khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam
Trang 19
Trang 28
Trang 37
Trang 46
Trang 55
Trang 64
Trang 73
Trang 82
Trang 91
Trang 11CôC HËU CÇN – QK4 QK4
TRUNG ĐOÀN 654
Trang 1215 - 11 - 682
Trang 13ĐỀ CƯƠNG
BÁO CÁO VIÊN
Trang 14NGUYÊN TẮC, CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ
B O V BI N ẢO VỆ BIỂN Ệ BIỂN ỂN
B O V BI N ẢO VỆ BIỂN Ệ BIỂN ỂN
Trang 15A ĐẶT VẤN ĐỀ
Kính thưa toàn thể các đồng chí!
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài 3.260 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Năm 1994, nước ta đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982.
Dự thảo Luật Biển Việt Nam đã được Chính phủ trình Quốc hội tại
kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII (tháng 12-2011), tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và cho ý kiến đối với các nội dung quan trọng của dự thảo luật Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan chức năng của Quốc hội và Chính phủ đã phối hợp hoàn thiện Luật Biển để Quốc hội tiếp tục xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII Tại phiên họp ngày 21-6-2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam với số phiếu tán thành gần như tuyệt đối (99,8%) (Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm2013).
năm2013)
Kính thưa toàn thể các đồng chí!
Việt Nam là một quốc gia ven biển, có bờ biển dài 3.260 km, kinh tế biển và các ngành liên quan đến biển đóng góp lớn vào nền kinh tế đất nước Năm 1994, nước ta đã phê chuẩn và chính thức trở thành thành viên của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982.
Dự thảo Luật Biển Việt Nam đã được Chính phủ trình Quốc hội tại
kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XIII (tháng 12-2011), tại kỳ họp này, Quốc hội đã thảo luận và cho ý kiến đối với các nội dung quan trọng của dự thảo luật Trên cơ sở ý kiến đóng góp của các đại biểu Quốc hội, các cơ quan chức năng của Quốc hội và Chính phủ đã phối hợp hoàn thiện Luật Biển để Quốc hội tiếp tục xem xét, thông qua tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII Tại phiên họp ngày 21-6-2012, Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam với số phiếu tán thành gần như tuyệt đối (99,8%) (Luật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm2013).
năm2013)
Trang 16Luật Biển gồm 7 Chương, 55 Điều được xây dựng với mục đích hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, phục vụ cho việc
sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam Luật cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực
và thế giới.
và thế giới
Trong thời gian 30 phút hôm nay, tôi chỉ đi sâu
làm rõ nội dung: Nguyên tắc, chính sách quản lý và
bảo vệ biển Thuộc Điều 4 và 5 của Chương I Những
quy định chung
Trang 17B BỐ CỤC
i
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬT BIỂN
VIỆTNAM
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬT BIỂN
VIỆTNAM
QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ BIỂN
NGUYÊN TẮC, CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ BẢO VỆ BIỂN
Trang 18C NỘI DUNG C NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬT BIỂN VIỆT NAM
Trang 191 Cơ sở lý luận:
Như các đồng chí đã biết, trong hệ thống những quan
điểm của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vai trò của biển đảo và việc bảo vệ khai thác nguồn lợi từ biển phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước Đó là nhiệm vụ rất quan trọng và chỉ đạo xây dựng lực lượng chuyên trách để bảo vệ vùng biển mới được giải phóng từ Móng Cái đến vĩ tuyến 17 Ngày 07/5/1955 Người chỉ đạo thành lập Cục phòng thủ bờ biển, tiền thân
của Hải quân nhân dân Việt Nam ngày nay Ngày
31/3/1959 khi về thăm làng cá Cát Bà, Người dạy :“Biển bạc của ta do dân ta làm chủ” Tư tưởng của Người là phải làm chủ tiềm năng của biển, bảo vệ biển và khai thác các nguồn lợi từ biển để phục vụ cho sự phát triển đất nước và đời sống của nhân dân
Trang 20Năm 1961 khi Bác Hồ đến thăm và nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ hải quân, Người căn dặn :“Ngày trước
ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển Bờ biển ta dài, tươi đẹp ta phải biết giữ gìn lấy nó” Lời căn dặn của Bác với các chiến sĩ hải quân ngày ấy ẩn chứa sâu xa luận điểm của Người, là sự khái quát rất ngắn gọn và dễ hiểu về lịch sử truyền thống về Tổ quốc, về tiềm năng của biển nước ta và trách nhiệm của mọi thế hệ người Việt Nam phải biết khai thác, quản lý và bảo vệ biển.
Biển, đảo nước ta từ xưa tới nay luôn đóng vai trò to lớn, là không gian chiến lược quan trọng đối với quốc phòng và an ninh quốc gia mà lúc sinh thời, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước, Đảng ta có Nghị quyết Trung ương 4 khóa X về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”,
Trang 21trong đó xác định mục tiêu phấn đấu “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển, giàu lên từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển đảo”.
(Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương” Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020)
Trang 22Việt Nam là một trong 9 quốc gia nằm trên bờ biển Đông, bên cạnh các quốc gia khác là Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Brunei, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Biển Đông có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống dân cư của các quốc gia ven biển, chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú
và nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình dương - Ấn Độ dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - châu Á và được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới
2- Cơ sở thực tiễn:
Trang 23Đối với Việt Nam, biển Đông đóng vai trò chiến lược, đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc trong lịch sử, hiện tại và tương lai Biển Đông cũng là không gian sinh tồn và cung cấp thu nhập quan trọng cho nền kinh tế quốc dân Vì vậy, Việt Nam hết sức coi trọng vai trò của luật biển quốc tế trong việc điều chỉnh các mối quan hệ giữa các quốc gia ven biển Đông, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển bền vững cho cả khu vực.
Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia đầu tiên tham gia ký Công ước tại Montego Bay Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết
về việc phê chuẩn Công ước Luật Biển, trong đó
Trang 24khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.
Đồng thời, Nghị quyết ngày 23/6/1994 của Quốc hội Việt Nam cũng một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp
về chủ quyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến vấn đề biển Đông
Trang 25thông qua thương lượng hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Là thành viên của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý Đồng thời, Việt Nam cũng có những nghĩa vụ đối với các quốc gia khác tại các vùng biển thuộc quyền tài phán của mình.
Trang 26VÙNG BIỂN VIỆT NAM
Trang 27Để thể hiện trách nhiệm và thiện chí của một quốc gia thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982, trong những năm qua, Việt Nam thực thi đầy đủ các quy định của Công ước, tiến hành sửa đổi, ban hành mới pháp luật Việt Nam phù hợp với các quy định của Công ước.
Ngày 21/6/2012, Việt Nam đã ban hành Luật Biển nhằm thống nhất quản lý việc hoạch định, sử dụng, thăm dò, khai thác, bảo quản các vùng biển, thềm lục địa và hải đảo của Việt Nam, cũng như việc giải quyết tranh chấp trên biển giữa Việt Nam với các nước láng giềng tại một văn bản có giá trị hiệu lực cao.
Đây được coi là bước tiến quan trọng của Công ước Luật Biển vào pháp luật Việt Nam, tạo thuận lợi cho Việt Nam chúng ta quản lý thống nhất về biển và phát triển nền kinh tế biển Đây cũng là một bước tiến mới của Việt Nam khi công bố luật biển.
Trang 283 Ý nghĩa của việc ra đời luật biển Việt Nam
3 Ý nghĩa của việc ra đời luật biển Việt Nam
- Luật biển ra đời đã đặt nền móng cho việc pháp điển
hóa pháp luật về biển trên những nguyên tắc thống
nhất, phù hợp với luật biển quốc tế, bảo vệ và đáp
ứng được các lợi ích biển của Việt Nam Luật biển đã
tạo ra khung pháp lý cơ bản cho việc tiến ra biển của
đất nước, khắc phục sự “tụt hậu” trong xây dựng luật
biển so với các nước trong khu vực
(Pháp điển là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp,
sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực
trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để
xây dựng Bộ pháp điển.)
- Luật biển ra đời đã đặt nền móng cho việc pháp điển
hóa pháp luật về biển trên những nguyên tắc thống
nhất, phù hợp với luật biển quốc tế, bảo vệ và đáp
ứng được các lợi ích biển của Việt Nam Luật biển đã
tạo ra khung pháp lý cơ bản cho việc tiến ra biển của
đất nước, khắc phục sự “tụt hậu” trong xây dựng luật
biển so với các nước trong khu vực
(Pháp điển là việc cơ quan nhà nước rà soát, tập hợp,
sắp xếp các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực
trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan
nhà nước ở trung ương ban hành, trừ Hiến pháp, để
xây dựng Bộ pháp điển.)
- Là bước thể hiện cụ thể Nghị quyết số
27/NQ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nhằm xây dựng nước ta trở thành một nước mạnh về biển.
- Luật biển thể hiện được tư tưởng quản lý biển tổng hợp và sẽ tạo điều kiện áp dụng hiệu quả hơn mô hình này vào thực tế Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam Nó sẽ là cơ sở để quy hoạch lại các
- Là bước thể hiện cụ thể Nghị quyết số
27/NQ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 nhằm xây dựng nước ta trở thành một nước mạnh về biển.
- Luật biển thể hiện được tư tưởng quản lý biển tổng hợp và sẽ tạo điều kiện áp dụng hiệu quả hơn mô hình này vào thực tế Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam Nó sẽ là cơ sở để quy hoạch lại các
vùng biển trên tinh thần phát triển bền vững, phát triển phải đi đôi với bảo vệ, kết hợp hài hoà lợi ích giữa trung ương và địa phương, trước mắt và lâu dài, giữa kinh tế và quốc phòng, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp trong quản lý và phát triển kinh tế biển, tăng cường vai trò và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và phát triển kinh tế biển Luật biển cũng sẽ tạo điều kiện xây dựng, phân công, phân nhiệm và hợp đồng rõ ràng giữa các lực lượng thi hành pháp luật trên biển, đáp ứng được nhu cầu bảo vệ và quản lý biển của đất nước trong tình hình mới.
vùng biển trên tinh thần phát triển bền vững, phát triển phải đi đôi với bảo vệ, kết hợp hài hoà lợi ích giữa trung ương và địa phương, trước mắt và lâu dài, giữa kinh tế và quốc phòng, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp trong quản lý và phát triển kinh tế biển, tăng cường vai trò và quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và phát triển kinh tế biển Luật biển cũng sẽ tạo điều kiện xây dựng, phân công, phân nhiệm và hợp đồng rõ ràng giữa các lực lượng thi hành pháp luật trên biển, đáp ứng được nhu cầu bảo vệ và quản lý biển của đất nước trong tình hình mới.
- Luật biển tái khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định phạm vi các vùng biển Việt Nam phù hợp với các quy định của công ước luật biển và là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại liên quan đến biển của đất nước, các hoạt động đàm phán giải quyết hòa bình các tranh chấp biển với các nước liên quan.
- Luật biển là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế về biển giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế, trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.
- Luật biển tái khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định phạm vi các vùng biển Việt Nam phù hợp với các quy định của công ước luật biển và là kim chỉ nam cho các hoạt động đối ngoại liên quan đến biển của đất nước, các hoạt động đàm phán giải quyết hòa bình các tranh chấp biển với các nước liên quan.
- Luật biển là cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy hợp tác quốc tế về biển giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế, trên cơ sở tôn trọng pháp luật quốc tế, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, các bên cùng có lợi.
Trang 29II NGUYÊN TẮC, CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ
BẢO VỆ BIỂN
Trang 301 Nguyên tắc quản lý và
bảo vệ Biển
Thứ nhất: Quản lý và bảo vệ biển được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và các điều ước quốc tế khác mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Thứ hai: Các cơ quan, tổ chức và mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển.
Thứ ba: Nhà nước giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển, đảo với các nước khác bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm
1982, pháp luật và thực tiễn quốc tế.
Trang 312 Chính sách quản lý và
bảo vệ biển
Thứ nhất: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và thực hiện các biện pháp cần thiết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển, đảo và quần đảo, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, phát triển kinh tế biển.
Thứ hai: Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch quản lý, sử dụng, khai thác, bảo vệ các vùng biển, đảo và quần đảo một cách bền vững phục vụ mục tiêu xây dựng, phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh.
Thứ ba: Khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ vào việc sử dụng, khai thác, phát triển kinh tế biển, bảo vệ tài nguyên
và môi trường biển, phát triển bền vững các vùng biển phù hợp với điều kiện của từng vùng biển và bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh; tăng cường thông tin, phổ biến về tiềm năng, chính sách, pháp luật về biển.