Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT Một số kinh nghiệm rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình dạy học bộ môn hoá học và đặc biệt là các tiết thực hành ởtrường trung học phổ thông, Tôi nhận thấy học sinh còn mắc nhiều lỗi trong kỹnăng thực hành thí nghiệm Trong SKKN này, Tôi phân tích một số sai lầm thườnggặp trong kỹ năng thực hành thí nghiệm hoá học của học sinh và đưa ra hệ thốngbài tập nhằm giúp các em khắc phục được những sai lầm đó, đồng thời góp phầnvào việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn hoá học trong trường trung học phổthông
Để hoàn thành được đề tài này, Tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình củacác bạn đồng nghiệp trong nhóm, tổ chuyên môn
Mặc dù, rất cố gắng trong việc hoàn thành tài liệu này nhưng khó tránh khỏinhững sai sót Vì vậy, Tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồngnghiệp để tài liệu ngày càng hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ,cùng với sự bùng nổ thông tin trong giai đoạn hiện nay, đã làm xuất hiện nhanh vànhiều nguồn tri thức mới Mặt khác, trước những đổi mới của xã hội, thì yêu cầuđối với con người trong thời kì mới ngày càng cao Trước thực tế đó, ngành Giáodục – Đào tạo phải kịp thời đổi mới mục tiêu và phương thức giáo dục, đào tạo đểtrang bị cho nguời học hệ thống tri thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đàotạo thế hệ trẻ của đất nước, trở thành những con người phát triển toàn diện về nănglực và phẩm chất đạo đức, góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiệnđại hoá đất nước, cho sự phát triển chung của xã hội
Đảng và nhà nước ta luôn quán triệt tư tưởng, coi: “ Con người là trung tâm,
là yếu tố quyết định tới sự thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước” Để thực hiệnđiều đó, đòi hỏi con người khi vào đời ngoài phẩm chất của một công dân xã hộichủ nghĩa, còn phải có một vốn kiến thức dồi dào, phong phú và phù hợp với thựctiễn đổi mới đất nước Do vậy, Đảng và nhà nước đề ra mục tiêu: Ngành giáo dục –đào tạo, phải đào tạo nên những con người đáp ứng được yêu cầu của Đất nướctrong công cuộc đổi mới
Khoa học hoá học đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu đócủa Đảng và nhà nước
Với sự đóng góp to lớn của bộ môn hoá học ở trường THPT, đòi hỏi nhữngkiến thức mà giáo viên truyền thụ và học sinh tiếp nhận phải chính xác, có tínhkhoa học cao về cả lí thuyết và đặc biệt là kĩ năng thực hành hoá học
Với đặc thù là bộ môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn, vì vậy,trong việc dạy và học, bộ môn hoá học phải được gắn liền với thực hành thínghiệm Song thực tiễn việc dạy và học bộ môn hoá học ở trường THPT vẫn là: Líthuyết chưa gắn liền với thực hành Nguyên nhân có thể là: Cơ sở vật chất, phươngtiện thí nghiệm còn thiếu thốn, tâm lí ngại làm thí nghiệm của một bộ phận giáo
Trang 3viên… Điều này đã làm cho kỹ năng thực hành thí nghiệm của học sinh có phầnhạn chế và thường mắc những sai lầm cơ bản Điều này là hoàn toàn không phùhợp với mục tiêu đào tạo con người mà Đảng và nhà nước đã đề ra.
Trước những yêu cầu và thực trạng như trên, Tôi thấy việc rèn luyện kỹ năngtrong thực hành thí nghiệm để hoàn thiện kiến thức và kỹ năng cho học sinh là vấn
đề cần thiết Vì vậy, Tôi chọn đề tài: “ Một số kinh nghiệm Rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm thông qua hệ thống bài tập hóa học THPT”.
II MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI
Tôi lựa chọn đề tài này với những mục đích như sau:
- Phân tích một số sai lầm thường gặp trong dạy học thực hành thí nghiệm
ở trường trung học phổ thông
- Thiết kế và xây dựng hệ thống các bài tập trắc nghiệm nhằm khắc phụccác sai lầm và rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tác dụng của các bài tập này trong việcdạy học thực hành thí nghiệm ở trường trung học phổ thông
- Qua đó góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy và học bộ môn hoáhọc trong trường trung học phổ thông
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI.
Trong đề tài này, Tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Tham khảo các tài liệu, giáo trình, sách giáo khoa, sách giáo viên, giáotrình thí nghiệm… và các tài liệu khác có liên quan
- Khảo sát thực tiễn ở trường trung học phổ thông, kết hợp với các phươngpháp hỗ trợ như: quan sát, ghi chép, thăm dò ý kiến giáo viên và họcsinh…
- Sử dụng các phương pháp điều tra cơ bản: test - phỏng vấn - dự giờ…
- Thực nghiệm sư phạm ở hai lớp: + Lớp thực nghiệm: 12A3
2
Trang 4+ Lớp đối chứng: 12A6
- Sử lý kết quả thực nghiệm bằng phương pháp thống kê
IV CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1 Những thuận lợi và khó khăn khi dạy học thực hành thí nghiệm ở trường trung học phổ thông.
a Những thuận lợi:
- Hoá học là bộ môn khoa học gắn liền với thực nghiệm, có thể dễ dàng kiểm chứng lí thuyết bằng thí nghiệm, tạo cho học sinh niềm đam mê và hứng thú trong thực hành thí nghiệm hoá học
- Hiện nay, ở các trường trung học phổ thông hầu như đều được trang bị phòng thí nghiệm hoá học hiện đại với dụng cụ và hoá chất khá đầy đủ
- Đội ngũ giáo viên đang ngày càng được trẻ hoá và tiếp cận với phương pháp dạy học mới, gắn liền lí thuyết với thí nghiệm hoá học, tâm huyết với nghề
b Những khó khăn:
- Mặc dù được trang bị phòng thí nghiệm hoá học hiện đại, dụng cụ và hoá chất khá đầy đủ nhưng hầu như ở các trường trung học phổ thông chưa có giáo viên chuyên phụ trách phòng thí nghiệm nên:
+ Việc sử dụng và bảo quản dụng cụ cũng như hoá chất thí nghiệm còn rất nhiều hạn chế
+ Việc chuẩn bị dụng cụ và hoá chất cho các buổi thực hành là chưa tốt, làm giảm hiệu quả của buổi thực hành
- Một bộ phận giáo viên còn có tâm lí “ ngại ” làm thí nghiệm
- Học sinh lần đầu được tiếp xúc với các dụng cụ và hoá chất cũng nhưtrang thiết bị thực hành nên còn nhiều bỡ ngỡ
3
Trang 5- Thời lượng dành cho các tiết thực hành trong chương trình hóa học phổthông còn hạn chế.
2 Tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm hoá học ở trường trung học phổ thông.
Trước những khó khăn còn tồn tại nêu trên, đã nảy sinh một số sai lầm trongquá trình truyền thụ kiến thức và tiếp nhận kỹ năng thực hành thí nghiệm của giáoviên và học sinh
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, khi mà yêu cầu của đất nước vàthế giới ngày càng cao, thì con người - yếu tố trung tâm quyết định tới sự thắng lợicủa công cuộc đổi mới, phải phát triển toàn diện về cả năng lực và phẩm chất đạođức
Để làm điều này, thì ngay từ khi còn là học sinh phổ thông các em cần phảiđược đào tạo một cách toàn diện Muốn vậy, ngoài việc cung cấp kiến thức và kỹnăng cho các em còn cần phải đảm bảo các kiến thức đó phải được truyền thụ vàtiếp nhận một cách chính xác và có tính khoa học cao
Trước những yêu cầu trên, cùng với đặc thù và tầm quan trọng của bộ mônHoá học trong trường trung học phổ thông, Việc khắc phục những sai lầm và rènluyện kỹ năng trong thực hành thí nghiệm có vai trò rất quan trọng, góp phần vàoviệc đào tạo con người toàn diện đáp ứng được yêu cầu của xã hội và sự nghiệp đổimới của đất nước
Trang 6B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Trước những thực tế và yêu cầu cấp bách như vậy, Tôi xin phân tích và đưa
ra một số bài tập để khắc phục các sai lầm và rèn luyện kỹ năng trong thực hành thínghiệm hoá học ở trường trung học phổ thông
1 Bài tập rèn luyện kỹ năng trong sử dụng và bảo quản dụng cụ thí nghiệm.
1.1: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng và bảo quản ống nghiệm.
Khi sử dụng và bảo quản ống nghiệm, học sinh thường mắc một số sai lầmnhư: Kẹp ống nghiệm không đúng vị trí, cho lượng hoá chất không đúng quy định,bảo quản ống nghiệm chưa đúng cách… Đề khắc phục sai lầm đồng thời củng cốnhững kỹ năng sử dụng và bảo quản ống nghiệm giáo viên có thể cho học sinh làmcác bài tập:
Bài tập 1: Khi kẹp ống nghiệm, nên kẹp vào vị trí nào trên ống:
B Không cần vệ sinh ống nghiệm
C Bỏ luôn ống nghiệm vừa làm thí nghiệm đi
D Cả A, B, C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A.
1.2: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng dụng cụ lấy hoá chất
Khi sử dụng dụng cụ lấy hoá chất, học sinh thường mắc một số sai lầm như:
sử dụng không đúng loại dụng cụ, dùng chung dụng cụ lấy hoá chất, kích thước
Trang 7dụng cụ, vạch chia dụng cụ, vị trí đặt mắt, sử dụng dụng cụ không đúng cách…Giáo viên có thể khắc phục những sai lầm và cũng cố kỹ năng sử dụng dụng cụ lấyhoá chất cho học sinh bằng các bài tập:
Bài tập 1: Khi cần lấy một dung dịch hoá chất, dụng cụ được sử dụng là:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C - Tức là vạch chia giới hạn phải gần với con
số có nghĩa nhất, để giảm thiểu hiện tượng sai số.
5
Trang 8Bài tập 3: Khi cần lấy một lượng dung dịch, phải đặt mắt ở vị trí nào:
A Trên mực chất lỏng B Ngang mực chất lỏng
C Dưới mực chất lỏng D Ở bất kì vị trí nào
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Đây là vị trí đọc số đo chính xác nhất.
1.3: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các dụng cụ nung nóng.
Khi sử dụng các dụng cụ đốt nóng, nung nóng học sinh thường mắc phải một
số sai lầm như: Đặt sai vị trí ngọn lửa, nung không đúng cách, sử lý các dung cụsau khi nung không đúng cách…Để khắc phục những sai lầm và cũng cố kỹ năng
sử dụng dụng cụ đốt nóng, giáo viên có thể cho học sinh làm các bài tập:
Bài tập 1: Khi tiến hành đun nóng ống nghiệm, cần đặt vào vị trí nào của ngon lửa
đèn cồn:
A 1/2 ngọn lửa B 2/3 ngọn lửa từ dưới lên
C 2/3 ngọn lửa từ trên xuống D Ở bất kì vị trí nào
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Vì ở vị trí này nhiệt độ của ngọn lửa là lớn nhất.
Bài tập 2: Khi nung nóng các chất rắn cần:
A Đặt vào chén sứ và nung trực tiếp trên ngọn lửa đèn cồn
B Đặt trực tiếp trên lưới amiăng và nung trên ngọn lửa đèn cồn
C Đặt vào cốc thuỷ tinh và nung trực tiếp trên ngọn lửa đèn cồn
D Đặt vào chén sứ và nung trên lưới amiăng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D.
Bài tập 3: Sau khi nung nóng các vật bằng thuỷ tinh, phải đặt chúng trên:
A Trên gỗ khô B Trên mặt bàn đá
C Trên vật ẩm và lạnh D Đặt vào chậu thuỷ tinh đựng nước
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A - Vì nếu đặt trên các vật ẩm và lạnh thì dụng
cụ bằng thuỷ tinh rất dễ bị vỡ.
Trang 91.4: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các loại cân.
Khi sử dụng các loại cân học sinh thường mắc phải một số sai lầm như: Sửdụng không đúng loại cân, cân không đúng cách…Để khắc phục những sai lầm vàcũng cố kỹ năng sử dụng dụng cụ đốt nóng, giáo viên có thể cho học sinh làm cácbài tập:
Bài tập1: Khi cần cân một lượng chất có khối lượng là 1,00 gam, ta dùng loại cân
có độ sai số đến:
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D – Đây là loại cân đo chính xác nhất.
Bài tập2: Khi sử dụng cân cần chú ý những điều gì:
A Không để trực tiếp hoá chất lên cân
B Phải kiểm tra xem cân đã ở vị trí thăng bằng hay chưa
C Không được cầm quả cân bằng tay
D Cả A, B, C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D
1.5: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng các loại nút chai, lọ.
Trong phòng thí nghiệm hoá học thường sử dụng nhiều loại nút như cao su,bấc, lie, nhựa, thuỷ tinh Tuỳ theo tính chất của các hoá chất đựng trong chai, lọ
mà chọn nút cho thích hợp Để rèn luyện các kỹ năng sử dụng nút chai, lọ giáo viên
có thể sử dụng các bài tập sau:
Bài tập 1: Không dùng nút cao su để đậy các chai, lọ đựng hoá chất nào sau đây:
A Benzen, khí clo B Axeton, dung dịch NH3
C Benzen, dung dịch NaOH D Axeton, dung dịch Br2
Hướng dẫn: Đáp án đúng là A Nút cao su không dùng để đậy các chai, lọ có chứa các chất có khả năng ăn mòn cao.
Bài tập 2: Một lọ đựng dung dịch axit sunfuaric, ta dùng loại nút nào sau đây để
đậy lọ dung dịch trên:
6
Trang 10A Nút cao su B Nút nhám thuỷ tinh
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B.
2 Bài tập rèn luyện kỹ năng khi sử dụng và bảo quản hoá chất.
2.1: Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng và bảo quản kim loaị kiềm.
Do không nắm vững tính chất của kim loại kiềm là những chất có khả năngphản ứng hoá học mạnh, khả năng hút ẩm mạnh nên khi sử dụng và bảo quản cáckim loại kiềm, học sinh thường mắc phải một số sai lầm như: bảo quản không đúngcách, không làm sạch lớp dầu trước khi sử dụng, xử lí kim loại kiềm còn dư sauphản ứng không đúng cách … Để khắc phục những sai lầm và củng cố kỹ năng sửdụng và bảo quản kim loại kiềm cho học sinh thông qua các bài tập:
Bài tập 1: Cách bảo quản và sử dụng kim loại kiềm nào sau đây đúng:
A Bảo quản trong dầu và lấy ra sử dung ngay
B Bảo quản trong lọ thuỷ tinh và lấy ra sử dụng ngay
C Bảo quản trong dầu và khi sử dụng phải làm sạch lớp dầu bên ngoài
D Bảo quản trong lọ thuỷ tinh và làm sạch lớp bên ngoài khi sử dụng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C - Bảo quản trong dầu để ngăn không cho kim loại kiềm phản ứng với các chất trong môi trường và khi sử dụng phải làm sạch lớp dầu bên ngoài để phản ứng diễn ra dễ dàng.
Bài tập 2: Các mẫu kim loại kiềm còn dư sau thí nghiệm, phải được xử lí bằng:
A Xử lí bằng nước B Xử lí bằng ancol etylic
Hướng dẫn: Đáp án đúng là B – Vì Na phản ứng một cách êm dịu với ancol etylic nên không gây nguy hiểm trong quá trình xử lí.
2.2 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng hoá chất làm khô
Trong quá trình sử dụng các chất để làm khô các chất khí, chất rắn học sinh
Trang 11thường chỉ quan tâm tới việc hoá chất nào hút ẩm mạnh mà không chú ý đếnnguyên tắc của việc làm khô là chất làm khô và chất được làm khô không đượcphản ứng với nhau Vì vậy thường dẫn đến việc chọn sai chất làm khô.Giáo viên cóthể củng cố kiến thức và kĩ năng sử dụng chất làm khô cho học sinh thông qua cácbài tập.
Bài tập : Khi cần làm khô khí H2S có thể sử dụng hoá chất nào trong các hoá chấtsau:
CaO + H 2 S CaS + H 2 O
P 2 O 5 là một oxit axit nên không phản ứng với H 2 S, đồng thời là chất hút ẩm mạnh
Do đó, đáp án đúng phải là: B : P2O5
2.3 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng dung dịch kiềm để chuần độ
Các bài toán chuẩn độ đòi hỏi kết quả với độ chính xác cao Do đó hoá chấtdung để chuẩn độ và các thao tác làm phải chính xác Khi tiến hành chuẩn độ bằngdung dịch kiềm học sinh thường lấy nồng độ ghi bên ngoài làm nồng độ để tínhtoán dẫn dến sai sót rất lớn Vì trong quá trình pha chế, sử dụng và bảo quản cácdung dịch kiềm dể dàng tác dụng với CO2 trong không khí hoặc quá trình thoát hơinước làm cho nồng độ bị sai lệch so với nồng độ ghi ở ngoài dẫn đế kết quả chẩn
độ không chính xác Do đó trước khi chuẩn độ phải tiến hành chuẩn độ lại dungdịch kiềm bằng dung dịch axit chuẩn Để củng cố kiến thức và kĩ năng cho họcsinh, giáo viên có thể sử dụng các bài tập:
Trang 12Bài tập: Khi tiến hành chuẩn độ bằng dung dịch kiềm phải:
A Sử dụng ngay dung dịch kiềm để chuẩn độ
B Phải chuẩn độ lại dung dịch kiềm trước khi chuẩn độ
C Phải chuẩn độ nhiều lần
D Cả B và C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D – Vì khi đó kết quả chuẩn độ mới đạt độ chính xác cao nhất.
2.4 Rèn luyện kỹ năng khi sử dụng sản phẩm điều chế để làm chất phản ứng.
Khi tiến hành thí nghiệm, học sinh thường có thói quen sử dụng ngay cácchất sau khi điều chế mà không qua quá trình làm sạch các chất đó, dẫn đến sự sailệch của các hiện tượng xảy ra cũng như kết quả tính toán
Ca(OH)2 + 2 HCl CaCl2 + 2 H2OCaCO3 + 2 HCl CaCl2 + H2O + CO2
Do đó, Khí CO2 thoát ra phải sục qua H2O để loại bỏ hết HCl
Bài tập : Người ta điều chế khí Cl2 bằng cách cho MnO2 tác dụng với HCl đặc đunnóng hỗn hợp Cách thu nào sau đây được Cl2 tinh khiết nhất
A khí sinh ra được dẫn ngay vào bình thu
B Khí sinh ra được dẫn qua bình nước sau đó dẫn vào bình thu
C Khí sinh ra được lần lược dẫn qua bình 1 đựng dung dịch NaOH, bình 2 đựng H2SO4 đặc rồi dẫn vào bình thu khí
8
Trang 13D Khí sinh ra được lần lược dẫn qua bình 1đựng dung dịch NaCl, bình 2 đựng H2SO4 đặc rồi dẫn vào bình thu khí.
Hướng dẫn: Khí Cl 2 sinh ra có lẫn HCl bay hơi, Nên phải loại bỏ HCl bằng cách dẫn khí qua dung dịch NaCl hoặc nước cất, không dùng dung dịch NaOH vì NaOH phản ứng với Cl 2 Sau đó dẫn qua H 2 SO 4 đặc để loại bỏ hơi nước thu được
Cl 2 khô, tinh khiết.
Do đó, đáp án đúng là: D
2.5 Rèn luyện kỹ năng khi bảo quản các loại hoá chất.
Bảo quản hoá chất là một vấn đề rất quan trọng trong các phòng thí nghiệmhoá học Để rèn luyện kỹ năng bảo quản các loại hoá chất, giáo viên có thể sử dụngcác loại bài tập sau:
Bài tập 1: Để bảo quản các hoá chất như KMnO4, AgNO3, KI có thể dùng dụng cụnào sau đây:
A Cốc thuỷ tính B Bình thuỷ tinh không màu có nút nhám
C Bình thuỷ tinh màu đen D Bình thuỷ tinh không màu có nút cao su
Hướng dẫn: Đáp án đúng là C: Các hoá chất trên đều là những chất dễ bị phân huỷ khi tiếp xúc với ánh sáng nên phải bảo quản trong bình thuỷ tinh màu đen.
Bài tập 2: Những yếu tố nào sau đây có thể ảnh hưởng tới việc bảo quản các hoá
chất:
A Độ ẩm, nhiệt độ của không khí B Ánh sáng
C Các loại khí trong không khí, nấm mốc D Cả A, B, C đều đúng
Hướng dẫn: Đáp án đúng là D.
3 Bài tập rèn luyện kỹ năng trong thao tác tiến hành thí nghiệm
3.1 Rèn luyện kỹ năng về cách thu khí.
Khi thu khí học sinh có thể mắc một số sai lầm như sau: Thu bằng phương pháp đẩy nước đối với các khí có khả năng tan trong nước, thu vào ống để ngữa đối
9
Trang 14với các chất khí nhẹ hơn không khí… Vì vậy, để cũng cố cho học sinh về kĩ năngthu khí, giáo viên có thể sử dụng các bài tập:
- Thu bằng phương pháp đẩy khí, bình để ngữa đối với các khí nặng hơnkhông khí như: O2, Cl2, HCl, NO2, CO2, SO2…
- Thu bằng phương pháp đẩy khí, bình úp ngược đối với những khí nhẹ hơnkhông khí như: H2, NH3, N2, CH4
- Thu bằng phương pháp đẩy nước đối với những khí không tan trongnước như: O2, N2, CO, CO2, CH4
Bài tập 1: Khí nào sau đây được thu bằng phương pháp đẩy nước.
Hướng dẫn: Học sinh thường chon đáp án “D: Cả 3 chất”, vì các em không chú ý đến tính tan của NH 3 và HCl trong nước.
Do đó, đáp án đúng là: A “O2”, vì O2 là khí không tan trong nước
Bài tập 2: Khí SO2 có thể thu bằng phương pháp nào sau đây:
A Phương pháp đẩy khí để ngữa bình thu
B Phương pháp đẩy khí để úp ngược bình thu
C Phương pháp đẩy nước
D Cả 3 cách đều được
nhiều trong nước.
Bài tập 3: Thu khí Cl2 bằng phương pháp đẩy khí, để ngữa bình đựng khí Ốngdẫn khí được đặt như thế nào:
A Cắm sâu xuống đến khoảng giữa bình thu
B Cắm ngay trên mép bình thu
C Cắm sát xuống đáy bình
D. Cắm đến bất kỳ vị trí nào