28
, 2012: 4-10]
- Những điều chỉnh chính sách quản lý đô thị trong tình hình mới, từ việc điều chỉnh qui hoạch hạ tầng đến qui họach dân cư và các khu vực chuyên biệt khác, từ việc hình thành các khu đô thị tự phát đến việc định hướng phát triển đô thị có sự kiểm soát Nhiều tác giả cũng đề cập đến khả năng quản lý đô thị của Việt Nam để đề xuất các giải pháp quản lý đô thị phù hợp, trong đó có đề cập đến việc hình thành lối sống mới, định hướng và kiểm soát nó Sự thay đổi chức năng từ đô thị hành chính sang đô thị kinh tế - chính trị - văn hóa, kết hợp với việc mở rộng diện tích cùng xu thế nhà cửa phố xá được tổ chức, xây dựng hiện đại hơn, hệ thống giao thông hoàn thiện hơn dẫn đến việc hình thành một tiền đề vật chất quan trọng để các tầng lớp dân cư đô thị thiết kế một sinh hoạt kiểu mới và hình thành các thói quen ứng xử mới ở
đô thị, điều đó như sự đan xen hiển nhiên giữa nền văn minh nông nghiệp và văn minh công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa đất nước [Nguyễn Thế
Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002: 15-54; Nguyễn Đăng Sơn, 2005: 12-47;
Nguyễn Nghĩa Trọng, 2003: 25-31; Trương Quang Thao: 2003: 15-36
, 2012: 60-65]
- Những nhận thức về một thành phố phát triển năng động và đông dân nhất nước với những nhận định về hiện trạng và hướng phát triển trong tương lai của Thành phố Hồ Chí Minh Các vấ và tổ chức không gian đô thị, xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh văn minh hiện đại, văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Những định hướng, giải pháp quy hoạch đúng đắn và khả thi cho Thành phố để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một Thành phố văn minh – hiện đại – văn hóa tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc Những phương pháp tiếp cận mới mang tính hệ thống nhằm cải tiến hệ thống qui hoạch và quản lý đô thị trong thời kỳ chuyển đổi (gắn với nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa) nhằm hướng tới sự phát triển bền vững của Thành phố ta, trong đó yếu tố con người đóng vai trò là hạt nhân
Trang 25chủ thể [Lưu Trọng Hải, 2001: 25-42; Nguyễn Đăng Sơn, 2005: 45-51; Nhiều
2010: 115-149]
- Sự chuyển động đô thị hóa ngày càng mạnh mẽ cùng những việc chỉnh trang qui hoạch đô thị ngày càng dồn dập trong giai đoạn phát triển đô thị hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh, đưa ra những vấn đề cần giải quyết của việc phát triển đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm định hướng cho việc xây dựng tính nhân văn và bền vững của thành phố Những thay đổi giá trị sống như là điều tất yếu, trong đó có sự thay đổi về lối sống, nếp sống; sự phân tầng xã hội, sự xã hội hóa lối sống ngày càng mạnh mẽ và do vậy các yếu tố văn hóa của lối sống, nếp sống càng phải được coi trọng [Nguyễn Thế Nghĩa, Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2002: 65-78; Tôn Nữ Quỳnh Trân, 2000: 67-80
-Cương, 2004: 15-30; Trương Quang Thao: 2003: 111-133]
- Những nghiên cứu, bài viết hoặc các bài phát biểu của các vị lãnh đạo, quản lý nhà nước về môi trường đô thị, về việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị,… Một số bài viết phê phán mạnh mẽ lối sống vô tổ chức, thiếu văn minh của một bộ phận cộng đồng dân cư Những nghiên cứu và bài viết
đề cập đến các giải pháp chung và khái quát về việc vận động cư dân, vận động cộng đồng tham gia quản lý xã hội và ủng hộ cho chủ trương hình thành chính quyền đô thị với lối sống mới [Nguyễn Minh Hòa, 02/04/2008: 8; Lê
Hiếu Đằng, 12/03/2008: 3; Trần Trọng Đăng Đàn, 3/2005: 15-20; Công
Quang, 1/2008: 23-26]
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Hệ thống khái niệm
Đối tượng nghiên cứu đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố
Hồ Chí Minh” là quá trình hình thành nếp sống thị dân thông qua con người Thành phố Hồ Chí Minh - người thị dân, người sống ở đô thị Tuy nhiên chúng tôi không nghiên cứu mọi thuộc tính, mọi khía cạnh của con người thị dân mà trọng tâm là nghiên cứu quá trình hình thành, thể hiện “nếp sống”của
họ Do vậy các khái niệm trung tâm của đề tài bàn đến là: nếp sống; thị dân; thị dân Thành phố Hồ Chí Minh; nếp sống thị dân Thành phố Hồ Chí Minh và một số khái niệm liên quan
1.1.1 Thị dân
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về thị dân trên những góc độ đa dạng khác nhau, khái niệm thị dân được đề cập trong các công trình được thể hiện một cách tương đối cụ thể Khái niệm thị dân chỉ một tầng lớp xã hội ra đời cuối thời đại phong kiến, đầu thời đại tư bản chủ nghĩa, khi các nước xuất hiện các đô thị Từ điển Bách khoa toàn thư định nghĩa: Thị dân là “Tầng lớp trung lưu ở Đức từ thế kỷ thứ 14 gồm các thương nhân, chủ phường hội, thợ thủ công xuất thân từ những người nông dân lệ thuộc trốn vào thành phố Khi trở thành thị dân họ hoàn toàn được tự do thân thể, tự do buôn bán, làm ăn và chỉ chịu sự cai quản của chính quyền thành phố Là một bộ phận cơ bản của giai cấp tư sản Đức sau này” Hoặc “thị dân” là “cư dân thành thị trung đại Châu Âu, trước khi hình thành giai cấp tư sản”
Về cơ bản thì tầng lớp thị dân ở Châu Âu được hình thành từ thế kỷ
XV, XVI So với nông dân thì thị dân là tầng lớp ra đời sau, khi mới ra đời dưới con mắt “Phong kiến” người ta dùng từ thị dân có ý miệt thị
Ở Việt Nam tầng lớp thị dân cũng ra đời với sự ra đời của những đô thị, khi quan hệ phong kiến đã có sự chuyển đổi, có các đô thị xuất hiện, những yếu tố tiền tư bản xuất hiện Phải chăng những thị dân Việt Nam đầu tiên là
Trang 27những “Ngài Tràng An” sau đó là “người kẻ chợ” sau nữa là những tiểu thương, tiểu chủ, những thông ngôn, ký lục, những người thợ, những kỹ sư, bác sĩ,… sống , sinhhoạt và làm ăn ở các đô thị hình thành từ thời thuộc Pháp Sài gòn - Thành phố Hồ Chí Minh cũng nằm trong dòng chảy của lịch
sử dân tộc nhưng có những đặc trưng riêng Thị dân Sài Gòn - Chợ Lớn xuất hiện khá sớm; có thể nhận thấy “Phố” xuất hiện trước “Thành” Sau mấy chục năm người Việt đến khai hoang, lập ấp ở vùng đất mới, xứ Sài Gòn đã có nhiều người làm thủ công nghiệp, có người buôn bán nên Chúa Nguyễn mới lập “Trạm thuế Thương chính” năm 1623, khi đó chưa có đơn vị hành chính chính thức Mãi đến năm 1772 thì Nguyễn Cửu Đàm mới xây “Lũy Bán Bính” tức là làm cho Sài Gòn có Phố có Thành, Sài Gòn trở thành thành phố đúng nghĩa Người Sài Gòn bắt đầu có sự phân hóa người quê và kẻ chợ Kẻ chợ - thị dân ngày càng được bổ sung về mặt số lượng và chiếm ưu thế trên vùng lãnh thổ Sài Gòn- Chợ Lớn [Nguyễn Sỹ Nồng, 2008: 56] Tác giả Trần Hữu Quang trong công trình “Cư dân đô thị và không gian đô thị trong tiến trình đô thị hoá ở TP Hồ Chí Minh: Thực trạng và dự báo” đã xác định “Cư dân đô thị là người dân sinh sống trong khu vực đô thị tương đối ổn định từ 6 tháng trở lên, không kể là có hộ khẩu hay không có hộ khẩu Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, hiểu theo nghĩa xã hội học, “cư dân đô thị không chỉ là người
, 2010: 8] Xã hội thị dân không đồng nhất với xã hội đô thị, chúng ta so sánh xã hội đô thị với xã hội thị dân đặt trong mối tương phản với
xã hội nông thôn, xã hội nông dân
Trong đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh”, trên cơ sở tham chiếu nhiều công trình của nhiều tác giả, nhóm nghiên cứu
cho rằng Thị dân là khái niệm chỉ những người sống và hoạt động ở đô
thị “Thị dân Thành phố Hồ Chí Minh” là khái niệm chỉ nhóm người sống và hoạt động ở các khu vực đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, họ là những người buôn bán, chủ doanh nghiệp, công nhân, thầy giáo, thầy
Trang 28thuốc, công chức, nghệ sĩ,… Thị dân là những người sống và hoạt động ở thành phố lâu ngày, họ lấy địa bàn thành phố làm nơi cư trú và làm ăn
họ không phải là khách vãng lai; nghề nghiệp của họ thuộc lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu
Tuy nhiên các huyện ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang trong quá trình đô thị hóa, những người nông dân ở Thành phố Hồ Chí Minh cũng rất gần với người thị dân, từ nông dân, họ đang dần dần trở thành những thị dân
cộng đồng sinh sống theo khuôn mẫu xã hội nhất định, mà khuôn mẫu chính là môi trường đô thị được tương tác hóa,…
1.1.3 Đô thị
Đô thị là tên gọi chung các thành phố, thị xã, thị trấn và được hiểu là nơi tập trung dân cư đông đúc, là trung tâm của một vùng lãnh thổ với hoạt động kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ
Hiện nay chưa có định nghĩa chính xác và bao quát về đô thị Tuy nhiên có hai tiêu chí được sử dụng chung để làm rõ khái niệm về đô thị Tiêu
chí thứ nhất là độ kết tụ (agglomeration) và tiêu chí thứ hai là ngưỡng dân số
(Population threshold)
Trang 29Độ kết tụ biểu hiện mức độ tập trung các công trình và nhà ở Một khu
vực nào đó được coi là đô thị khi các công trình và nhà ở trong khu vực này phải nằm kề sát nhau Tuy nhiên nằm sát nhau tới mức nào thì còn tùy điều kiện và cách xác định của mỗi nước Ví dụ ở Pháp, một ngôi nhà được coi là thuộc đô thị A nếu nó cách ngôi nhà gần nhất nằm trong A dưới 200m
Ngưỡng dân số là số dân tối thiểu cư trú trong ranh giới đô thị được xác
định bằng độ kết tụ nêu trên Cũng ở Pháp, một điểm cư dân được coi là đô thị khi số dân ≥ 2000 người [Simon Eisner-Arthur Gallion-Stanley Esner, 1993:43-46]
Ở Việt Nam, theo các nhà nghiên cứu thì có nhiều cách định nghĩa khác nhau (do đặc thù các tiếp cận nguồn tư liệu Pháp, Mỹ, Liên Xô cũ,…) Theo Nguyễn Như Ý “đô thị là nơi đông dân cư, tập trung chủ yếu cho hoạt động mua bán như thành phố, thị xã” [Nguyễn Như Ý, 1998: 651]
Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp ( , 2004: 7; Trương Quang Thao, 2003: 15]
-đ “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”
Theo Luật Quy hoạch đô thị tại khoản 1, điều 3 đã định nghĩa: “Đô thị
là nơi tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp; là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 30của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương; bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố, nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của cả một miền của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện
1.1.3.1 Những đặc điểm kinh tế xã hội của đô thị
- Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính toàn cầu:
+ Vấn đề môi trường: Tốc độ tăng quá nhanh về công nghiệp hoá và đô thị hoá dấn đến phá huỷ một phần môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường, trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vì nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân quan trọng là tài chính hạn chế, nhận thức chưa đầy đủ
+ Vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư là chuyển dịch theo chiều rộng và theo chiều sâu diễn ra song song
+ Vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số đô thị tập trung quá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đến không điều hoà gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống đô thị
- Quan hệ thành thị và nông thôn luôn tồn tại, ngày càng trở nên quan trọng
- Hệ thống thị trường đô thị với những đặc trưng riêng biệt:
+ Thị trường đô thị là một hệ thống hoặc địa điểm, n ra việc mua bán, trao đổi hàng hoá và dịch vụ
+ Những thị trường chủ yếu của đô thị bao gồm: Thị trường lao động, thị trường đất và bất động sản, thị trường giao thông, thị trường hạ tầng đô thị, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính
Trang 31- Đô thị như một nền kinh tế quốc dân: Vì đô thị cũng được giới hạn về mặt hành chính, hoạt động của nó có tính độc lập tương đối
- Đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kinh tế
và văn hóa Nền văn hoá được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc Việt Nam
1.1.3.2 Cấu trúc không gian đô thị
Cấu trúc đô thị bao gồm tổng mặt bằng và hệ thống các công trình hạ
tầng kỹ thuật, hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội và các hoạt động kinh tế - xã hội
trên hệ thống đó Cấu trúc không gian đô thị bao gồm không gian và các công
trình, các vật thể tự nhiên tạo nên hình ảnh của đô thị Khi không gian đô thị được cấu trúc một cách cân đối để thỏa mản nhu cầu thẩm mỹ và tiện lợi của
con người sẽ tạo thành kiến trúc cảnh quan đô thị
Đô thị như một cơ thể sống, đặc điểm này rút ra từ tính chất đồng bộ và
hoàn chỉnh của cấu trúc đô thị, của từng bộ phận cũng như toàn cơ thể đô thị
và đặc tính luôn luôn vận động của nó Các chức năng vận động của đô thị bao gồm toàn bộ các hoạt động của nền kinh t – xã hội trên cơ sở hệ thống
hạ tầng đô thị nêu trên Giống như một cơ thể sống có sinh, lão, bệnh, tử, bất
kỳ một sự trục trặc nào trong hệ thống cấu trúc cũng sẽ dẫn tới sự rối loạn trong các hoạt động của đô thị Nếu như trong y học người ta định nghĩa: bệnh là sự mất cân bằng giữa cơ thể và môi trường, thì đô thị cũng có những căn bệnh do mất cân bằng như vậy Nếu như sức khỏe được coi là yếu tố quan trọng số một của đời người, thì sự cân bằng, ổn định, bền vững cũng là mục
tiêu số một của đô thị
Đô thị luôn luôn phát triển, đặc điểm này vừa biểu hiện tính sống của
đô thị vừa biểu hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa đô thị với xã hội loài người Sự hình thành và phát triển của các đô thị gắn liền với lịch sử phát triển của loài người, đặc biệt gắn liền với sự phát triển nền kinh tế hàng hóa Về ngôn ngữ, chữ đô có ý nghĩa là trung tâm, chữ “thị” có ý nghĩa là chợ - là trung tâm giao lưu trao đổi hàng hóa Xã hội loài người luôn luôn phát triển, kinh tế hàng hóa
Trang 32luôn luôn phát triển do đó đô thị luôn luôn phát triển Luôn luôn phát triển là đặc điểm chung và phổ biến của các đô thị, chỉ do hoàn cảnh rất đặc biệt mới
có những đô thị lụi tàn
Sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được, đặc điểm
này cho thấy, mặc dù các đô thị được hình thành và phát triển theo các quy luật khách quan của nền kinh tế - xã hội, nhưng con người có thể tham gia và điều khiển được quá trình phát triển đó Nói cách khác, đô thị được coi là một
hệ điều khiển, tuy nhiên là một hệ mở, một hệ điều khiển bán hoàn chỉnh Con người chỉ có thể điều khiển được sự hình thành, hoạt động và phát triển của đô thị theo đúng các quy luật khách quan của nó Con người có thể định hướng phát triển, có thể can thiệp vào sự vận động của đô thị nhưng không thể bắt đô thị vận động theo ý chí chủ quan trái quy luật của mình Nhờ có đặc điểm này ta mới có thể quản lý được sự vận động và phát triển của đô thị [Trịnh Duy Luân, 2004: 27-29; Dean J Champion, 1984: 382; J John Palen, 1987: 26-28]
1.1.4 Nếp sống thị dân
Khái niệm “Nếp sống” được nhiều học giả bàn đến, họ đưa ra những định nghĩa tương đối thống nhất Trong đề tài “Xây dựng nếp sống thị dân ở Thành phố Hồ Chí Minh”, nhóm nghiên cứu tiếp thu, kế thừa để xây dựng khái niệm “Nếp sống thị dân”; “nếp sống thị dân Thành phố Hồ Chí Minh” Muốn có một định nghĩa về “nếp sống” một cách khoa học, không thể không đề cập đến khái niệm “lối sống” Vì “nếp sống” là một phần, một bộ phận, là hình thức biểu hiện của “lối sống” Theo tác giả Hà Học Hội trong đề tài “Một số vấn đề lý luận về xây dựng nếp sống văn minh” do Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương chủ trì năm 2003 thì “lối sống là khái niệm chỉ cách thức, kiểu, môtip của toàn bộ quá trình hoạt động sống của các chủ thể người
Nó là tập hợp những nét cơ bản, tiêu biểu, ổn định mang ý nghĩa điển hình của những hình thức hoạt động sống của con người” [Hà Học Hội, 2003: 16] Lối sống là khái niệm được các nhà triết học, xã hội học, văn hóa học,… đề
Trang 33cập đến từ rất lâu Khái niệm lối sống được dịch từ nhiều thứ tiếng, mỗi từ được hiểu theo một cách rất đặc trưng phản ánh văn hóa, thói quen,… của từng cộng đồng Mác từng cho rằng “lối sống chính là phương thức sống, là dạng hoạt động của con người, nó chịu sự quyết định của phương thức sản xuất” [Võ Văn Thắng, 2006: 30] Có thể thấy với cách tiếp cận này, phạm vi của lối sống tương ứng với hình thái kinh tế-xã hội, lối sống phản ánh hoạt động của chủ thể bao gồm nhận thức, tình cảm, động cơ, hành vi, ứng xử,…
Ở Việt Nam, “lối sống” được xem là một từ ghép, trong đó “lối” được hiểu là lề lối, thể thức, kiểu cách, phương thức; “sống” là sinh hoạt, là quá trình hoạt động sinh vật của con người và xã hội Hiện nay nhiều từ điển Tiếng Việt và Hán-Việt đã và đang lưu hành chỉ đề cập khái niệm “lối sống giản dị” làm ví dụ, minh họa cho từ “lối” và dẫn “nếp sống” khi đề cập đến khái niệm sống [Võ Văn Thắng, 2006: 33; Lê Như Hoa, 1998: 21] Trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm “lối sống” được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ IV Nhận thức được tầm quan trọng của “lối sống” nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu vấn
đề này Đề tài KX.06-13 đã trình bày trong “Báo cáo tổng kết chương trình KX-06-13 (1991-1995) “Lối sống, trong chừng mực nhất định, là cách ứng xử của những con người cụ thể, những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường sống Môi trường là cái khách quan qui định, là điều kiện khách quan trực tiếp tác động và ảnh hưởng đến lối sống của con người, lối sống của các nhóm xã hội và cộng đồng dân cư” [Võ Văn Thắng, 2006: 34] Tác giả Vũ Khiêu trong tác phẩm “Văn hóa Việt Nam, xã hội và con người” đã có quan niệm rằng “Lối sống là phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống, trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [Vũ Khiêu, 2000:514] Đỗ Huy cũng khẳng định “Lối sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình của con
Trang 34người trong điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định [Đỗ Huy, 2001: 353] Tác giả Phạm Hồng Tung cho rằng “lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hoá, là quá trình hiện thực hoá các giá trị văn hoá thông qua hoạt động sống của con người Lối sống bao gồm tất cả các hoạt động sống và phương thức tiến hành hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp thuận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng” [Phạm Hồng Tung, 2008:8]
Có thể nói “lối sống” là một khái niệm có ngoại diên rất rộng, nó bao hàm toàn bộ những động cơ, hành vi, xu hướng sống của con người Lối sống bao gồm toàn bộ hình thức sống của con người Bên cạnh khái niệm lối sống
có khái niệm lẽ sống Lẽ sống là phần ý thức của lối sống và nó trả lời câu hỏi: sống để làm gì, sống cho ai? Lẽ sống là khái niệm của triết học, đạo đức học, tâm lí học,… Lẽ sống có thể hiểu là “sự lựa chọn chủ quan của con người về lối sống Sự lựa chọn này thể hiện sự khẳng định của cá nhân hay một dân tộc đối với lối sống…” [Võ Văn Thắng, 2006: 41] Lẽ sống có chức năng định hướng cho lối sống, lẽ sống như là thế giới quan, nhân sinh quan của con người,… “Vai trò của lẽ sống đối với lối sống giống như kim chỉ nam cho cá nhân điều chỉnh hành vi của mình, vì hạnh phúc cá nhân, vì cộng đồng
xã hội” [Võ Văn Thắng, 2006: 41] Có thể nói, lẽ sống là mặt lí tưởng của lối sống, là nhân lõi của lối sống
Xem xét khái niệm nếp sống nghĩa là trả lời câu hỏi: ai đó sống như thế nào, sống là thế nào Trong quá trình nghiên cứu và sử dụng các khái niệm, một số học giả cũng có lúc sử dụng hai khái niệm lối sống và nếp sống như nhau Tuy nhiên, hai khái niệm lối sống và nếp sống cũng có những khác biệt nhất định
Nếp sống là một phần, một bộ phận của lối sống, nó là hình thức biểu hiện của lối sống Tác giả L.V Kolan cho rằng “Nếp sống của con người
Trang 35được coi như là sự phản ánh của cá nhân vào xã hội, còn lối sống của con người được coi như là sự phản ánh xã hội vào cá nhân” [Lê Như Hoa, 2003: 23] Trong khi đó ở một khía cạnh khác, A.P.Bu Chen Ko lại cho rằng “nếp sống không phải là một phần mà là một trong những hình thức biểu hiện của lối sống Lối sống là một hệ thống những hành vi của con người trong lao động cũng như những quan hệ xã hội khác Những hành vi được lặp đi lặp lại nhiều lần, thành một quy định, thành nề nếp, một thói quen, phong tục, tập quán, lễ nghi,… được gọi là nếp sống” [Võ Văn Thắng, 2006: 40] Tác giả Vũ Khiêu quan niệm rằng lối sống là những thói quen hình thành trong hoạt động,… “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hành ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người Những thói quen ấy còn được gọi là tập quán” [Vũ Khiêu, 1975:135] Theo tác giả Vũ Khiêu, nếp sống là sự biểu hiện sinh động, cụ thể của lối sống, do
đó nó không phải là cái bất biến, vĩnh hằng, nghĩa là nó vẫn biến đổi Điều này cho thấy, lối sống và nếp sống không thể tách rời nhau, nhưng nó không phải là một,… Cũng trong khuynh hướng này, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập đến sự khác biệt nhất định và tương đối giữa hai khái niệm lối sống và nếp sống: “Kiên trì xây dựng nếp sống mới lành mạnh, khoa học, tiết kiệm và giản dị, bảo vệ và phát triển các giá trị tinh thần Kiên quyết bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan; tiếp tục đấu tranh quét sạch văn hóa thực dân mới và ảnh hưởng các loại văn hóa phản động đồi trụy khác Tất cả những việc đó nhằm làm cho tư tưởng, tình cảm lối sống mới thật sự chiếm ưu thế trong đời sống nhân dân” [Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, 1982: 100-101] Cũng tương tự như vậy, tác giả Võ Văn Thắng tiếp tục nhận định
“Sẽ là sai lầm, nếu muốn xây dựng lối sống mà không bắt đầu từ xây dựng nếp sống Bởi nếp sống là mặt ổn định của lối sống” [Võ Văn Thắng, 2006: 206] Tác giả Nguyễn Viết Chức khẳng định thêm “Nếp sống được coi là tổng hòa những dạng hoạt động sống điển hình và tương đối ổn định của con người
Trang 36được vận hành theo một bảng giá trị xã hội nhất định và chịu sự quy định của các điều kiện sống Nếp sống chính là mặt ổn định của văn hóa lối sống Nó bao gồm những cách thức, những quy ước đã trở thành thói quen trong lao động, sinh hoạt và tổ chức đời sống xã hội như phong tục, lễ nghi, đạo đức ” [Nguyễn Viết Chức, 2001: 23] thì
Dù xuất phát từ điều kiện sống, từ giáo dục ý thức,… để hành vi trở
thành thói quen, nhƣng thói quen chƣa phải là nếp sống mà là hệ thống
thói quen có chung một phạm vi, mục tiêu nhất định mới là nếp sống
Tìm bô rác để bỏ rác đã trở thành thói quen của nhiều người từ người lớn đến trẻ em chưa nhận thức được ý nghĩa của vấn đề, nhưng bản thân hành vi đó chưa phải là nếp sống mà phải có nhiều hành vi khác như không phóng uế bừa bãi, trước khi ăn phải rửa tay, quần áo mặc phải sạch sẽ,… thì ta mới gọi
đó là nếp sống vệ sinh Nhường ghế ngồi trên xe buýt cho người phụ nữ có thai, cho người già đã trở thành thói quen của lớp trẻ hiện nay (chưa phải tất cả), nhưng thói quen đó chưa gọi là nếp sống mà mới là một phần nếp sống Những hành vi nhường nhịn, giúp đỡ người khác phải thể hiện cả khi người
Trang 37lâm nạn nhảy vào cứu chữa, người khó khăn tìm cách giúp đỡ, trong nhà, trong cộng đồng nhường những thuân lợi cho người khác, nhận khó khăn về mình mới là nếp sống – nếp sống nhường nhịn, luôn quan tâm đến người khác Sáng nào ngủ dậy gấp chăn màn gọn gàng là tốt nhưng đó chưa phải là nếp sống trật tự, muốn thể hiện nếp sống trật tự thì còn phải đến bàn làm việc biết sắp xếp sổ sách, tài liệu ngăn nắp, phải thực hiện được “5S”, ra đường đi lại phải đúng quy định, đến cơ quan, công sở phải biết bố trí chỗ làm việc, chỗ sinh hoạt hợp lý, đặc biệt trong đầu óc suy nghĩ khi nào cũng biết tính toán, sắp xếp công việc, hơn thế nữa tư duy lúc nào cũng hợp logic,…
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, vật chất quyết định ý thức-cụ thể
là tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội Hiện thực khách quan luôn biến đổi nhanh hơn ý thức (Cụ thể như: ở nhiều quốc gia, nền kinh tế đã chuyển sang
tư bản chủ nghĩa nhưng ý thức hệ phong kiến chưa hoàn toàn biến mất Những người đã chuyển đến cư trú ở đô thị nhưng thói quen sống ở nông thôn vẫn tồn tại một thời gian khá lâu,…) Tuy nhiên, tồn tại xã hội và ý thức xã hội có tính độc lập tương đối nên trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định,
ý thức có thể đi trước một mức độ và thúc đẩy sự chuyển biến nhanh hơn của tồn tại xã hội
Mối quan hệ biện chứng giữa nhận thức và ý thức được hiểu như sau: nhận thức là cấp độ thấp hơn của ý thức-nhận thức mới là sự tiếp thu kiến thức bằng lý trí, còn ý thức là sự tiếp thu kiến thức bằng cả lý trí và tình cảm được nâng lên mức tự giác, biến thành tính cách của con người
Mối quan hệ biện chứng giữa hành vi với nhận thức, ý thức được hiểu như sau: hành vi sống của một người có thể do một trong những nguyên nhân sau đây tạo thành:
- Hành vi do nhận thức, ý thức chỉ đạo-gọi là hành vi tự giác, mang tính bền vững;
Trang 38- Hành vi có thể do bị bắt buộc: sẽ xảy ra một trong hai trường hợp, một là có thể trở thành thói quen nếu phù hợp với lợi ích lâu dài của con người, hai là có thể dẫn đến sự phản kháng nếu bị thiệt hại lợi ích quá nhiều
- Hành vi do vô thức: không có tính bền vững, dễ thay đổi
Trong nhiều trường hợp, ý thức chỉ đạo hành vi nhưng cũng có thể thói quen của hành vi biến thành ý thức Đó là trường hợp mà Mác đã phát hiện: tính tổ chức kỷ luật và tác phong làm việc khoa học của giai cấp công nhân công nghiệp hiện đại lúc đầu là do sự bắt buộc của kỷ luật lao động rất khắt khe trong dây chuyền sản xuất công nghiệp do chủ tư bản quản lý [C.Mác và Ph.Ănghen, 1980, tập 1: 164-170]
Những cơ sở thực tiễn và lý luận nêu trên rất có ý nghĩa khi nghiên cứu xây dựng nếp sống thị dân vì thực chất là nghiên cứu nhằm xây dựng hành vi, thói quen văn minh trong đời sống của cư dân đô thị hiện đại có thể phải vận dụng cả hai hướng tác động: một là làm thay đổi nhận thức để dẫn đến thay đổi hành vi và ngược lại, cũng có thể làm thay đổi hành vi trước, khi thành thói quen sẽ biến thành ý thức
Tóm lại, chúng tôi cho rằng: Nếp sống là một hệ thống thói quen, tập quán Nếp sống thị dân là một hệ thống thói quen, tập quán, phong tục, lễ nghi của những người thị dân được biểu hiện trong đời sống xã hội Nếp sống thị dân không phải là một khái niệm mới được nêu ra trong đề tài này mà là nhóm nghiên cứu muốn xác định phạm vi của khái niệm nhằm định hướng cho việc nghiên cứu
Do điều kiện sống và các mối quan hệ khách quan mà nếp sống thị dân khác với nếp sống nông dân Người nông dân có nếp sống tự cung, tự cấp, người thị dân với cuộc sống phụ thuộc vào hệ thống dịch vụ của xã hội Người nông dân chịu ảnh hưởng nhiều về “lệ làng” thì người thị dân thiên về quan hệ pháp luật Người nông dân nặng nề trong quan hệ tình cảm gia đình, dòng tộc, thì người thị dân thiên về quan hệ thị trường, lạnh lùng, “ẩn danh”,… Không phải nếp sống thị dân và nông dân đối lập hoàn toàn mà nó
Trang 39có sự kế thừa, giao thoa Tuy nhiên nếp sống thị dân có thể có những nét riêng, nếu là những nét kế thừa thì cũng phát triển lên một “chất mới” Đặc điểm của nếp sống thị dân là trong quá trình hình thành, phát triển nhanh hơn nếp sống nông dân, cái ổn định của nếp sống thị dân trong sự phát triển hướng tới, gần với văn minh, nếp sống văn minh
Hình thành nếp sống thị dân thực chất là quá trình thay đổi, hình thành những hành vi mới, những ứng xử mới phù hợp với điều kiện sinh hoạt, môi trường xã hội của cuộc sống đô thị,… Hình thành hành vi là một quá trình lâu dài và quá trình này chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhất định, trong đó
có các yếu tố chủ quan (bên trong chủ thể: nhận thức, thái độ, đặc điểm tâm lý-xã hội cá nhân,…) và yếu tố khách quan (bên ngoài chủ thể: môi trường, điều kiện sinh hoạt, hoàn cảnh xã hội,…) thuyết hành động hợp lí (TRA-Theory of Reasoned Action) và lí thuyết hành vi dự đinh (TPB-Theory of planned behavior) để xác định cách thức tác động để đánh giá, thẩm định các biện pháp hình thành nếp sống, hành vi của thị dân
Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Ajzen (1975, 1980), xuất phát từ các nghiên cứu trước đó bắt đầu ra như là lý thuyết về thái độ, dẫn đến việc nghiên cứu các thái độ và hành vi Lý thuyết này được sinh ra phần lớn của sự thất vọng với nghiên cứu thái độ hành vi truyền thống, phần lớn trong số đó đã tìm thấy mối tương quan yếu giữa các biện pháp thái độ và thực hiện các hành vi cố ý” [Hale J.L; Householder B.J & Greene K.L, 2003: 259] Các ứng dụng quan trọng của
lý thuyết hành động hợp lý là dự báo về ý định hành vi, kéo dài dự đoán
về thái độ và dự đoán về hành vi Sự tách biệt tiếp theo về ý định hành vi từ hành vi cho phép để giải thích về hạn chế các yếu tố trên ảnh hưởng đến thái
độ [Ajzen, I & Fishbein, 1980: 196-210]
Trang 40Mô hình lí thuyết hành động hợp lí ( sơ đồ 1)
Thuyết hành động hợp lí bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện hành vi của các chủ thể mà họ không kiểm soát được Yếu tố về thái độ đối với hành
vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành vi của con người Thuyết hành vi dự định bổ sung thêm yếu tố nhận thức việc kiểm soát hành vi vào mô hình TRA Thành phần “nhận thức việc kiểm soát hành vi” phản ánh việc dễ dàng hay gặp phải khó khăn khi thực hiện hành vi, điều này phụ thuộc vào các nguồn lực sẵn có, vào điều kiện phương tiện bên ngoài và các cơ hội
để thực hiện hành vi
Mô hình thuyết hành động theo kế hoạch (TPB) (sơ đồ 2)
Niềm tin đối với những
thuộc tình hành vi
Sự thúc đẩy của các tác
động khách quan
Đo lường niềm tin đối
với những thuộc tính của
hành vi
Niềm tin về tác động
khách quan nên hay
không nên thực hiện
hành vi hành vi
Thái độ
Chuẩn chủ quan của hành
vi
Xu hướng hành vi
của hành
vi