Đề tài Khoa học cấp Thành phố : Đình công tại Thành phố Hồ Chí Minh – Thực trạng và giải pháp, TP. Hồ Chí Minh, 2008
Trang 1SỞ KHCN TP HỒ CHÍ MINH – VIỆN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG NAM BỘ
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP THÀNH PHỐ
ĐÌNH CÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH –
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TP HỒ CHÍ MINH - 2008
Trang 3Mở đầu 1
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về đình công 06
1.3 Pháp luật về đình công của một số nước trên thế giới 34
Chương 2: Thực trạng đình công tại thành phố Hồ Chí Minh 38
2.1 Vài nét về kinh tế - xã hội thành phố Hồ Chí Minh, nơi diễn
2.2 Đặc điểm đội ngũ lao động trong các doanh nghiệp tại
Chương 3: Giải pháp vấn đề đình công tại thành phố Hồ Chí Minh 93
3.1 Dự báo về tình hình đình công trong những năm tới 93
Trang 4BLLĐ : Bộ luật lao động
HĐHGCS : Hội đồng hòa giải cơ sở
KCX-KCN : Khu chế xuất – Khu công nghiệp
NSDLĐ : Người sử dụng lao động
TƯLĐTT : Thỏa ước lao động tập thể
Trang 5ĐÌNH CÔNG TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền đình công của người lao động đã được pháp luật Việt Nam và nhiều nước trên thế giới thừa nhận Và theo pháp luật, đình công được coi là một trong những “vũ khí cuối cùng” mà người lao động (NLĐ) sử dụng để đấu tranh với người sử dụng lao động (NSDLĐ) nhằm đáp ứng và bảo vệ những lợi ích của mình Tuy nhiên, trong những năm gần đây, trong các doanh nghiệp (nhất là những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) tại thành phố Hồ Chí Minh, tình hình đình công diễn biến rất phức tạp và đã nảy sinh nhiều vấn đề cần nhanh chóng nghiên cứu và xử lý Chẳng hạn như đại
đa số các vụ đình công diễn ra trái với luật định; đã xuất hiện những phần tử kích động và lợi dụng đình công để trục lợi; bạo lực trong đình công (hành hung lực lượng bảo vệ, đập phá máy móc, nhà xưởng, tụ tập la hét, nhổ cây non, ném bỏ sản phẩm và bán thành phẩm… ); có nhiều doanh nghiệp để xảy
ra đình công trái luật nhiều lần trong một thời gian ngắn, với số người tham gia ngày càng đông và thời gian đình công ngày càng dài; vấn đề người lao động bị trù dập sau đình công; đã bắt đầu xuất hiện vụ đình công đầu tiên để phản đối quy định của Nhà nước (chứ không chỉ là tranh chấp giữa người sử dụng lao động và người lao động); hiện tượng đình công trái pháp luật ở nhiều doanh nghiệp trong cùng một thời điểm mà điển hình là đợt đình công kéo dài từ 28 tháng 12 năm 2005 đến 10 tháng 01 năm 2006 (14 ngày) tại 16 doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp và khu chế xuất thành phố Hồ Chí Minh với hơn 47.000 người lao động tham gia trái với qui định của pháp luật
Đình công là một hiện tượng xã hội diễn biến phức tạp, đã và đang gây
ra hậu quả xấu cho cả phía người sử dụng lao động và người lao động, đồng thời đe dọa sự ổn định xã hội và ảnh hưởng xấu tới môi trường đầu tư Chúng
Trang 6ta thừa nhận rằng, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường (dù là kinh tế thị trường có quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa) thì đình công là một hiện tượng xã hội tất yếu, khi mà các bên tham gia quan hệ lao động đều phải có “vũ khí” để bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó đối với NLĐ thì đình công chính là “vũ khí cuối cùng” chống lại những sai phạm của NSDLĐ Do đó, đình công vừa có mặt tích cực, nhưng lại có những tác động xấu nhất định đối với sự ổn định xã hội, sự phát triển kinh tế-xã hội, môi trường đầu tư (nhất là đình công trái luật) Tuy nhiên, quan niệm và thái độ đối với đình công của các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức xã hội của các cấp, các cơ quan chức năng còn chưa thống nhất Quan điểm giải quyết đình công cũng chưa có sự nhất quán: có nơi chỉ quan tâm bảo vệ NLĐ,
có nơi lại quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ NSDLĐ
Bên cạnh đó luật pháp của Việt Nam về đình công còn nhiều bất cập, các cơ quan lập pháp cũng thể hiện rõ sự “lúng túng” trong việc xây dựng và hoàn chỉnh pháp luật về đình công
Vấn đề đặt ra là, nguyên nhân nào dẫn đến các vụ đình công? Đình công có tác động tích cực và tiêu cực như thế nào đến sự phát triển kinh tế xã hội, môi trường đầu tư và trật tự xã hội? Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động và pháp luật về đình công như thế nào? Các cơ quan chức năng phải làm gì và làm thế nào để vừa bảo vệ quyền lợi nói chung và quyền đình công của người lao động, vừa góp phần ngăn chặn đình công trái luật, ngăn chặn NSDLĐ có những vi phạm pháp luật dẫn đến tranh chấp lao động, bảo vệ môi trường đầu tư và quyền lợi hợp pháp của chủ doanh nghiệp; đồng thời, ngăn chặn được các hoạt động kích động và lợi dụng đình công để phá hoại kinh tế, phá hoại trật tự xã hội? … Vì thế, chúng tôi rất đồng tình với quan điểm của Thành phố khi xác định đình công là vấn đề cần quan tâm nghiên cứu trong chương trình Khoa học xã hội nhân văn (Chương trình số 11) năm 2005 Chúng tôi cho rằng rất cần có một đề tài nghiên cứu ở cấp thành phố nhằm đánh giá một cách toàn diện những diễn biến mới nhất về đình công tại thành phố Hồ Chí Minh để từ đó đề xuất, kiến nghị giải pháp toàn diện cho vấn đề đình công
Trang 7Với cách tiếp cận trên, các tác giả xin chọn nghiên cứu đề tài “Đình công tại thành phố Hồ Chí Minh Thực trạng và giải pháp” Chúng tôi cho
rằng, nghiên cứu đề tài này là việc làm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đình công là hiện tượng xã hội nóng bỏng trong thời gian qua cũng như hiện nay, đang được các cơ quan thông tấn, báo chí, các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý nhà nước về lao động, các tổ chức chính trị xã hội quan tâm Vì vậy đã có khá nhiều bài báo đề cập đến những vụ đình công xảy ra được đăng tải trên các nhật báo, tuần báo và các tạp chí chuyên ngành
Bên cạnh đó đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề đình công, vấn đề tranh chấp lao động (nhất là tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài), vấn đề cơ sở pháp lý của quyền của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… như:
- “Vấn đề đình công của công nhân ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến
sĩ của Nghiên cứu sinh Phạm Thị Xuân Hương-Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, 2001
- “Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện pháp luật về quyền của người
lao động trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ của Lê Thị Anh Đào, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2002
- “Tình hình đình công tại thành phố Hồ Chí Minh-Thực trạng và giải
pháp”, Luận văn Cử nhân Chính trị của Mai Đức Chính, 2001
- “Một số hoạt động vi phạm pháp luật của phía chủ đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại TP HCM - Thực trạng
và giải pháp”, đề tài khoa học của tác giả Phan Quang Thịnh, Trường Đại học An ninh, 2001
Đặc biệt, vấn đề đình công và giải quyết đình công đã được Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam quan tâm sâu sắc và các cơ quan này đã tổ chức một số cuộc Hội thảo về đình công và giải quyết vấn đề đình công
Trang 8Những công trình trên, trong phạm vi đề cập của mình đã có những đóng góp đáng trân trọng Tuy nhiên do cách đặt vấn đề nghiên cứu về đình công trong một địa phương hoặc một loại hình doanh nghiệp và chỉ nghiên cứu về đình công chủ yếu dưới góc độ lý luận pháp lý nên chưa có một cái nhìn toàn diện về đình công tại thành phố Hồ Chí Minh Mặt khác, các công trình này đã được nghiên cứu từ những năm 2000-2001 nên thiếu sự cập nhật những thực tế nóng bỏng và phức tạp mới phát sinh gần đây tại thành phố
Đề tài này được thực hiện sẽ có sự kế thừa nhất định những công trình trên và đi sâu nghiên cứu toàn diện về đình công với những thực tiễn mới nhất trong các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là tìm ra nguyên nhân dẫn đến các
vụ đình công, từ đó đề xuất giải pháp toàn diện cho vấn đề đình công Vì thế,
nó không trùng với những đề tài khác
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng, nguyên nhân và những ảnh hưởng của đình công tại thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất giải pháp đối với vấn đề đình công nhằm bảo đảm quyền lợi các bên tham gia quan hệ lao động, xây dựng mối quan hệ lao động lành mạnh góp phần vào sự phát triển bền vững của thành phố
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về đình công của người
lao động Việt Nam trong các loại hình doanh nghiệp
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề đình công, tìm ra nguyên nhân đình công và giải pháp đối với vấn đề đình công, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động, bảo đảm quyền lợi các bên tham gia quan hệ lao động và bảo đảm môi trường đầu tư, giữ gìn trật
tự xã hội
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 1998 đến 2008
Trang 9- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
5 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đã nêu trên, đề tài nghiên cứu những nội dung
và nghĩa vụ )
- Tình hình một số doanh nghiệp chưa xảy ra đình công (để đối chứng)
- Những quy định của pháp luật về đình công của VN và một số nước trên thế giới
- Tình hình tổ chức công đoàn cơ sở và các tổ chức chính trị xã hội khác tại các doanh nghiệp (tổ chức, vai trò, việc thực hiện chức năng )
- Tình hình đình công (diễn biến, phân loại, nguyên nhân, hậu quả, quá trình giải quyết…)
- Giải pháp đối với vấn đề đình công
6 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, đề tài được thực hiện bởi một số phương pháp cụ thể như: Phương pháp tổng kết, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia…
Trang 10CHUƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG
1.1 TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ VẤN ĐỀ ĐÌNH CÔNG
1.1.1 Tranh chấp lao động
Về mặt pháp định, Luật Lao động (sửa đổi năm 2006) đã có giải thích
về tranh chấp lao động Theo đó, tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động
Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động
Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà tập thể lao động cho rằng người
sử dụng lao động vi phạm
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động
Về mặt hoc thuật, quan niệm của đa số các nhà luật học về tranh chấp lao động là giống nhau Theo đó, “tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề”
Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ lao động giữa các bên tham gia quan hệ, tức quan hệ giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ), là quan hệ giữa người mua và kẻ bán sức lao động Lúc này,
Trang 11“sức lao động” đã trở thành một thứ hàng hóa đặc biệt Nền kinh tế thị trường
đã làm cho quan hệ lao động ngày càng phức tạp, sống động và đa dạng Bên nào tham gia quan hệ lao động cũng muốn thu được lợi ích tối đa Chính điều này làm cho lợi ích các bên có những bất đồng Trong quá trình mua - bán sức lao động, do các bên đều muốn đạt lợi ích tối đa, nên những bất đồng giữa họ
là không thể tránh khỏi: lợi ích của bên này lại thường chính là sự thiệt hại của bên kia, quyền của bên này lại là nghĩa vụ của bên kia Trong những bất đồng phát sinh từ sự mua – bán sức lao động, có những bất đồng người ta có thể thương lượng được với nhau, nhưng cũng có những bất đồng không thể dung hòa, không thể thỏa thuận bằng thương lượng Trong những trường hợp
như thế, các bên tham gia quan hệ lao động có thể mời bên thứ ba làm trung
gian giải quyết và cũng có thể thông qua cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Tuy nhiên, không phải tất cả mọi bất đồng giữa các bên tham gia quan hệ lao động đều được coi là tranh chấp lao động Cũng không phải mọi bất đồng
đều dẫn đến tranh chấp lao động Những bất đồng giữa các bên tham gia quan
hệ lao động được coi là tranh chấp lao động khi các bên từ chối thương lượng hoặc thương lượng nhưng không đi đến thỏa thuận thống nhất (không giải quyết được các bất đồng), một trong các bên tham gia quan hệ lao động yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ quyền lợi của mình Chỉ khi đó,
bất đồng này mới trở thành tranh chấp lao động
Như vậy, tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật lao động vào từng quan hệ lao động cụ thể và cả trong trường hợp các chủ thể quan hệ lao động xác lập những nguyên tắc, điều kiện lao động hoặc
sử dụng lao động mà pháp luật hoặc hợp đồng lao động chưa được qui định hoặc thỏa thuận
Người ta có thể căn cứ vào những nét riêng biệt của tranh chấp lao động để phân biệt nó với các loại tranh chấp khác Những nét riêng ấy thể hiện ở các khía cạnh sau:
Một là, sự phát sinh, tồn tại của tranh chấp lao động luôn gắn với quan
hệ lao động Hay nói khác đi, tranh chấp lao động phát sinh từ việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và từ lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ lao động Điều
Trang 12này cho thấy tranh chấp lao động khác với những việc tranh chấp trong lao động Tranh chấp lao động có thể phát sinh trong trường hợp có hoặc không
có sự vi phạm pháp luật
Hai là, qui mô và mức độ tham gia của các chủ thể quan hệ lao động có
thể làm thay đổi tính chất và mức độ tranh chấp Nếu tranh chấp lao động chỉ xảy ra giữa một cá nhân NLĐ với NSDLĐ hoặc đối tượng tranh chấp chỉ liên quan đến quyền lợi của một người thì đó là tranh chấp cá nhân và loại tranh chấp này không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng nếu tranh chấp phát sinh giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ (có thể trong phạm vi một bộ phận của doanh nghiệp hoặc toàn doanh nghiệp) thì được gọi là tranh chấp lao động tập thể và loại tranh chấp này ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của bản thân cũng như gia đình NLĐ Loại tranh chấp này cũng có thể gây ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự công cộng và môi trường đầu tư, đời sống kinh
tế chính trị toàn xã hội Với hai loại tranh chấp này, do tính chất của nó nên
cơ chế giải quyết có sự khác nhau
Với tranh chấp lao động cá nhân, đây là tranh chấp giữa NLĐ với NSDLĐ mang tính đơn lẻ có liên quan tới quyền, nghĩa vụ và lợi ích của một NLĐ hoặc có thể là một nhóm NLĐ hay NDLĐ Tranh chấp này thường xuất hiện trong việc áp dụng các qui phạm pháp luật vào từng quan hệ cụ thể như việc thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trong việc thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội…
Với loại tranh chấp lao động tập thể, là loại tranh chấp giữa tập thể NLĐ với NSDLĐ Tranh chấp này có thể xảy ra trong một bộ phận của doanh nghiệp hoặc trong phạm vi toàn doanh nghiệp hoặc rộng hơn là ở cả phạm vi một ngành Tranh chấp lao động tập thể luôn liên quan tới quyền và lợi ích của tập thể NLĐ Thông thường những tranh chấp này phát sinh trong việc thực hiện các điều khoản đã thỏa thuận trước (trong thỏa ước lao động tập thể) như điều kiện lao động, điều kiện sử dụng lao động hoặc trong việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ mới (mà trước đó các bên chưa thỏa thuận) do những yếu tố phát sinh tại thời điểm xảy ra tranh chấp Trong loại tranh chấp
Trang 13này, chủ thể tham gia tranh chấp bao giờ cũng là tập thể NLĐ (được đại diện bởi công đoàn cơ sở) Trong tranh chấp tập thể, công đoàn là một bên của tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ đáp ứng những yêu cầu của NLĐ Điều này cho thấy, tranh chấp lao động tập thể bao giờ cũng phức tạp hơn tranh chấp lao động cá nhân, qui mô lớn hơn và có tính tổ chức nên cần có cơ chế riêng để giải quyết tranh chấp lao động tập thể
1.1.2 Vấn đề đình công
Về ngữ nghĩa, trong tiếng Việt, đình công được hiểu đồng nhất với bãi
công, theo đó đình công là “cùng nhau nghỉ không làm việc để chống đối chủ hoặc nhà nước” (Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý, Nxb Thông tin, H
1999, trang 640)
Về mặt luật định, theo điều 172 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Bộ Luật Lao động, Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số 74/2006/QH11 ngày
29 tháng 11 năm 2006, thì Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và
có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động tập thể
Đình công là một quyền cơ bản của giai cấp công nhân và những người lao động, là phương tiện cuối cùng để họ có thể tự bảo vệ mình khi cần thiết, nhất là trong điều kiện nền kinh tế thị trường Vì vậy, đối với những nước có nền kinh tế phát triển và ổn định thì đình công là một vấn đề quen thuộc và được pháp luật cho phép
Để hiểu rõ hơn về quyền đình công của người lao động, người ta nghiên cứu nó dưới nhiều góc độ khác nhau
Dưới góc độ kinh tế xã hội, đình công được coi là quyền kinh tế xã hội của NLĐ trong nền kinh tế thị trường Nó được thực hiện nhằm gây sức ép buộc NSDLĐ phải giải quyết các vấn đề về quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ phát sinh trực tiếp từ quan hệ lao động như tiền lương, tiền thưởng, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, bảo đảm các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế…
Dưới góc độ pháp lý, đình công được hiểu là một trong những quyền cơ bản của NLĐ được pháp luật quy định Nó đảm bảo cho NLĐ được quyền nghỉ việc tập thể nhằm buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách chính đáng của mình Tuy nhiên, quyền đình công này chỉ
Trang 14giới hạn trong khuôn khổ pháp luật cho phép và phải tuân theo những trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật qui định Dưới góc độ này có thể hiểu “đình công là sự ngừng việc tập thể có tổ chức của NLĐ, nhằm gây áp lực buộc NSDLĐ hoặc các chủ thể khác phải thỏa mãn một hoặc một số yêu cầu của tập thể lao động”
Xét về bản chất, đình công vừa là sự phản ánh về tranh chấp lao động tập thể giữa một bên là tập thể NLĐ và một bên là NSDLĐ, lại vừa là hậu quả của một quá trình giải quyết không thành tranh chấp này Đồng thời, đình công còn là biện pháp mà pháp luật cho phép tập thể lao động tiến hành nhằm giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng theo hướng có lợi cho phía tập thể NLĐ Với cách hiểu này, rõ ràng đình công không phải là tranh chấp lao động như một số người vẫn hiểu lâu nay
Trong khi một số nước chấp nhận quyền đình công, thì nhiều nước khác lại hạn chế quyền này bằng những giới hạn khác nhau về phạm vi và mức độ ngặt nghèo Ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ chưa thấy pháp luật có điều khoản nào coi đình công là hợp pháp hay bất hợp pháp Do tính chất của các hệ thống kinh tế và chính trị đặc biệt nên chính phủ các nước này cho rằng những NLĐ
và tổ chức đại diện của họ không cần thiết phải sử dụng tới các hành động trực tiếp để bảo vệ quyền lợi của mình
Theo Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Liên Hiệp Quốc năm 1966 mà Việt Nam đã tham gia phê chuẩn ngày 24/9/1982, điều 8 khoản d đã chỉ rõ: “các quốc gia tham gia Công ước này cam kết đảm bảo… quyền đình công, miễn là quyền này được thực thi theo đúng luật của mỗi nước” Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế ILO thì việc bảo vệ quyền đình công của NLĐ cụ thể hóa bằng 2 công ước lao động quốc tế: Công ước số
87 năm 1948 về quyền tự do liên kết và quyền tổ chức; Công ước số 98 năm
1949 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể ILO cho rằng quyền đình công
là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình Việc đình công không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp mà còn nhằm tìm ra giải pháp cho
Trang 15bất kỳ loại lao động nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm Như vậy, đình công không phải đơn thuần là tranh chấp lao động tập thể như một số người vẫn còn quan niệm Mặt khác, đình công của NLĐ cũng khác với biểu tình Đình công là quyền kinh tế xã hội chỉ của riêng NLĐ theo quy định của pháp luật nhằm bảo
vệ những quyền và lợi ích kinh tế hợp pháp của mình trong phạm vi quan hệ đã được thiết lập với NSDLĐ, chỉ liên quan đến quyền và lợi ích kinh tế xã hội, còn biểu tình là một trong những quyền chính trị cơ bản của mọi công dân nghĩa là bao gồm cả NLĐ, NSDLĐ và mọi công dân khác, công dân có thể đòi quyền lợi
về mọi mặt, mà chủ yếu là các vấn đề chính trị như: đòi quyền tự do lập hội, quyền tự do ngôn luận, đảm bảo các chính sách chính trị, kinh tế xã hội cho công dân
Trước đây, ở nước ta trong một thời gian dài, do đặc thù của cơ chế quản
lý kinh tế tập trung bao cấp, quyền đình công của NLĐ đã không được sử dụng
và trên thực tế NLĐ cũng chưa lần nào phải sử dụng tới quyền này Ngày nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, các quan hệ lao động không còn mang tính hành chính như trước nữa, nó đã mang màu sắc của các quan hệ kinh tế trên thị trường và có sự đấu tranh về lợi ích giữa các bên Vì vậy, các tranh chấp lao động xảy ra ngày càng nhiều hơn và trong nhiều trường hợp NLĐ đã phải dùng đến biện pháp cuối cùng, đó là đình công
1.1.3 Những đặc điểm cơ bản của đình công
1.1.3.1 Đình công biểu hiện thông qua sự ngừng việc triệt để của người lao động và do tập thể người lao động tiến hành
Sự ngừng việc của NLĐ được thể hiện ở nhiều dạng và nhiều mức độ khác nhau Nhưng đình công thường được biểu hiện ở sự ngừng việc tập thể một cách triệt để của tập thể NLĐ mà đúng ra họ phải thực hiện công việc theo hợp đồng lao động, theo thỏa ước lao động và theo quy chế của nơi làm việc Vì vậy, tất cả những sự ngừng việc không triệt để như nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, lãn công không được xác định là đình công Việc lãn công cũng không được pháp luật thừa nhận trong tranh chấp lao động nên bị xem là hành vi vi phạm kỷ luật lao động, bị NSDLĐ xử lý theo quy định về kỷ luật lao động
Trang 16Ngoài ra, sự ngừng việc này còn phải do nhiều NLĐ cùng tiến hành Một vài người ngừng việc mặc dù có tổ chức vẫn không được coi là đình công Như vậy, đình công sẽ chỉ được thừa nhận khi có sự ngừng việc triệt để của tập thể NLĐ trong tập thể ấy
Sự lãnh đạo và chỉ đạo cũng như tổ chức điều hành cuộc đình công của BCH công đoàn cũng phải tuân theo quy định của pháp luật, không ai được cản trở quyền đình công, nếu cuộc đình công đó là hợp pháp, hoặc bắt buộc người khác đình công
1.1.3.3 Đình công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể
NLĐ được tiến hành đình công khi tập thể NLĐ không đồng ý với việc giải quyết tranh chấp lao động tập thể của cơ quan có thẩm quyền Do đó, không
có tranh chấp lao động tập thể thì không phát sinh đình công Tuy nhiên, tranh chấp lao động tập thể cũng không được vượt qua phạm vi quan hệ lao động và không được vượt ra ngoài phạm vi của doanh nghiệp Nhưng cũng không phải tranh chấp lao động tập thể nào cũng dẫn đến đình công Nếu có những cuộc tranh chấp lao động mà hai bên chủ thể có thể thương lượng, thỏa thuận hoặc được hòa giải thành, cùng đồng ý với quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì sẽ không có đình công xảy ra Vì vậy, có thể nói rằng, đình công phải
Trang 17xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể, không phải xuất phát từ tranh chấp lao động lẻ tẻ, cá nhân, nhưng sự tranh chấp lao động tập thể đó không được giải quyết có kết quả thì đình công là một trong những biện pháp góp phần giải quyết tranh chấp lao động tập thể đó
1.1.3.4 Đình công bao giờ cũng đi liền với các yêu sách
Trong mỗi cuộc đình công, tập thể lao động có thể đưa ra một hoặc nhiều yêu sách đối với NSDLĐ Những yêu sách này có thể xuất phát từ những nhu cầu chính đáng, cũng có thể xuất phát từ những nguyện vọng khác Cụ thể những yêu sách thường gặp trong các cuộc đình công là:
- Yêu sách về tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, trợ cấp
Đây là loại yêu sách xuất phát từ việc có phân biệt tiền lương giữa những người lao động; trả lương thời gian nhưng buộc lao động theo hình thức khoán sản phẩm với định mức cao; trả lương chậm, không tính phụ cấp làm đêm, không trả trợ cấp thôi việc cho công nhân thôi việc
- Yêu sách về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ việc
Các yêu sách về tiền lương như trên thường gắn liền với yêu sách về hạn chế giờ làm việc như: việc làm thêm giờ quá mức mà không trả lương làm thêm giờ, nhiều ngày chủ nhật không được nghỉ, không được nghỉ giữa ca, công nhân
ốm có đơn xin nghỉ nhưng không được giải quyết, bị tai nạn lao động nghỉ cũng
bị trừ lương, nhiều năm liền công nhân không được nghỉ phép,…
- Yêu sách về chấm dứt các hành vi đối xử thô bạo
Đây là loại yêu sách xuất phát từ các hành vi đối xử thô bạo như: ngược đãi, xúc phạm nhân phẩm người lao động,… Một số năm gần đây các hành vi này thường xảy ra ở một số doanh nghiệp có vốn ĐTNN, hoặc DNTN có thuê chuyên gia nước ngoài điều hành, quản lý trực tiếp
- Yêu sách về chống sa thải tùy tiện, trái pháp luật
Ở một số doanh nghiệp, đã có sự mâu thuẫn với NLĐ và đã xảy ra tranh chấp lao động hoặc đình công, thì sau khi kết thúc việc tranh chấp, chủ doanh nghiệp đã trù dập và sa thải người tham gia đấu tranh trái pháp luật
- Yêu sách về quy định không hợp lý định mức lao động
Trang 18Một số doanh nghiệp có định mức lao động quá cao, công nhân không đạt được, do đó thu nhập thấp hoặc buộc công nhân phải kéo dài thời gian lao động mới có thể đạt được định mức của doanh nghiệp Vì thế, đã xảy ra nhiều cuộc đình công của công nhân đòi xét lại định mức lao động
- Yêu sách về bảo hiểm xã hội
NLĐ trong các doanh nghiệp được đóng bảo hiểm xã hội nhưng trên thực
tế, một số doanh nghiệp không đóng bảo hiểm xã hội nên công nhân không được hưởng bảo hiểm xã hội Điều này đã dẫn đến các cuộc đình công của NLĐ
- Yêu sách về an toàn lao động, vệ sinh lao động
Trong thời gian qua, việc đảm bảo an toàn vệ sinh lao động cũng như việc cải thiện điều kiện lao động trong nhiều doanh nghiệp rất kém, gây ra những tai nạn lao động do không được trang bị bảo hộ lao động đầy đủ và cải thiện môi trường, điều kiện làm việc, những vụ ngộ độc thức ăn tập thể do vệ sinh thực phẩm kém Trên thực tế đã xảy ra một số cuộc đình công trên địa bàn Thành phố
Hồ Chí Minh đòi vệ sinh, an toàn lao động
- Yêu sách về ký kết và thực hiện đúng hợp đồng lao động
Việc ký kết và thực hiện đúng hợp đồng lao động là một yêu sách bức xúc, chính đáng của NLĐ Có không ít những doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết hợp đồng lao động mà còn tự ý điều công nhân làm việc khác, ở công đoạn khác không theo hợp đồng lao động mà không thương lượng, thỏa thuận với công nhân
Tình trạng phổ biến ở nhiều doanh nghiệp là chưa hề ký hợp đồng lao động với NLĐ, hoặc chỉ ký với một số, số còn lại làm việc với hình thức “tạm tuyển” Đây là việc làm dễ gây tranh chấp lao động và đình công
- Yêu sách về những quyền lợi khác chưa có quy định của pháp luật lao động hiện hành
Đây là loại yêu sách đặc thù trong tranh chấp lao động Loại yêu sách này thể hiện ở việc đòi giải quyết bữa ăn giữa ca, yêu sách đòi cải tiến, nâng cao mức ăn giữa ca, hoặc tổ chức bữa ăn giữa ca, v.v
1.1.4 Đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp
Trang 191.1.4.1 Đình công hợp pháp
Cuộc đình công được coi là hợp pháp khi hội đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, cuộc đình công phải phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể và
trong phạm vi quan hệ lao động, tức là về chủ thể phải là tranh chấp của tập thể lao động trong doanh nghiệp hoặc trong bộ phận kết cấu của doanh nghiệp và về nội dung tranh chấp lao động phải liên quan đến quyền và lợi ích chung của tập thể lao động trong doanh nghiệp hoặc trong kết cấu của doanh nghiệp và không vượt ra ngoài phạm vi quan hệ lao động (phạm vi quan hệ lao động gồm: tiền lương, thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, kỷ luật lao động, những quy định riêng đối với lao động nữ, trách nhiệm vật chất, vệ sinh lao động, an toàn lao động,…)
Thứ hai, cuộc đình công được tập thể những NLĐ làm việc tại doanh
nghiệp tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp (có thể là trong toàn bộ doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp), không được tiến hành ở bên ngoài khuôn viên doanh nghiệp
Thứ ba, tập thể lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng
tài lao động cấp tỉnh nhưng không khởi kiện trước tòa án, mà chọn đình công
Thứ tư, tuân theo các quy định của Bộ luật lao động về trình tự, thủ tục
tiến hành đình công
Thứ năm, doanh nghiệp nơi tập thể lao động tiến hành đình công không
thuộc doanh nghiệp phục vụ công cộng và doanh nghiệp thiết yếu cho nền kinh
tế quốc dân hoặc an ninh quốc phòng do chính phủ quy định
Thứ sáu, không vi phạm quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc
hoãn hoặc ngừng cuộc đình công (Thủ tướng Chính phủ quyết định hoãn hoặc ngừng cuộc đình công trong trường hợp xét thấy đình công có nguy cơ nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc phòng hoặc an toàn công cộng Sau đó sẽ giao cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phối hợp với công đoàn cùng cấp giải quyết, nếu tập thể lao động không nhất trí với việc giải quyết đó thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết)
1.1.4.2 Đình công bất hợp pháp
Trang 20Bất kỳ một cuộc đình công nào, nếu vi phạm một trong 7 điều kiện dưới đây đều không được pháp luật thừa nhận và là cuộc đình công bất hợp pháp
(1) Không phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể;
(2) Không do những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp tiến hành;
(3) Khi vụ tranh chấp lao động tập thể chưa được hoặc đang được cơ quan, tổ chức giải quyết theo quy định của Bộ luật Lao động;
(4) Không lấy ý kiến người lao động về đình công theo quy định hoặc
vi phạm các thủ tục quy định của Bộ luật Lao động;
(5) Việc tổ chức và lãnh đạo đình công không tuân theo quy định của
Bộ luật lao động;
(6) Tiến hành tại doanh nghiệp không được đình công thuộc danh mục
do Chính phủ quy định;
(7) Khi đã có quyết định hoãn hoặc ngừng đình công
1.1.5 Về đình công ở một số nước trên thế giới thời gian gần đây
Tranh chấp giữa NSDLĐ với NLĐ dẫn đến đình công là một hiện tượng bình thường trong nền kinh tế thị trường các nước trên thế giới Những cuộc đình công đầu tiên đã có từ thờ kỳ cách mạng công nghiệp ở nước Anh Trong suốt lịch sử từ đó tới nay, NLĐ trên thế giới luôn sử dụng đình công như một vũ khí lợi hại trong cuộc đấu tranh với NSDLĐ để bảo vệ quyền lợi của mình Ngày nay, đình công trên thế giới vẫn là một vấn đề xã hội, vẫn luôn là vũ khí quan trọng của NLĐ, cho dù đó là nước đang phát triển hoặc nước công nghiệp phát triển Với những lý do rất khác nhau, NLĐ ở các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Italia… dùng vũ khí đình công không chỉ để đấu tranh với NSDLĐ mà đấu tranh với cả Chính phủ
Ngày 1-11-2005 khoảng 100.000 người đã xuống đường tại thủ đô Berlin nhằm phản đối kế hoạch cắt giảm trợ cấp xã hội của chính quyền Đức
Từ khi chính quyền của Thủ tướng Gerhard Schroeder khởi xướng cải
Trang 21cách nhằm vực dậy nền kinh tế Đức, đây là cuộc tập hợp rộng lớn nhất của quần chúng theo lời kêu gọi của giới nghiệp đoàn, những người chống toàn cầu hóa và nhiều tổ chức cánh tả, kể cả những nhà lãnh đạo Đông Đức trước đây Đoàn người biểu tình trưng nhiều biểu ngữ chế giễu những cải cách thuế
và trợ cấp xã hội của chính phủ, như: “Cái nghèo cho mọi người”
Kế hoạch cải cách của Thủ tướng Schroeder đề ra việc cắt giảm thuế bắt đầu vào năm 2005 nhằm thúc đẩy người dân Đức tiêu tiền Song song với
kế hoạch này, nhiều khoản trợ cấp bị cắt vào năm tới và người về hưu phải đóng góp thêm vào phúc lợi xã hội Ông Schroeder đã tuyên bố rằng 20 triệu người về hưu ở Đức phải thắt lưng buộc bụng để lấp đầy khoản thâm hụt lương hưu lên đến 10 tỉ euro (vào năm 2004)
Trong khi đó tại Anh, Nghiệp đoàn Công nhân Thông tin (CWU) và lãnh đạo bưu chính Hoàng gia Anh đã tổ chức đợt đình công bán chính thức của khoảng 20.000 lao động nhằm yêu sách về tiền lương và điều kiện làm việc Cuộc đình công đã làm gián đoạn nghiêm trọng dịch vụ bưu chính tại London và hơn 10 địa phương khác khiến nhiều bưu cục phải đóng cửa
Ở Italia đã có cuộc tổng đình công vào ngày 2/11/2005 để phản đối Chính phủ cắt giảm ngân sách
Dự thảo ngân sách năm 2006 của Chính phủ Italia với kế hoạch giảm hụt ngân sách khoảng 16,5 tỉ Euro thông qua việc giảm chi phí, bán tài sản và các biện pháp chống gian lận đã bị dân chúng phản ứng dữ dội Ngày 2/11/2005, hàng chục nghìn người đã tham gia tổng đình công, biểu tình trên toàn quốc để phản đối kế hoạch này
Kế hoạch nêu trên của Chính phủ Italia bị các tổ chức công đoàn chỉ trích là “hy sinh” lợi ích của khu vực miền Nam kém phát triển hơn, giảm ngân sách dành cho đa phương và cắt giảm 100.000 việc làm trong khu vực nhà nước
Theo tổ chức công đoàn CGIL, một trong những tổ chức công đoàn lớn nhất Italia, cuộc tổng đình công với sự tham gia của hàng trăm nghìn công nhân trên khắp Italia đã ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động giao thông công cộng, hoạt động của các văn phòng Chính phủ, bệnh viện, ngân hàng và bưu
Trang 22điện Khoảng 230 chuyến bay, trong đó có 125 chuyến quốc tế đã bị hủy do nhân viên của Hãng Hàng không Quốc gia Italia đình công
Đây là cuộc tổng đình công thứ 5 diễn ra trong vòng 4 năm 2005) Ông Guglielmo Epifani, lãnh tụ CGIL, nhấn mạnh cuộc đình công này nhằm phản đối kế hoạch của Chính phủ giảm thâm hụt ngân sách khoảng 16,5
(2001-tỉ Euro thông qua việc giảm chi phí, bán tài sản và các biện pháp chống gian lận gây ảnh hưởng đến các ngành hàng không, giao thông vận tải, giáo dục, văn hóa, y tế
Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, thì nguyên nhân sâu xa dẫn đến
sự bất bình này của dân chúng còn do sự trì trệ của nền kinh tế Italia Theo các nhận định của Quĩ tiền tệ quốc tế IMF, kinh tế Italia trong năm 2005 có mức tăng trưởng bằng không và nhích lên 1,4% vào năm 2006 Trong 2 năm qua, mức tăng trưởng kinh tế của Italia cũng thấp hơn mức trung bình chung của khu vực đồng Euro, do tình trạng xuất khẩu, sản xuất và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước này liên tục bị giảm sút Ngành du lịch của bán đảo Italia thì bị rớt hạng, từ thứ tư xuống còn thứ 5 trong số các điểm đến
du lịch hàng đầu thế giới Những khó khăn trên càng làm ngân sách công ích thêm khốn đốn Thâm hụt ngân sách chính phủ năm 2005 lên tới 4,3% GDP, thay vì 3,8% như dự đoán Trong năm 2006, IMF còn dự tính thâm thủng ngân sách Chính phủ lên tới 5,1% Song song đó, công nợ của Italia thuộc dạng cao nhất châu Âu và lần đầu tiên trong lịch sử kể từ những năm 1990 đang chiếm tới 105,5% GDP và có thể lên đến 120% GDP
Ngoài sự thâm hụt về ngân sách, ngành tài chính Italia cũng đang có mâu thuẫn quanh việc Thống đốc Ngân hàng Antonio Fazio bị cáo buộc có liên quan đến một vụ xì-căng-đan hồi mùa hè năm ngoái Nhiều chính khách muốn Thống đốc Fazio từ chức nhằm khôi phục thanh danh và uy tín của ngành ngân hàng Italia dưới con mắt của bạn bè quốc tế, đặc biệt là của Nhóm các nước G7
Chính những điều này làm cho lòng tin của nhân dân suy giảm mạnh Các cuộc thăm dò dư luận cho thấy uy tín của liên minh trung hữu cầm quyền đang kém từ 9-10 điểm so với Liên minh cánh tả đối lập Và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc tổng đình công nói trên
Trang 23Pháp là nước công nghiệp phát triển những năm qua cũng có nhiều cuộc đình công gây rung động xã hội Chẳng hạn cuộc đình công kéo dài một ngày vào ngày 4-10-2005 đã làm gián đoạn giao thông công cộng ở Pháp, đồng thời là cuộc thử thách lớn đối với Chính phủ trong việc thực thi cải cách lao động và kinh tế Cuộc đình công này ảnh hưởng tới hoạt động của 140 thành phố, thị xã, thị trấn
Những người tổ chức cuộc đình công này là nhằm phản đối các chủ trương của Chính phủ Pháp như chính sách kinh tế và lao động; kế hoạch tư hữu hóa, trong đó kế hoạch tư hữu hóa các công ty nhà nước; biện pháp việc làm trọn gói vừa được chính phủ thông qua nhằm làm giảm tỷ lệ thất nghiệp; hợp đồng tuyển dụng mới (CPE) cho phép nhà tuyển dụng nào có dưới 20 nhân viên thì được quyền sa thải nhân công không cần lý do vào bất cứ thời điểm nào trong vòng 2 năm đầu tuyển dụng Điều này khiến những người lao động phẫn nộ và cho rằng đây là bước đầu tiến tới thị trường lao động
“Anglo-Saxon”, trong đó công việc ít được bảo đảm Những người đình công cũng dọa sẽ có thêm những cuộc đình công khác nếu họ không nhận được những đáp ứng thích hợp từ phía Chính phủ đối với những yêu cầu của họ
Trước sự đấu tranh của NLĐ Pháp, Chính phủ đã phải hoãn việc thực hiện các chính sách mới về lao động
Điều này cho thấy đình công không phải là vấn đề riêng của mỗi quốc gia, mà nó là hiện tượng phổ biến trên thế giới, là vũ khí của NLĐ trên toàn thế giới
1.1.6 Vài nét về vấn đề đình công của công nhân thành phố Hồ
Chí Minh trong lịch sử
Lịch sử hình thành giai cấp công nhân Việt Nam đã cho thấy, do vị trí đặc biệt của mình, thành phố Hồ Chí Minh là nơi có sự xuất hiện sớm nhất của giai cấp công nhân Việt Nam Trong khoảng 40 năm đầu tiên xâm lược Việt Nam (1858 – 1898), thực dân Pháp còn lo thôn tính, bình định tình hình nên chưa tổ chức được việc khai thác thuộc địa một cách qui mô, chưa hình thành những nhà máy, xí nghiệp lớn Điều đó đồng nghĩa với việc chưa xuất hiện tầng lớp người với tư cách là “giai cấp công nhân” ở Việt Nam nói
Trang 24chung Tuy nhiên, với Thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta có thể khẳng định rằng đã xuất hiện một bộ phận giai cấp công nhân Việt Nam Sự xuất hiện những công nhân đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh gắn liền với sự xuất
hiện của hãng Arsenal được thực dân Pháp xây dựng trên cơ sở thủy trại Ba Son tại thành Gia Định (Bến Nghé) và tiếp sau đó là việc xây dựng bến cảng
Nhà Rồng phục vụ cho hãng vận tải biển Messagenies Maritimes; xây dựng các nhà máy, công sở, phố xá, công trình giao thông như tuyến đường sắt Sài gòn – Mỹ Tho… đã thúc đẩy việc phát triển đội ngũ công nhân lên tới hàng vạn người vào năm 1883 Đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh tăng lên nhanh chóng cùng với quá trình khai thác thuộc địa của Pháp (lần thứ nhất và lần thứ hai) Tính đến năm 1929, đội ngũ công nhân Việt Nam có khoảng hơn 221.000 người thì trong đó công nhân thành phố Hồ Chí Minh chiếm tới 46%
Trong quá trình trưởng thành, giai cấp công nhân thành phố đã sớm giác ngộ việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho giai cấp mình bằng nhiều hình thức đấu tranh khác nhau với giai cấp tư sản bóc lột, với giới chủ, mà trong đó hình thức đình công, bãi công được giai cấp công nhân sử dụng khá hiệu quả Ngay từ năm 1912 đã có những cuộc bãi công lớn của công nhân ở xưởng Ba Son và trường Bá Nghệ (trường Cao Thắng ngày nay) Tháng 11/1922 đã nổ
ra cuộc tổng bãi công của toàn ngành nhuộm Chợ Lớn biểu thị ý thức giai cấp
rõ nét Cuộc tổng bãi công này đã được Nguyễn Ái Quốc phản ánh trong tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”: “Khắp nơi giai cấp thợ thuyền bắt đầu
ý thức được sức mạnh và giá trị của mình” và “lần đầu tiên một phong trào như thế đã diễn ra ở thuộc địa và đó là dấu hiệu thời đại cần ghi nhớ”
Đình công, bãi công của công nhân Sài Gòn – Gia Định – Chợ Lớn ngày càng phát triển, đặc biệt là khi xuất hiện tổ chức công hội Lịch sử phong trào công nhân thành phố Hồ Chí Minh đã ghi nhận cuộc bãi công đầu tiên do tổ chức Công hội (Công đoàn) tổ chức chính là cuộc bãi công của công nhân Ba Son nổ ra ngày 04 tháng 08 năm 1925 đòi hỏi các yêu sách công khai là: lấy lại số thợ đã bị bớt; tăng lương 20%; ngày lãnh lương phải cho nghỉ trước nửa giờ Cuộc đấu tranh này được sự ủng hộ của công nhân viên chức và nhân dân cả Sài Gòn – Gia Định, kéo dài trong 8 ngày và đã
Trang 25buộc được giới chủ Pháp phải tăng lương cho công nhân thêm 10% Lịch sử cũng đã ghi nhận cuộc bãi công đầu tiên do Đảng Cộng sản lãnh đạo là cuộc bãi công của 500 công nhân đề pô xe lửa Dĩ An (ngoại thành Sài Gòn lúc đó) với những khẩu hiệu trong truyền đơn, băng rôn và viết trên tường như:
“Công nông binh liên hiệp”, “Thi hành luật ngày làm việc 8 giờ”, “Không được đánh đập”, “Tăng lương”, “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, “Không được cúp lương” Cuộc bãi công kéo dài từ ngày 16/3/1930 đến 01/05/1930 thì giới chủ phải nhượng bộ một số yêu sách liên quan lợi ích kinh tế của công nhân đề pô xe lửa Dĩ An Trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào công nhân, Đảng ta đã thành lập Ban Công vận Trung ương do Tổng Bí thư Trần Phú trực tiếp làm Trưởng ban và Ban Công vận đã trực tiếp lãnh đạo phong trào công nhân đấu tranh mạnh mẽ hơn với những hình thức phong phú
và có phần quyết liệt hơn trước Trong những năm 1930 – 1931, dưới sự lãnh đạo của Ban Công vận Trung ương, Công hội đỏ Nam kỳ đã liên tiếp tổ chức
5 cuộc bãi công lớn ở các hãng Standart Oil, Texaco và Pháp Á… Đặc biệt điển hình là cuộc bãi công ngày 23/03/1931 của 700 công nhân hãng dầu Socony đòi tăng lương, giảm giờ làm và chống đánh đập công nhân do Chi bộ Đảng phát động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Lê văn Lương Cuộc bãi công này đã có sự kết hợp với đấu tranh vũ trang khi công nhân tổ chức các đội tự vệ bảo vệ bãi công, bảo vệ mít-tinh, chống trả quyết liệt sự đàn áp của địch, diệt một tên cảnh sát, bảo vệ thành công cuộc diễn thuyết của các đồng chí lãnh đạo cuộc đình công
Từ đó, hòa chung với phong trào công nhân trong toàn quốc, công nhân thành phố Hồ Chí Minh đã đấu tranh tích cực, đóng góp công sức lớn lao vào
sự thành công của Cách mạng tháng Tám tại Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn
Sau khi trở lại xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã rất chú ý việc đàn
áp phong trào công nhân Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn Tại đây, cứ 6 công nhân lại có 01 mật thám đi kèm nhằm chia rẽ nội bộ công nhân, dễ bề thao túng và đàn áp phong trào Bên cạnh đó, Pháp còn lập ra các Hội Tương tế, đoàn đại biểu công nhân…với hình thức bên ngoài là những hội đoàn công nhân nhưng thực chất là những tổ chức phản động chống phá cách phong trào
Trang 26cách mạng của công nhân Trước tình hình mới, để phục vụ hữu hiệu, thiết thực cho công cuộc kháng chiến chống Pháp, công nhân Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tổ chức lực lượng công nhân vũ trang cách mạng tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp Bên cạnh đó, trong vùng tạm chiếm, hình thức đấu tranh bằng đình công, bãi công vẫn được duy trì kết hợp với việc các chiến sĩ công đoàn của chúng ta đi vào nắm các hội đoàn để
sử dụng phục vụ đấu tranh
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn nằm trong vùng kiểm soát của Mỹ - ngụy, do đó hình thức đấu tranh bằng đình công, bãi công diễn ra khá phổ biến và mạnh mẽ Từ 1954 đến 1975 đã có nhiều cuộc đấu tranh diễn ra quyết liệt Chỉ tính riêng năm 1961, cả miền Nam đã có 4416 cuộc đấu tranh của công nhân chống lại giới chủ, trong đó có
147 cuộc đấu tranh lớn, mà chủ yếu là diễn ra ở khu vực Sài Gòn-Gia Chợ lớn Tiêu biểu nhất trong đó là cuộc đấu tranh của 400 công nhân hãng dầu Xtan – vác, đã đình công và chiếm xưởng, kéo dài 4 tháng nhằm phản đối thái độ ngang ngược của chủ hãng Mỹ đối với công nhân Việt Nam Cuộc đấu tranh này được công nhân các hãng taxi, nghiệp đoàn xích lô máy, ba gác máy, thuyền gắn máy ủng hộ bằng cách tẩy chay xăng của hãng Xtan-vác Sau 4 tháng, chính quyền ngụy phải buộc chủ hãng bãi bỏ lệnh sa thải công nhân, chấp nhận tăng lương từ 6 đến 12% và hứa cải thiện chế độ làm việc Đây là cuộc đấu tranh vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa chính trị, chứng
Định-tỏ đội ngũ công nhân không chỉ đấu tranh đòi lợi ích kinh tế mà còn làm hạn chế những kế hoạch quân sự của địch
Những năm sau đó, phong trào đình công, bãi công của công nhân vẫn diễn ra sôi nổi Ngày 28/12/1963 công nhân Vinatexco bắt đầu cuộc đấu tranh bằng cách đưa ra 6 yêu sách đòi tăng lương và cải thiện đời sống Ngày 3/1/1964 bọn chủ đáp lại yêu sách của công nhân bằng cách đóng cửa một số phân xưởng và sa thải một số công nhân, do đó công nhân toàn hãng đã đình công Qua hai lần hòa giải hai bên không thỏa thuận được, chiều 14/01/1964,
1600 công nhân đình công chiếm xưởng Sáng 17/01/1964, chủ xưởng cúp điện và tuyên bố ngưng cung cấp cơm, nước cho công nhân Lúc 10 giờ cùng
Trang 27ngày, Phó Tỉnh trưởng Nội an Gia Định cùng 2 lính Mỹ đưa 2 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ cùng hàng trăm cảnh sát, 18 xe GMC, 30 xe zeep, 5 xe vòi rồng,
3 xe Hồng thập tự đến đàn áp giết chết một số công nhân, làm bị thương trên
200 công nhân khác, bắt một số đại diện công nhân Hành động này của ngụy quyền làm dấy lên sự phản đối mạnh mẽ của các tầng lớp lao động của cả miền Nam Do áp lực đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, ngụy buộc phải trả tự do cho những người bị bắt và đáp ứng hầu hết các yêu sách của công nhân
Đỉnh cao của phong trào đình công của công nhân thời kỳ 1961 – 1964 phải kể đến cuộc tổng đình công của công nhân toàn thành vào ngày 21/07/1964 dưới sự lãnh đạo của Khu ủy Sài Gòn – Gia Định để chống lại Sắc luật 18-1964 của Nguyễn Khánh cấm biểu tình, đình công, hội họp và ủng hộ công nhân Xưởng dệt Vimytex Ngày 21/07/1964, khoảng 20 vạn công nhân các hãng đều nghỉ việc và bắt đầu khởi hành từ trụ sở Tổng Liên đoàn Lao công tuần hành qua các con đường lớn, tiến đến trước cửa dinh Nguyễn Khánh (lúc này số người đã lên tới 30 vạn) trương các khẩu hiệu đòi
tự do dân chủ Sáu vạn công nhân các đồn điền cao su xung quanh thành phố cũng tuyên bố sẵn sàng tiến về Sài Gòn ủng hộ công nhân đang đình công Cuộc tổng đình công này đã làm tê liệt Sài Gòn: thành phố không điện, nước; giao thông ngừng trệ, nhiều cửa hàng cửa hiệu đóng cửa, thông tin liên lạc bị gián đoạn… Trước khí thế của công nhân, Nguyễn Khánh buộc phải tuyên bố
tự do hội họp, hứa giải quyết các yêu sách của công nhân Vimytex
Trong giai đoạn 1969 – 1972, Mỹ - ngụy tăng cường khống chế, kìm kẹp, đàn áp phong trào công nhân Tuy vậy, dưới sự lãnh đạo của Liên hiệp Công đoàn giải phóng, phong trào đấu tranh của công nhân thành phố vẫn diễn ra quyết liệt, đều khắp, mạnh mẽ với những cuộc đấu tranh có qui mô lớn bao gồm nhiều hãng, nhiều công ty, nhà máy tham gia Như cuộc đình công của 400 công nhân bệnh viện Đồn Đất kéo dài trong 7 ngày (04 – 11/01/1969); cuộc đình công của công nhân các hãng thuốc lá Mic, kho tồn trữ Thủ Đức, Công ty Hàng không…Nhiều cuộc đình công lớn, kéo dài nhiều ngày đã diễn ra trong giai đoạn này: cuộc đình công của 20 nghiệp đoàn
Trang 28thương cảng Sài Gòn với 5000 công nhân tham gia diễn ra suốt tháng 4/1969 làm đình trệ toàn bộ công việc bốc dỡ, vận chuyển hàng hóa quân sự của Mỹ tại cảng Sài Gòn Cuộc đình công của 2000 công nhân xe buýt kéo dài từ 29/12/1968 đến tận tháng 10/1969 để phản đối ngụy quyền giải tán công quản
xe buýt Cuộc đấu tranh này được sự ủng hộ của 118 nghiệp đoàn toàn thành buộc ngụy quyền Sài Gòn phải giải quyết các yêu sách của công nhân Điển hình nhất trong giai đoạn này phải kể đến cuộc đình công của công nhân hãng pin Con Ó (Vidopin) nổ ra ngày 07/10/1971 Cuộc đấu tranh này làm cho việc cung cấp pin cho ngụy quân bị đình trệ, nhà máy pin tê liệt, dư luận tiến bộ và các nghiệp đoàn ủng hộ Một số dân biểu Quốc hội ngụy cũng tuyên bố ngừng họp tháng, không dự lễ “đăng quang” Tổng thống và Phó Tổng thống ngụy của Thiệu – Kỳ Cuối cùng, sau một thời gian dài đấu tranh quyết liệt, giới chủ đã phải nhượng bộ
Sau năm 1972 đến 1975 là thời kỳ củng cố tổ chức và tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, do đó hình thức đấu tranh bằng đình công không sôi nổi, quyết liệt bằng những giai đoạn trước Nhưng không phải vì thế mà phong trào công nhân không phát triển, nó phát triển bằng các hình thức đấu tranh khác mà trong phạm vi đề tài này, chúng tôi không đề cập
Qua các quá trình phát triển của phong trào công nhân thành phố Hồ Chí Minh, có thể kết luận rằng: đấu tranh giành và bảo vệ quyền lợi bằng đình công, bãi công là vấn đề có tính truyền thống của công nhân và lao động thành phố Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, công nhân và lao động thành phố cũng không chấp nhận những bất công, những sự áp bức của cường quyền Tinh thần đấu tranh ấy đã được hun đúc từ gần một thế kỷ qua Có lúc tự phát,
có lúc được lãnh đạo bởi chính đảng, những cuộc đấu tranh bằng đình công, bãi công của công nhân và lao động thành phố ngày càng có hiệu quả cao trong việc bảo vệ những quyền cơ bản và lợi ích chính đáng của mình Dù có
bị đàn áp dã man thì giai cấp công nhân và lao động thành phố vẫn luôn có tinh thần đoàn kết, hỗ trợ trong đấu tranh, cùng vượt qua hoạn nạn, khó khăn, thách thức
Trang 29Tuy nhiên, phải nhận thức một cách đúng đắn rằng đình công của giai cấp công nhân Thành phố Hồ Chí Minh trong các thời kỳ lịch sử trước đây có
sự khác biệt về bản chất so với những cuộc đình công ngày nay Sự khác biệt
ấy thể hiện ở chỗ những cuộc đình công trong các thời kỳ lịch sử trước đây thường gắn với yếu tố chính trị, do Đảng hoặc các tổ chức công đoàn tiến bộ lãnh đạo để đấu tranh với giới chủ, chống lại bóc lột và từ đó chông1 lại nguỵ quyền Những cuộc đình công ngày nay không có yếu tố chính trị Nói khác
đi, đình công của công nhân ngày nay là để đấu tranh với NSDLĐ nhằm đòi hỏi quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chứ không nhằm chống lại đường lối chính sác của Đảng, pháp luật của nhà nước
1.2 PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG CỦA VIỆT NAM
Giống như nhiều nước XHCN, trước đây pháp luật về đình công ở Việt Nam chưa được quan tâm xây dựng một cách hoàn thiện Văn bản có tính pháp lý cao nhất có quy định cụ thể về tranh chấp lao động và đình công là bộ luật Lao động năm 1994 Theo bộ luật Lao động 1994 (sửa đổi năm 2002) của Việt Nam, quyền đình công của NLĐ, thủ tục đình công và giải quyết đình công… được qui định từ điều 172 đến điều 179 tại mục 2 trong chương II Theo đó đình công được qui định như sau:
Một là, NLĐ chỉ được đình công trong trường hợp tập thể lao động không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động mà không yêu cầu tòa án giải quyết
Hai là, việc chuẩn bị cuộc đình công phải theo đúng trình tự luật định:
- Khi có một phần ba số NLĐ trong tập thể của doanh nghiệp đề nghị, nếu việc đình công được tiến hành trong doanh nghiệp hoặc khi có quá nửa số NLĐ trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp nếu việc đình công được tiến hành trong bộ phận đó đề nghị việc đình công thì ban chấp hành CĐCS tiến hành lấy ý kiến tập thể lao động của doanh nghiệp hoặc tập thể lao động trong bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ
ký để xác định số người tán thành đình công Nếu ban chấp hành CĐCS khởi xướng việc đình công thì cũng phải tổ chức lấy ý kiến tập thể lao động của
Trang 30doanh nghiệp hoặc tập thể lao động trong bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký
- Việc đình công do ban chấp hành CĐCS quyết định sau khi được quá nửa tập thể tán thành đình công Trong trường hợp quá nửa tập thể tán thành việc đình công mà ban chấp hành CĐCS thấy cần thiết lấy lại ý kiến của tập thể lao động thì tổ chức lấy lại ý kiến trong ba ngày kể từ ngày có kết quả lấy
ý kiến lần trước Nếu quá nửa tập thể lao động vẫn tán thành việc đình công thì ban chấp hành CĐCS phải quyết định đình công và lãnh đạo cuộc đình công
Ba là, về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết đình công:
Khi có đơn của tập thể lao động, NSDLĐ hoặc của liên đoàn lao động… gửi đến yêu cầu tòa kết luận cuộc đình công là hợp pháp hay bất hợp pháp và sau khi thụ lý đơn yêu cầu, Tòa án phải phân công thẩm phán phụ trách việc giải quyết đình công
Trong quá trình giải quyết, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải để hai bên tranh chấp có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết cuộc đình công Đây là hoạt động được khuyến khích và ưu tiên giải quyết trước khi Tòa án ra quyết định giải quyết cuộc đình công Thẩm phán chủ trì mở hội nghị hòa giải có đại diện của cơ quan lao động và công đoàn của cấp tỉnh tham dự, mời các chuyên gia về các lĩnh vực hữu quan làm tư vấn
Trường hợp hai bên thỏa thuận được với nhau thì thẩm phán lập biên bản hòa giải thành và ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó
Trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì thẩm phán lập biên bản hòa giải không thành Kinh nghiệm là trong những trường hợp này vẫn phải kiên trì thuyết phục, động viên tinh thần quan tâm lẫn nhau vì lợi ích của cả hai bên Trước hết, thường yêu cầu bên NSDLĐ đưa ra phương án mới để làm
cơ sở thương lượng mới và trong trường hợp cần thiết thì tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động Nếu được quá nửa tập thể lao động đồng ý với phương
án mới thì thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận đó Ngược lại thì phải quyết định mở phiên tòa họp xét tính hợp pháp của cuộc đình công Hội đồng giải quyết cuộc đình công gồm 3 thẩm phán, thảo luận và quyết định theo đa số Khi tòa án quyết định cuộc đình công là hợp pháp, nếu NSDLĐ có
Trang 31lỗi thì NLĐ tham gia đình công được NSDLĐ trả đủ tiền lương trong những ngày đình công, NSDLĐ phải thực hiện các yêu cầu chính đáng và giải quyết những quyền lợi khác cho NLĐ theo quy định của pháp luật
Tòa án có thẩm quyền giải quyết cuộc đình công là Tòa lao động tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp mà tập thể lao động đình công
Trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, tòa án phải xem xét đơn cùng các giấy tờ, tài liệu cùng theo đơn yêu cầu Nếu xét thấy việc giải quyết cuộc đình công thuộc thẩm quyền của mình thì tòa án vào sổ thụ lý đơn và thông báo cho ban chấp hành CĐCS, NSDLĐ, cơ quan lao động cấp tỉnh, Liên đoàn lao động cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp biết
Ngay sau khi thụ lý đơn yêu cầu giải quyết cuộc đình công, Chánh án tòa án lao động tòa án nhân dân cấp tỉnh phân công một thẩm phán giải quyết cuộc đình công phải ra một trong các quyết định sau: Đưa cuộc đình công ra giải quyết, hoặc đình chỉ giải quyết cuộc đình công
Trong quá trình giải quyết cuộc đình công, Ban chấp hành CĐCS, NSDLĐ có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cần thiết theo yêu cầu của tòa án và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các tài liệu và chứng cứ đó Nếu cơ quan lao động cấp tỉnh, Liên đoàn lao động cấp tỉnh yêu cầu hoặc Viện kiểm sát nhân dân khởi tố yêu cầu tòa án giải quyết cuộc đình công thì cơ quan đó phải cung cấp tài liệu, chứng cứ
- Tòa án đình chỉ việc giải quyết đình công trong các trường hợp sau : + Người có yêu cầu rút yêu cầu, Viện kiểm sát nhân dân rút quyết định khởi tố
+ Ban chấp hành CĐCS và NSDLĐ thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết cuộc đình công trước khi tòa án ra quyết định giải quyết cuộc đình công
Trong quá trình đình công, các bên tranh chấp không được vi phạm quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công Việc hoãn hoặc ngừng cuộc đình công được quy định như sau: Trong trường hợp xét thấy đình công có nguy cơ nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân, an ninh quốc gia, hoặc an toàn công cộng, Thủ tướng chính phủ có quyền
Trang 32quyết định hoãn hoặc ngừng cuộc đình công và giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp với công đoàn cùng cấp giải quyết Nếu tập thể lao động không nhất trí với việc giải quyết tranh chấp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết
Trước khi đình công, trong khi đình công và sau khi kết thúc cuộc đình công, nghiêm cấm các hành vi cản trở hoặc ép buộc người khác đình công; dùng bạo lực, làm tổn hại máy móc, thiết bị nhà xưởng và tài sản của doanh nghiệp, xâm phạm trật tự công cộng; sa thải hoặc điều động NLĐ đi làm việc khác vì lý do đình công; trả thù, trù dập người tham gia đình công hoặc lãnh đạo cuộc đình công Người có hành vi vi phạm các điều quy định trên thì tùy theo mức độ vi phạm, phải bồi thường thiệt hại, bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Những quy định của pháp luật về tranh chấp lao động và đình công như
bộ luật Lao động năm 1994 (được sủa đổi một số điều vào năm 2002) cho thấy nhiều bất cập Theo đánh giá của các cơ quan hữu quan thành phố, có tới
72 điểm bất cập trong luật và những văn bản hướng dẫn thi hành Thực tế cũng cho thấy với những quy định trên đây, các cơ quan chức năng rất khó vận dụng để giải quyết các vụ dình công Mặt khác, những quy định này cũng gây khó khăn cho cả NLĐ và NSDLĐ trong giải quyết tranh chấp lao động
Vì vậy, ngày 29 tháng 11 năm 2006, Quốc hội khoá 11, kỳ họp thứ 10 đã thông qua luật số 74/2006/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của bộ luật Lao động năm 1994 (được sủa đối năm 2002) Theo đó, những quy định về tranh chấp lao động và đình công đã được chỉnh sửa và bổ sung cho phù hợp hơn với thực tế Cụ thể có một số sự bổ sung, chỉnh sửa sau đây:
Về tranh chấp lao động, theo quy định hiện hành, tranh chấp lao động
là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động Những tranh chấp này được phân thành hai loại: tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động Đồng thời, theo quy định mới này,
Trang 33những tranh chấp của tập thể NLĐ với NSDLĐ được chia thành hai loại tranh chấp là “tranh chấp về quyền” và “tranh chấp về lợi ích”
Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà tập thể lao động cho rằng người
sử dụng lao động vi phạm
Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích là tranh chấp về việc tập thể lao động yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới so với quy định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các quy chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp trong quá trình thương lượng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động
Luật này cũng xác lập những nguyên tắc giải quyết các tranh chấp lao động Theo đó, có 4 nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động: (1) Thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp và tự quyết định của hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp; (2) Thông qua hoà giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội và tuân theo pháp luật; (3) Giải quyết công khai, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật; (4) Có sự tham gia của đại diện người lao động và đại diện người sử dụng lao động trong quá trình giải quyết tranh chấp
Quá trình giải quyết tranh chấp lao động giữa NLĐ và NSDLĐ có vai trò quan trọng của các tổ chức, cơ quan Điều 159 của luật Lao động sửa đổi,
bổ sung năm 2006 đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức tham gia giải quyết tranh chấp lao động
Theo đó, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho hai bên giải quyết tranh chấp lao động thông qua thương lượng, hoà giải nhằm bảo đảm lợi ích của hai bên tranh chấp, ổn định sản xuất, kinh doanh, trật tự và an toàn xã hội
Trang 34Việc giải quyết tranh chấp lao động tại cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành khi một bên từ chối thương lượng hoặc hai bên đã thương lượng mà vẫn không giải quyết được và một hoặc hai bên
có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
Tổ chức công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có trách nhiệm hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động trong việc giải quyết tranh chấp lao động theo đúng quy định của pháp luật
Đặc biệt, trong điều 159 có quy định rõ: “Khi xảy ra tranh chấp lao động tập thể về quyền dẫn đến ngừng việc tạm thời của tập thể lao động thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chủ động, kịp thời tiến hành giải quyết” Điều đó có nghĩa khi xảy ra “tranh chấp tập thể về quyền” thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền bắt buộc phải “chủ động, kịp thời tiến hành giải quyết”
Cơ quan có thẩm quyền ở đây bao gồm: Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện); Toà án nhân dân
Tranh chấp tập thể về lợi ích chủ yếu do các bên tham gia quan hệ lao động tự giải quyết là chính Nếu không tự giải quyết được thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết là Hội đồng hoà giải lao động cơ sở hoặc hoà giải viên lao động và Hội đồng trọng tài lao động Trong trường hợp này, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân không giải quyết
Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, hai bên tranh chấp có các quyền và nghĩa vụ nhất định Quyền và nghĩa vụ này cũng đã được pháp luật quy định cụ thể
Quyền của hai bên tranh chấp, hai bên đều có quyền như nhau, đó là:
- Trực tiếp hoặc thông qua người đại diện của mình tham gia quá trình giải quyết tranh chấp;
- Rút đơn hoặc thay đổi nội dung tranh chấp;
Trang 35- Yêu cầu thay người trực tiếp tiến hành giải quyết tranh chấp, nếu có
lý do chính đáng cho rằng người đó không thể bảo đảm tính khách quan, công bằng trong việc giải quyết tranh chấp
Nghĩa vụ của hai bên tranh chấp cũng được quy định rõ Theo đó, hai bên tranh chấp phải:
- Cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động;
- Nghiêm chỉnh chấp hành các thoả thuận đã đạt được, biên bản hoà giải thành, quyết định đã có hiệu lực của cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động, bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân
Quy định về đình công và giải quyết đình công, có một số chỉnh sửa,
bổ sung sau đây:
Thứ nhất, thuật ngữ “đình công” được giải thích thống nhất: “Đình
công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động
để giải quyết tranh chấp lao động tập thể.”
Thứ hai, trình tự chuẩn bị đình công cũng có những thay đổi, bổ sung
so với các điều luật cũ như từ điều 172a đến 176
- Đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo Đối với doanh nghiệp chưa có Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì việc tổ chức và lãnh đạo đình công phải
do đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với công đoàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc tương đương
- Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động ra quyết định đình công bằng văn bản và lập bản yêu cầu khi có ý kiến đồng ý của trên 50% tổng số người lao động đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có dưới ba trăm người lao động hoặc trên 75% số người được lấy ý kiến đối với doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp có từ ba trăm người lao động trở lên
Trang 36+ Quyết định đình công phải nêu rõ thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công, có chữ ký của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động; trường hợp là đại diện của Ban chấp hành công đoàn cơ sở thì phải đóng dấu của tổ chức công đoàn
+ Bản yêu cầu phải có những nội dung chủ yếu như: những vấn đề tranh chấp lao động tập thể đã được cơ quan, tổ chức giải quyết nhưng tập thể lao động không đồng ý; kết quả lấy ý kiến đồng ý đình công; thời điểm bắt đầu đình công; địa điểm đình công; địa chỉ người cần liên hệ để giải quyết
+ Ít nhất là năm ngày, trước ngày bắt đầu đình công, Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động phải cử đại diện nhiều nhất là
ba người để trao quyết định đình công và bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi một bản cho cơ quan lao động cấp tỉnh và một bản cho Liên đoàn lao động cấp tỉnh
- Đến thời điểm bắt đầu đình công đã được báo trước, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu thì Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc đại diện tập thể lao động tổ chức và lãnh đạo đình công
- Trước, trong và sau khi kết thúc đình công nghiêm cấm các hành vi cản trở việc thực hiện quyền đình công hoặc kích động, lôi kéo, ép buộc người lao động đình công; cản trở người lao động không tham gia đình công
đi làm việc; dùng bạo lực; làm tổn hại máy móc, thiết bị, tài sản của doanh nghiệp; xâm phạm trật tự, an toàn công cộng; chấm dứt hợp đồng lao động hoặc xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động, người lãnh đạo đình công hoặc điều động người lao động, người lãnh đạo đình công sang làm công việc khác, đi làm việc ở nơi khác vì lý do chuẩn bị đình công hoặc tham gia đình công; trù dập, trả thù đối với người lao động tham gia đình công, người lãnh đạo đình công; tự ý chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp để chống lại đình công; lợi dụng đình công để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật
Thứ ba, về việc xem xét tính hợp pháp của cuộc đình công:
Trang 37- Trong quá trình đình công hoặc trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày chấm dứt đình công, mỗi bên có quyền nộp đơn đến Toà án yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công
- Đơn yêu cầu phải có các nội dung chính theo quy định tại điều 176a
và người yêu cầu hoặc đại diện có thẩm quyền của họ phải ký tên vào đơn yêu cầu Trường hợp người có đơn là Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người
sử dụng lao động thì phải đóng dấu của tổ chức vào đơn.Người yêu cầu phải gửi kèm theo đơn các bản sao quyết định đình công, bản yêu cầu, quyết định hoặc biên bản hoà giải của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao động tập thể, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc xét tính hợp pháp của cuộc đình công
- Thủ tục gửi đơn, nhận đơn, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với việc xét và quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công tại Toà án được thực hiện tương tự như thủ tục gửi đơn, nhận đơn, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ tại Toà án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Thẩm quyền xét tính hợp pháp của cuộc đình công là Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi xảy ra đình công Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đối với quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công của Toà án nhân dân cấp tỉnh
Đình công là một trong những biện pháp thiết yếu mà NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp, mà còn tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm Do vậy, việc giải quyết các cuộc đình công cần phải được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng để hạn chế tối đa những ảnh hưởng xấu của đình công Tuy nhiên, NLĐ cần tổ chức đình công theo đúng trình tự thủ tục theo luật định để tạo điều kiện cho việc giải quyết được khách quan, kịp thời, đúng pháp luật và hạn chế tối đa những hậu quả
mà nó có thể gây ra cho NLĐ, NSDLĐ cũng như cho toàn xã hội
Trang 381.3 PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Đình công là hiện tượng phổ biến trên thế giới, là nội dung quyền của người lao động Vì thế, các quốc gia trên thế giới nhìn chung đều thừa nhận quyền đình công của NLĐ và có những qui định pháp luật khác nhau về đình công tùy theo trình độ phát triển của nền kinh tế, điều kiện chính trị xã hội của nước mình
Theo bài trình bày của ông Donal Chiasson, chuyên gia Canada, tại
“Hội thảo quốc gia pháp luật về đình công”, do Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XI tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 9 đến 10/9/2004 cho biết thì Canada và Mỹ đã xây dựng một cơ chế chỉ cho phép đình công khi hợp đồng giữa công đoàn và NSDLĐ đã hết hạn Luật Quan hệ Lao động của Canada qui định cho Công đoàn có quyền đại diện hợp pháp cho NLĐ và quyền tổ chức đình công Sự đại diện của công đoàn cho NLĐ được thực hiện ở một địa điểm cụ thể (như nhà máy, cửa hàng, hầm mỏ…) bằng cách giành được sự ủng hộ của đa số NLĐ tại nơi đó Đình công của NLĐ chỉ được tiến hành khi có công đoàn đại diện cho NLĐ Nếu NLĐ không phải là đoàn viên công đoàn thì không được đình công Bất cứ tranh chấp nào nảy sinh khi hợp đồng còn hiệu lực phải được giải quyết thông qua thương lượng và trọng tài bắt buộc chứ không được phép đình công Tuy nhiên, đình công lại được phép tiến hành như một phần của quá trình đàm phán nhằm đạt được một hợp đồng lao động mới Theo qui định pháp luật lao động Canada thì một cuộc đình công được coi là hợp pháp khi đáp ứng những điều kiện sau: 1 Đúng thời điểm (sau khi hết hạn hợp đồng lao động); 2 Các phương án giải quyết, hòa giải đều đã được áp dụng; 3 Người lao động biểu quyết ủng hộ; 4 Công đoàn thông báo cho NSDLĐ
Bất cứ cuộc đình công nào không đáp ứng những điều kiện trên đều
là những cuộc đình công bất hợp pháp Khi đó Tòa án hoặc Hội đồng quan hệ lao động sẽ: ra lệnh cho NLĐ quay trở lại làm việc; yêu cầu NLĐ bồi thường thiệt hại về thu nhập hoặc hư hại về tài sản; phạt tiền bồi thường đối với NLĐ
Trang 39(thông qua Tòa Dân sự) nhằm ngăn cản hành vi bất hợp pháp hoặc có thể truy
tố hình sự đối với NLĐ thông qua Tòa Hình sự
Pháp luật Lao động Canada cũng qui định khá rõ ràng về vai trò của các cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp trong việc tham gia giải quyết đình công Theo đó, cơ quan lập pháp xem xét và xây dựng luật pháp qui định các thủ tục khởi đầu và tiến hành đình công và đóng cửa xí nghiệp Các luật này
là một phần của luật chung về quan hệ giữa công đoàn và NSDLĐ (Luật Quan hệ lao động) Cơ quan lập pháp cũng xem xét, thảo luận việc ra một luật đặc biệt trong trường hợp đình công hoặc đóng cửa xí nghiệp gây thiệt hại lớn Các Bộ trưởng có thể bị các Nghị sĩ Quốc hội chất vấn công khai tại Nghị viện về những trường hợp đình công hoặc đóng cửa xí nghiệp khó giải quyết
Chính phủ Canada ban hành pháp luật trong đó đặt ra những qui định
về thủ tục bắt đầu đình công và đóng cửa xí nghiệp Sau đó Chính phủ để các bên liên quan và các cơ quan độc lập tự giải quyết, trừ những trường hợp ngoại lệ có liên quan đến lợi ích công nhằm giảm thiệt hại kinh tế ở mức tối thiểu và gây ít khó khăn nhất cho công chúng Chính phủ mới can thiệp Theo luật định thì Chính phủ không có quyền ra lệnh chấm dứt đình công hoặc đóng cửa xí nghiệp
Các Tòa án dân sự Canada có quyền hạn pháp lý quan trọng đối với vấn đề đình công Theo luật pháp Canada, Tòa án có quyền quyết định một cuộc đình công có hợp pháp hay không và buộc NLĐ quay trở lại làm việc (cả Tòa án và Hội đồng Quan hệ Lao động đều có quyền này) Tòa án cũng có thể áp đặt hình phạt đối với những trường hợp không tuân thủ và gây thiệt hại
do đình công Tòa án còn giữ vai trò giám sát đối với các quyết định của Hội đồng quan hệ Lao động thông qua các cuộc xem xét tư pháp Điều này có nghĩa là Tòa án xét xử các đơn “kháng cáo” về những vụ việc đã được Hội đồng Quan hệ Lao động quyết định để xác định xem những vụ việc đó có được quyết định đúng hay không Đôi khi trong những trường hợp cần thiết còn có cả sự tham gia của Tòa án Hình sự
Hội đồng Quan hệ Lao động ở Canada là một loại cơ quan độc lập với
Chính phủ, là cơ quan áp dụng đạo luật Quan hệ Lao động Hội đồng này
Trang 40được lập ra để các thẩm phán có trình độ chuyên môn cao về tranh chấp lao động xử lý những vấn đề phức tạp và nhạy cảm trong quan hệ lao động Vì thế, Hội đồng này bao gồm những nhân viên hành chính, cán bộ hòa giải và các quan tòa (các thẩm phán luật hành chính) Hội đồng này xem xét các khiếu nại từ phía công đoàn và NSDLĐ về những vi phạm pháp luật Đặc biệt, Hội đồng này giám sát các bước cần thiết theo luật định để chuẩn bị đình công hay đóng cửa xí nghiệp một cách hợp pháp Hội đồng này cũng có quyền hạn pháp lý trong thời gian đình công như quyền điều chỉnh, kiểm soát hàng rào người lao động ngăn cản lối ra vào xí nghiệp
Về vấn đề nhân viên nhà nước có được đình công hay không, pháp luật
về đình ông của Canada những năm qua cũng đã có sự thay đổi cơ bản Từ trước tới nay, nhân viên nhà nước (làm việc trực tiếp hoặc gián tiếp cho Chính phủ) Canada vẫn được coi là một bộ phận quan trọng tạo thành lực lượng lao động ở Canada Họ làm việc theo cơ chế quan hệ lao động đặc biệt và cơ chế quan hệ này được điều chỉnh bởi pháp luật đặc biệt Do nhận thức rằng công việc của nhân viên chính phủ là rất quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với lợi ích của nhân dân cho nên nhân viên chính phủ nói chung không được đình công Tuy nhiên, những năm gần đây Chính phủ đánh giá lại và kết luận rằng không phải bất cứ công việc nào thuộc Chính phủ cũng có ý nghĩa sống còn Chính phủ cũng nhìn nhận lại toàn bộ công việc của công chức và thấy rằng đối với phần lớn những công việc đó thì đình công là có thể chấp nhận được Mặt khác, công đoàn thuộc khu vực nhà nước đòi có quyền đình công; các chính quyền, công đoàn và công chúng kết luận rằng hợp đồng lao động đạt được thông qua tự do thương lượng tập thể sẽ phản ánh rõ hơn thực tế về mức lương mà NSDLĐ có thể trả và mức lương (cùng những phúc lợi khác) mà NLĐ có thể nhận được trong nền kinh tế thị trường Chính vì thế, ngày nay hầu hết các nhân viên chính phủ có quyền đình công Tất nhiên, do tầm quan trọng đặc biệt của Chính phủ nên không phải tất cả nhân viên trong các bộ phận đều được đình công, vì thực tế nhiều ngành thuộc Chính phủ quản lý là rất quan trọng và đình công là không thể được phép hoặc phải bị hạn chế đình công Chính phủ Canada hành động theo hai cách để xử lý vấn đề đình công