" Bước đầu đánh giá tác động của công tác giao đất Lâm nghiệp đến phát triển tài nguyên rừng và kinh tế xã hội trên địa bàn xã Ngổ Luông - huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình" Trong quá trình
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau khi đã hoàn thành các môn học trong chương trình đào tạo sinh viênchính quy của trường Đại học Lâm nghiệp Để đánh giá kết quả học tập tại trường,gắn liền lý thuyết với thực tiễn sản xuất nhằm giúp sinh viên củng cố và hoàn thiệnnhững kiến thức đã học, biết cách vận dụng những kiến thức đó vào sản xuất tôi đãthực hiện khoá luật tốt nghiệp
" Bước đầu đánh giá tác động của công tác giao đất Lâm nghiệp đến phát triển tài nguyên rừng và kinh tế xã hội trên địa bàn xã Ngổ Luông - huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình"
Trong quá trình thực hiện khoá luận ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân,tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện chotôi hoàn thành bản luận văn này
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Thạc sĩ Vũ Thị Kim Chi làngười đã trực tiếp hướng dẫn luôn tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong toàn bộ thờigian thực hiện khoá luận
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp, KhoaQuản lý tài nguyên rừng và môi trường cùng các thầy cô giáo trong trường Đại họcLâm nghiệp, Hạt kiểm lâm huyện Tân Lạc, cán bộ và nhân dân xã Ngổ Luông đãnhiệt tình giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tôi hoàn thành khoá luận này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do thời gian và trình độ của bản thân cònhạn chế lại là lầu đầu tiên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, với thực tiễnnên bản khoá luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhậnđược sự góp ý của các thầy cô giáo còng nh của các bạn đồng nghiệp để vấn đềnghiên cứu được làm sáng tỏ hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Xuân Mai
PhÇnI ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 2Rừng có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Rừngcung cấp lâm sản để thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của của con người, rừng lànơi du lịch, nghỉ ngơi, rừng bảo vệ và làm giàu cho đất, điều chỉnh chu trình thuỷhọc, chi phối khí hậu địa phương và khu vực, là nơi có thế giới động vật phongphó Cùng với sự phát triển và tiến bộ cuỉa xã hội, vai trò của rừng trở nên quantrọng hơn và đòi hỏi phải được quản lý sử dụng một cách bền vững.
Song, hoạt động của loài người trong những năm qua đã làm cho tài nguyênrừng bị suy giảm nghiêm trọng cả về số lượng và chất lượng Ở Việt Nam trongnửa cuối thế kỷ này, tỷ lệ che phủ của rừng đã giảm sút với tốc độ nhanh chóng:năm 1943 độ che phủ là 43%, đến năm 1995 chỉ còn 28,2% Tình trạng khai thácrừng bửa bãi, phát đốt rừng làn nương rẫy, du canh du cư là những nguyên nhânciơ bản làm mất rừng Và cơ chế chính sách trước đây của Nhà nước ta về quản lý
sử dụng tài nguyên rừng đã không thực sự ngăn chặn được tình trạng trên Ngườidân chưa thực sự làm chủ đối với tài nguyên rừng nên không những không khaithác được các nguồn lực và tiềm năng vốn có để phát triển kinh tế, mà chính họcòn là nguyên nhân làm cạn kiệt tài nguyên rừng
Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những chủ trươngchính sách nhằm giải quyết triệt để vấn đề trên Mét trong những chủ trương chínhsách được xã hội quan tâm rộng rãi là Nghị định 02/ CP ngày 15 tháng 01 năm
1994 về việc giao đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hé gia đình, cá nhân sử dụng ổnđịnh quyền làm chủ của người dân đối với tài nguyên rừng Đây thực sự là đòn bẩynhằm phát huy mọi tiềm năng của các
tổ chức, hé gia đình, cá nhân và cộng đồng tham gia tích cực vào việc quản
lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng
Thực tiễn trong những năm qua cho thấy chính sách giao đất lâm nghiệp đã
đi vào cuộc sống, đáp ứng nguyện vọng đông đảo nhân dân các dân tộc, tạo việclàm, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống Nhiều mô hình kinh tế hé gia đìnhđược xây dựng như vườn rừng, trại rừng, nông lâm kết hợp Mét bộ phận dân cư đãlàm giàu từ nghề rừng góp phần chấn hưng kinh tế - xã hội vùng trung du miềnnói Tuy nhiên, ở mét sè địa phương việc quản lý sử dụng đất lâm nghiệp được
Trang 3giao vẫn chưa đạt hiệu quả cao, chưa thực sự đưa lâm nghiệp trở thành một thếmạnh để nâng cao đời sống của đồng bào miền nói.
Xuất phát từ thực tế đó tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
" Bước đầu đánh giá tác động của công tác giao đất lâm nghiệp đến pháttriển tài nguyên rừng và kinh tế xã hội trên địa bàn xã Ngổ Luông huyện Tân Lạctỉnh Hoà Bình"
Trong khuôn khổ hạn hẹp về thời gian và nhân lực đề tài chỉ nghiên cứuđánh giá trên phạm vi mét xã, nhằm làm cơ sở đề xuất những giải pháp nâng caohiệu quả quản lý sử dụng đất lâm nghiệp được giao trên địa bàn xã Ngổ Luông -Huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình
PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Sù cần thiết phải giao đất khoán rừng
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, rừng và đất rừngchiếm 3/ 4 diện tích đất tự nhiên Điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho
sinh trưởng và phát triển của nhiều loài cây rừng Chính vì vậy, rừngViệtNam rất đa dạng và phong phó phản ánh rõ nét đặc trưng của rừng nhiệt đới.Thế nhưng, trong nhiều thập kỷ qua do ảnh hưởng của chiến tranh, khai thác rừngkhông hợp lý, nạn đốt nương làm rẫy, du canh du cư và nhiều nguyên nhân khácnên rừng nước ta hiện nay bị giảm sút rất nghiêm trọng cả về số lượng lẫn chấtlượng
Trong thời gian dài, diện tích rừng Việt Nam giảm liên tục (năm 1943 là 14,
3 triệu ha và năm 1993 chỉ còn 9, 3 triệu ha) Tuy nhiên, trong những năm gần đâydiện tích rừng có xu hướng tăng lên song chất lượng rừng chưa được quan tâm.Đến cuối năm 1999 tổng diện tích rừng cả nước là 10, 9 triệu ha, độ che phủ chiếm33,2% tổng diện tích toàn quốc Nhiều vùng diện tích rừng đã giảm xuống mức tối
Trang 4thiểu nh vùng Tây Bắc chỉ còn khoảng 10% Tình trạng rừng bị tàn pháđã ảnhhưởng đến nguồn nước, khí hậu, môi trường sinh thái … Hàng năm hạn hán lũ lụtxảy ra, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống nhân dân Vìnhững lý do trên đây mà công tác trồng cây gây rừng, khôi phục lại vốn rừng vàbảo vệ rừng hiện đang trở thành một vấn đề rất quan trọng và cấp bách.
Xuất phát từ thực trạng đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủtrương, chính sách về phát triển sản xuất lâm nghiệp như: Dự án 327, Quyết định661/ QD - TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc trồng mới 5 triệu ha rừng, Nghịđịnh 02/ CP của Chính phủ về việc giao đất lâm nghiệp với mục tiêu đưa độ chephủ lên 43% tương đương với độ che phủ năm 1943
Mặt khác, Việt Nam là một nước có tới 70 - 80% dân số làm nông nghiệptrong đó có 24 triệu đồng bào dân tộc miền núi sống chủ yếu dựa vào rừng và đấtrừng mà cho đến nay vẫn còn gần tới 2 triệu đồng bào sống du canh du cư Diệntích canh tác lúa nước còn thấp với phương thức canh tác lạc hậu (quảng canh, đốtnương làm rẫy) nên năng suất thấp Vì vậy, hầu nh
đồng bào dân tộc còn nghèo và thiếu ăn thường xuyên Phần lớn cuộc sống
và tư liệu của họ là phải dựa vào rừng, đất rừng và tận dụng tài nguyên rừng làchính Tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt, diện tích đất trồng đồi núi trọc ngàycàng tăng, diện tích chưa đưa vào sử dụng còn nhiều Trong khi đó hàng triệu laođộng dư thừa không có việc làm Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao thu hút đượcngười dân tham gia vào xây dựng và phát triển vốn rừng trên địa bàn miền núi vàtrung du Đây là một yêu cầu cần thiết có quan hệ mật thiết với việc phát triển kinh
tế nông thôn miền nói Nhằm giải quyết được vấn đề trên, Đảng và Nhà nước vàngành lâm nghiệp cần có phương hướng quản lý mới phù hợp với từng điều kiện
cụ thể của mỗi vùng Đối với nông thôn miền núi thế mạnh là phát triển kinh tếrừng Để khai thác được thế mạnh này thì trước hết mỗi người dân, mỗi hé gia đìnhcần có tư liệu sản xuất đó là rừng, đất rừng và quyền chủ động sản xuất kinhdoanh
Tõ tình hình thực tế như vậy, công tác giao đất giao rừng sẽ ngày càng cấpthiết nhằm mục đích làm cơ sở cho việc định hướng phát triển kinh tế xã hội và
Trang 5nâng cao đời sống cho nông thôn miền nói, nhanh chóng có kế hoạch khôi phục lạivốn rừng, phát huy đầy đủ chức năng của rừng, đất rừng về phòng hộ, bảo vệ môitrường sinh thái.
2.2 Trên thế giới
Mô hình sử dụng đất đầu tiên trên thế giới là du canh Hình thức du canhchính là những hệ thống Nông nghiệp trong đó đất được phát quang để canh tácvới thời gian ngắn hơn thời gian bá hoá Đây được xem là một phương thức canhtác cổ xưa nhất, ra đời vào cuối thế kỷ đồ đá mới Khi con người đã tích luỹ đượcnhững kiến thức cơ bản ban đầu về tự nhiên
Sau du canh là phương thức Taungia (có nghĩa là canh tác đồi núi) đượcđánh giá nh là một dấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này
Trên quan điểm quản lý sử dụng đất thì du canh và Taungia đều có một điểmtương đồng là những cây Nông nghiệp được sử dụng một cách tốt nhất bởi độ phùcủa đất được làm tăng lên vì chính những loài cây gỗ đã trở lại thảm mục của đất.Trong đó du canh là hệ thống canh tác các loài cây Nông nghiệp và cây Lâmnghiệp sinh trưởng kế tiếp nhau Còn Taungia bao gồm sự kết hợp thời của 2 thànhphần này trong những giai đoạn sớm nhất của quá trình hình thành rừng trồng
Xuất phát từ những đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên, kỹ thuậtcanh tác có tính truyền thống của mỗi nước, mỗi khu vực khác nhau trên thế giới
mà Taungia đã phân hoá và phát triển thành hệ thống quản lý sử dụng đất khácnhau Các phương thức canh tác kiểu nông lâm kết hợp và các mô hình canh tác rấtphong phó và đa dạng như hiện nay
Về vấn đề quyền sở hữu đất đai, do đặc điểm lịch sử và bản chất giai cấpthống trị nên hầu hết các nước trên thế giới, quyền sở hữu rừng và đất rừng đềuthuộc về tư nhân
- Ở Phần Lan, hiện nay có 2/ 3 tổng diện tích rừng thuộc quyền sở hữu tưnhân, cả nước có trên 430 nghìn chủ rừng và trung bình mỗi chủ rừng có 33 harừng Sở hữu cá nhân về rừng ở Phần Lan mang tính truyền thống và liên quan chặtchẽ đến sản xuất Nông nghiệp
Trang 6- Ở Philipin áp dụng chương trình lâm nghiệp xã hội tổng hợp theo đó chínhphủ giao quyền sử dụng lâm nghiệp cho cá nhân, các hội quần chúng và cộng đồngđịa phương trong 25 năm, thiết lập rừng cộng đồng và giao cho nhóm quản lý.Người được giao phải có kế hoạch trồng rừng, nếu được giao dưới 300 ha thì nămđầu phải trồng 40% diện tích, 5 năm sau phải trồng được 60% còn lại và sau 7 nămphải hoàn thành trồng rừng trên diện tích được giao.
- ỞNepal chính phủ cho phép chuyển giao mét sè diện tích đáng kể ở cáckhu rừng cộng đồng ở vùng trung du cho các cộng đồng thông qua sử dụng cácphanchayats (tổ chức chính quyền cơ sở) để quản lý rừng Chính phủ yêu cầu cácphachayats thành lập uỷ ban về rừng và cam kết quản lý những vùng rừng địaphương theo kế hoạch đã thoả thuận
- Ở Inđonesia, từ những năm 1972 quá trình sử dụng đất ở nước này đượcgiao cho các Công ty lâm nghiệp Nhà nước quản lý Việc chọn đất khai hoang đểtrồng cây lâm nghiệp do các Công ty tiến hành Nông dân được hướng dẫn kỹ thuậttrồng cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp Sau khi trồng cây nông nghiệp 2 nămngười dân bàn giao lại rừng cho các cơ quan lâm nghiệp, sản phẩm nông nghiệp họhoàn toàn được sử dụng
Những kinh nghiệm ở mét sè nước khác như: Nam Triều Tiên, Thái Lan, Ên
Độ … đều có xu hướng chung là cho phép một nhóm người ở địa phương có nhiềurừng, quyền sử dụng và các lợi Ých chức năng đồng thời quy định rõ trách nhiệmcủa họ tương xứng với những lợi Ých được hưởng Thông thường các nước đềuchú ý tăng cường quyền sử dụng gỗ, củi, thức ăn gia súc cần thiết để người dân cóthể tù cung, tù cấp cho nhu cầu của mình tạo điều kiện cho họ có thêm thu nhập từrừng và điều kiện thuê nhân công địa phương, đảm bảo quyền sử dụng đất canhtác, tăng cường sự hỗ trợ của chính phủ
Trong thế kỷ XX, nhất là những thập niên cuối thế kỷ này, việc quản lý rừng
và xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp tên thế giới đã có nhiều chuyển biến
Có thể tóm tắt xu hướng quản lý rừng trên thế giới trong thời gian gần đây
Trang 7Chuyển mục tiêu quản lý sử dụng rừng sản xuất gỗ chủ yếu sang thực hiệnmục tiêu sử dụng rừng kết hợp cả ba lợi Ých: kinh tế - xã hội - sinh thái Nhiềunước đã tuyên bố thực hiện hoặc áp dụng nhiều biện pháp quản
lý rừng theo hướng tăng cường bảo vệ rừng như đình chỉ khai thác gỗ rừng
tự nhiên; nâng cao diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các khu bảo tồnthiên nhiên; phát triển du lịch sinh thái, chú trọng nhiều hơn mục tiêu phát huy tácdụng của rừng
Phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp nhằm chuyển giaodần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng và đất lâm nghiệp tõ Trung ươngxuống địa phương Đây là quá trình phi tập trung hoá về quản lý đất - đai
xúc tiến giao đất giao rừng cho nhân dân và cộng đồng, giảm bớt sù canthiệp của Nhà nước, thực hiện tư nhân hoá đất đai và các cơ sở kinh doanh lâmnghiệp, để tạo cho việc quản lý rừng năng động hơn đem lại nhiều lợi nhuận hơn
Khuyến khích sù tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lýrừng, xu hướng phát triển các hình thức tổ chức để thu hút các cộng đồng địaphương vào quản lý rừng như liên kết quản lý rừng, phát triển các chương trìnhlâm nghiệp cộng đồng, các công trình bảo tồn thiên nhiên theo làng
2.3 Ở Việt Nam
Vấn đề quản lý đất đai ở Việt Nam đã có lịch sử từ lâu và trải qua nhiều thời
kỳ khác nhau Trong mỗi thời kỳ chính sách đất đau và hệ thống quản lý đất đai lại
có những nét đặc trưng riêng phù hợp với bối cảnh lịch sử và kinh tế của mỗi thời
kỳ Có thể tóm tắt tình hình quản lý đất đai ở nước ta như sau:
Thời kỳ phong kiến: Chế độ quản lý đất đai của Nhà nước Việt Nam trướcđây đánh dấu bằng chính lịch sử phát triển của đất nước từ triều đại nhà Hồ (thế kỷ15) với các chính sách hạn điền và quân điền
Chính sách tịch điền đầu tiên được xây dựng năm 1992, tõ thời Lý các nhàvua đã rất chú ý đến việc đăng ký đất công của nông dân để làm cơ sở cho việcquản lý Nhà nước như: lao động nghĩa vụ, xây dựng quân đội và đánh thuế Năm
1042 nhà Lê ra lệnh phải đăng ký đất tại cấp xã 4 năm 1 lần
Trang 8Năm 1803, nhà Nguyễn đã ra lệnh cho các địa phương trên toàn quốc phảilàm địa bạ (sổ ruộng) Mỗi bộ sổ đăng ký đất đai bao gồm tõ 50 - 100 tê ghi rõ vềtình hình về quản lý hành chính của làng, diện tích đất đai, ruộng đồng, loại đất củatừng thửa với tên chủ sở hữu và ranh giới của làng Cứ 5 năm lại làm địa bạ 1 lần
Thời kỳ Pháp thuộc: Sau khi thực dân Pháp thiết lập song ách thống trị, chế
độ quản lý và sử dụng đất đai đã trải qua các giai đoạn khác nhau: ách thống trịthực dân bắt đầu từ quyền sở hữu của Nhà nước về quản lý và sở hữu đất đai thôngqua chính sách bần cùng hoá (đặc biệt là các chính sách thuế quá cao) buộc nhândân phải bán đất của mình, thế chấp phần đất làng của mình cho tư bản pháp và bỏlàng ra đi tham gia vào lực lượng lao động ở đồn điền, vùng má
Tiếp đó người Pháp đã áp dụng hệ thống đăng ký đo đạc và lập bản đồ của
họ vào Việt Nam Hệ thống đăng ký đất của Pháp có nhiều điểm tương tự nh hệthống đăng ký bằng khoán Torrens và đưa ra mét cơ chế đăng ký chuyển dịch đấtđai nh là chuyển nhượng quyền sở hữu, thế chấp
Sau cách mạng tháng 8/1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời.Nhưng do chính quyền Nhà nước mới được thành lập còn non yếu, phải đương đầuvới thù trong giặc ngoài, nên chưa có nhiều chính sách về quản lý và sử dụng đấtđai Quyền sở hữu đất đai lúc này vẫn thuộc về các nhà địa chủ và tư bản Pháp
Ngày 06 tháng 11 năm 1982 Hội đồng bộ trưởng ban hành chỉ thị sè 184/HĐBT về việc GĐGR cho tập thể nhân dân trồng cây gây rừng
Trong suốt thời kỳ này nền kinh tế nước ta được quản lý theo cơ chế tậptrung, quan liêu bao cấp đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế trong sản xuất kinh doanhnghề rừng GĐGR ở giai đoạn này thực chất là phân cấp quản lý tập trung của Nhànước về các địa phương Người dân vẫn chưa trực tiếp làm chủ đất rừng và công
Trang 9tác đầu tư xây dựng phát triển rừng từ phía Nhà nước còng nh người dân khôngđược quan tâm Vì vậy rừng bị chặt phá rừng nặng nề.
Mặt dù có chính sách GĐGR nhưng quyền lợi của người sử dụng đất chưađược xác lập, hình thức kinh tế cá thể, hé gia đình chưa được thừa nhận dẫn đếnquyền lợi của người lao động không gắn với sản phẩm họ làm ra từ đó làm họ mất
đi ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ của mình Lúc này không ai khác, họ chính lànhững người mang tác động xấu đến rừng
Ngày 13 tháng 12 năm 1982 Bé Nông nghiệp ra thông tư 64/ TT/ HTX vàchỉ thị 100 trong nông nghiệp đã góp phần mạnh mẽ trong việc GĐGR cho nhândân để phát triển kinh tế hé gia đình
Chỉ thị sè 29 CT/ TW về " Đẩy mạnh GĐGR, xây dựng và tổ chức kinhdoanh theo phương thức nông lâm kết hợp" Chỉ thị này đã thể hiện sự đổi mớitrong công tác quản lý và phần nào chú ý đến vai trò của hé gia đình người đượcgiao khoán rừng, họ được hưởng các sản phẩm phụ và trồng đan xen
1,39% trong đó tỷ lệ tăng dân số chỉ có 1,31% và tỷ lệ tăng cơ học là 0,08%.Hàng năm có khoảng 12 - 14 hé xin tách hé
2.1.2 Lao động
Toàn xã có 259 hé với 1313 người, số người ở tuổi lao động là 578 ngườichiếm 44% dân số Tỷ lệ lao động nữ là 49,1% tương đương với 284 người Sè laođộng nam là 294 người chiếm 50,9% số người ở độ tuổi lao động
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế
2.2.1 Trồng trọt
Là ngành sản xuất chính của xã, những năm gần đây, sản lượng lương thựcluôn tăng lên do nhân dân tổ chức thâm canh tốt hơn, tích cực đưa giống lúa mớivào sản xuất Tính từ 1997 đến năm 2002, sau 5 năm diện tích gieo trồng lúa cảnăm tăng tõ 75, 3 ha lên 84 ha Năng suất lúa tăng lên rõ rệt, tõ 19, 9 tạ/ ha năm
1995 lên 34, 5 tạ/ ha năm 2002 Sản lượng lúa cả năm 2002 đạt 290 tấn
Cây ngô: được trồng ở cả vụ xuân và vô thu, nhưng tập trung chủ yếu ở vụxuân, vô thu diện tích gieo trồng Ýt hơn Năm 2002 diện tích gieo trồng ngô cảnăm đạt 296 ha, với năng suất 20, 9 tạ/ ha cho sản lượng 618, 6 tấn
Trang 10Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2002 đạt 908, 3 tấn, bình quân lươngthực trên đầu người đạt 460 kg/người/năm, tính từ năm 1997 tăng bình quân10,9%/năm Sản lượng lương thực bình quân/ người/ năm có xu hướng tăng lênđảm bảo an toàn lương thực tại chỗ và còn dư thừa bán về các xã vùng thấp, nhất làngô.
Cây công nghiệp hàng năm có lạc với diện tích còn Ýt Cây lạc chủ yếuđược gieo trồng trong vô xuân, vô thu trồng với diện tích thấp chủ yếu để làmgiống cho vô xuân năm sau Năm 2002 diện tích gieo trồng 13, 5 ha cho sản lượng
1, 7 tấn, năng suất đạt 8, 7 tạ/ ha
PHẦN IV MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
Về thực tiễn:
Đề tài nhằm đề xuất mét sè giải pháp kinh tế - xã hội góp phần hoàn thiệncộng tác giao đất khoán rừng và nâng cao hiệu quả sử dụng đất sau khi giao trênđịa bàn nghiên cứu
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động trong công tác giao đất lâm nghiệp và phát triển quản lý sửdụng đất được giao trên địa bàn nghiên cứu
Những tác động chính của chính sách giao đất lâm nghiệp đến phát triển tàinguyên rừng và kinh tế xã hội trên địa bàn nghiên cứu
Trang 114.3 Nội dung nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu trên đề tài tập trung nghiên cứu mét sè nộidung sau:
(1) Tình hình sử dụng đất và giao đất khoán rừng trên địa bàn xã Ngổ Luông
- Huyện Tân Lạc - Tỉnh Hoà Bình