ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là lá phổi xanh của trái đất, những tác động tiêu cực hay tích cực vào lá phổi xanh đều có thể gây ra những ảnh hưởng tới hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ. Con người với những tác động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn, đốt rừng…không những gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong của các loài động, thực vật. Nước ta nằm ở khu vực Đông Nam Á với diện tích trên 330.500km2, nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao. Trong đó đa dạng về côn trùng là rất lớn, theo thống kê có đến 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và chính bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loài động vật khác. Côn trùng, một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực như góp phần thụ phấn làm cho mùa màng, cây rừng sai hoa trĩu quả. Cung cấp dinh dưỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh vật gây hại…góp phần tạo nên cân bằng sinh thái. Ngoài ra côn trùng cũng tạo ra không ít những ảnh hưởng tiêu cực cho con người như phá hại cây cối; hoa màu; phá hoại nông sản, đồ đạc, nhà cửa, công trình xây dựng… Trong giới động vật, côn trùng là lớp có số loài lớn, chiếm khoảng 13 tổng số loài sinh vật của hành tinh. Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi sinh cảnh trên lục địa. Ngày nay, con người đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu đi và làm giảm tính đa dạng sinh học. Ở Việt Nam mất rừng tự nhiên đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học, nhiều loài động vật bị thu hẹp nơi cư trú, có loài thì đứng trước bờ vực tuyệt chủng. Theo báo cáo của WWF tại Việt Nam 2 năm 2000, tốc độ suy giảm đa dạng sinh học của nước ta nhanh hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực. Cách trung tâm TP.Cao Bằng khoảng 70km về phía Đông – Bắc, nơi được mệnh danh là khu quản lý một trong những loài Linh trưởng hiếm nhất trên thế giới Vượn Cao Vít (Nomascus nasutus Kunckel dꞌHerculais,1884). Loài nằm trong danh sách của 25 loài Linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trên thế giới, đứng thứ 9 khu vực châu Á và là một trong 5 loài nguy cấp tại Việt Nam. Khu Bảo tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng được thành lập theo quyết định số 2536QĐ UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng. Đây là khu rừng tự nhiên có hệ sinh thái khá phong phú, với nhiều loài động thực vật quý, hiếm như: Vượn Cao Vít, Gấu ngựa, Tê tê, Khỉ vàng, Khỉ mốc, Gà lôi trắng…; Nghiến, Mạy Puốn, Mạy thố, Trai lý, Vù hương… đặc biệt là các loài Lan núi đá vô cùng phong phú. Sau 10 năm bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng, loài Vượn Cao Vít từ khi phát hiện là 26 cá thể, đến nay loài đã tăng lên 129 cá thể, cho thấy tài nguyên rừng nơi đây đang dần được phát triển, tăng tính đa dạng sinh học, trong đó chắc chắn có sự đa dạng về côn trùng. Tuy nhiên côn trùng ở đây chưa được quan tâm và chưa có công trình, tài liệu nghiên cứu nào về côn trùng nói chung và bộ Cánh cứng nói riêng. Với vai trò của côn trùng cánh cứng trong hệ sinh thái rừng và trong đời sống con người là rất lớn. Chúng bao gồm những loài có lợi và những loài có hại nhưng chỉ là tương đối. Nhận biết được những vai trò của côn trùng cánh cứng tới rừng và tính cấp thiết của khu vực, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Xác định thành phần loài côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý tại khu Bảo tồn Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng”. 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1. Khái quát chung về côn trùng Côn trùng hay sâu bọ, là một lớp động vật có tên khoa học là Insecta (lớp Côn trùng), đây là lớp lớn nhất thuộc ngành chân khớp (Arthropoda), phân bố rộng nhất trên Trái Đất. Côn trùng là nhóm phong phú và đa dạng nhất trong giới động vật. với ước tính số lượng loài côn trùng trên thế giới là rất khác nhau: theo Tangley năm 1997 khoảng 751.000 loài. Còn theo Nieuwenhuys năm 1998 khoảng 800.000, 950.000 theo IUCN năm 2004 đến hơn 1.000.000 theo Myers năm 2001. Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleoptera và Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al năm 2002 có thể đạt tới con số từ 3.700.000 và 5.900.000 cho tổng số động vật chân đốt trên toàn thế giới. Côn trùng là một nhóm động vật đa dạng bậc nhất thế giới khoảng 1 triệu loài đã được mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số loài sinh vật mà con người đã biết, số loài chưa được mô tả có thể lên tới 30 triệu. Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở hầu như tất cả các môi trường sống trên Trái Đất. Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng. 1.2. Đặc điểm của bộ Cánh cứng Bộ cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong lớp Côn trùng (Insecta), có trên 350.000 loài đã được mô tả. Côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) có kích thước rất đa dạng, từ rất nhỏ (nhỏ hơn 1mm) đến rất lớn (trên 75mm).Ví dụ: loài Xén tóc (Titanus giganteus) ở vùng nhiệt đới, chiều dài cơ thể có thể đạt đến 170mm. Các loài thuộc bộ này sống ở khắp mọi nơi. 4 Phần lớn côn trùng bộ Cánh cứng có 2 đôi cánh phát triển, đôi cánh trước kitin hóa cứng luôn nằm sát một đường thẳng trên lưng và che phủ đôi cánh sau. Đôi cánh sau là cánh màng thường dài hơn cánh trước, được gấp ở dưới cánh trước khi không bay. Các loài côn trùng thuộc bộ này có kiểu miệng gặm nhai, hai hàm trên rất phát triển, bàn chân có từ 35 đốt. Côn trùng bộ Cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn. Sâu non có nhiều hình dạng khác nhau, nhưng đa số có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung. Nhộng đa số là nhộng trần, có nhiều loài làm nhộng trong đất và được bao bọc bằng kén đất hoặc tàn dư thực vật. Một số loài như xén tóc, nhộng được bao bọc bằng một lớp kén mỏng. Ngoài ra côn trùng bộ Cánh cứng còn đẻ trứng ở trong vỏ thân cây, trong mô lá, trong đất và trong nước. Trứng có dạng hình cầu hoặc hình bầu dục. Thức ăn của côn trùng cánh cứng rất phức tạp, đa số chúng ăn thực vật, nhưng cũng có nhiều loài ăn động vật, nhiều loài có ích chúng ăn thịt các loài sâu hại, có loài lại chuyên ăn các chất hữu cơ mục nát hoặc những di thể động thực vật, các bào tử nấm và một số ít loài thuộc nhóm ký sinh hoặc sống cộng sinh trong ổ những côn trùng sống thành xã hội. với những loài ăn thực vật quan hệ sinh dưỡng đa dạng; có thể tấn công tất cả các bộ phận của cây, rất nhiều loài ăn hại lá, đục thân, cành, hại hoa, quả, một số loài thì đục khoét trong lá, tấn công rễ, vỏ cây. Chu kỳ sống rất khác nhau, mỗi năm có từ 3 – 4 thế hệ hoặc cần nhiều năm để hoàn thành một thế hệ. 1.3. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở ngoài nước Với số lượng cá thể cũng như thành phần loài lớn. Cánh cứng là bộ lớn nhất trong lớp Côn trùng bao gồm các loài: hổ trùng, hành trùng, xén tóc, bổ củi, bọ hung, vòi voi... theo các nhà khoa học ước lượng trên thế giới có hơn 1.000.000 loài, trong đó đã mô tả được 360.000 – 400.000 loài cánh cứng. 5 Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng khá đa dạng, tập trung vào các vấn đề phân loại học, đặc điểm sinh học, sinh thái học hoặc đánh giá sự đa dạng trong từng khu vực hay đưa ra các biện pháp quản lý… Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa được hơn 60 loài côn trùng. Ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài có chân đốt. Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carlvon Linne được coi là người đầu tiên đưa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng được bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng. Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1745 tại nước Anh. Năm 1859, hội côn trùng ở Nga được thành lập. Nhà côn trùng học người Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều về côn trùng bộ Cánh cứng. Từ những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu người Nga như: Potarin (1899 – 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản ra các tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á. Trong các tài liệu đó đều đề cập đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng. Năm 1910 – 1940, Volka và Sonkling đã xuất bản tài liệu về côn trùng thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài, được in trong 31 tập với hàng nghìn loài thuộc bộ Cánh cứng thuộc họ Bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae). Năm 1948, A.I Ilinski đã xuất bản cuốn “Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non và nhộng của các loài sâu hại rừng” trong đó đề cập đến một số loài họ Bọ cánh cứng ăn lá. Năm 1959, Trương Chấp Trung đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học” liên tiếp đến năm 1965 giáo trình được viết lại nhiều lần, tác phẩm đó đã 6 giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại bọ lá phá hoại cây rừng. Năm 1964, giáo sư V.N Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” giới thiệu về sâu cánh cứng khoai tây (Leptinotasa decemlineata Say) là loại côn trùng gây hại rất nguy hiểm cho khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác. Năm 1965, Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại bộ Cánh cứng (Coleoptera). Trong tập này đã xây dựng được bảng tra 1350 giống thuộc Họ Bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae). Năm 1965 – 1966, N.N Padi và A.N Boronxop viết giáo trình “Côn trùng rừng” đề cập nhiều tới côn trùng bộ Cánh cứng như: Mọt, Xén tóc, Sâu đinh… Năm 1966, Bey – Bienko đã phát hiện và mô tả được 300.000 loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng. Năm 1987, Thai Bang Hoa và Cao Thu Lâm đã xuất bản cuốn “Côn trùng rừng Vân Nam” đã xây dựng một bảng tra của ba họ phụ của họ Bọ cánh cứng ăn lá (Chrysomelidae). Cụ thể họ phụ Chrysomelinea đã giới thiệu 35 loài, họ phụ Alticinae giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae giới thiệu 93 loài. Năm 1987 đoàn nghiên cứu tổng hợp người Pháp tên là Mission Parie đã điều tra côn trùng Đông Dương, kết quả công bố cho thấy phát hiện được 1020 loài, trong đó có 541 loài Bộ cánh cứng, 168 loài thuộc Bộ cánh vảy, 139 loài Chuồn chuồn, 59 loài Mối, 55 loài Bộ cánh màng, 9 loài Bộ hai cánh và 49 loài thuộc các bộ khác. Năm 2003, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và giải mã gen của bọ cánh cứng đỏ. 7 Theo nghiên cứu của hai nhà côn trùng học Michael Caterino và Alexey Tishechkin đã đặt tên cho 138 loài mới thuộc chi Operclipygus (tên này xuất phát từ hình dáng bộ phận phía sau của loài này trông giống như vỏ sò), do đó số lượng các loài côn trùng thuộc họ này đã tăng lên hơn sáu lần. Phát hiện này dựa trên một nghiên cứu từ hơn 4.000 mẫu vật được trưng bày tại các bảo tàng lịch sử tự nhiên trên toàn thế giới, cũng như các mẫu vật thu được trải qua nghiên cứu thực địa của nhóm tác giả tại khắp miền Trung và Nam Mỹ. Tất cả những con bọ cánh cứng này thuộc họ Histeridae. Loài bọ này cực kỳ phong phú và đa dạng về số lượng. Ngày nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục khám phá mức độ đa dạng sinh học của loài côn trùng sinh sống tại những vùng nhiệt đới trên thế giới, với con số ước tính từ 5 đến 30 triệu loài hoặc hơn. 1.4. Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở trong nước Các nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở nước ta không nhiều, chủ yếu tập trung vào các loài côn trùng thuộc nhóm côn trùng gây hại, từ đó đưa ra các biện pháp phòng trừ, một số ít thì đưa ra các biện pháp bảo tồn các loài côn trùng có ích. Nhưng nhìn chung các tài liệu này chỉ là các con số thống kê hay chỉ nghiên cứu một số loài đại diện. Năm 1921, Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de Lindochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng. Riêng miền Bắc Việt Nam có 1196 loài. Từ năm 1954, sau khi hòa bình được lặp lại, xuất phát từ nhu cầu sản xuất nông, lâm nghiệp nên việc điều tra cơ bản về côn trùng được chú ý. Năm 1961, 1965, 1967 và 1968, Bộ Nông nghiệp đã tổ chức các đợt điều tra cơ bản xác định được 2962 loài côn trùng thuộc 223 họ và 20 bộ khác nhau. Năm 1968, Medvedev đã công bố một công trình về họ Bọ lá (Chrysomelidae) ở Việt Nam, trong đó có 8 loài mới đối với khoa học. 8 Năm 1973, trong cuốn sách “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác giả Đặng Vũ Cẩn. Giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá Bạch đàn là: bọ hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauer), Bọ hung nâu xám bụng dẹt (Adoretus comptessus), Bọ hung nâu nhỏ (Maladera – sp), sâu trưởng thành của nhóm thường sống ở trên tất cả các giống Bạch đàn. Ngoài ra, còn có một số loài côn trùng khác như Bọ vừng (Lepidota bioculata), Bọ sừng (Xylotrupes Gideon L.), Bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope)… Năm 1982, Hoàng Đức Nhuận cho xuất bản 2 cuốn sách “Bọ rùa ở Việt Nam”. Năm 1989, tác giả Trần Công Loanh đã xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp”, trong đó có giới thiệu loài bọ ăn lá hồi (Oides decempunctata Billberg) thuộc họ (Chrysomelidae). Tác giả cho biết loài này xuất hiện ở Lạng Sơn, trên rừng hồi khi phát dịch chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng Hồi. Năm 1993, tạp chí lâm nghiệp số 8 có bài của Nguyễn Trung Tín với nhan đề “Xén tóc đục thân Bạch đàn tại Tứ Giác – Long Xuyên trên hai loài Bạch đàn chính Eucalyptus camaldulensis và E.reticornis”. Năm 2004, tạp chí sinh học, nghiên cứu về côn trùng từ trang 100 – 108, của Đặng Thị Đáp, Trần Thiếu Dư: “Kết quả nghiên cứu côn trùng Cánh cứng ăn lá (Coleoptera, Chrysomelidae) tại 2 khu vực bảo tồn thiên nhiên Mường Phăng, Hang Kia – Pà Cò và VQG Ba Bể”. Năm 2006 – 2007, Tạ Huy Thịnh trong báo cáo “Điều tra nghiên cứu đa dạng côn trùng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn miền Trung và đề xuất các giải pháp bảo tồn”, đã kết luận: trên địa bàn nghiên cứu thuộc phạm vi quy hoạch 2km hai bên đường của cung đường Hồ Chí Minh, đoạn từ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), dài 623km; đi qua 9 huyện, 51 xã, thị trấn cùng với 3 xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Sông 9 Thanh (Quảng Nam). Đã ghi nhận được 3.296 loài, 244 họ, 15 bộ côn trùng bổ sung cho khu hệ Việt Nam 350 loài (trong đó có một loài mới cho khoa học), ghi nhận 16 loài có giá trị bảo tồn; trong đó có 5 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2000, 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2007, 2 loài ghi trong CITES 2006, 3 loài có trong danh mục của nghị định 32CP. Đồng thời đề tài đề xuất thêm 4 loài khác nên đưa vào Sách đỏ Việt Nam gồm: Bọ hung ba sừng (Chalcosoma causasus Fabricius, 1801), Cua bay hoa (Kontum Cheirotonus gestroi Pouillaude, 1913), Xén tóc lớn Đông Dương (Neocerambyx vitalisi Pic, 1923) và Bọ lá bụng thuôn (Phyllium bioculatum Gray, 1882). Trong số 16 loài có giá trị bảo tồn, có 4 loài chỉ thấy phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên: Chalcosoma causasus; Chalcosoma atlas; Cheirotonus gestroi và Neocerambyx vitalisi. Ngoài ra đã ghi nhận 148 loài sâu hại nông nghiệp, 79 loài côn trùng y học và thú y, 196 loài côn trùng thiên địch. Năm 2007, báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của Đặng Thị Đáp cùng cộng sự: “Phân tích số lượng côn trùng cánh cứng (Coleoptera) theo sinh cảnh, thời gian, thời tiết và độ cao ở VQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc”. Năm 2008, tác giả Nguyễn Thế Nhã “Nghiên cứu về sâu hại măng” kết luận có 9 loài cánh cứng hại măng thuộc 4 họ, trong đó nguy hiểm nhất là nhóm Vòi voi hại măng gồm ba loài, một loài Bổ củi, ba loài Bọ hung và hai loài Xén tóc. Năm 2008, thông tin khoa học lâm nghiệp số 2, khoa Quản lý tài nguyên rừng và môi trường, của Bùi Trung Hiếu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của Vòi voi lớn (Cyrtotrachelus buqueti) và đề xuất giải pháp phòng trừ tại khu vực Mai Châu – Hòa Bình” đã kết luận chúng gây hại nhiều nhất vào tháng 6, 7, 8, trong đó biện pháp bọc bảo vệ măng mang lại hiệu quả cao. 10 Năm 2009, Lê Xuân Huệ đã điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Copia – Sơn La và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn. kết quả xác định được 252 loài côn trùng thuộc 4 bộ: Bộ Cánh nửa (Heteroptera) được 47 loài thuộc 8 họ, bộ Cánh cứng (Coleoptera) được 107 loài thuộc 11 họ, bộ Cánh màng (Hymenoptera) được 29 loài thuộc 4 họ, bộ Cánh phấn (Lepidoptera) được 69 loài thuộc 9 họ. Đã bổ sung cho khu hệ Việt nam 5 giống, 15 loài và 1 loài được mô tả như loài mới cho khoa học. 4 loài côn trùng có trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (1 loài mức EN, 3 loài mức VU) và 9 loài thuộc họ Papilionidae nằm trong danh lục đỏ IUCN 2003 Năm 2010, Nguyễn Phương Thảo, Bùi Minh Hồng và Phạm Thu Lan : “nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của Bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabricius)”, với kết luận Bọ rùa đỏ trưởng thành có khả năng ăn 130 con rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus trong một ngày . Tháng 7 – 2012, Ban Quản Lý Dự án cạnh tranh nông nghiệp tỉnh Bình Định đã phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Huế xây dựng mô hình “Phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa bằng phương pháp sinh học sử dụng bọ đuôi kiềm”. Mô hình đã đạt kết quả khả quan. Được triển khai tại 4 xã: Hoài Tân, Hoài Châu, Tam Quan Nam và Hoài Thanh Tây với 60 hộ nông dân tham gia. Tháng 8 – 2012, trên Tạp chí Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn có bài của Lê Thị Diên, Nguyễn Hợi (Đại học Huế) và Nguyễn Văn Trọng (ĐH Nông Lâm ĐH Huế) đã thực hiện “nghiên cứu đa dạng sinh học của bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc Gia Bạch Mã”. kết quả nghiên cứu ghi nhận được 178 loài thuộc 128 giống, 17 họ thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc gia Bạch Mã. Họ có số giống và loài phong phú nhất là Chrysomelidae với 65 loài và 33 giống. Nghiên cứu đã bổ sung thêm 4 họ, 60 giống và 110 loài vào danh lục côn trùng bộ Cánh cứng ở Bạch Mã. 11 Đai cao từ 300500m có số lượng loài và lớp cao nhất với 13 họ và 52 loài và có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất; đai cao có số loài và họ thấp nhất là trên 1000m với 4 họ và 10 loài và có chỉ số đa dạng sinh học thấp nhất. Đai cao 1000m có mức độ tương đồng về thành phần loài thấp nhất với Cs=0,12. Đa số các loài phân bố ở rừng phục hồi với 69 loài và rừng cây bụi là 32 loài, 12 loài được phát hiện ở đất trồng trọt, rừng ven suối và rừng rậm có số loài thấp nhất. Sinh cảnh rừng phục hồi có chỉ số đa dạng cao nhất (d=23,36); sinh cảnh có chỉ số đa dạng thấp nhất là rừng rậm với d=2,09. Sinh cảnh rừng phục hồi và sinh cảnh rừng cây bụi có chỉ số tương đồng cao nhất là 0,16. Các cặp sinh cảnh còn lại có chỉ số tương đồng về thành phần loài rất thấp hoặc bằng 0. Năm 2013, nghiên cứu thạc sỹ của Lê Hải Hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang: “Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học của côn trùng thuộc Bộ cánh cứng và đề xuất một số biện pháp quản lý”.kết quả điều tra thu thập được 60 loài thuộc 17 họ khác nhau, trong đó họ chiếm số lượng loài nhiều nhất là: Họ Xén tóc (Cerambycidae).
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
===========X W===========
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
XÁC ĐỊNH THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG (Coleoptera) VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI SINH CẢNH VƯỢN
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp cuối khóa có ý nghĩa rất lớn đối với mỗi sinh viên, đây là thời gian những kiến thức đã tích lũy được trong 4 năm học đại học được áp dụng vào thực tiễn đồng thời đó cũng là thời gian sinh viên được học tập, bổ trợ những kiến thức đã và chưa hoàn thiện
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và nhu cầu bản thân đồng thời được sự đồng ý, quyết định của trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý tài nguyên
rừng và môi trường, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xác định thành phần loài côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý tại khu Bảo tồn Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng”
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã cố gắng nỗ lực hết mình Những nỗ lực đó xuất phát từ người Thầy, gia đình, nhà trường, Ban Quản lý khu Bảo tồn và bạn bè đã ủng hộ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Người thầy mẫu mực GS.TS Nguyễn Thế Nhã, Người đã bồi dưỡng, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong thời gian học tập cũng như thực hiện đề tài
Các thầy cô giáo khoa Quản lý Tài nguyên rừng và môi trường, bộ môn Bảo vệ thực vật trường Đại học Lâm nghiệp
Ban Quản lý khu Bảo tồn loài Vượn Cao Vít, gia đình cùng các cán bộ tuần rừng trong khu Bảo tồn Vượn Cao Vít
Do thời gian, thời tiết và trình độ còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện Nông Hoàng Mẫn
Trang 3ii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Khái quát chung về côn trùng 3
1.2 Đặc điểm của bộ Cánh cứng 3
1.3 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở ngoài nước 4
1.4 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở trong nước 7
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN LOÀI SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT 12
2.1 Lược sử hình thành 12
2.2 Điều kiện tự nhiên 13
2.2.1 Vị trí địa lí 13
2.2.2 Đặc điểm địa hình 13
2.2.3 Khí hậu, thời tiết 13
2.2.4 Chế độ thủy văn 14
2.3 Tài nguyên thiên nhiên 15
2.3.1 Tài nguyên đất 15
2.3.2 Tài nguyên nước 15
2.3.3 Tài nguyên thực vật 15
2.3.4 Tài nguyên động vật 16
Trang 4iii
2.4 Hiện trạng tài nguyên rừng 17
2.4.1 Diện tích các loại đất rừng 17
2.4.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 18
2.5 Đặc điểm kinh tế, xã hội 20
2.5.1 Nguồn nhân lực 20
2.5.2 Thực trạng kinh tế xã hội 21
CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 24
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.3 Nội dung điều tra nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp điều tra nghiên cứu 24
3.4.1 Phương pháp kế thừa 24
3.4.2 Phương pháp điều tra thực địa 25
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu và bảo quản mẫu 35
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 37
4.1 Thành phần loài côn trùng cánh cứng trong khu vực nghiên cứu 37
4.2 Đặc điểm phân bố của bộ Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 42
4.3 Tính đa dạng sinh học của bộ Cánh cứng trong khu vực nghiên cứu 45
4.3.1 Đa dạng loài 45
4.3.2 Đa dạng trong quan hệ sinh dưỡng 47
4.3.3 Đa dạng về hình thái 48
4.3.4 Đa dạng về tập tính 50
4.4 Đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng thường gặp 51
4.4.1 Bọ bốn nhánh - Cassida quadriramosa Gressitt, 1952 (Chrysomelidae) 51 4.4.2 Bọ xanh ăn lá - Chrysochus chinensis (Họ bọ ăn lá: Chrysomelidae) 52
Trang 5iv
4.4.3 Bọ hung nâu nhỏ - Maladera orientalis (Motschulsky, 1857) 52
4.4.4 Họ bọ rùa – Coccinellidae 53
4.5 Đề xuất một số biện pháp giám sát quản lý và bảo tồn côn trùng bộ Cánh cứng Khu Bảo tồn loài Vượn Cao Vít – Trùng Khánh 53
4.5.1 Các giải pháp chung 54
4.5.2 Các giải pháp kỹ thuật giám sát 56
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Tồn tại 61
5.3 Kiến nghị 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
BTVCV Bảo tồn Vượn Cao Vít
TCN Trước công nguyên
FFI Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã quốc tế VQG Vườn quốc gia
VCV Vượn Cao Vít
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích và các loại đất rừng 17
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp 18
Bảng 2.3: Hiện trạng rừng đặc dụng 18
Bảng 2.4: Hiện trạng rừng phòng hộ 19
Bảng 2.5: Hiện trạng rừng sản xuất 20
Bảng 3.1: Các dạng sinh cảnh chính trong Khu BTVCV Trùng Khánh 25
Bảng 3.2: Đặc điểm cơ bản của các ô tiêu chuẩn 28
Bảng 4.1: Danh lục côn trùng bộ Cánh cứng Khu BTVCV năm 2014 37
Bảng 4.2: Các loài côn trùng cánh cứng thường gặp 42
Bảng 4.3: Các loài côn trùng cánh cứng ít gặp 42
Bảng 4.4: Thành phần loài côn trùng cánh cứng theo các dạng sinh cảnh 43 Bảng 4.5: Bảng thống kê số loài côn trùng bộ Cánh cứng theo các họ 45 Bảng 4.6: Các nhóm dinh dưỡng của côn trùng cánh cứng trong khu vực47
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Sáu dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu 27
Hình 3.2: Tuyến điều tra xã Phong Nậm 29
Hình 3.3: Tuyến điều tra xã Ngọc Khê 29
Hình 3.4: Tuyến điều tra xã Ngọc Côn 30
Hình 4.1: Tỷ lệ độ bắt gặp các loài côn trùng bộ Cánh cứng 41
Hình 4.2 Tỷ lệ phân bố các loài côn trùng bộ Cánh cứng theo sinh cảnh 43
Hình 4.3: tỷ lệ số loài côn trùng của các họ trong bộ Cánh cứng 47
Hình 4.4: Tỷ lệ % số loài của các nhóm dinh dưỡng khác nhau 48
Trang 9viii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
===============o0o===============
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên khóa luận: Xác định thành phần loài côn trùng bộ Cánh cứng
(Coleoptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý tại khu Bảo tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng
2 Sinh viên thực tập: Nông Hoàng mẫn
3 Giáo viên hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Thế Nhã
4 Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá bước đầu về thành phần loài và phân bố của khu hệ côn trùng
bộ Cánh cứng (Coleoptera), làm cơ sở từ đó đề xuất các biện pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng tại khu Bảo Tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh
5 Nội dung nghiên cứu:
- Xác định thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm phân bố của bộ Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá tính đa dạng sinh học côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng thường gặp
- Đề xuất một số biện pháp giám sát quản lý và bảo tồn côn trùng bộ
Cánh cứng
6 Những kết quả đạt được
1 Thành phần loài
Trang 10ix
Xác định được 50 loài thuộc 18 họ trong bộ Cánh cứng (Coleoptera) Trong đó, nhóm ngẫu nhiên gặp với 43 loài, chiếm 86% Loài thường gặp gồm 3 loài, chiếm 6% và loài ít gặp với 4 loài, chiếm 8%
2 Đặc điểm phân bố
Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy có số loài phân bố nhiều nhất, với
47 loài bắt gặp trong số 50 loài điều tra được trong khu vực, chiếm 94% Rừng tự nhiên núi đá 39/50 loài, chiếm 78% Sinh cảnh trảng cỏ cây gỗ rải rác (Ib,Ic) 36/50 loài, chiếm 72% Trảng cỏ 26 loài, chiếm 52% Rừng trồng xen nương rẫy 20 loài, chiếm 40% và sinh cảnh có số loài bắt gặp ít nhất là rừng tre nứa tự nhiên với 9/50 loài chiếm 18%
3 Tính đa dạng sinh học
Đa dạng số loài trong các họ gồm 18 họ, họ nhiều nhất là 8 loài, chiếm
16 % Đa dạng trong quan hệ dinh dưỡng: Côn trùng cánh cứng trong khu vực
sử dụng 6 nhóm dinh dưỡng chính, đã định và 1 nhóm chưa định rõ nguồn dinh dưỡng, gồm: ăn lá, ăn gỗ mục - ăn phân và xác chết, ăn thịt, ăn nấm, hại cau dừa, hại rễ củ-cành Đa dạng về hình thái, đa dạng về tập tính
4 Một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài và họ thường gặp:
gồm 3 loài (Cassida quadriramosa Gressitt, 1952 Chrysochus chinensis Baly Maladera orientalis (Motschulsky, 1857)) và 1 họ (Coccinelldae)
5 Biện pháp quản lý
Đề xuất một số biện pháp chung: giải pháp trong nghiên cứu khoa học Giải pháp trong quản lý rừng Giải pháp về tuyên truyền Giải pháp về phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho cộng đồng
Đề xuất một số kỹ thuật giám sát côn trùng trong khu vực: Đối với côn trùng gây hại Đối với côn trùng thiên địch
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là lá phổi xanh của trái đất, những tác động tiêu cực hay tích cực vào lá phổi xanh đều có thể gây ra những ảnh hưởng tới hệ sinh thái, thậm chí cân bằng sinh thái bị phá vỡ Con người với những tác động vào rừng như chặt phá rừng bừa bãi, săn bắn, đốt rừng…không những gây ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường mà còn ảnh hưởng lớn đến sự tồn vong của các loài động, thực vật
Nước ta nằm ở khu vực Đông Nam Á với diện tích trên 330.500km2, nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa, là một trong những nước có tính đa dạng sinh học cao Trong đó đa dạng về côn trùng là rất lớn, theo thống kê có đến 80% số loài côn trùng ăn cây xanh và chính bản thân chúng lại là thức ăn của nhiều loài động vật khác
Côn trùng, một thành phần không thể thiếu được của hệ sinh thái rừng với các mặt tích cực như góp phần thụ phấn làm cho mùa màng, cây rừng sai hoa trĩu quả Cung cấp dinh dưỡng cho các loài động vật, kìm hãm các sinh vật gây hại…góp phần tạo nên cân bằng sinh thái Ngoài ra côn trùng cũng tạo ra không ít những ảnh hưởng tiêu cực cho con người như phá hại cây cối; hoa màu; phá hoại nông sản, đồ đạc, nhà cửa, công trình xây dựng…
Trong giới động vật, côn trùng là lớp có số loài lớn, chiếm khoảng 1/3 tổng số loài sinh vật của hành tinh Chúng phân bố ở mọi vùng và trong mọi sinh cảnh trên lục địa
Ngày nay, con người đã tác động vào tự nhiên quá mức làm suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái biến đổi theo chiều hướng xấu
đi và làm giảm tính đa dạng sinh học Ở Việt Nam mất rừng tự nhiên đe dọa trực tiếp đến đa dạng sinh học, nhiều loài động vật bị thu hẹp nơi cư trú, có loài thì đứng trước bờ vực tuyệt chủng Theo báo cáo của WWF tại Việt Nam
Trang 12hệ sinh thái khá phong phú, với nhiều loài động thực vật quý, hiếm như: Vượn Cao Vít, Gấu ngựa, Tê tê, Khỉ vàng, Khỉ mốc, Gà lôi trắng…; Nghiến, Mạy Puốn, Mạy thố, Trai lý, Vù hương… đặc biệt là các loài Lan núi đá vô cùng phong phú Sau 10 năm bảo vệ, xây dựng và phát triển tài nguyên rừng, loài Vượn Cao Vít từ khi phát hiện là 26 cá thể, đến nay loài đã tăng lên 129
cá thể, cho thấy tài nguyên rừng nơi đây đang dần được phát triển, tăng tính
đa dạng sinh học, trong đó chắc chắn có sự đa dạng về côn trùng
Tuy nhiên côn trùng ở đây chưa được quan tâm và chưa có công trình, tài liệu nghiên cứu nào về côn trùng nói chung và bộ Cánh cứng nói riêng Với vai trò của côn trùng cánh cứng trong hệ sinh thái rừng và trong đời sống con người là rất lớn Chúng bao gồm những loài có lợi và những loài có hại nhưng chỉ là tương đối
Nhận biết được những vai trò của côn trùng cánh cứng tới rừng và tính
cấp thiết của khu vực, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp: “Xác định thành phần loài côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) và đề xuất một số biện pháp quản lý tại khu Bảo tồn Vượn Cao Vít Trùng Khánh – Cao Bằng”
Trang 133
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái quát chung về côn trùng
Côn trùng hay sâu bọ, là một lớp động vật có tên khoa học là Insecta (lớp Côn trùng), đây là lớp lớn nhất thuộc ngành chân khớp (Arthropoda),
phân bố rộng nhất trên Trái Đất Côn trùng là nhóm phong phú và đa dạng nhất trong giới động vật với ước tính số lượng loài côn trùng trên thế giới là rất khác nhau: theo Tangley năm 1997 khoảng 751.000 loài Còn theo Nieuwenhuys năm 1998 khoảng 800.000, 950.000 theo IUCN năm 2004 đến hơn 1.000.000 theo Myers năm 2001 Các tính toán dựa trên ngoại suy từ loài Coleoptera và Lepidoptera tại New Guinea bởi Novotny et al năm 2002 có thể đạt tới con số từ 3.700.000 và 5.900.000 cho tổng số động vật chân đốt trên toàn thế giới
Côn trùng là một nhóm động vật đa dạng bậc nhất thế giới khoảng 1 triệu loài đã được mô tả, số loài côn trùng chiếm hơn một nửa tổng số loài sinh vật mà con người đã biết, số loài chưa được mô tả có thể lên tới 30 triệu Người ta có thể tìm thấy côn trùng ở hầu như tất cả các môi trường sống trên Trái Đất Có khoảng 5.000 loài chuồn chuồn; 2.000 loài bọ ngựa; 20.000 loài châu chấu; 17.000 loài bướm; 120.000 loài hai cánh; 82.000 loài cánh nửa; 350.000 loài cánh cứng và khoảng 110.000 loài cánh màng
1.2 Đặc điểm của bộ Cánh cứng
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là bộ lớn nhất trong lớp Côn trùng (Insecta),
có trên 350.000 loài đã được mô tả Côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) có
kích thước rất đa dạng, từ rất nhỏ (nhỏ hơn 1mm) đến rất lớn (trên 75mm).Ví
dụ: loài Xén tóc (Titanus giganteus) ở vùng nhiệt đới, chiều dài cơ thể có thể
đạt đến 170mm Các loài thuộc bộ này sống ở khắp mọi nơi
Trang 144
Phần lớn côn trùng bộ Cánh cứng có 2 đôi cánh phát triển, đôi cánh trước kitin hóa cứng luôn nằm sát một đường thẳng trên lưng và che phủ đôi cánh sau Đôi cánh sau là cánh màng thường dài hơn cánh trước, được gấp ở dưới cánh trước khi không bay Các loài côn trùng thuộc bộ này có kiểu miệng gặm nhai, hai hàm trên rất phát triển, bàn chân có từ 3-5 đốt Côn trùng
bộ Cánh cứng thuộc nhóm biến thái hoàn toàn Sâu non có nhiều hình dạng khác nhau, nhưng đa số có dạng chân chạy hoặc dạng bọ hung Nhộng đa số
là nhộng trần, có nhiều loài làm nhộng trong đất và được bao bọc bằng kén đất hoặc tàn dư thực vật Một số loài như xén tóc, nhộng được bao bọc bằng một lớp kén mỏng Ngoài ra côn trùng bộ Cánh cứng còn đẻ trứng ở trong vỏ thân cây, trong mô lá, trong đất và trong nước Trứng có dạng hình cầu hoặc hình bầu dục
Thức ăn của côn trùng cánh cứng rất phức tạp, đa số chúng ăn thực vật, nhưng cũng có nhiều loài ăn động vật, nhiều loài có ích chúng ăn thịt các loài sâu hại, có loài lại chuyên ăn các chất hữu cơ mục nát hoặc những di thể động thực vật, các bào tử nấm và một số ít loài thuộc nhóm ký sinh hoặc sống cộng sinh trong ổ những côn trùng sống thành xã hội với những loài ăn thực vật quan hệ sinh dưỡng đa dạng; có thể tấn công tất cả các bộ phận của cây, rất nhiều loài ăn hại lá, đục thân, cành, hại hoa, quả, một số loài thì đục khoét trong lá, tấn công rễ, vỏ cây
Chu kỳ sống rất khác nhau, mỗi năm có từ 3 – 4 thế hệ hoặc cần nhiều năm để hoàn thành một thế hệ
1.3 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở ngoài nước
Với số lượng cá thể cũng như thành phần loài lớn Cánh cứng là bộ lớn nhất trong lớp Côn trùng bao gồm các loài: hổ trùng, hành trùng, xén tóc, bổ củi, bọ hung, vòi voi theo các nhà khoa học ước lượng trên thế giới có hơn 1.000.000 loài, trong đó đã mô tả được 360.000 – 400.000 loài cánh cứng
Trang 155
Các công trình nghiên cứu về bộ Cánh cứng khá đa dạng, tập trung vào các vấn đề phân loại học, đặc điểm sinh học, sinh thái học hoặc đánh giá sự đa dạng trong từng khu vực hay đưa ra các biện pháp quản lý…
Trong các tác phẩm nghiên cứu của nhà triết học cổ Hy Lạp Aristoteles (384 – 322 TCN) đã hệ thống hóa được hơn 60 loài côn trùng Ông gọi tất cả những loài côn trùng ấy là những loài có chân đốt
Nhà tự nhiên học vĩ đại người Thụy Điển Carlvon Linne được coi là người đầu tiên đưa ra đơn vị phân loại và đã tập hợp xây dựng được bảng phân loại về động vật và thực vật trong đó có côn trùng
Hội côn trùng học đầu tiên trên thế giới được thành lập vào năm 1745 tại nước Anh
Năm 1859, hội côn trùng ở Nga được thành lập Nhà côn trùng học người Nga Keppen (1882 – 1883) đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều về côn trùng bộ Cánh cứng
Từ những cuộc du hành của các nhà nghiên cứu người Nga như: Potarin (1899 – 1976), Provorovski (1895 – 1979), Kozlov (1883 – 1921) đã xuất bản
ra các tài liệu về côn trùng ở trung tâm châu Á Trong các tài liệu đó đều đề cập đến các loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng
Năm 1910 – 1940, Volka và Sonkling đã xuất bản tài liệu về côn trùng
thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) gồm 240.000 loài, được in trong 31 tập với
hàng nghìn loài thuộc bộ Cánh cứng thuộc họ Bọ cánh cứng ăn lá
Trang 166
giới thiệu hình thái, tập tính sinh hoạt và các biện pháp phòng trừ nhiều loại
bọ lá phá hoại cây rừng
Năm 1964, giáo sư V.N Xegolop viết cuốn “Côn trùng học” giới thiệu
về sâu cánh cứng khoai tây (Leptinotasa decemlineata Say) là loại côn trùng
gây hại rất nguy hiểm cho khoai tây và một số loài cây nông nghiệp khác Năm 1965, Viện hàn lâm khoa học Nga đã xuất bản 11 tập phân loại côn trùng thuộc châu Âu, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại bộ Cánh cứng
(Coleoptera) Trong tập này đã xây dựng được bảng tra 1350 giống thuộc Họ
35 loài, họ phụ Alticinae giới thiệu 39 loài và họ phụ Galirucinae giới thiệu
93 loài
Năm 1987 đoàn nghiên cứu tổng hợp người Pháp tên là Mission Parie đã điều tra côn trùng Đông Dương, kết quả công bố cho thấy phát hiện được
1020 loài, trong đó có 541 loài Bộ cánh cứng, 168 loài thuộc Bộ cánh vảy,
139 loài Chuồn chuồn, 59 loài Mối, 55 loài Bộ cánh màng, 9 loài Bộ hai cánh
và 49 loài thuộc các bộ khác
Năm 2003, các nhà khoa học Mỹ đã nghiên cứu và giải mã gen của bọ cánh cứng đỏ
Trang 177
Theo nghiên cứu của hai nhà côn trùng học Michael Caterino và Alexey Tishechkin đã đặt tên cho 138 loài mới thuộc chi Operclipygus (tên này xuất phát từ hình dáng bộ phận phía sau của loài này trông giống như vỏ sò), do đó
số lượng các loài côn trùng thuộc họ này đã tăng lên hơn sáu lần Phát hiện này dựa trên một nghiên cứu từ hơn 4.000 mẫu vật được trưng bày tại các bảo tàng lịch sử tự nhiên trên toàn thế giới, cũng như các mẫu vật thu được trải qua nghiên cứu thực địa của nhóm tác giả tại khắp miền Trung và Nam Mỹ Tất cả những con bọ cánh cứng này thuộc họ Histeridae Loài bọ này cực kỳ phong phú và đa dạng về số lượng Ngày nay, các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục khám phá mức độ đa dạng sinh học của loài côn trùng sinh sống tại những vùng nhiệt đới trên thế giới, với con số ước tính từ 5 đến 30 triệu loài hoặc hơn
1.4 Tổng quan nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở trong nước
Các nghiên cứu về côn trùng bộ Cánh cứng ở nước ta không nhiều, chủ yếu tập trung vào các loài côn trùng thuộc nhóm côn trùng gây hại, từ đó đưa
ra các biện pháp phòng trừ, một số ít thì đưa ra các biện pháp bảo tồn các loài côn trùng có ích Nhưng nhìn chung các tài liệu này chỉ là các con số thống kê hay chỉ nghiên cứu một số loài đại diện
Năm 1921, Vitalis de Salvza chủ biên tập “Faune Entomologi que de Lindochine” đã công bố thu thập 3612 loài côn trùng Riêng miền Bắc Việt
Năm 1968, Medvedev đã công bố một công trình về họ Bọ lá
(Chrysomelidae) ở Việt Nam, trong đó có 8 loài mới đối với khoa học
Trang 188
Năm 1973, trong cuốn sách “Sâu hại rừng và cách phòng trừ” của tác
giả Đặng Vũ Cẩn Giới thiệu một số loài sâu bọ hung hại lá Bạch đàn là: bọ
hung nâu lớn (Holotrichia sauteri Mauer), Bọ hung nâu xám bụng dẹt (Adoretus comptessus), Bọ hung nâu nhỏ (Maladera – sp), sâu trưởng thành
của nhóm thường sống ở trên tất cả các giống Bạch đàn Ngoài ra, còn có một
số loài côn trùng khác như Bọ vừng (Lepidota bioculata), Bọ sừng (Xylotrupes Gideon L.), Bọ cánh cam (Anomala cupripes Hope)…
Năm 1982, Hoàng Đức Nhuận cho xuất bản 2 cuốn sách “Bọ rùa ở Việt Nam”
Năm 1989, tác giả Trần Công Loanh đã xuất bản giáo trình “Côn trùng lâm nghiệp”, trong đó có giới thiệu loài bọ ăn lá hồi (Oides decempunctata Billberg) thuộc họ (Chrysomelidae) Tác giả cho biết loài này xuất hiện ở
Lạng Sơn, trên rừng hồi khi phát dịch chúng đã ăn trụi lá hàng chục ha rừng Hồi
Năm 1993, tạp chí lâm nghiệp số 8 có bài của Nguyễn Trung Tín với nhan đề “Xén tóc đục thân Bạch đàn tại Tứ Giác – Long Xuyên trên hai loài
Bạch đàn chính Eucalyptus camaldulensis và E.reticornis”
Năm 2004, tạp chí sinh học, nghiên cứu về côn trùng từ trang 100 – 108, của Đặng Thị Đáp, Trần Thiếu Dư: “Kết quả nghiên cứu côn trùng Cánh cứng
ăn lá (Coleoptera, Chrysomelidae) tại 2 khu vực bảo tồn thiên nhiên Mường
Phăng, Hang Kia – Pà Cò và VQG Ba Bể”
Năm 2006 – 2007, Tạ Huy Thịnh trong báo cáo “Điều tra nghiên cứu đa dạng côn trùng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn miền Trung và đề xuất các giải pháp bảo tồn”, đã kết luận: trên địa bàn nghiên cứu thuộc phạm vi
quy hoạch 2km hai bên đường của cung đường Hồ Chí Minh, đoạn từ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình) tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), dài 623km; đi qua 9 huyện, 51 xã, thị trấn cùng với 3 xã thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Sông
Trang 199
Thanh (Quảng Nam) Đã ghi nhận được 3.296 loài, 244 họ, 15 bộ côn trùng
bổ sung cho khu hệ Việt Nam 350 loài (trong đó có một loài mới cho khoa học), ghi nhận 16 loài có giá trị bảo tồn; trong đó có 5 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm 2000, 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam năm
2007, 2 loài ghi trong CITES 2006, 3 loài có trong danh mục của nghị định 32/CP Đồng thời đề tài đề xuất thêm 4 loài khác nên đưa vào Sách đỏ Việt
Nam gồm: Bọ hung ba sừng (Chalcosoma causasus Fabricius, 1801), Cua bay hoa (Kontum Cheirotonus gestroi Pouillaude, 1913), Xén tóc lớn Đông Dương (Neocerambyx vitalisi Pic, 1923) và Bọ lá bụng thuôn (Phyllium bioculatum Gray, 1882) Trong số 16 loài có giá trị bảo tồn, có 4 loài chỉ thấy phân bố ở miền Trung và Tây Nguyên: Chalcosoma causasus; Chalcosoma atlas; Cheirotonus gestroi và Neocerambyx vitalisi Ngoài ra đã ghi nhận 148
loài sâu hại nông nghiệp, 79 loài côn trùng y học và thú y, 196 loài côn trùng thiên địch
Năm 2007, báo cáo khoa học về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật của
Đặng Thị Đáp cùng cộng sự: “Phân tích số lượng côn trùng cánh cứng (Coleoptera) theo sinh cảnh, thời gian, thời tiết và độ cao ở VQG Tam Đảo –
Vĩnh Phúc”
Năm 2008, tác giả Nguyễn Thế Nhã “Nghiên cứu về sâu hại măng” kết
luận có 9 loài cánh cứng hại măng thuộc 4 họ, trong đó nguy hiểm nhất là nhóm Vòi voi hại măng gồm ba loài, một loài Bổ củi, ba loài Bọ hung và hai loài Xén tóc
Năm 2008, thông tin khoa học lâm nghiệp số 2, khoa Quản lý tài nguyên
rừng và môi trường, của Bùi Trung Hiếu: “Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của Vòi voi lớn (Cyrtotrachelus buqueti) và đề xuất giải pháp phòng trừ tại khu vực Mai Châu – Hòa Bình” đã kết luận chúng gây hại nhiều nhất vào
tháng 6, 7, 8, trong đó biện pháp bọc bảo vệ măng mang lại hiệu quả cao
Trang 2010
Năm 2009, Lê Xuân Huệ đã điều tra, đánh giá đa dạng sinh học của Khu bảo tồn thiên nhiên Copia – Sơn La và đề xuất các giải pháp quản lý bảo tồn kết quả xác định được 252 loài côn trùng thuộc 4 bộ: Bộ Cánh nửa
(Heteroptera) được 47 loài thuộc 8 họ, bộ Cánh cứng (Coleoptera) được 107 loài thuộc 11 họ, bộ Cánh màng (Hymenoptera) được 29 loài thuộc 4 họ, bộ Cánh phấn (Lepidoptera) được 69 loài thuộc 9 họ Đã bổ sung cho khu hệ
Việt nam 5 giống, 15 loài và 1 loài được mô tả như loài mới cho khoa học 4 loài côn trùng có trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 (1 loài mức EN, 3 loài mức VU) và 9 loài thuộc họ Papilionidae nằm trong danh lục đỏ IUCN 2003 Năm 2010, Nguyễn Phương Thảo, Bùi Minh Hồng và Phạm Thu Lan :
“nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của Bọ rùa đỏ (Micraspis discolor Fabricius)”, với kết luận Bọ rùa đỏ trưởng thành có khả năng ăn 130 con rệp Brevicoryne brassicae Linnaeus trong một ngày
Tháng 7 – 2012, Ban Quản Lý Dự án cạnh tranh nông nghiệp tỉnh Bình Định đã phối hợp với Trường Đại học Nông Lâm Huế xây dựng mô hình
“Phòng trừ bọ cánh cứng hại dừa bằng phương pháp sinh học sử dụng bọ đuôi kiềm” Mô hình đã đạt kết quả khả quan Được triển khai tại 4 xã: Hoài
Tân, Hoài Châu, Tam Quan Nam và Hoài Thanh Tây với 60 hộ nông dân tham gia
Tháng 8 – 2012, trên Tạp chí Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn có bài của Lê Thị Diên, Nguyễn Hợi (Đại học Huế) và Nguyễn Văn Trọng (ĐH
Nông Lâm - ĐH Huế) đã thực hiện “nghiên cứu đa dạng sinh học của bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc Gia Bạch Mã” kết quả nghiên cứu
ghi nhận được 178 loài thuộc 128 giống, 17 họ thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera) tại Vườn Quốc gia Bạch Mã Họ có số giống và loài phong phú
nhất là Chrysomelidae với 65 loài và 33 giống Nghiên cứu đã bổ sung thêm 4
họ, 60 giống và 110 loài vào danh lục côn trùng bộ Cánh cứng ở Bạch Mã
Trang 2111
Đai cao từ 300-500m có số lượng loài và lớp cao nhất với 13 họ và 52 loài và
có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất; đai cao có số loài và họ thấp nhất là trên 1000m với 4 họ và 10 loài và có chỉ số đa dạng sinh học thấp nhất Đai cao
<200m và đai cao 200-300m có mức độ tương đồng về thành phần loài lớn nhất (Cs=0,57); đai cao 300-500m và >1000m có mức độ tương đồng về thành phần loài thấp nhất với Cs=0,12 Đa số các loài phân bố ở rừng phục hồi với 69 loài và rừng cây bụi là 32 loài, 12 loài được phát hiện ở đất trồng trọt, rừng ven suối và rừng rậm có số loài thấp nhất Sinh cảnh rừng phục hồi
có chỉ số đa dạng cao nhất (d=23,36); sinh cảnh có chỉ số đa dạng thấp nhất là rừng rậm với d=2,09 Sinh cảnh rừng phục hồi và sinh cảnh rừng cây bụi có chỉ số tương đồng cao nhất là 0,16 Các cặp sinh cảnh còn lại có chỉ số tương đồng về thành phần loài rất thấp hoặc bằng 0
Năm 2013, nghiên cứu thạc sỹ của Lê Hải Hiện tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang: “Nghiên cứu hiện trạng đa dạng sinh học của côn trùng thuộc Bộ cánh cứng và đề xuất một số biện pháp quản lý”.kết
quả điều tra thu thập được 60 loài thuộc 17 họ khác nhau, trong đó họ chiếm
số lượng loài nhiều nhất là: Họ Xén tóc (Cerambycidae)
Trang 2212
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU BẢO TỒN LOÀI
SINH CẢNH VƯỢN CAO VÍT 2.1 Lược sử hình thành
Theo các bậc cao tuổi ở xã Phong Nậm kể rằng, hơn 30 năm trước (tức trước năm 1972), trong vùng này xuất hiện loài vượn không đuôi, tay dài, vượn trưởng thành nặng khoảng 7-8 kg Con đực toàn thân màu đen và có chỏm mào trên đỉnh đầu, con cái trưởng thành lông vàng, có mảng lông đen
và không có chỏm, con non lông mầu vàng Chúng sống thành từng nhóm nhỏ trên cây, di chuyển bằng hai tay rất nhanh, thức ăn chủ yếu là quả chín, lá cây Mỗi sớm bình minh, chúng cất tiếng hót "cao vít", "cao huýt" kéo dài nên dân địa phương thường gọi là vượn Cao Vít hay Cao Huýt Do nạn chặt phá, khai thác rừng bừa bãi nên một thời gian dài không thấy chúng xuất hiện và loài Vượn này đã từng tuyên bố đã tuyệt diệt và không thể tìm thấy ở Việt Nam
Năm 2002, các cán bộ sinh học của tổ chức (FFI) đã phát hiện một quẩn thể nhỏ với khoảng 26 cá thể vượn Cao Vít, thuộc loài vượn đen Đông Bắc (tên khoa học là Nomascus nasutus), một trong những loài linh trưởng quý hiếm nhất thế giới xuất hiện tại khu rừng trên dãy núi đá vôi thuộc địa bàn 2
xã Phong Nậm và Ngọc Khê, huyện Trùng Khánh (Cao Bằng), giáp biên giới với Trung Quốc
Ngay sau khi phát hiện ra quần thể vượn này, FFI đã phối hợp với lực lượng kiểm lâm và chính quyền địa phương triển khai các biện pháp giảm thiểu những mối đe dọa tới quần thể vượn Cao Vít
Đến năm 2006, Khu Bảo tồn được thành lập theo quyết định số 2536/QĐ
- UBND ngày 15 tháng 11 năm 2006 của UBND tỉnh Cao Bằng về việc phê
Trang 23và nhỏ
Các núi đá vôi này có sườn rất dốc và nhiều vách dựng đứng, dãy núi trong khu bảo tồn chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam có độ cao trung bình từ 493 đến 968m so với mực nước biển Đá ở phần dưới và giữa sườn thường có lớp nhưng ở phần trên, đường đỉnh và đỉnh có kết cấu cứng với dạng bào mòn thẳng đứng đặc trưng Đó là môi trường sống độc đáo cho một
số loài thực vật bám đá khác biệt và đặc hữu
2.2.3 Khí hậu, thời tiết
Theo tài liệu của Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Trùng Khánh, Khu bảo tồn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới gió mùa và chia làm 2
Trang 24đó từ tháng 12 đến tháng 2 nhiệt độ trung bình thấp hơn 150c
là 2870,6 mm, thấp nhất là 1188 mm; lượng mưa tập trung vào các tháng 6, 7,
2.2.4 Chế độ thủy văn
Khu vực gồm có hai nhánh chính của sông Quây Sơn bắt nguồn từ Trung Quốc
Nhánh thứ nhất (nhánh Ngọc Khê- Ngọc Côn) chảy qua xóm Đông Si -
Nà Giào - Tử Bản - Pác Ngà - Bó Hay của xã Có chiều dài 18 km, rộng trung bình là 90m
Trang 2515
Nhánh thứ hai (nhánh Phong Nậm) chảy qua các xóm Đà Bè, Nà Hâu -
Nà Chang, Giộc Rùng của xã Phong Nậm và chảy về xã Ngọc Khê qua các xóm Giộc Sung, Pác Thay, Đỏng Doạ có chiều dài 14km, rộng trung bình 80m Hai nhánh này gặp nhau tại khu vực xóm Giàng Nốc
2.3 Tài nguyên thiên nhiên
2.3.2 Tài nguyên nước
Trong KBT có một số mạch nước ngầm sạch có thể dùng làm nước sinh hoạt ở tầng sâu như khu vực Lũng Đáy, Giộc Sâu, Lũng Đắc và mạch nước ngầm ở tầng nông như mạch Lũng Nặm
Được sự quan tâm của Trạm Thủy nông Huyện thường xuyên kiểm tra 2 kênh Bắc Trùng Khánh, đã kịp thời khắc phục đảm bảo nước tưới tiêu trên 85% cho hoa màu
Tuy nhiên công tác thủy lợi gặp không ít khó khăn do hạn hán, hệ thống kênh mương xuống cấp, chưa được đầu tư
2.3.3 Tài nguyên thực vật
Qua các đợt khảo sát, nghiên cứu, kết quả đã ghi nhận có 994 loài thực vật Các quần thể thực vật quan sát thấy hiện nay chủ yếu là các quần thể khác nhau bị thoái hoá rất nhiều Rừng nguyên sinh bị thoái hoá sâu sắc
Trang 2616
Mặc dù hệ thực vật và thảm thực vật của Khu BTVCV đã bị thoái hoá nặng nề nhưng vẫn còn sót lại một số mảnh cuối cùng của rừng Thông trên đường đỉnh núi đá vôi
Hiện nay chỉ gặp 3 loài Thông là phần sót lại của rừng Thông giàu có
trước đây Đó là Thông pà cò Pinus fenzeliana (P kwangtungensi), Thiết sam giả Pseudotsuga sinensis (họ Thông Pinaceae) và Thông tre Podocarpus neriifolius (họ Thông tre Podocarpaceae)
Một số lượng lớn các loài thực vật đặc hữu đã được tìm thấy tại Khu
BTVCV có tính đặc hữu loài và tính bản địa cao Đó là nhiều loài thuộc họ
Ráy Araceae (Arisaema franchetianum, Arisaema spp), họ Convallariaceae (Aspidistra sp.), họ Thiên lý Asclepiadaceae (Ceropegia sp.) với hoa chuyên hoá rất cao và nhiều loài cây bám đá như Ráng cao bằng vẩy (Caobangia squamata), loài thuộc một chi đặc hữu của các tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn Adiantum gravesii, loài Ráng đặc hữu của tiểu vùng hệ thực vật Nam Trung Hoa và nhiều loài Ráng bản địa thuộc các chi Tổ chim Asplenium và Cheilanthes đặc trưng cho các quần xã bám đá vôi nguyên sinh
Đặc biệt họ Lan (Orchidaceae) có tới 87 loài đặc hữu
2.3.4 Tài nguyên động vật
Thông tin hiện nay về khu hệ động vật hoang dã tại Khu BTVCV dựa trên các báo cáo sau các đợt điều tra do Tổ chức Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã Quốc tế (FFI), BQL khu bảo tồn Kết quả đã ghi nhận có 28 loài thú, 85 loài chim, 5 loài bò sát và 3 loài ếch nhái, đặc biệt là loài Vượn Cao Vít có 24 đàn, ít nhất 129 cá thể Trong đó 22 đàn với 124 cá thể (40 cá thể đực trưởng thành, 44 cá thể cái trưởng thành, 31 cá thể bán trưởng thành và 9
cá thể con non mới sinh), (theo báo cáo khảo sát tổng thể VCV 2012 của Nguyễn Thế Cường)
Trang 2717
2.4 Hiện trạng tài nguyên rừng
2.4.1 Diện tích các loại đất rừng
Bảng 2.1: Diện tích và các loại đất rừng Loại đất, loại rừng Diện tích (ha)
Tổng diện tích tự nhiên 8.016,88 % đất có rừng và chưa có rừng
A Tổng diện tích đất lâm nghiệp 5.736,20
3 Đất trống cây rải rác (Ic) 1.154,17 60,86
(Nguồn tài liệu theo quy hoạch sử dụng đất đai Khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn cao vít Trùng Khánh năm 2011)
Theo bảng trên ta thấy: Trong 5.736,20 ha đất quy hoạch cho lâm nghiệp Khu bảo tồn, có 3.839,85 ha đất có rừng, trong đó diện tích rừng tự nhiên: 3.569,24 ha, chiếm 92,95% diện tích đất có rừng Với tổ thành loài phong phú, nhiều nguồn gen đặc hữu, giá trị đa dạng sinh học cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt để bảo tồn đa dạng sinh học cũng như nghiên cứu khoa học và duy trì tác dụng phòng hộ
Diện tích rừng trồng: 270,61 ha, chiếm 7,05% diện tích đất có rừng Rừng trồng chủ yếu là các loài cây bản địa cung cấp củi đun, rào vườn, nhằm giảm thiểu nguồn gỗ củi từ rừng tự nhiên Khả năng cung cấp gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến rất hạn chế
Diện tích đất chưa có rừng hiện có 1.896,35 ha Trong đó đất trống cây rải rác (Ic) 1.154,17 chiếm phần lớn diện tích đất chưa có rừng với 60,86%
Trang 2818
2.4.2 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp Loại đất – loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ % DTĐLN Diện tích tự nhiên 8.016,88
2.4.2.1 Rừng đặc dụng
Bảng 2.3: Hiện trạng rừng đặc dụng Loại đất loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ % DTRĐD Diện tích tự nhiên 8.016,88
Trang 2919
Diện tích đất có rừng đặc dụng là 1.656,80 ha, trong đó rừng tự nhiên (IIa) có 1.285,22 ha chiếm 77,57% diện tích rừng đặc dụng Trong khu đặc dụng diện tích đất trống rải rác (Ic) vẫn còn với 371,58 ha chiếm 22,43% diện tích đất rừng đặc dụng Do đó việc sử dụng phần đất này vào mục đích trồng rừng để nâng cao trữ lượng rừng là cần thiết
2.4.2.2.Rừng phòng hộ
Bảng 2.4: Hiện trạng rừng phòng hộ Loại đất loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ % DTRPH Diện tích tự nhiên 8.016,88
c Đất trống có cây rải rác (Ic) 782,59 21,46
(Nguồn tài liệu theo quy hoạch sử dụng đất đai Khu bảo tồn loài và sinh cảnh vượn cao vít Trùng Khánh năm 2011)
Tổng diện tích rừng phòng hộ trong khu vực là 3.646,61 ha, chiếm 63,57% diện tích đất lâm nghiệp Với diện tích này trong khu vực rừng phòng
hộ chiếm phần lớn diện tích đất lâm nghiệp Trong đó trên diện tích đất có rừng là 2.284,02 ha, đó cũng là diện tích trạng thái rừng tự nhiên (IIa) chiếm 62,63% diện tích rừng phòng hộ Khu vực diện tích đất chưa có rừng còn tương đối lớn; 1.362,59 ha chiếm 37,37 % diện tích rừng phòng hộ, trong đó thuộc 3 trạng thái là: đất trống cỏ (Ia), đất trống có cây bụi (Ib) và đất trống
Trang 3020
có cây rải rác (Ic) Với diện tích đất chưa có rừng còn lớn như vậy là do trước kia người dân thường phát nương làm rẫy trồng ngô, khoai ở các thung lũng nhỏ, các sườn, khe núi Từ khi khu bảo tồn được thành lập người dân chỉ còn làm rẫy ở các thung lũng lớn, ngoài vùng bảo vệ nghiêm ngặt Song những khu vực đất trống đó hiện phần lớn chưa được nghiên cứu để trồng rừng
2.4.2.3.Rừng sản xuất
Bảng 2.5: Hiện trạng rừng sản xuất Loại đất loại rừng Diện tích (ha) Tỷ lệ % DTRSX Diện tích tự nhiên 8.016,88
2.5 Đặc điểm kinh tế, xã hội
2.5.1 Nguồn nhân lực
Khu BTVCV có 28 xóm nằm trong vùng đệm, không có xóm nào nằm trong vùng lõi, hầu hết các xóm đều nằm gần ranh giới phía Đông Bắc và Tây Nam Khu BTVCV Với dân số toàn vùng là 1.459 hộ và 9.785 nhân khẩu
(Nguồn số liệu điều tra tháng 12/2013) Mật độ dân số tập trung chủ yếu ở
phía Đông Nam và Tây nam Khu BTVCV, gồm các cộng động người Tày,
Trang 3121
Nùng là chủ yếu Nguồn thu nhập chính của người dân nơi đây chủ yếu dựa vào các hoạt động nông nghiệp (với lúa và ngô là hai cây trồng chính)
2.5.2 Thực trạng kinh tế xã hội
2.5.2.1 Sản xuất nông lâm nghiệp
Sản xuất nông nghiệp là ngành kinh tế chính của người dân khu vực Thu nhập chủ yếu từ canh tác nông lâm nghiệp, chăn nuôi Nhưng có rất ít đất nông nghiệp trong Khu BTVCV và hoạt động nông nghiệp bị hạn chế ở các thung lũng nhỏ Hầu hết các cộng đồng dân cư địa phương đều trồng lúa, ngô, sắn, khoai sọ
Mỗi năm chỉ tiến hành cấy trồng được một vụ lúa mùa, năng suất lúa thấp và bấp bênh do một số nguyên nhân như không chủ động nước tưới tiêu, thiếu kỹ thuật canh tác, hay bị sâu bệnh
Đời sống của nhân dân phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp Thu nhập chủ yếu của nhân dân từ sản xuất lúa ngô và chăn nuôi Công tác xây dựng cơ
sở hạ tầng như khu trung tâm xã, đường giao thông, thủy lợi, trường học đã
và đang được tiến hành nhưng vẫn còn khó khăn
Với cây ngô được trồng trên đất sau một vụ lúa nhưng năng suất các giống ngô không đồng đều qua các vụ và thấp, chỉ đạt từ 3,0 – 3,5 tấn/ha Người dân trong khu vực có tập quán từ bao đời nay đó là sử dụng củi đun và gỗ khai thác từ rừng để làm nhà và guồn cọn phục vụ nước tưới tiêu Trong thời điểm hiện nay do nhận thức về tầm quan trọng của công tác bảo vệ rừng, rừng đã được giao khoán khoanh nuôi, người dân đã có ý thức hơn trong khai thác củi Ngoài ra, người dân cũng được hỗ trợ các kỹ thuật cũng như vật tư của tổ chức FFI để xây dựng bếp lò cải tiến, hầm Biogas nhằm tiết kiệm củi đun và tạo nguồn năng lượng mới từ chất thải
Trang 3222
2.5.2.2 Chăn nuôi, thủy sản
Chăn nuôi: Hầu hết các cộng đồng dân cư địa phương đều nuôi gia cầm
(gà, vịt), gia súc (trâu, bò, lợn), một số hộ thì nuôi dê hoặc ngựa Tuy nhiên chăn nuôi ở các xã xung quanh khu Bảo tồn phát triển chậm chỉ mang tính tự cấp tự túc với quy mô nhỏ, lẻ Chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng cuộc sống của người dân nơi đây, chăn nuôi không những cung cấp nguồn thức ăn tại chỗ mà còn cung cấp sức kéo cũng như phân bón cho sản xuất nông nghiệp, góp phần làm tăng năng suất cây trồng cũng như việc cải tạo đồng ruộng
Thủy sản: Với hệ thống sông Quây Sơn rộng lớn bao quanh khu Bảo tồn
nhưng nơi đây nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản chưa phát triển Với nghề đánh bắt chỉ diễn ra nhỏ lẻ và phụ thuộc nhiều vào mùa nước lũ Sản phẩm đánh bắt được chủ yếu phục vụ nhu cầu thực phẩm hàng ngày cho người dân Dụng cụ đánh bắt chưa đem lại nguồn cá cung cấp cho thị trường
2.5.2.3 Cơ sở hạ tầng
Mạng lưới giao thông: Xã Ngọc Khê và Ngọc Côn có đường tỉnh lộ 217
chạy từ trung tâm huyện Trùng Khánh đến cửa khẩu Pò Peo dài 22km Hiện nay con đường này đang được nâng cấp đảm bảo cho giao thông và vận chuyển hàng hóa buôn bán giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc Ngoài ra,
có một trục đường đi qua trung tâm xã từ Nà Gạch đến Đông Si dài 14km, đang nâng cấp, mở rộng phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong xã cũng như trong công tác tuần tra rừng Nhưng bên cạnh đó hệ thống đường liên thôn của một số xóm còn rất khó khăn như đường vào xóm Pác Thay, xóm Đông Si, Tẩu Bản, Pác Ngà, Bó Hay
Xã Phong Nậm đã có đường giao chính chạy dọc xã từ Bắc Xuống Nam qua trung Tâm Huyện tương đối tốt và hiện đang được mở rộng nâng cấp Đường này xe ô tô có thể vào đến trung tâm xã và một số xóm của xã Nhưng
Trang 3323
bên cạnh đó vẫn còn một số xóm đường giao thông đi lại rất khó khăn, địa hình hiểm trở như: xóm Đà Bè, Lũng Rì…
Mạng lưới điện – Bưu chính viễn thông: Toàn bộ 3 xã vùng dự án đều đã
có điện lưới quốc gia Về mạng điện thoại di động trong khu vực đã phủ sóng đến trung tâm các xã nhưng chưa được phủ sóng đến tất cả các xóm: như xóm
Ở mỗi trạm y tế xã có từ 3 – 4 cán bộ y tế Tuy nhiên, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, thiếu thốn về thuốc men, thiếu cán bộ y tế có năng lực và chuyên môn cao Hoạt động của các trạm y tế chỉ đáp ứng chữa trị một số bệnh thông thường và tuyên truyền để giúp cho bà con chống lại các bệnh dịch
Giáo dục: Từ đầu năm UBND các xã đã chỉ đạo các trường từ mầm non
đến trung học cơ sở (trong vùng không có trường phổ thông trung học) giữ vững hệ thống trường lớp và sĩ số học sinh, đặc biệt là bậc tiểu học vận động con em đến trường dạt 100% Luôn chú trọng nâng cao công tác giáo dục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, thường xuyên phát động thi đua dạy tốt học tốt Tuy nhiên trang thiết bị phục vụ học tập còn nhiều thiếu thốn như: phòng chuyên môn, phòng thí nghiệm, bàn ghế, dụng cụ trực quan…
Đội ngũ giáo viên còn thiếu, trong đó số giáo viên người dân tộc tại địa phương chiếm tỷ lệ thấp, chủ yếu dạy các lớp mầm non và bậc tiểu học
Trang 3424
CHƯƠNG 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá bước đầu về thành phần loài và phân bố của khu hệ côn trùng
bộ Cánh cứng (Coleoptera), làm cơ sở từ đó đề xuất các biện pháp quản lý côn trùng bộ Cánh cứng tại khu Bảo Tồn loài sinh cảnh Vượn Cao Vít Trùng Khánh
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Do thời gian có hạn nên tôi chọn pha trưởng thành Côn trùng bộ Cánh cứng (Coleoptera) làm đối tượng nghiên cứu
- Địa điểm : Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít Trùng Khánh - Cao Bằng
- Thời gian: 24 tháng 02 đến 04 tháng 05 năm 2014
3.3 Nội dung điều tra nghiên cứu
- Xác định thành phần loài côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm phân bố của bộ Cánh cứng theo các dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
- Đánh giá tính đa dạng sinh học côn trùng thuộc bộ Cánh cứng tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của các loài thuộc bộ Cánh cứng thường gặp
- Đề xuất một số biện pháp giám sát quản lý và bảo tồn côn trùng bộ
Trang 35- Điều tra sơ thám:
Là công việc đầu tiên của điều tra ngoại nghiệp, qua đây có thể nắm bắt một cách khái quát các dạng sinh cảnh chính, thực bì của khu vực, các hoạt động của đối tượng và địa hình khu vực nghiên cứu Trong công tác sơ thám,
do Khu BTVCV là rừng tự nhiên trên địa hình các khối núi đá vôi đồ sộ nên việc xác định các tuyến điều tra tiến hành đi theo các đường mòn, lối mòn có sẵn, ven chân núi Để đánh giá hiện trạng sinh thái rừng, xác định hướng phơi chính mỗi khi trạng thái rừng, hướng phơi hay địa hình thay đổi Trong quá trình điều tra sơ thám xác định các dạng sinh cảnh chính trong khu vực theo bảng 3.1
Bảng 3.1: Các dạng sinh cảnh chính trong Khu BTVCV Trùng Khánh
sau nương rẫy
Thôi ba, ba soi, ba bét, nhội, nóng sổ, cừ
Trang 3626
Các dạng sinh cảnh được thể hiện trong hình 3.1
3.4.2.2 Bố trí tuyến điều tra và hệ thống các điểm điều tra
Côn trùng cánh cứng được điều tra theo phương pháp điều tra tuyến Tuyến điều tra phải đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau và phải mang tính đại diện cho khu vực nghiên cứu Có thể lập tuyến song song, tuyến nan quạt, tuyến xoắn ốc hoặc tuyến ziczăc tùy thuộc vào điều kiện địa hình khu vực nghiên cứu
Qua điều tra sơ thám đã xây dựng được 03 tuyến điều tra trên địa bàn 3
xã đi qua 26 điểm đại diện cho khu vực nghiên cứu
Xã Phong Nậm: Tuyến dài 4km, đi qua 5 sinh cảnh chính: trảng cỏ cây
gỗ rải rác (Ib,Ic), trảng cỏ, rừng tự nhiên núi đá, rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, rừng tre nứa tự nhiên (tre, nứa, cây bụi)
Xã Ngọc Khê: Tuyến dài 3km, đi qua 6 sinh cảnh trong khu vực
Xã Ngọc Côn: Tuyến dài 2,5km, đi qua 5 sinh cảnh chính: trảng cỏ cây
gỗ rải rác (Ib,Ic), đồng cỏ, rừng trên núi đá vôi, rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, rừng tre nứa tự nhiên
Điểm điều tra là một diện tích rừng được chọn ra để thực hiện các phương pháp thu thập thông tin đại diện cho khu vực và cũng là nơi tiến hành thu thập mẫu Điểm điều tra (OTC) cần có diện tích, các đặc điểm về đất đai, thực bì, địa hình… đại diện cho khu vực điều tra:
- Diện tích điểm điều tra là 500m2
- Vị trí điểm điều tra cần đảm bảo tính đa dạng, bố trí OTC cần chú ý đến các đặc điểm về địa hình như độ cao, hướng phơi và các đặc đặc điểm khác của khu vực điều tra
Trang 37(2, tuổi)
Hình 3.1: Sáu dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu
Thông qua điều tra sơ thám lập ra được số tuyến cần đi trên tuyến xác định vị trí các OTC để thu thập thông tin Thông tin về OTC được ghi vào
bảng 3.2
Trang 38Mã hóa điểm điều tra Tên điểm điều tra
Trang 3929
Sơ đồ bố trí tuyến và điểm điều tra được thể hiện trong hình 3.1-3.3
Hình 3.2: Tuyến điều tra xã Phong Nậm
Hình 3.3: Tuyến điều tra xã Ngọc Khê
Trang 4030
Hình 3.4: Tuyến điều tra xã Ngọc Côn
3.4.2.3 Phương pháp thu thập mẫu côn trùng cánh cứng
Khi di chuyển trên tuyến điều tra, tiến hành quan sát hai bên tuyến, nếu
bắt gặp côn trùng cánh cứng có thể dùng vợt hoặc dùng tay bắt Mẫu thu được
ghi chép theo mẫu biểu 3.01
Mẫu biểu 3.01: Phiếu điều tra cồn trùng cánh cứng theo tuyến
Ngày điều tra: Người điều tra:
Tuyến điều tra:
Stt Tên loài Tên khoa học Mã số
ảnh
Số lượng
Địa điểm thu mẫu
Ghi chú
1
2
…
Tại mỗi điểm điều tra tiến hành điều tra côn trùng cánh cứng cư trú trên
cây sống, cây đổ đã chết, gốc chặt đã chết và dưới đất: