BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, mang trong nó là bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mỗi thành viên trong xã hội. Các chế độ BHXH đều nhằm mục đích đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ tạm tạm thời hoặc vĩnh viễn mất nguồn thu nhập. Số lượng và nội dung các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào mục tiêu, quy định và tình hình thực tế của mỗi nước.Trong hệ thống các chế độ BHXH thì chế độ hưu trí được coi là chế độ quan trọng nhất vì nó nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi hết tuổi tuổi lao động. Có thể nói rằng gần 100% người lao động của các nước đều có nhu cầu tham gia bảo hiểm hưu trí. Vì thế nó được hầu hết các quốc gia áp dụng từ rất sớm.Ở Việt Nam, chế độ hưu trí đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và coi trọng từ lâu, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. Qua hơn 50 năm thực hiện, chế độ hưu trí đã được sửa đổi nhiều lần và ngày càng hoàn thiện phù hợp với tình hình đất nước. Chế độ hưu trí cùng với các chế độ khác trong hệ thống các chế độ BHXH đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống của người lao động giúp họ yên tâm làm việc tạo thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội, từ đó đảm bảo cho an sinh xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Theo xu hướng già hóa dân số thì ở nước ta hiện nay số người cao tuổi nói chung và người lao động trong độ tuổi nghỉ hưu nói riêng ngày càng tăng, vì thế yêu cầu đặt ra là tổ chức thực hiện chế độ trợ cấp hưu trí như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời phù hợp với điều kiện đất nước trong thời kỳ đổi mới.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC i
LỜI CAM ĐOAN v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU, HÌNH vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI HƯU TRÍ 3
1.1 Chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội 3
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí 3
1.1.2 Vai trò của chế độ hưu trí 7
1.2 Nội dung cơ bản của chế độ hưu trí 9
1.2.1 Mục đích của chế độ hưu trí 9
1.2.2 Đối tượng tham gia và thụ hưởng của chế độ hưu trí 10
1.2.3 Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí 10
1.2.4 Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí 12
Trang 21.3 Quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 13
1.3.1 Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 13
1.3.2 Nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí 14
1.4 Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 19
1.4.1 Tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở một số nước 19
1.4.1.1 Thái Lan 19
1.4.1.2 Trung Quốc 21
1.4.1.3 Hoa Kỳ 23
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 27
1.4.2.1 Hoàn thiện hệ thống hưu trí cơ bản, hướng tới xây dựng hệ thống hưu trí đa trụ cột 27
1.4.2.2 Thực hiện bảo hiểm hưu trí đối với người lao động ở nông thôn .28 1.4.2.3 Đa dạng hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội hưu trí 29
1.4.2.4 Hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội 30
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM HƯU TRÍ BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM 31
2.1 Chính sách Bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam 31
2.1.1 Khái quát về chính sách bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 31
Trang 32.1.1.1 Đối tượng áp dụng 31
2.1.1.2 Các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc 33
2.1.1.3 Quỹ bảo hiểm xã hội 34
2.1.2 Chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam 36
2.1.2.1 Đối tượng tham gia chế độ hưu trí 36
2.1.2.2 Mức đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 36
2.1.2.3 Điều kiện hưởng chế độ hưu trí 37
2.1.2.4 Mức hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 38
2.2 Phân tích thực trạng triển khai chế độ hưu trí bắt buộc ở Việt Nam 40
2.2.1 Đối tượng tham gia và thụ hưởng chế dộ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 40
2.2.2 Tình hình thu quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 46
2.2.3 Tình hình chi quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 49
2.2.4 Cân đối thu - chi quỹ hưu trí bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam 52
2.3 Đánh giá về tình hình thực hiện chế độ hưu trí ở Việt Nam (2006 - 2011) 54 2.3.1 Kết quả đạt được 55
2.3.2 Những vấn đề còn hạn chế và nguyên nhân 56
Trang 4CHƯƠNG 3: MỘT SỐ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN
CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI HƯU TRÍ BẮT BUỘC Ở VIỆT NAM 62
3.1 Định hướng phát triển bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí đến năm 2020 62
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội 63
3.1.2 Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội 64
3.1.3 Tăng tuổi nghỉ hưu trung bình 65
3.2 Một số ý kiến đề xuất để hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí 66
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc làm cơ sở cho việc thực hiện tốt chế độ này 67
3.2.2 Quản lý chặt chẽ đối tượng đang nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 68
3.2.3 Hoàn thiện cơ chế thu - chi bảo hiểm xã hội 70
3.3.4 Tăng cường kiểm tra giám sát đối với người sử dụng lao động 71
3.3.5 Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội đến các tầng lớp nhân dân 71
3.3.6 Giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng 72
3.2.7 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội 73
PHẦN KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 5CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Họ và tên tác giả : Nguyễn Hữu Thọ
Sinh ngày : 08/04/1987
Mã học viên : CH190216
Đề tài Luận văn : Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội
hưu trí bắt buộc ở Việt Nam
Luận văn trên là kết quả nghiên cứu độc lập của riêng tôi, trên cơ sở phântích đánh giá tình hình từ cơ sở số liệu được sự cho phép của Bảo hiểm xã hội ViệtNam và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Các nội dung được trích dẫn trongluận văn có nguồn gốc rõ ràng và có chú thích cụ thể
Nếu vi phạm lời cam đoan này, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm theo quyđịnh của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội./
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2012
Học viên
Nguyễn Hữu Thọ
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
3 DN FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Trang 7Bảng 2.1 Mức đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 34
Bảng 2.3 Số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở Việt Nam
Trang 8Danh mục hình
Hình 1.1 Tỷ lệ tham gia các quỹ hưu trí công ty 26Hình 2.1: Tỷ lệ số người đóng bảo hiểm xã hội trên một người hưởng
Hình 2.2 Cân đối thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc 54
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
LỜI MỞ ĐẦU
BHXH là một chính sách lớn trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia,mang trong nó là bản chất nhân văn sâu sắc vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mỗithành viên trong xã hội Các chế độ BHXH đều nhằm mục đích đảm bảo đời sốngcho người lao động khi họ tạm tạm thời hoặc vĩnh viễn mất nguồn thu nhập Sốlượng và nội dung các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vàomục tiêu, quy định và tình hình thực tế của mỗi nước
Trong hệ thống các chế độ BHXH thì chế độ hưu trí được coi là chế độ quantrọng nhất vì nó nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động khi hết tuổi tuổi laođộng Có thể nói rằng gần 100% người lao động của các nước đều có nhu cầu thamgia bảo hiểm hưu trí Vì thế nó được hầu hết các quốc gia áp dụng từ rất sớm
Ở Việt Nam, chế độ hưu trí đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và coi trọng
từ lâu, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâusắc Qua hơn 50 năm thực hiện, chế độ hưu trí đã được sửa đổi nhiều lần và ngàycàng hoàn thiện phù hợp với tình hình đất nước Chế độ hưu trí cùng với các chế độkhác trong hệ thống các chế độ BHXH đã góp phần quan trọng trong việc ổn định đờisống của người lao động giúp họ yên tâm làm việc tạo thu nhập cho bản thân, giađình và xã hội, từ đó đảm bảo cho an sinh xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế củađất nước Theo xu hướng già hóa dân số thì ở nước ta hiện nay số người cao tuổi nóichung và người lao động trong độ tuổi nghỉ hưu nói riêng ngày càng tăng, vì thế yêucầu đặt ra là tổ chức thực hiện chế độ trợ cấp hưu trí như thế nào để đạt hiệu quả caonhất, đồng thời phù hợp với điều kiện đất nước trong thời kỳ đổi mới
Là học viên cao học Khóa 19 của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, chuyênngành kinh tế bảo hiểm, nhận thức được tính cấp thiết của vấn đề trên cùng với quá
Trang 10trình công tác tại Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, họcviên quyết định đề tài để nghiên cứu Nội dung chủ yếu của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội hưu tríChương 2: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ởViệt Nam
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất về tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xãhội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí
Chương này tóm lược sự ra đời và phát triển của BHXH trên thế giới cũngnhư chế độ BHXH hưu trí bắt buộc ở Việt Nam, nội dung cơ bản của chế độ hưu trí
và một số kinh nghiệm quốc tế, bài học đối với Việt Nam
BHXH xuất hiện đầu tiên ở Đức BHXH hiện đại được thực hiện trên cơ sở
mô hình BHXH của Đức và đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin,rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thếgiới thứ hai, BHXH đã được phổ biến sang các nước vừa giành được độc lập ởChâu á, Châu Phi và vùng Caribê, tuỳ theo điều kiện KTXH của mỗi nước Đếnnay, BHXH đã phát triển không ngừng và rất đa dạng mang những đặc trưng củatừng nước hoặc từng khu vực
Ở Việt Nam, BHXH xuất hiện vào những năm 1930, bảo vệ cho các đốitượng làm việc trong chính quyền thực dân Pháp, do chính phủ thực dân chu cấp
Tới những năm 1995, căn cứ vào việc thể chế hoá các chủ trương, quan điểmcủa Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng,các quy định của Bộ luật Lao động liên quan tới BHXH, Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và liên Bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tưhướng dẫn thực hiện chính sách chế độ BHXH Trong đó, có 2 văn bản pháp luậtchủ đạo là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hành
Trang 11Ngày 29/6/2006, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảohiểm xã hội, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thể chế hóa các quy định,hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nâng caotính hiệu quả trong thực thi chế độ, chính sách về BHXH Với việc ban hành vàthực thi chính sách BHXH theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì hệ thống chế
độ, chính sách về BHXH đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và nhữngNLĐ ăn lương được hoàn thiện Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội đã bổ sung 2loại hình bảo hiểm mới, BHXH tự nguyện áp dụng từ ngày 01/01/2008 và bảo hiểmthất nghiệp áp dụng từ ngày 01/01/2009
Chế độ BHXH hưu trí bắt buộc ra đời cùng với sự ra đời của BHXH ở ViệtNam, đóng góp một vai trò to lớn trong đời sống kinh tế xã hội, đối với người laođộng, người sử dụng lao động và đối với an sinh xã hội
Chế độ hưu trí có liên quan đến NLĐ kể từ lúc tham gia BHXH đến lúc họ
về hưu và qua đời, phần đóng và phần hưởng của chế độ này cũng chiếm tỷ lệ caotrong toàn bộ phần đóng hưởng của hệ thống chế độ BHXH Chính vì thế chế độnày luôn được sự quan tâm đặc biệt và hầu như được tất cả các nước trên thế giớixây dựng và thực hiện
- Giúp NLĐ chủ động đảm bảo cuộc sống khi về già bằng chính khoản tiềntích lũy của mình Giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội
Theo Điều 27 Công ước 102 của ILO thì đối tượng tham gia chế độ hưu trítrong một quốc gia tối thiểu phải bằng 50% tổng số người làm công ăn lương hoặc
Trang 1220% dân số hoạt động kinh tế Đối chiếu với các chỉ tiêu thống kê về lao động củaViệt Nam thì tiêu chuẩn tối thiểu về số đối tượng tham gia phải bằng 50% lao độnglàm việc trong khu vực kết cấu hoặc 20% lực lượng lao động.
Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí tùy thuộc vào các cơ sở sinh học, là tuổi
thọ, thể lực, giới tính của NLĐ Ở mỗi quốc gia, tùy vào điều kiện riêng của mình
mà quy định những điều kiện hưởng, khác nhau Có những nước quy định tuổi nghỉhưu, của cả nam và nữ như nhau, có những nước lại khác nhau: thường là nữ có tuổinghỉ hưu sớm hơn, có một số nước quy định tuổi nghỉ hưu sớm, có những nước, quyđịnh tuổi nghỉ hưu muộn
BHXH hưu trí định kỳ được áp dụng đối với NLĐ, đã có thâm niên tham giaBHXH (hoặc thâm niên công tác) là 30 năm và ít nhất là 15 năm Mức hưởng bảohiểm hưu trí, được quy định theo một tỷ lệ nhất định so với thu nhập trước đó, củaNLĐ và tối thiểu là 40% Các trường hợp có thời gian tham gia BHXH hoặc thờigian lao động thực tế ngắn sẽ bị giảm mức trợ cấp Mức giảm cũng phụ thuộc vàothâm niên đó
Quan nghiên cứu kinh nghiệm hệ thống hưu trí các nước Thái Lan, TrungQuốc, Hoa Kỳ, Luận văn cũng đã rút ra được một số bài học đối với Việt Nam:
- Hoàn thiện hệ thống hưu trí cơ bản, hướng tới xây dựng hệ thống hưu trí đatrụ cột
Kinh nghiệm các nước cho thấy việc thiết kế hệ thống hưu trí đa trụ cột làcần thiết Ngân hàng thế giới vào năm 1998 đã khuyến nghị hệ thống hưu trí ba trụcột và mới đây đã kiến nghị hệ thống hưu trí 5 trụ cột Việc nghiên cứu kinh nghiệmquốc tế và cơ sở lý luận của việc thiết kế hệ thống hưu trí của Ngân hàng thế giới làhết sức hữu ích cho Việt Nam
- Thực hiện bảo hiểm hưu trí đối với người lao động ở nông thôn
Chính sách BHXH ở Việt Nam có những điểm tương đồng có thể học tậpkinh nghiệm của Trung Quốc bằng cách thiết kế một cơ chế linh hoạt giữa BHXH
Trang 13hưu trí bắt buộc và BHXH hưu trí tự nguyện Có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích ngườinông dân tham gia vào hệ thống, từng bước mở rộng đối tượng của chế độ hưu trí.
Trước kia, từ năm 1999 đến năm 2009, Việt Nam đã thí điểm mô hìnhBHXH nông dân ở Nghệ An đạt được thành tựu đáng kể về khía cạnh đối tượngtham gia Tuy mô hình đã khép lại nhưng những kinh nghiệm thực tế đó là một bàihọc sâu sắc để có thể tìm ra những bước đi phù hợp hơn trong thời gian tới
- Đa dạng hóa dịch vụ bảo hiểm xã hội hưu trí
Bảo hiểm xã hội nói chung, chế độ hưu trí nói riêng ở Việt Nam đang đượccoi là một dịch vụ công phi lợi nhuận do nhà nước thực hiện (thông quan Bảo hiểm
xa hội Việt Nam) Tuy nhiên, có một số hạn chế đã được thừa nhận trong thực tếtrong nỗ lực đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ này, cơ chế hành chính vẫn còn
dư âm ảnh hưởng tới thái độ, tác phong của mỗi cơ quan BHXH và mỗi cán bộ làmcông tác BHXH
- Hiện đại hóa quản lý bảo hiểm xã hội
Các nước phát triển thường tận dụng triệt để ưu điểm của hệ thống côngnghệ hiện đại vào cách thức quản lý, vận hành các mô hình dịch vụ công Xây dựngđược một hệ thống công nghệ thông tin cả phần cứng và phần mềm hiện đại, liênthông từ trung ương tới địa phương, từ cơ quan quản lý nhà nước tới cơ quan tổchức thực hiện cũng như với NSDLĐ và NLĐ giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệuquả và chất lượng cung ứng dịch vụ hưu trí
Số thu BHXH cũng tăng dần qua từng năm Từ khi Luật Bảo hiểm xã hội cóhiệu lực năm 2007 thì số thu tăng lên một cách đáng kể (trung bình 28%) Có đượckết quả này là do số đối tượng tham gia tăng lên, thêm vào đó là do chính sách điềuchỉnh tiền lương tối thiểu của nhà nước từ 350 nghìn đồng/người/tháng năm 2006lên 830 nghìn đồng/người/tháng năm 2010 Đặc biệt, năm 2010 tổng số thu BHXHtăng lên khá nhiều, tăng 29,1% (tương ứng 11.137 tỷ đồng) so với năm 2009, do tỷ
lệ đóng BHXH tăng lên 2% năm 2010
Trang 14Tỷ trọng quỹ hưu trí bắt buộc trong tổng quỹ BHXH ngày càng gia tăng, cụthể: số thu năm 2006 là 14.719 tỷ đồng chiếm 79,1% trong tổng số thu quỹ BHXH,
số thu năm 2007 là 19.059 tỷ đồng chiếm 79,5% trong tổng số thu quỹ BHXH, năm
2008 là 24.802 tỷ đồng chiếm 80,5% trong tổng số thu quỹ BHXH Năm 2008 nênmặc dù số thu quỹ hưu trí có tăng lên 29.609 tỷ đồng nhưng tỷ trọng trong tổng sốthu bị giảm xuống còn 77,4% trong năm 2009 Năm 2010 số thu quỹ BHXH hưu trítăng lên đáng kể là 40.208 tỷ đồng (tăng 10.599 tỷ đồng so với năm2009) chiếm81,4% trong tổng số thu quỹ BHXH Điều này cho thấy sự nhận thức của người laođộng về lợi ích của BHXH đã ngày càng lan rộng
Bên cạnh tín hiện đáng mừng về việc gia tăng tỷ trọng và số tuyệt đối củaquỹ hưu trí, thì tình trạng nợ đọng BHXH với tỷ lệ lớn ảnh hưởng đến số thuBHXH
Chương 2: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam.
Chương II Luận văn tập trung đánh giá chính sách BHXH hưu trí bắt buộc ởViệt Nam, kết quả thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011 và một số đánh giá cơ bản,chỉ ra một số hạn chế và nguyên nhân của nó
* Về chế độ BHXH hưu trí bắt buộc ở Việt Nam:
Người lao động tham gia chế độ hưu trí chính là người lao động tham giaBHXH bắt buộc, là công dân Việt Nam, bao gồm: (i) Người làm việc theo hợp đồnglao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trởlên; (ii) Cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc trong lực lượng vũ trang và(iii) Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc
Tính đến thời điểm năm 2011, mỗi NLĐ tham gia đóng 7% mức tiền lương,tiền công hàng tháng vào Quỹ hưu trí và tử tuất, NSDLĐ đóng cho người lao động13% Khi hết tuổi lao động, có trên 20 năm đóng góp, người lao động được hưởng
Trang 15lương hưu hàng tháng Mức lương hưu tối đa nhận được bằng 75% mức bình quântiền lương, tiền công tháng đóng BHXH.
* Về tình hình triển khai thực hiện từ năm 2006 đến năm 2011:
Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng dần qua từng năm, từ 6,88 triệungười năm 2006 lên 10,1 triệu người năm 2011, tương ứng 46,52% và số đơn vị sửdụng lao động cũng tăng dần, từ 127.991 đơn vị lên 218.408 đơn vị, tương ứng70,64% Mốc thời điểm khi Luật BHXH có hiệu lực năm 2007 thì số đối tượngtham gia tăng lên đáng kể, từ 6.88 triệu người năm 2006 lên 8,34 triệu người năm
2007, tăng 21,25% Khối HCSN, Đảng, Đoàn, LLVT và khối DN NQD là hai thànhphần có số lao động tham gia BHXH chiếm đa số, cụ thể khối HCSN chiếm tỷ trọngtrung bình khoảng 37%, khối DN NQD chiếm tỷ trọng trọng trung bình 23%
Cùng với sự tăng lên của số lượng đối tượng tham gia BHXH thì số đốitượng hưởng chế độ hưu trí cũng tăng lên, đặc biệt là trong xu thế già hóa dân sốnhư hiện nay Từ khi thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, đối tượng hưởng lương hưutăng đều trong giai đoạn 2007 - 2011, từ 84.860 người năm 2006 tăng lên 112.256người năm 2011 (tương ứng tăng 32,51%) Điều này thể hiện ngày càng có nhiềungười cao tuổi nhận được lương hưu hàng tháng từ Quỹ bảo hiểm xã hội Tuynhiên, đây cũng là một áp lực đối với Quỹ
Ở một khía cạnh khác, trong 6 năm qua, hàng năm có tới khoảng 400 nghìnngười nghỉ việc hưởng chế độ BHXH một lần, tức là rời khỏi hệ thống BHXH hưutrí bắt buộc Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới nỗ lực mở rộng đối tượng thamgia và kỳ vọng nhận được lương hưu của nhiều người lao động trong tương lai cũngnhư nếu nhận được mức lương hưu sẽ giảm đáng kể Cần thiết phải có những nhậnđịnh và giải pháp thích hợp để ngăn chặn xu hướng này, điều này sẽ được làm rõ ởnhững phần sau
Số liệu thống kê bảng trên cho thấy, mức lương hưu hàng tháng của ngườinghỉ hưu trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2011 có mức tăng bình quân khoảng16,0% năm Mức lương hưu bình quân năm 2011 bằng khoảng 2,5 lần mức lương
Trang 16tối thiểu chung Mức lương hưu này được nhiều nghiên cứu đánh giá là thấp so vớitình hình giá cả thực tế và nhu cầu của người nghỉ hưu Phân tích này có mâu thuẫnvới phân tích ở phần 2.2.1 cho rằng tỉ lệ thay thế thu nhập của hệ thống hưu trí ởViệt Nam là cao so với các nước Mâu thuẫn này có thể được lý giải bởi nguyênnhân là NLĐ và NSDLĐ đang không đóng BHXH theo đúng mức tiền lương, tiềncông thực tế mà họ nhận được Còn hiện tượng một doanh nghiệp có 3 đến 4 bảnglương để làm việc với các cơ quan khác nhau.
Số người đóng BHXH cho một người hưởng lương hưu ngày càng giảm, nếunhư năm 1996 có 217 người đóng BHXH cho 1 người hưởng lương hưu, con số nàygiảm xuống còn 34 người vào năm 2000, 19 người vào năm 2004, 14 người vàonăm 2007, 11 người vào năm 2009 và đến năm 2011 chỉ có 9,9 người đóng BHXHcho 1 người hưởng lương hưu
Tính đến cuối năm 2011, tổng số kết dư quỹ hưu trí và tử tuất là 137.279 tỷđồng Tuy nhiên, theo dự báo của BHXH Việt Nam cho thấy: Năm 2023 số thubằng số chi, từ năm 2024 trở đi để đảm bảo chi chế độ hưu trí, tử tuất, ngoài số thutrong năm phải trích thêm từ số dư của quỹ Năm 2037, nếu không có chính sáchhoặc biện pháp tăng thu hoặc giảm chi thì số thu BHXH trong năm và số tồn tíchbắt đầu không đảm bảo khả năng chi trả, các năm sau đó số chi lớn hơn rất nhiều sovới số thu trong năm
* Một số hạn chế và nguyên nhân:
- Hạn chế về chính sách bảo hiểm hưu trí
Theo quy định của Bộ luật Lao động và Luật bảo hiểm xã hội hiện hành thìtuổi nghỉ hưu đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi còn đối với một số trường hợpkhác thì mức quy định là thấp hơn từ 5 đến 10 tuổi trong khi đó tuổi thọ trung bìnhcủa nước ta hiện nay là trên 73 tuổi, so với độ tuổi này thì tuổi nghỉ hưu là thấp.Điều này khiến lương hưu được hưởng sẽ không cao do thời gian đóng chưa dài,hơn nữa việc này sẽ tạo sức ép lên vấn đề chi trả của quỹ BHXH
- Hạn chế về quy định thời gian đóng
Trang 17Luật Bảo hiểm xã hội sau này đã quy định lao động nữ chỉ cần 25 năm đóngBHXH cũng có thể được hưởng tỷ lệ tối đa là 75% vì cứ thêm 1 năm kể từ năm thứ
16 trở đi được tính thêm 3% Quy định này đã tạo điều kiện cho nhiều lao động nữ
có thể hưởng tỷ lệ hưởng tối đa khi nghỉ hưu nhưng nó lại tạo ra sự bất bình đẳngmới giữa hai nhóm lao động nam và nữ có cùng số năm đóng BHXH, tuy nhiên vềmặt thời gian đóng vẫn còn bất cập giữa khu vực trong nước và khu vực dân doanh,FDI Khi nhiều hiệp hội doanh nghiệp vẫn chỉ ra rằng nhà nước có xu hướng thiên
vị hơn đối với đối tượng người lao động làm việc trong khối doanh nghiệp nhà nướctrước đây, như vậy là chưa phù hợp với nguyên tắc quan trọng của chế độ bảo hiểm
xã hội là nguyên tắc đóng, hưởng
- Hạn chế về chính sách bảo hiểm xã hội một lần
Theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội, tại điều các điều kiệnhưởng BHXH một lần gồm:
+ Đủ tuổi hưởng lương hưu theo quy định mà chưa đủ hai mươi năm đóngbảo hiểm xã hội;
+ Suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ hai mươi nămđóng bảo hiểm xã hội;
+ Sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêucầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội;
+ Ra nước ngoài để định cư
Ta có thể thấy đối với những đối tượng thuộc điều kiện thứ 2 và thứ 3, nếukhông thuộc diện hưởng lương hưu hàng tháng thì sẽ tạo gánh nặng cho Nhà nước
và xã hội Bên cạnh đó thì có một số đối tượng đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trínhưng do điều kiện hoàn cảnh gia đình hoặc mắc những bệnh hiểm nghèo cần mộtkhoản tiền lớn để chữa trị nên có nguyện vọng xin hưởng trợ cấp BHXH một lần thìlại không được giải quyết
- Một số hạn chế khác
Trang 18Hạn chế về công tác tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm hưu trí Việc xác địnhđơn vị có sử dụng lao động phải tham gia BHXH giữa các tỉnh là không thống nhất,
có tỉnh dựa vào số liệu của do Sở kế hoạch - đầu tư cung cấp rồi tiến hành rà soát;tỉnh thì dựa vào số liệu do ngành thuế cung cấp; có tỉnh lại trên cơ sở số liệu thống
kê chung; một số tỉnh thì tổ chức phối hợp rà soát, điều tra… nhưng nhìn chung vàhầu hết vẫn thụ động, chủ yếu dựa vào việc các đơn vị đến đăng ký là chính
* Nguyên nhân
Những hạn chế mà tác giả đã chi ra bên trên do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên
có thể tóm gọn lại một số nguyên nhân cơ bản sau:
- Nguyên nhân từ công tác tuyên truyền, giáo dục, phối hợp giữa các cơ quanchức năng nắm số lao động phải tham gia BHXH chưa tốt, chủ doanh nghiệp cốtình không chấp hành đúng luật, né tránh trách nhiệm phải đóng BHXH
- Nguyên nhân do trình độ hiểu biết pháp luật thấp, nhận thức chưa đầy đủ vềnghĩa vụ và quyền lợi phải tham gia BHXH của NLĐ, trong khi đó nhu cầu việc làmlại rất bức xúc nên hầu hết NLĐ chỉ nghĩ trước mắt về tiền lương, tiền thưởng màkhông quan tâm đến các quyền lợi khác về BHXH, BHYT Đồng thời việc quan tâmbảo đảm quyền lợi chính đáng, hợp pháp cho NLĐ ở hầu hết các doanh nghiệp tại cácđịa phương chưa cao; vai trò của tổ chức công đoàn tại những doanh nghiệp có tổchức công đoàn chưa được phát huy, đó là chưa kể đến số lượng rất lớn các doanhnghiệp chưa có tổ chức công đoàn
- Nguyên nhân hạn chế từ mặt chính chưa thật sự hấp dẫn khuyến khíchNLĐ tham gia BHXH (một số quy định trong việc giải quyết chế độ, chính sách còn
có sự bất cập, thủ tục giấy tờ còn phiền hà )
- Nguyên nhân tình trạng nợ đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội: do cơ quanBHXH tỉnh không quản lý được toàn bộ số lao động phải tham gia BHXH bắt buộctrên địa bàn nên không thể dự báo được nguồn thu dẫn đến tình trạng thất thu, nợđọng còn phổ biến
Trang 19- Bên cạnh đó, công tác thanh tra, phối hợp để kiểm tra liên ngành tại các đơn vị
sử dụng lao động còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp (có cả doanh nghiệp Nhà nước) viphạm pháp luật về lao động, khai giảm quỹ lương để trốn nộp BHXH nhưng không bị xử
* Xu hướng phát triển BHXH giai đoạn đến 2020 đã được đặt ra trong Đề ánCải cách BHXH giai đoạn 2012- 2020 và Đề án một số vấn đề về ASXH giai đoạn2012- 2020 Theo đó các mục tiêu chung được đặt ra đối với hệ thống BHXH ở ViệtNam là: Xây dựng hệ thống BHXH bền vững phù hợp với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo hài hoà lợi ích của các bên tham gia BHXHthuộc mọi thành phần kinh tế; bảo đảm cân đối thu chi quỹ BHXH; đáp ứng yêu cầuđổi mới và xu thế hội nhập kinh tế của đất nước Mở rộng đối tượng tham giaBHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Hoàn thiện và tổ chứcthực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH Từng bước nâng dần mức lương hưuphù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước; tiến tới một bộ phận người
về hưu ngoài mức lương hưu cơ bản còn có lương hưu bổ sung
* Một số đề xuất:
- Tiếp tục hoàn thiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc làm
cơ sở cho việc thực hiện tốt chế độ này
Quốc hội đã có Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm
kỳ Khóa 13 (2011 - 2016) trong đó có Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trang 20Bảo hiểm xã hội Đây là một thuận lợi cơ bản để Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chế
Theo báo cáo nhanh của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm
xã hội Việt Nam trong quá trình thanh tra, kiểm tra tại một số địa phương phát hiện
ra những đối tượng đang nghỉ hưởng lương hưu hàng tháng bị chết nhưng không cóbáo cáo, cơ quan BHXH vẫn tiếp tục trả lương hưu trong khoảng thời gian dài sau
đó gây thất thoát lớn cho Quỹ hưu trí và tử tuất cũng như Ngân sách nhà nước (đốivới nhóm đối tượng nghỉ hưu trước năm 1995
- Hoàn thiện cơ chế thu - chi bảo hiểm xã hội
Nội dung chủ yếu của công tác thu chi BHXH,Việt Nam hiện nay là vấn đềhoàn thiện mức thu, chống nợ đọng phí và hoàn thiện, cơ chế quản lý chi BHXH.Trong tình trạng mà quỹ BHXH vẫn luôn dư thừa, nếu, chúng ta chỉ nhìn vào con sốthuần tuý, bỏ qua việc xây dựng chương trình dự báo, tính toán, nhìn vào tình hìnhquỹ trong tương lai thì việc hoạch định và điều chỉnh chính sách trở lên khó khănhơn rất nhiều
- Tăng cường kiểm tra giám sát đối với người sử dụng lao động
Như đã phân tích ở Chương 2, những hạn chế trong việc thực hiện chế độhưu trí có nguyên nhân không nhỏ từ việc không tuân thủ quy định về BHXH củaNSDLĐ như việc trốn đóng, nợ đóng dẫn đến tình trạng NLĐ đủ điều kiện về hưukhông được giải quyết chế độ hay tình trạng trục lợi, giả mạo hồ sơ
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thì số đợt thanh tra,kiểm tra hàng năm về lĩnh vực BHXH là rất hạn chế Đội ngũ thanh tra chuyên
Trang 21ngành về BHXH ở trung ương mỏng Không có đội ngũ thanh tra chuyên ngành vềBHXH ở địa phương Công tác thanh tra, kiểm tra chưa được quan tâm đúng mứcdẫn đến quyền lợi hưu trí của NLĐ không được bảo đảm đầy đủ.
- Tăng cường công tác tuyên truyền về bảo hiểm xã hội đến các tầng lớpnhân dân
Là đơn vị tổ chức thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, các cơ quan BHXH
sẽ thay mặt Đảng và Nhà nước phổ biến các chính sách liên quan đến BHXH đếnngười dân Công tác truyền thông trong BHXH là một công tác rất quan trọng trongthực hiện BHXH Tuyên truyền để giúp người dân nói chung và người lao động nóiriêng hiểu biết về mục đích mà BHXH hướng tới, qua đó thấy được quyền lợi, lợiích của mình Nhận thức được điều này sẽ làm cho đối tượng tham gia BHXH tự ýthức trong việc tuân thủ về đóng góp BHXH, giúp mở rộng đối tượng tham gia Mởrộng đối tượng tham gia có ý nghĩa quan trọng trong việc cân đối quỹ BHXH trongthời gian tới Hiện nay ngành BHXH nói chung còn chưa dành sự quan tâm tới hoạtđộng này
- Giải quyết triệt để tình trạng nợ đọng
Tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHXH diễn ra thường xuyên do nhiều nguyênnhân khác nhau như nhận thức của NSDLĐ, NLĐ còn hạn chế hoặc NSDLĐ cố tìnhchiếm dụng vốn từ quỹ BHXH; cơ chế, chế tài xử phạt còn chưa nghiêm
Trong thời gian tới, cần thiết phải thực hiện nghiêm minh các chế tài xử phạt,đồng thời kiến nghị bổ sung quy định trong Bộ Luật Hình sự về hành vi của cá nhânNSDLĐ khi vi phạm pháp luật BHXH (trốn đóng hoặc nợ đóng BHXH dẫn tớikhông có khả năng đóng BHXH với số tiền lớn; trích tiền đóng BHXH của NLĐnhưng không nộp cho cơ quan BHXH, )
- Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội
Ở Việt Nam hiện nay, những người được đào tạo, chuyên sâu về BHXHchiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số cán bộ của ngành Nhu cầu,nguồn nhân lực để thực
Trang 22hiện chính sách BHXH của nước ta vẫn còn yếu về chất lượng và thiếu về số lượng.Đây là một thực tế và đồng thời cũng là bất cập lớn nhất khi, tổ chức thực hiệnchính sách BHXH ở nước ta Một vấn đề lớn đặt ra là phải đào tạo và đào tạo lại,nguồn nhân lực cho ngành BHXH Đây là nhu cầu cấp thiết, vừa là trước mắt,vừa,là chiến lược lâu dài đối với toàn ngành mà chúng ta phải nhận thức được trongbối,cảnh chung hiện nay.
Tác giả hi vọng các nghiên cứu, phát hiện và đề xuất trong Luận văn sẽ gópmột phần nào đó để thực hiện tốt hơn nữa một chế độ, chính sách rất nhân văn củaĐảng và Nhà nước Trong quá trình học tập và công tác tiếp theo, tác giả sẽ tiếp tụctìm tòi cả lý luận và thực tiễn để hoàn thiện tốt hơn Luận văn của mình
Trang 23PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, BHXH là một chính sách xã hội lớn, là trụ cột trong hệ thốngcác chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước Chế độ hưu trí là một trongnhững chế độ quan trọng nhất được hình thành ngày từ khi BHXH ra đời Qua thờigian, chế độ hưu trí không ngừng được sửa đổi, bổ sung theo hướng hoàn thiện, đặcbiệt là sau khi Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 6 năm
2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 Chính sách này đã gópphần bảo đảm nguồn thu nhập hỗ trợ cho cuộc sống của NLĐ khi không còn khảnăng lao động, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Tuy nhiên, thực tế sau hơn 5 năm triển khai thực hiện chế độ hưu trí theoquy định của Luật Bảo hiểm xã hội, thực tiễn đã phản ánh một số vấn đề cả về nộidung chính sách và việc tổ chức triển khai thực hiện cần được nghiên cứu, như: môhình quản lý, phương thức đóng bảo hiểm xã hội, tính hưởng chế độ hưu trí, độ tuổinghỉ hưu ngoài ra mức độ bao phủ của bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưutrí nói riêng còn thấp Theo mục tiêu được Bảo hiểm xã hội Việt Nam đề ra là phấnđấu đến năm 2020 sẽ có 50% người dân Việt Nam có BHXH hưu trí, tuy nhiên đểthực hiện được mục tiêu này là không dễ…Từ những lý do nêu trên, đặt ra vấn đềcần thiết phải có những Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu tríbắt buộc ở Việt Nam, chỉ rõ những vấn đề đã làm tốt, những hạn chế, nguyên nhâncủa nó, để từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm từng bước hoàn thiện gópphần thực hiện an sinh xã hội và phù hợp với khát khao, nguyện vọng của đông đảongười dân Do đó, học viên đã mạnh dạn chọn đề tài “Phân tích tình hình thực hiệnchế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ hưu trí
Thứ hai, Phân tích tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắtbuộc ở Việt Nam, phản ánh những kết quả đạt được, đồng thời chỉ rõ những vấn đềcòn hạn chế và nguyên nhân của nó
Trang 24Thứ ba, đề xuất những giải pháp, kiến nghị để nhằm hoàn hiện công tác thựchiện chế độ hưu trí bắt buộc ở nước ta.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắtbuộc trên phạm vi cả nước
- Đối tượng nghiên cứu: chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc (khôngnghiên cứu chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí tự nguyện)
* Trong phạm vi Luận văn, thuật ngữ “chế độ hưu trí” được hiểu là “chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc”.
4 Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả
sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong xử lý thôngtin sơ cấp và thứ cấp
- Nguồn thông tin: thông tin thứ cấp từ các báo cáo của cơ quan Bảo hiểm xãhội Việt Nam
Thông tin sơ cấp thu thập được từ nhưng phản ánh của doanh nghiệp, NLĐ,trong quá trình tác giả tiếp xúc khi công tác tại tại Vụ Bảo hiểm xã hội, Bộ Laođộng - Thương binh và Xã hội
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục bố cục đề tài gồm 3 phần:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí;
Chương 2: Tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội hưu trí bắt buộc ởViệt Nam;
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất về tình hình thực hiện chế độ bảo hiểm xãhội hưu trí bắt buộc ở Việt Nam;
Trang 25PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẾ
ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI HƯU TRÍ
1.1 Chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội
1.1.1 Sự ra đời và phát triển của bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỉ XIX, khi nền công nghiệp và kinh
tế hàng hoá bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu Quá trình công nghiệphoá làm cho nhiều người nông thôn phải bỏ ruộng vườn hoặc không còn ruộngvườn, phải ra đô thị, ra các vùng công nghiệp để kiếm sống, chấp nhận từ bỏ “láchắn” truyền thống ở thôn quê Vì vậy, đội ngũ người làm công ăn lương tăng lên,cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sựhẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việclàm và đặc biệt khi về già không còn khả năng lao động đã trở thành mối đe doạđối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khácngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày
đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành độngtương thân, tương ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn ); đồng thời, đòi hỏi giớichủ phải trợ giúp để bảo đảm cuộc sống cho họ Ban đầu người chủ chỉ cam kết trảtiền công cho NLĐ, nhưng do ốm đau, TNLĐ xảy ra với tần suất gia tăng, cho nênNLĐ đấu tranh, buộc người chủ ngoài tiền công, phải cam kết trả cho NLĐ mộtkhoản chi phí nhất định để trang trải những rủi ro trên Tuy nhiên, trong thực tếkhông phải bao giờ các cam kết của giới chủ cũng được thực hiện đầy đủ, đảm bảocác quyền lợi cho NLĐ khi rủi ro xảy ra Vì thế, giới thợ đã liên kết vớí nhau đấutranh buộc giới chủ phải thực hiện cam kết Cuộc đấu tranh này đã tác động đếnnhiều mặt của đời sống xã hội, dẫn đến một giải pháp khắc phục có hiệu quả hơn,
đó là việc hình thành một quỹ dự trữ Quỹ này được hình thành do sự đóng góp của
cả giới chủ và giới thợ và khi NLĐ gặp phải rủi ro thì các chi phí được trích ra từquỹ một cách chủ động, không phụ thuộc vào ý muốn của giới chủ
Trang 26Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, tại một số bang đã thành lập quỹ trợ giúp khi
ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để thành lập quỹ tài chính dự phòngkhi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Đây là những tiền đề để thực hiện hình thức BHthông qua bắt buộc đóng góp Dần dần các hình thức BH phát triển mở rộng ra chocác trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 80 củathế kỷ XIX, BHXH được hình thành và với cơ chế hoạt động mới Sự tham gia BH
đã trở thành bắt buộc và không chỉ NLĐ mà cả giới chủ và Nhà nước cũng phảithực hiện nghĩa vụ đóng góp Tính chất tương trợ đoàn kết và san sẻ lúc này đã thểhiện khá rõ nét: mọi NLĐ, không phân biệt nam - nữ, lao động chân tay, lao động
kỹ thuật, người khoẻ - người yếu, đều có quyền và phải tham gia đóng góp
BHXH hiện đại được thực hiện trên cơ sở mô hình BHXH của Đức và đã landần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vàonhững năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, BHXH đã được phổbiến sang các nước vừa giành được độc lập ở Châu á, Châu Phi và vùng Caribê, tuỳtheo điều kiện KTXH của mỗi nước (xem Bảng 1.1) Đến nay, BHXH đã phát triểnkhông ngừng và rất đa dạng mang những đặc trưng của từng nước hoặc từng khu vực
Bảng 1.1 Tình hình thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội ở các nước trên thế giới
Đơn vị tính: số quốc gia
Trang 27Qua nhiều thời kỳ, cùng với sự nảy sinh những tranh chấp về quyền lợi vàtrách nhiệm giữa giới chủ và giới thợ, đi cùng sự phát triển các quan hệ kinh tế thịtrường và sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế của các quốc gia, theo đó trình độchuyên môn và nhận thức về BHXH của NLĐ ngày càng được nâng cao Cách thứcchủ động khắc phục những rủi ro xảy ra với con người ngày càng hoàn thiện
Tuy nhiên, chỉ đến khi có sự ra đời của BHXH với tư cách là một loại dịch
vụ rất cần thiết của xã hội loài người thì những tranh chấp cũng như những khókhăn mới được giải quyết một cách cơ bản và có hiệu quả nhất bảo đảm cho xã hộiphát triển bền vững Với sự phát triển mạnh mẽ và đa dạng, BHXH đã trở thành mộttrụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội ở mỗi quốc gia Song hành với sự hìnhthành và phát triển của hệ thống chính sách BHXH, chế độ hưu trí đã sớm được rađời và không ngừng được hoàn thiện Nó là một trong các chế độ BHXH ngay từđầu được quy định thực hiện trong hệ thống các chế độ BHXH ở hầu hết các nướctrên thế giới và cũng đã được Hội nghị quốc tế về lao động quy định là một trong 9chế độ BHXH tại Công ước số 102 ngày 28 tháng 6 năm 1952
Ở Việt Nam, BHXH xuất hiện vào những năm 1930, bảo vệ cho các đốitượng làm việc trong chính quyền thực dân Pháp, do chính phủ thực dân chu cấp.Ngay sau khi thành lập nước, những văn bản pháp luật đầu tiên được ban hành quyđịnh về bảo hiểm xã hội là Sắc lệnh 54/SL năm 1945 và Sắc lệnh 105/SL năm 1946quy định về chế độ hưu trí cho công chức Nhà nước Tiếp đó là các Sắc lệnh 29/SL(1947); 76/SL, 77/SL (1950) Đến những năm 60 của thế kỷ XX, BHXH được thựchiện chính thức thông qua Nghị định số 218-CP ngày 27/12/1961 ban hành Điều lệtạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước
Tới những năm 1995, căn cứ vào việc thể chế hoá các chủ trương, quan điểmcủa Đảng và Nhà nước được ghi nhận trong các văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng,các quy định của Bộ luật Lao động liên quan tới BHXH, Chính phủ, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội và liên Bộ ban hành nhiều Nghị định, Quyết định, Thông tưhướng dẫn thực hiện chính sách chế độ BHXH Trong đó, có 2 văn bản pháp luật
Trang 28chủ đạo là Nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ về việc ban hànhĐiều lệ BHXH, quy định thực hiện BHXH đối với công chức, công nhân viên chứcNhà nước và mọi NLĐ theo loại hình BHXH bắt buộc và Nghị định số 45/CP ngày15/7/1995, thực hiện BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan,binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân.
Các văn bản pháp luật về BHXH giai đoạn này đã thể chế hoá các chủtrương, đường lối của Đảng và Nhà nước theo hướng mọi NLĐ và các đơn vị thuộcmọi thành phần kinh tế đều có quyền và trách nhiệm tham gia BHXH; thực hiệntừng bước tách quỹ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước ra khỏi ngân
sách Chính sách BHXH trong giai đoạn này quy định có 5 chế độ là ốm đau, thai sản, TNLĐ- BNN, hưu trí và tử tuất Đối tượng áp dụng được mở rộng đến những
NLĐ làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoàiquốc doanh có từ 10 lao động trở lên Chính sách BHXH thời kỳ này cũng đã quyđịnh Quỹ BHXH là một quỹ tài chính nằm ngoài ngân sách nhà nước Quỹ đượchình thành chủ yếu từ các nguồn do NLĐ và NSDLĐ đóng góp
Với việc ban hành Điều lệ BHXH mới, chính sách BHXH đã được đổi mới
về cơ bản, từ chỗ bao cấp là chủ yếu chuyển sang thực hiện cơ chế có đóng cóhưởng BHXH; quỹ BHXH là một quỹ độc lập nằm ngoài ngân sách, giảm dần sựbao cấp của ngân sách tiến tới tự cân đối thu - chi
Ngày 29/6/2006, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Bảohiểm xã hội, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thể chế hóa các quy định,hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nâng caotính hiệu quả trong thực thi chế độ, chính sách về BHXH Với việc ban hành vàthực thi chính sách BHXH theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội thì hệ thống chế
độ, chính sách về BHXH đối với cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước và nhữngNLĐ ăn lương được hoàn thiện Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội đã bổ sung 2loại hình bảo hiểm mới, BHXH tự nguyện áp dụng từ ngày 01/01/2008 và bảo hiểmthất nghiệp áp dụng từ ngày 01/01/2009
Trang 29Tính đến ngày 31/12/2011, tổng số văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫnthực hiện Luật Bảo hiểm xã hội đã ban hành gồm: 16 Nghị định của Chính phủ, 03Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 28 Thông tư của các Bộ, ngành.
Sau 5 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, bên cạnh những kết quả đã đạtđược, chính sách BHXH cũng đã bộc lộ một số hạn chế nhất định Hiện nay, Quốchội đã đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội vào Chươngtrình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội Khóa XIII, dự kiến sẽ được thông quavào Kỳ họp thứ 6 (cuối năm 2013)
1.1.2 Vai trò của chế độ hưu trí
a) Vai trò của chế độ hưu trí đối với người lao động:
Trong hệ thống chế độ BHXH, chế độ hưu trí giữ một vị trí quan trọng Tầmquan trọng đó không chỉ vì chế độ hưu trí là vấn đề quan tâm của mọi NLĐ khitham gia quan hệ bảo hiểm mà còn do hầu hết mọi NLĐ tham gia BHXH đều là đốitượng của bảo hiểm hưu trí Nếu như các chế độ BHXH chỉ áp dụng cho một số đốitượng nhất định như chế độ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp chỉ ápdụng cho những người bị tai nạn lao động hay bị bệnh nghề nghiệp, chế độ thai sảnchủ yếu áp dụng đối với lao động nữ sinh con thì chế độ hưu trí lại được áp dụngcho hầu hết đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội Chỉ trừ một số ít những NLĐkhông may mắn chết trong khi đang làm việc, còn lại đa số những NLĐ tham giabảo hiểm xã hội khi hết tuổi lao động đều được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội này,
Hơn nữa, phần lớn phí đóng góp vào BHXH đều dành cho việc chi trả chế độbảo hiểm hưu trí Thời gian NLĐ hưởng chế độ hưu trí thường lâu dài nên chế độnày ảnh hưởng, chi phối tới đời sống của NLĐ nhiều hơn so với các chế độ BHXHkhác
Chính vì chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các chế độ BHXH, chế độhưu trí đã góp phần cùng với các chế độ BHXH khác tạo nên ý nghĩa của BHXHnói chung trên các phương diện kinh tế, chính trị, xã hội và pháp lý Song xét ở
Trang 30phạm vi cụ thể, chế độ hưu trí đã đảm bảo được việc thực hiện quyền và lợi íchchính đáng của NLĐ sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ lao động đối với xã hội Đốivới NLĐ, tiền lương hưu mà họ nhận được là kết quả tích luỹ trong suốt quá trìnhlàm việc thông qua việc đóng góp vào quỹ BHXH Đây là khoản thu nhập chủ yếu
và là chỗ dựa chính đáng nhằm đảm bảo cuộc sống cả về vật chất lẫn tinh thần choNLĐ trong quãng đời còn lại sau quá trình lao động Có thể khi về già, nhiều NLĐcũng có những khoản tích luỹ, có chỗ dựa là con cháu song phần lớn là họ trông cậyvào khoản trợ cấp hưu trí Hơn nữa, khoản trợ cấp hưu trí này còn là chỗ dựa tinhthần cho những người hết tuổi lao động Những người về hưu sẽ cảm thấy yên tâmtrong cuộc sống khi họ được hưởng lương hưu, không bị mặc cảm là gánh nặng củagia đình và xã hội
b) Vai trò của chế độ hưu trí đối với người sử dụng lao động:
Đối với NSDLĐ, chế độ hưu trí là một sợi dây gắn kết họ với NLĐ Việc bỏmột phần nguồn lực tài chính đóng góp chế độ hưu trí cho NLĐ thể hiện sự quantâm, thiện chí xây dựng mối quan hệ lâu dài của NSDLĐ
Ở nhiều nước trên thế giới, NSDLĐ chủ động tham gia hoặc tự xây dựng cáchình thức hưu trí khác nhau cho NLĐ như một phúc lợi đặc biệt, một lời hứa lâu dàinhằm giữ chân NLĐ có tay nghề cao, mong họ gắn bó nhằm tạo điều kiện cho đơn
vị sử dụng lao động hoạt động ổn định và ngày càng phát triển
Chế độ hưu trí làm cho NLĐ yên tâm sản xuất, yên tâm cống hiến choNLDLĐ
c) Vai trò của chế độ hưu trí đối với an sinh xã hội:
Đối với xã hội, chế độ hưu trí thể hiện trách nhiệm của nhà nước, của xã hội,của NSDLĐ đối với những người đã có quá trình lao động, đóng góp vào sự pháttriển chung của đất nước, nay hết tuổi lao động Chế độ này phản ánh rõ nét các giátrị xã hội, tính nhân văn, nhân đạo của dân tộc, là một trong những nội dung nòngcốt của chính sách đảm bảo xã hội quốc gia
Trang 31Trên thế giới, có thể đánh giá trình độ phát triển của mỗi quốc gia dựa trên
sự phát triển của hệ thống an sinh xã hội của quốc gia đó Chế độ hưu trí là chế độcốt lõi của hệ thống an sinh xã hội Chế độ hưu trí được thiết kế tốt là một cam kếtcủa nhà nước về việc bảo đảm thu nhập cho tất cả những người hết tuổi lao động.Điều này góp phần giảm gánh nặng cho lực lượng lao động Nguồn lực tài chínhđược phân phối hợp lý tạo tâm lý xã hội tốt và là nguồn gốc của phát triển bền vững
Trong bối cảnh già hóa dân số toàn cầu, chế độ hưu trí là một biện pháp hữuhiệu để nhà nước chống chọi với các rủi ro tiềm năng trong tương lai khi hệ số phụthuộc dân số ngày càng lớn
Các tổ chức quốc tế như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Ngân hàng thếgiới và các quốc gia phát triển đang có xu hướng tập trung nguồn lực để nghiên cứu,thiết kế những hệ thống hưu trí đa trụ cột, bền vững và hiệu quả Điều này chứng tỏmột vai trò không thể phủ nhận của chế độ hưu trí đối với an sinh xã hội
1.2 Nội dung cơ bản của chế độ hưu trí
1.2.1 Mục đích của chế độ hưu trí
Chế độ hưu trí có liên quan đến NLĐ kể từ lúc tham gia BHXH đến lúc họ
về hưu và qua đời, phần đóng và phần hưởng của chế độ này cũng chiếm tỷ lệ caotrong toàn bộ phần đóng hưởng của hệ thống chế độ BHXH Chính vì thế chế độnày luôn được sự quan tâm đặc biệt và hầu như được tất cả các nước trên thế giớixây dựng và thực hiện
Trang 32- Giúp NLĐ chủ động đảm bảo cuộc sống khi về già bằng chính khoản tiềntích lũy của mình Giảm bớt gánh nặng cho gia đình và xã hội.
1.2.2 Đối tượng tham gia và thụ hưởng của chế độ hưu trí
Theo Điều 27 Công ước 102 của ILO thì đối tượng tham gia chế độ hưu trítrong một quốc gia tối thiểu phải bằng 50% tổng số người làm công ăn lương hoặc20% dân số hoạt động kinh tế Đối chiếu với các chỉ tiêu thống kê về lao động củaViệt Nam thì tiêu chuẩn tối thiểu về số đối tượng tham gia phải bằng 50% lao độnglàm việc trong khu vực kết cấu hoặc 20% lực lượng lao động
Trên đây là tiểu chuẩn về số NLĐ tham gia vào hệ thống hưu trí trong mộtquốc gia Thông thường, đối tượng tham gia chế độ hưu trí bao gồm cả NLĐ vàNSDLĐ Ở hầu hết các quốc gia, phần đóng góp vào quỹ hưu trí của NSDLĐ caohơn NLĐ
Ở một số quốc gia, có sự tham gia của nhà nước vào chế độ hưu trí Nhànước có thể tham gia với tư cách là NSDLĐ hoặc với tư cách là hỗ trợ một phầntrong mức đóng góp hoặc hỗ trợ một phần trong các chính sách về quản lý bộ máy,chính sách ưu đãi về thuế
Đối tượng thụ hưởng của chế độ hưu trí là NLĐ khi hết tuổi lao động
1.2.3 Điều kiện hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí
NLĐ tham gia BHXH sẽ được hưởng, chế độ hưu trí khi về hưu, nghĩa là
“sống lâu hơn một độ tuổi quy định” (Theo Điều 26, Công ước số 102 và Điều 15,Công ước số 128) Độ tuổi này là tuổi nghỉ hưu theo luật định và thay đổi theo từngquốc gia, từng thời kỳ và từng nhóm lao động cụ thể ILO khuyến cáo các nướcthành viên tham gia Công ước số 102 quy định độ tuổi nghỉ hưu không quá 65 tuổi.Tùy theo các điều kiện về nhân khẩu, kinh tế và xã hội cũng như khả năng làm việccủa những người cao tuổi ở quốc gia đó mà có thể quy định độ tuổi nghỉ hưu caohơn Độ tuổi nghỉ hưu phải được hạ thấp hơn, đối với những NLĐ làm những côngviệc nặng nhọc, độc hại
Trang 33Điều kiện hưởng trợ cấp hưu trí cũng tùy thuộc vào các cơ sở sinh học, làtuổi thọ, thể lực, giới tính của NLĐ Ở mỗi quốc gia, tùy vào điều kiện riêng củamình mà quy định những điều kiện hưởng, khác nhau Có những nước quy định tuổinghỉ hưu, của cả nam và nữ như nhau, có những nước lại khác nhau: thường là nữ
có tuổi nghỉ hưu sớm hơn, có một số nước quy định tuổi nghỉ hưu sớm, có nhữngnước, quy định tuổi nghỉ hưu muộn
Ngoài ra, nếu người thụ hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí, tiến hành các hoạtđộng mang lại thu nhập, thì có thể bị đình chỉ trợ cấp Nếu thu nhập vượt quá mộtmức quy định, thì có thể quy định giảm bớt trợ cấp Nói chung điều kiện hưởng trợcấp, thường bao gồm:
Trang 34Tùy vào tình hình về dân số, lực lượng lao động, điều kiện về kinh tế - xã hộicủa từng nước, mà người ta quy định điều kiện hưởng trợ cấp này khác nhau Bảng1.2 có bảng điều kiện quy định trợ cấp hưu trí, ở một số nước trên thế giới hiện nay.
1.2.4 Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hưu trí
Mức hưởng BHXH hưu trí là số tiền mà NLĐ tham gia BHXH được nhậnsau khi nghỉ hưu và phụ thuộc vào thời gian họ tham gia BHXH Thông thường,BHXH hưu trí được chi trả định kỳ (hàng tuần, hàng tháng), nhưng trong một sốtrường hợp cụ thể (ví dụ chưa đủ khoảng thời gian tham gia BHXH hoặc thời gianlao động tối thiểu quy định) cũng có thể chi trả trợ cấp một hoặc một số lần nhấtđịnh
BHXH hưu trí định kỳ được áp dụng đối với NLĐ, đã có thâm niên tham giaBHXH (hoặc thâm niên công tác) là 30 năm và ít nhất là 15 năm Mức hưởng bảohiểm hưu trí, được quy định theo một tỷ lệ nhất định so với thu nhập trước đó, củaNLĐ và tối thiểu là 40% Các trường hợp có thời gian tham gia BHXH hoặc thờigian lao động thực tế ngắn sẽ bị giảm mức trợ cấp Mức giảm cũng phụ thuộc vàothâm niên đó
Thời gian hưởng BHXH hưu trí kéo dài cho đến khi người thụ hưởng BHXHhưu trí qua đời Theo Công ước 102, thì BHXH hưu trí phải được trả trong thời gianxảy ra trường hợp bảo vệ
Mức hưởng bảo hiểm hưu trí, thường phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố sau:
- Độ dài quá trình đóng BHXH
- Thu nhập hay tiền lương lúc đang tham gia BHXH
- Tuổi thọ bình quân của mỗi quốc gia
- Mức sống trung bình của NLĐ và dân cư của mỗi quốc gia
- Điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ
Trang 35Tuy nhiên về nguyên tắc mức lương hưu này không được cao hơn mức lương
mà NLĐ nhận được trong quá trình lao động, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảomức sống tối thiểu Vì nếu mức trợ cấp này cao hơn hay bằng số tiền lương thì mọingười, đều có xu hướng nghỉ ngơi, để được hưởng trợ cấp BHXH Nhưng để đảmbảo nguyên tắc, có đóng có hưởng và mục đích của chế độ hưu trí là nhằm ổn địnhđời sống của người về hưu, nên mức hưởng cũng phải đảm bảo được những nhu cầutối thiểu của cuộc sống của họ
1.3 Quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí
1.3.1 Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung, được tồn tích dần từ sựđóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác QuỹBHXH được Nhà nước bảo hộ và là một công cụ để thực hiện chức năng tài chínhBHXH và chính sách BHXH của Nhà nước
Chủ thể tham gia quỹ là đối tượng đóng góp hình thành quỹ, bao gồm NLĐ,NSDLĐ và Nhà nước Trong khi đó, người được hưởng trợ cấp trực tiếp chỉ cóNLĐ đóng BHXH Nhà nước là người được hưởng lợi gián tiếp với mục đích caonhất là đảm bảo mức thu nhập nhất định cho NLĐ khi họ gặp rủi ro hoặc sự kiệnbảo hiểm dẫn tới mất hoặc giảm thu nhập mà không phải chi trả trực tiếp bằngnguồn NSNN NSDLĐ thực hiện trách nhiệm đóng BHXH cho NLĐ tuyển dụng,qua đó đóng góp gián tiếp vào hiện thực hóa mục tiêu ổn định xã hội của Nhà nước
Hoạt động tài chính BHXH được thực hiện thông qua quỹ BHXH không cóphạm vi hoạt động rộng như NSNN, mà chỉ giới hạn hoạt động thu, chi đối với cácđối tượng tham gia và đối với các nghiệp vụ thu, chi theo quy định của pháp luật vềBHXH Quỹ BHXH cũng thực hiện chức năng phân phối như NSNN, thế nhưngchức năng tái phân phối chỉ rõ đối với các chế độ ngắn hạn theo nguyên tắc chia sẻrủi ro giữa người đóng BHXH Vì vậy, mặc dù mức đóng BHXH cho các chế độngắn hạn như nhau, nhưng mức hưởng và số lần hưởng trong một năm tài khóa cóthể khác nhau, tùy thuộc vào rủi ro mà NLĐ gặp phải
Trang 36Quỹ BHXH là một thể chế tài chính nhưng hoạt động không nhằm mục tiêukinh doanh để thu lợi nhuận như các thể chế tài chính khác (ví dụ Bảo hiểm thươngmại, công ty tài chính v.v.) Tuy nhiên, là quỹ tài chính nên quỹ hoạt động trênnguyên tắc bảo toàn và tăng trưởng giá trị nhằm mục tiêu an toàn về tài chính quỹ
Quỹ BHXH ra đời, tồn tại, hoạt động và phát triển phụ thuộc vào trình độphát triển kinh tế- xã hội của từng nước và điều kiện phát triển trong từng giai đoạn
ở mỗi nước Cơ chế hoạt động tài chính của quỹ BHXH phải tương ứng với hệthống BHXH của từng quốc gia Việt Nam xây dựng hệ thống BHXH có mứchưởng xác định trước và nguyên tắc này chi phối cơ chế hoạt động tài chính của quỹBHXH
Quỹ BHXH giữ vai trò trung tâm trong thực hiện chính sách BHXH và tàichính BHXH, là cầu nối giữa các bên tham gia và các bên hưởng lợi Kết quả hoạtđộng tài chính, cân đối quỹ là một chỉ số quan trọng giúp cho việc nghiên cứu, đánhgiá, điều chỉnh chính sách BHXH và ra các quyết định liên quan đến BHXH Sự tồntại và hoạt động của quỹ gắn liền với khả năng thực thi chính sách BHXH Quỹ bịmất khả năng thanh toán và mất cân đối tài chính sẽ có nguy cơ dẫn đến khủnghoảng tài chính nếu Nhà nước không đủ khả năng bù đắp phần thiếu hụt của hệthống bằng NSNN Trường hợp xấu nhất có thể xảy ra là bất ổn về chính trị và xãhội
Quỹ hưu trí là một bộ phận cấu thành nằm trong Quỹ BHXH, do đó nó mangđầy đủ đặc điểm của một quỹ tài chính độc lập, quỹ được sử dụng để thực hiện chế
độ hưu trí, đây là chế độ trụ cột trong hệ thống các chế độ BHXH nói chung
1.3.2 Nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội hưu trí
Quỹ BHXH hình thành và hoạt động, đã tạo ra khả năng giải quyết hiệu quảnhững rủi ro cho tất cả những người tham gia, với tổng dự trữ ít nhất, làm cho việcphân tán rủi ro được thực hiện theo cả không gian và thời gian, đồng thời giúp giảmtối thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ, tiết kiệm chi cho NSNN và ngân sách giađình Cơ sở hình thành quỹ BHXH do chính sách BHXH của mỗi quốc gia quyđịnh Nếu thực hiện theo mô hình BHXH Nhà nước, quỹ BHXH không tồn tại độc
Trang 37lập, nói cách khác, các khoản chi BHXH đều do Nhà nước đài thọ Mô hình BHXHtheo cơ chế đóng góp thì quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp theo những quyđịnh của Luật Theo cơ chế này, quỹ BHXH bắt buộc hình thành từ các nguồn sau:
Thứ nhất, đó là phần đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và sự đóng góp hoặc hỗtrợ của nhà nước trong một số trường hợp Phần đóng góp này gọi chung là phíBHXH, là nguồn chiếm tỷ trọng lớn nhất và cơ bản của quỹ Sự đóng góp của cácbên phụ thuộc vào chính sách BHXH, vào điều kiện kinh tế- xã hội của mỗi nước vàphụ thuộc vào việc thiết kế các chế độ BHXH
- NLĐ đóng BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ sở trích một phần từtiền lương hoặc thu nhập nhận được trong quá trình làm việc
- NSDLĐ hàng tháng trích từ quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp để đónggóp BHXH cho tổng số lao động mà họ thuê mướn Sự đóng góp của NSDLĐ doluật định, thể hiện trách nhiệm của họ đối với NLĐ Mặt khác, sự đóng góp củaNSDLĐ còn vì chính lợi ích của họ Ở đây, những NSDLĐ đã thực hiện chia sẻ rủi
ro lẫn nhau, để khi rủi ro xảy ra đối với NLĐ mà họ thuê mướn, thì họ không phảichi phí những khoản tiền lớn để bồi thường cho NLĐ, mà những chi phí này đãchuyển sang cơ quan BHXH và vì vậy tiến trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp không bị ảnh hưởng
- Trong một số hệ thống BHXH, Nhà nước có thể đóng góp BHXH trực tiếphoặc gián tiếp Trường hợp Nhà nước tham gia trực tiếp vì Nhà nước cũng là người
sử dụng số lượng lớn lao động là công chức làm việc ở khu vực quản lý nhà nước,khu vực sự nghiệp và được nhận lương từ ngân sách Ngoài ra, với tư cách quản lýnền kinh tế, quản lý xã hội, Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo giá trị của quỹBHXH và hỗ trợ cho quỹ trong những trường hợp cần thiết
Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phận nhàn rỗi tương đối của quỹ, được tổchức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động đầu tư để sinh lợi Do tính chất củacác rủi ro xã hội và các sự kiện xã hội phát sinh không đồng đều theo thời gian vàkhông gian, nên trong quá trình hoạt động, có một bộ phận của quỹ chưa sử dụngđến Phần nhàn rỗi tương đối được đầu tư vào thị trường tài chính hoặc thị trườngbất động sản hoặc các hoạt động đầu tư khác để sinh lợi
Trang 38Thứ ba, là phần thu từ tiền nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế, do
vi phạm pháp luật về BHXH Theo quy định của pháp luật về BHXH ở nhiều nước,đến một thời hạn quy định, nếu doanh nghiệp và NSDLĐ không nộp phí BHXH, sẽphải chịu một khoản tiền phạt bằng một tỷ lệ nào đó trên tổng số tiền phải nộp;đồng thời vẫn phải nộp phần phí BHXH theo quy định Như vậy, tiền nộp phạt cũng
là bộ phận tạo ra nguồn thu cho quỹ BHXH
Thứ tư, là các khoản thu khác
Như vậy, nếu gọi Ft là tổng quỹ BHXH thì cơ cấu của quỹ BHXH bao gồmcác nguồn thu như sau:
Ft = Wlđ + Wsdlđ + Wnn + Pđt + Pnp + Pk
Trong đó:
Wlđ: là khoản đóng góp của NLĐ
Wsdlđ: là khoản đóng góp của NSDLĐ
Wnn: là khoản đóng góp hoặc hỗ trợ của Nhà nước
Pđt: là khoản lợi nhuận do hoạt động đầu tư sinh lời phần nhàn rỗi của quỹ BHXH
Pnp: là khoản tiền nộp phạt của các cơ quan, doanh nghiệp chậm nộp BHXH theo quy định của pháp luật
Pk: là các khoản thu hợp pháp khác cho quỹ BHXH
Nhìn chung, quỹ BHXH của nhiều nước đều theo cơ chế trên và trong cơ cấuthu quỹ, phần chủ yếu được hình thành từ sự đóng góp của NLĐ, NSDLĐ
Phần lớn các nước trên thế giới đều lập quỹ tài chính BHXH từ nguồn đó.Tuy nhiên, mỗi nước quy định tỷ lệ mức đóng góp có khác nhau Một số nước quyđịnh NSDLĐ chịu toàn bộ chi phí cho chế độ TNLĐ, Chính phủ chi phí y tế và trợcấp gia đình, còn các chế độ khác NLĐ và NSDLĐ cùng chịu trách nhiệm Một số
Trang 39nước quy định, Chính phủ chỉ bù phần thiếu cho quỹ BHXH hoặc chi trả toàn bộ chiphí quản lý BHXH.
Chẳng hạn, ở Cộng hoà Liên bang Đức, Chính phủ bù phần thiếu hụt, cònNSDLĐ phải đóng góp vào quỹ BHXH khoảng từ 16,3 đến 22,6% so với quỹ lươngcủa tổ chức hay doanh nghiệp; mỗi NLĐ đóng góp từ 14,8 đến 18,8% tiền lương cánhân Ở Malaysia, Chính phủ chi trả toàn bộ trợ cấp ốm đau, thai sản, còn NSDLĐđóng góp 12,75% so với quỹ lương, NLĐ đóng góp 9,5% tiền lương của mình…Theo số liệu thống kê năm 1999 của ILO về sự phân bố nguồn thu quỹ BHXH và ansinh xã hội của một số nước thuộc khối OECD như Bảng 1.3
Bảng 1.3: Mức đóng BHXH của các quốc gia thuộc khối OECD (1999)
Trang 40(2) Chính phủ chi trả toàn bộ các khoản chi trợ cấp gia đình.
Ở nước ta, giai đoạn đầu Nhà nước hỗ trợ tài chính với tư cách là NSDLĐcủa công chức, đồng thời với tư cách là người quản lý xã hội Từ năm 1961 (theoĐiều lệ tạm thời về các chế độ BHXH đối với công nhân,viên chức Nhà nước) đếnnăm 1986, quỹ BHXH được hình thành từ hai nguồn: các xí nghiệp sản xuất vậtchất đóng góp 4,7% so với quỹ lương của xí nghiệp, còn lại do NSNN đài thọ Từtháng 7/1986 đến 31/4/1993, các đơn vị sản xuất kinh doanh đóng 15% so với quỹlương của đơn vị Cơ chế nguồn quỹ này không xác định rõ quan hệ tài chính củaBHXH, không thể hiện được trách nhiệm của NLĐ trong việc tự bảo hiểm chomình, đồng thời là gánh nặng cho NSNN
Trong cơ chế mới theo Điều lệ BHXH ban hành kèm theo Nghị định số12/CP ngày 26/01/1995 và theo Điều lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyênnghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và công an nhân dân ban hành kèmtheo Nghị định số 45/CP ngày 15/7/1995 của Chính phủ; quỹ BHXH là quỹ tàichính độc lập nằm ngoài NSNN do:
- Đóng góp của NLĐ tham gia bảo hiểm: Quỹ HTTT được hình thành từđóng góp của NLĐ có HĐLĐ từ 3 tháng trở lên với 5% mức tiền lương, tiền cônglàm căn cứ tính đóng BHXH
- Đóng góp của NSDLĐ: NSDLĐ đóng bằng 10% tổng quỹ lương của NLĐtham gia BHXH vào Quỹ HTTT, 5% vào quỹ trợ cấp để chi cho các chế độ BHXHngắn hạn
- Đóng góp và hỗ trợ của Nhà nước: Nhà nước có trách nhiệm đóng BHXH(với vai trò là NSDLĐ) cho đối tượng hưởng lương từ NSNN với tỷ lệ đóng theoquy định hiện hành Ở Việt Nam do yếu tố lịch sử, Nhà nước chi trả các loại trợ cấp