Như vậy, chúng ta hãy cùng phân tích xem liệu những lợi ích của việc toàn cầu hoá có thể giúp một nước kém phát triển như Việt Nam cất cánh lên như cái cách mà những nền kinh tế hướng xu
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN CÁ NHÂN:
Chủ đề 2:
TOÀN CẦU HÓA SẼ LÀM CHO NỀN KINH TẾ VIỆT NAM TỐT HAY XẤU ĐI?
Môn : QUẢN TRỊ KINH DOANH QUỐC TẾ GVHD : TS.NGUYỄN HÙNG PHONG
Lớp : CH K20-ĐÊM 1 SVTH : NGUYỄN VIẾT QUỲNH ANH
Trang 2TP Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2012
Page 2
Trang 3MỤC LỤC
I/ Giới thiệu chung về toàn cầu hoá: 2
II/ Những tác động của toàn cầu hóa đối với nền kinh tế của Việt Nam 3
2.1 Xuất nhập khẩu 3
2.2 Phân bổ các nguồn lực 3
ODA4
Lưu chuyển các nguồn lực5
2.4 Toàn cầu hoá sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế 5
2.5 Toàn cầu hoá giúp cho Việt Nam tiếp cận được công nghệ sản xuất tiên tiến 5
2.6 Hoàn thiện về thể chế và môi trường pháp lý ở Việt Nam6
III/ Những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá với Việt Nam: 6
3.1 Thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, và sự bất ổn xã hội khi thất nghiệp gia tăng
6
3.2 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước khó có thể cạnh tranh với các tập đoàn 7
3.3 Việt Nam phải chịu rất nhiều sự chèn ép từ các nước lớn có kinh nghiệm đi trước 8
3.4 Việt Nam trở thành một bãi rác công nghệ 9
3.5 Khủng hoảng về nguồn vốn 9
IV/ Kết luận 10
Tài liệu tham khảo: 11
Trang 4YÊU CẦU PHÂN TÍCH:
Toàn cầu hóa sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam tốt lên hay xấu đi?
Việt Nam từng là một nền kinh tế được bảo hộ cao khi hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu phải chịu rất nhiều loại rào cản thuế quan và phi thuế quan Kể từ thập niên 1990 Việt Nam đã thực hiện các chính sách mở cửa nền kinh tế, nhờ vào đó giá trị xuất khẩu đã gia tăng một cách đáng kể Tuy nhiên hiệnnay nhiều người Việt Nam vẫn tự hỏi rằng “quá trình tòan cầu hóa và sự mở cửa thị trường của Việt Nam đã làm cho nền kinh tế Việt nam tốt lên hay xấu đi” Anh/chị hãy sử dụng lập luận của mình để trả lời câu hỏi này.
Trang 5I/ Giới thiệu chung về toàn cầu hoá:
Thuật ngữ toàn cầu hoá ( Globalization) ngày nay không còn xa lạ gì với mọi người và hầu như đang trờ thành chủ đề nóng hổi của thế giới trong nhiều thập niên trở lại đây Lần đầu tiên được sử dụng từ những năm 40 của thế kỉ trước, thuật ngữ và khái niệm toàn cầu hoá ngày càng bùng nổ sau cuộc cách mạng về công nghệ thông tin Lúc này nhân loại đã xích lại gần nhau hơn bao giờ hết thông tin, vốn, khoa học
kĩ thuật, nhân lực,… không còn chỉ bị giới hạn trong biên giới của một quốc gia nào
cả Do đó, dẫn đến sự phân bổ lại nguồn tài nguyên, định hình lại lợi thế so sánh, và
mở ra cơ hội hợp tác rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội
Khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế ra với thế giới, nền kinh tế của Việt Nam là một trong những nền kinh tế lạc hậu, nghèo đói và bị tàn phá nặng nề nhất của hàng thập kỉ chiến tranh, cấm vận cũng như tư duy bao cấp Trải qua quá trình cải cách, hội nhập mạnh mẽ, với nguồn nội lực trong nước và đặc biệt là tiếp nhận nguồn vốn, công nghệ và thị trường thế giới, Việt Nam có lẽ là một trong những nước cảm nhận
rõ ràng nhất sức mạnh của sự hội nhập và hợp tác trên quy mô toàn cầu
Do đó, việc gia nhập WTO trở nên cực kì bức thiết, nó mang lại cho Việt Nam những cơ hội cực kì lớn lao nhưng cũng ẩn chứa những rủi ro có thể tàn phá nền kinh
tế thị trường non trẻ Như vậy, chúng ta hãy cùng phân tích xem liệu những lợi ích của việc toàn cầu hoá có thể giúp một nước kém phát triển như Việt Nam cất cánh lên như cái cách mà những nền kinh tế hướng xuất khẩu như các nước Đông Á đã từng thực hiện rất thành công hay không? Đồng thời cũng nhìn nhận những khó khăn và bất lợi khi phải mở cửa hội nhập và cạnh tranh sòng phẳng với những gã khổng lồ đã
đi trước chúng ta cả trăm năm công nghệ và tích luỹ vốn
Trang 6II/ Những tác động của toàn cầu hóa đối với nền kinh tế của Việt Nam
2.1 Xuất nhập khẩu
Đầu tiên, chúng ta phải thừa nhận rằng toàn cầu hoá mang lại một cơ hội khổng lồ cho Việt Nam trên nhiều phương diện Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập cho Việt Nam một cơ hội lớn để thâm nhập thị trường khổng lồ toàn cầu trên cả hai phương diện xuất và nhập khẩu Từ chỗ thị trường XNK chỉ bó gọn trong các nước XHCN trước đây, hội nhập kinh tế và toàn cầu hoá đã làm cho kim ngạch XNK của Việt Nam tăng đột biến Từ 5,1 tỷ USD năm 1990 đến 157 tỷ USD năm 2010 (gần bằng 1,5 lần GDP) Điều này chứng minh nền kinh tế của chúng ta là một nền kinh tế
mở và hội nhập ở mức độ tương đối cao trong hệ thống thương mại quốc tế Chính sách thúc đẩy kinh tế tự do hội nhập và toàn cầu hoá đã giúp Việt Nam không phải dàn trải sản xuất theo kiểu tự cung tự cấp tất cả các mặt hàng mà có thể nhập các máy móc cần thiết, thực hiện những khâu thế mạnh của Việt Nam để góp phần vào dây chuyền sản xuất toàn cầu Công tác xúc tiến tìm hiểu và phát triển thị trường xuất khẩu cũng tăng mạnh giúp cho xuất khẩu Việt Nam vươn lên mạnh mẽ Điều này có thể dễ dàng thấy được qua sự chiếm lĩnh nhanh chóng các thị trường mà Việt Nam có thế mạnh như Nông sản, Thuỷ sản, May mặc,…
2.2 Phân bổ các nguồn lực
Toàn cầu hoá giúp cho việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực nhất là vốn và công nghệ trên quy mô toàn cầu Với tình trạng khát vốn và yếu kém về công nghệ cũng như tay nghề lao động chưa được đào tạo, Việt Nam rất cần đến sự đầu tư từ nước ngoài Do đó chính phủ đã cho các DN nước ngoài rất nhiều ưu đãi, và kết quả
có thể nhận thấy thông qua sự tăng trưởng mạnh mẽ của các nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài:
FDI
Là loại hình đầu tư thực, dài hạn, không dễ bị rút đi ồ ạt, không gây nợ mà còn giúp đổi mới căn bản về nguồn lực, công nghệ và kỹ thuật sản xuất Các doanh nghiệp, dự án FDI thường tận dụng các lợi thế cạnh tranh của Việt Nam như chi phí nhân công rẻ, ưu đãi thuế, mặt bằng, các tiêu chuẩn ô nhiễm còn thấp, thị trường rộng
Trang 7dào trong nước, giúp thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ cho hoạt động sản xuất của các DN này Các DN FDI cũng giúp nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động chưa qua đào tạo trong nước, chuyển giao một số kỹ thuật sản xuất hiện đại Ngoài ra, hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp này cũng đóng góp một nguồn thu lớn cho ngân sách ( dễ thấy qua nguồn thu từ hoạt động khai thác dầu khí) Kể từ năm 1988 đến hết năm 2006 đã có 6000 dự án được cấp phép với tổng số vốn được đăng kí là 68 tỷ USD và thực hiện là hơn 35 tỷ USD Và năm 2007 được xem là năm kỉ lục của lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam nhân dịp Việt Nam được gia nhập vào WTO với 20,3 tỷ USD bao gồm nhiều dự án lớn
FII
Là nguồn vốn gián tiếp, cũng có vai trò quan trọng trong nhu cầu phát triển của Việt Nam Sự lớn mạnh của dòng vốn này gắn liền với sự phát triển cùa thị trường chứng khoán, nơi doanh nghiệp có kênh quảng bá và nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư mà không phải chỉ phụ thuộc vào hệ thống tín dụng ngân hàng như trước Việc toàn cầu hoá sẽ giúp cho các dòng vốn gián tiếp đến được với các doanh nghiệp có tiềm năng phát triển của Việt Nam, biến thị trường chứng khoán của Việt Nam trở thành nơi đầu tư hấp dẫn so với nhiều thị trường đã phát triển trên thế giới
ODA
Việc toàn cầu hoá cũng giúp cho nguồn vốn ODA liên tục tăng mạnh, tạo điều kiện phát triển cho cơ sở hạ tầng như: năng lượng công nghiệp, vận tải, viễn thông, y
tế, giáo dục, môi trường Mặc dù chỉ chiếm khoảng 3-4% trong GDP, ODA bổ sung cho nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư và sản xuất khác Trong thời kỳ 1993-2008, tổng vốn ODA giải ngân đạt 22 tỷ USD
Lưu chuyển các nguồn lực
Toàn cầu hoá giúp cho việc lưu chuyển các nguồn lực hợp lý hơn đặc biệt là lao động Lao động phổ thông dư thừa ở Việt Nam được đưa sang các nước khác làm việc Hoạt động này vừa giúp giảm áp lực lên việc làm trong nước, vừa biến lực
Trang 8lượng lao động của ta trở thành lợi thế so sánh với các nước thiếu hụt lao động khác Việc xúc tiến xuất khẩu lao động có một ngoại tác tích cực lên nền kinh tế: nguồn kiều hối của các lao động này giúp giảm căng thẳng lên tỷ giá ngoại tệ; lực lượng lao động được đưa sang nước ngoài sẽ được đào tạo về tay nghề cũng như ngoại ngữ và tác phong làm việc Khi trở về, họ sẽ là nguồn lao động quý giá cho các doanh nghiệp trong nước
2.4 Toàn cầu hoá sẽ giúp chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế
Nền kinh tế sẽ trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu, phát triển gắn
bó với thị trường hơn Lúc này lợi thế so sánh sẽ trở thành yếu tố quyết định đến sự phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế sao cho phù hợp không chỉ trong nước mà còn cả quốc tế Chẳng hạn như việc toàn cầu hoá đã giúp cho Việt Nam phát triển các ngành công nghiệp chế biến phục vụ cho xuất khẩu như may mặc, da giày,… hay như lợi thế so sánh về nông thuỷ sản cũng giúp cho Việt Nam tập trung các nguồn lực hợp
lí và trở thành nước xuất khẩu gạo, cà phê, thuỷ sản chế biến… hàng đầu thế giới,…
Điều này cũng thúc đẩy cho sự tái cơ cấu lại các doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi lại cơ cấu kinh doanh sao cho hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực độc quyền không hiệu quả Việc thu hút được các dòng vốn nước ngoài sẽ giúp cho DNNN thoái vốn ra khỏi những khu vực không cần thiết phải kiểm soát của nhà nước Đồng thời sẽ nâng cao hiệu suất hoạt động của các DN này như trong tiến trình cổ phần hoá các Tổng công ty vẫn đang được thực hiện Các loại hình doanh nghiệp khác cũng tăng sức cạnh tranh làm nâng cao chất lượng của sản phẩm và dịch vụ nội địa của Việt Nam
2.5 Toàn cầu hoá giúp cho Việt Nam tiếp cận được công nghệ sản xuất tiên tiến
Việc chuyên môn hoá, toàn cầu hoá cũng sẽ giúp chuyển giao một số công nghệ và công đoạn sản xuất trên dây chuyền sản phẩm toàn cầu vào Việt Nam Việc tận dụng ưu thế của người đi sau giúp rút ngắn quá trình tìm tòi nghiên cứu, trực tiếp tiếp thu tri thức và công nghệ cao Từ đó nâng cao tay nghề và tri thức của lao động
Trang 9cho nguy cơ bị cô lập của Việt Nam giảm đi.
2.6 Hoàn thiện về thể chế và môi trường pháp lý ở Việt Nam
Toàn cầu hóa cũng là một sức ép lớn tới việc hoàn thiện thể chế cũng như môi trường pháp lý của Việt Nam Điều này có lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam được làm quen và bắt đầu đi vào khuôn khổ của luật pháp hiện đại, giảm thiểu gian lận, cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật cũng được hoàn thiện hơn nhờ vào việc tham khảo các luật quốc tế và được thử thách qua những trường hợp thực tế xuất hiện càng nhiều trong quá trình kinh doanh quốc tế Do đó việc tận dụng những công nghệ và thông lệ, hình thức giao dịch hiện đại làm cho các doanh nghiệp và cả cơ quan chính phủ cũng phải thích nghi để hoạt động hiệu quả hơn Các ví dụ điển hình là việc áp dụng công nghệ thông tin trong việc kê khai thuế và thủ tục hải quan, cũng như là các
vụ kiện chống phá giá cũng giúp các doanh nghiệp Việt Nam có thêm nhiều bài học kinh nghiệm để tránh những thiệt hại lớn hơn
III/ Những tác động tiêu cực của toàn cầu hoá với Việt Nam:
Toàn cầu hoá dĩ nhiên là một sân chơi không chỉ hoàn toàn mang lại lợi ích, không phải là một thế giới chỉ toàn thành công đang đón chờ các doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng chính là một sự đe doạ khổng lồ tới nền kinh tế trong nước
3.1 Thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, và sự bất ổn xã hội khi thất nghiệp gia
tăng
Đầu tiên, trên thực tế, do là một nước kém phát triển vừa mới hội nhận kinh tế chưa lâu, nên khi phân tích lợi thế so sánh của Việt Nam, ta có thể dễ dàng nhận thấy Việt Nam chủ yếu chỉ các lợi thế so sánh bậc thấp: lao động rẻ, nguyên vật liệu thô, các nông sàn nhiệt đới,… Do đó, có thể thấy sự hấp dẫn của Việt Nam nằm ở chỗ các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang vốn, kĩ thuật tới để khai thác các nguồn lực của ta, cung cấp chủ yếu cho thị trường quốc tế, rồi sau đó mới phục vụ cho nội địa Như vậy, trong quá trình này, chúng ta dễ dàng nhận thấy các lợi thế cạnh tranh này chỉ mang lại cho chúng ta giá trị gia tăng thấp Phần lớn là tập trung vào giải quyết công
Trang 10ăn việc làm, thu thêm một lượng thuế không đáng kể ( trừ dầu khí) do luật pháp chưa chặt chẽ và nhiều ưu đãi cắt giảm Dần dần, khi nền kinh tế phát triển, các ngành thâm dụng lao động cũng thu hẹp lại do giá nhân công tăng lên, thì Việt Nam cũng sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh này Lúc này, sự thiệt hại về tài nguyên thiên nhiên, và sự bất ổn xã hội khi thất nghiệp gia tăng là điều khó tránh khỏi
3.2 Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước khó có thể cạnh tranh với các tập
đoàn
Xét thêm về phương diện đầu tư, việc thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn lớn ở nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đã góp phần nâng cao công nghệ, giải quyết công ăn việc làm trong nước và đóng góp vào sự phát triển của đất nước Nhưng sau đó là những hệ luỵ vô cùng lớn lao Với những ưu đãi của nhận được từ chính phủ, các doanh nghiệp FDI rõ ràng có ưu thế vô cùng lớn so với các doanh nghiệp trong nước, như thuế, tiền sử dụng đất, … Đó là còn chưa xét đến quy mô của các tập đoàn khổng
lồ này, nếu xét về quy mô thì ngay cả các tổng công ty, tập đoàn quốc doanh cũng còn khó có thể so sánh về quy mô tài chính, công nghệ, nhân lực và trình độ quản lý
Vì vậy việc các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước khó có thể cạnh tranh với các tập đoàn này và thua trên sân nhà là điều đương nhiên Như trường hợp của thị trường nước giải khát có gas, các tập đoàn nước ngoài, với thương hiệu mạnh, nền tảng tài chính vững chắc, có thể triển khai chiến dịch giảm giá thậm chí có thể gọi là phá giá hàng năm trời để đẩy các doanh nghiệp trong nước đến chỗ ngưng sản xuất hay rời bỏ thị trường, để bây giờ chỉ còn các tập đoàn quốc tế cạnh tranh với nhau Điều này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà đây là chiêu thức mà các tập đoàn đa quốc gia vẫn
áp dụng trên quy mô toàn cầu, chúng ta có thể nói rằng như vậy người tiêu dùng được hưởng lợi Nhưng ai có thể đem đo đếm và lượng hoá được cái lợi ấy và so sánh với cái được khi mà cái mất là thị trường nước giải khát với 80 triệu dân Nghiêm trọng hơn là khi thị phần khống chế thị trường rơi vào tay các nhà sản xuất nước ngoài, lúc này, nếu có vấn đề khủng hoảng quốc tế, thì thị trường trong nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Thậm chí còn ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, như việc tập đoàn cổ phần khống chế thị phần áp đảo trong lĩnh vực chăn nuôi Rõ ràng, cái lợi về công ăn việc làm, vốn đầu tư cần được cân đong đo đếm kĩ lưỡng
Trang 11Bên cạnh đó, do mang vị thế của một nước đến sau, Việt Nam phải chịu rất nhiều sự chèn ép từ các nước lớn có kinh nghiệm đi trước Để được đàm phán gia nhập WTO chúng ta đã phải loại bỏ rất nhiều hàng rào bảo hộ với các sản phẩm trong nước, điều này khiến các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, công ăn việc làm của người Việt Chẳng hạn như, VN đã buộc phải cam kết: bãi bỏ ngay mọi trợ cấp trong xuất khẩu nông sản (các nước thành viên khác đến năm 2013 mới cắt giảm); từ bỏ quyền sử dụng biện pháp tự vệ trong nông nghiệp (các nước thành viên khác vẫn giữ quyền đó) Thậm chí, ở các nước lớn, do đã
có kinh nghiệm và hiểu rõ cặn kẽ về các điều luật WTO, chính phủ các nước này đã đặt ra thêm nhiều rào cản kỹ thuật, kinh tế để ngăn cản sự xâm nhập của hàng Việt Như việc Mỹ áp thuế chống bán phá giá lên các sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam hay
là Châu Âu đánh thuế lên sản phẩm da giày của Việt Nam là những ví dụ điển hình Lúc này chi phí để theo đuổi những vụ kiện này là quá lớn so với ngân sách của các
DN trong nước mà hy vọng thắng kiện thì lại không mấy sáng sủa
Bất lợi của nước đi sau còn biểu hiện rõ hơn khi chúng ta, với nhu cầu phát triển nhanh, vốn ít, phải chấp nhận nhập khẩu những công nghệ rẻ tiền, lạc hậu, gây ô nhiễm, lãng phí từ nước ngoài Do chưa có những quy định cụ thể và phải hạ thấp tiêu chuẩn để tăng tốc độ phát triển, nên môi trường sống của Việt Nam ngày càng trở nên
ô nhiễm Với các lợi thế cạnh tranh bậc thấp, chủ yếu tập trung vào khai thác tài nguyên thô, khoáng sản, nếu áp dụng các công nghệ khai thác lạc hậu thì sự lãng phí,
ô nhiễm và hậu quả cho con người sẽ vô cùng lớn Hơn nữa, với quá trình toàn cầu hoá, lượng nguyên liệu thô sẽ được khai thác ồ ạt để bán cho thị trường thế giới rộng lớn chứ không chỉ riêng cho trong nước Điều này sẽ dẫn đến việc khai thác quá mức nếu chi phí ngoại tác không được tính toán đầy đủ, giá rẻ thực chất là do đánh đổi về môi trường Lúc này tài nguyên, của cải vật chất sẽ được xuất khẩu để phục vụ nước ngoài Trong khi đó, người lao động với mức lương thấp phải gánh chịu chi phí ngoại tác lớn, thiệt hại về môi trường, sức khoẻ không thể phục hồi và sự cạn kiệt tài nguyên cho thế hệ mai sau